MỤC LỤC
A.
MỞ ĐẦU
Xã hội càng phát triển, các giao dịch dân sự trong đời sống diễn ra càng đa
dạng phức tạp. Theo bộ luật dân sự 2005, giao dịch dân sự gồm có hợp đồng và
hành vi pháp lí đơn phương, ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt đó là giao
dịch dân sự có điều kiện. Để tìm hiểu kĩ hơn về giao dịch này, em xin trình bày đề
số 5 trong đề bài tập học kì môn dân sự 1.
Vì kiến thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót, mong nhận
được sự góp ý của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn!
B.
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ PHÁP LÍ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN
1
1. Giao dịch dân sự
"Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 BLDS).
Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều luật này có thể xác
định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao
dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể
mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành
vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân
sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích
và động cơ nhất định.
Giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Thiếu sự
thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu.
Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác. Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại
diện. Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong
phạm vi thẩm quyền đại diện.
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt
được khi xác lập giao dịch (Điều 123 BLDS). Mục đích của giao dịch chính là hậu
quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập
giao dịch
2. Giao dịch dân sự có điều kiện
Trong luật dân sư Việt Nam năm 2005, chỉ có duy nhất một điều luật quy định
về giao dịch dân sự có điều kiện – điều 125 quy định:
2
"1. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy
bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy
bỏ.
2. Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự
không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba
thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người
thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự
xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra".
Giao dịch dân sự có điều kiện là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinh hoặc
hủy bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định. Sự kiện được coi là điều kiện của giao
dịch do chính người xác lập giao dịch định ra và phải là sự kiện thuộc về tương lai.
Sự kiện này phải hợp pháp, có thể xảy ra hoặc không xảy ra và không phụ thuộc
vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch.
Giao dịch có thể xác lập với điều kiện phát sinh hoặc điều kiện hủy bỏ. Giao
dịch có điều kiện phát sinh là giao dịch đã được xác lập nhưng chỉ phát sinh hiệu
lực khi có sự kiện được coi là điều kiện xảy ra. Giao dịch có điều kiện huỷ bỏ là
giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực nhưng khi có sự kiện là điều kiện xảy
ra thì giao dịch bị huỷ bỏ.
Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự
không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba
thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người
thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự
xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.
Như vậy có thể kết luận được, giao dịch dân sự có điều kiện: Là các giao dịch
dân sự phát sinh hiệu lực khi có hành vi giao kết diễn ra mà không chịu sự tác động
của các yếu tố điều kiện do các bên chủ thể quy định tính có hiệu lực pháp lý của
hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương.
3
II. TÌNH HUỐNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN
Ông Trần Văn Linh ( 47 tuổi ) và bà Nguyễn Thị Minh ( 45 tuổi) cùng
thường trú tại Xã Thạch Đài, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Minh có một
căn nhà tại thị xã Thạch Hà có mặt bằng thuận lợi cho việc kinh doanh nhưng hiện
đang để trống. Con gái ông Minh là côn Trần Thị Hạnh hiện đang học năm 4 tại
trường đại học Y Hà Nội. Cô có nguyện vọng sau khi học xong sẽ về mở tiệm
thuốc tại này và ông Minh cũng đồng ý.
Ngày 22/5/2014, bà Minh tới nhà ông Linh để xin thuê lại căn nhà này. Xét
thấy hiện nay căn nhà còn trống và chưa có nhu cầu sử dụng nên ông Minh đã lập
hợp đồng cho thuê nhà với bà Minh, hợp đồng có nội dung:
Ông Linh cho bà Minh thuê căn nhà với giá 36 triệu đồng/ năm trong vòng 3
năm. Tuy nhiên, đến khi con gái ông học xong trở về, dù chưa hết hợp đồng bà
Minh vẫn buộc phải trả lại nhà cho ông vô điều kiện.
Ngoài ra, hợp đồng còn các nội dung khác phù hợp với quy định của pháp luật
về hợp đồng cho thuê nhà. Hợp đồng được kí kết và có hiệu lực vào hồi 16h ngày
22/5/2014.
Tháng 2 năm 2016, cô Hạnh ra trường, quyết định về mở hiệu thuốc như đã
bàn với bố. Bà Minh trả lại căn nhà nguyên trạng cho ông Linh, hợp đồng chấm
dứt hiệu lực.
III. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN
1. Điều kiện trong giao dịch là điều kiện hủy bỏ hiệu lực giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự trong tình huống này là hợp đồng thuê nhà ở có điều kiện .
Giao dịch dân sự có điều kiện có thể hiểu là giao dịch được giao kết hợp pháp
nhưng hiệu lực của giao dịch còn phụ thuộc vào sự kiện là điều kiện do các bên
thỏa thuận và theo đó khi sự kiện phát sinh hoặc chấm dứt là điều kiện đề giao dịch
được thực hiện, được thay đổi hoặc được chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia giao dịch.
4
Nội dung của hợp đồng dựa vào một sự kiện thực tế là việc cô Hạnh học xong
mở tiệm thuốc để xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực. Điều kiện này là một phần
vô cùng quan trọng của hợp đồng, nếu không có điều kiện này, sẽ không thể thể
hiện được ý định của ông Linh – bên cho thuê nhà.
Điều kiện trong trường hợp này là: “đến khi con gái ông học xong trở về, dù
chưa hết hợp đồng bà Minh vẫn buộc phải trả lại nhà cho ông vô điều kiện.”
Có thể xác định đây là điều kiện hủy bỏ hiệu lực giao dịch dân sự mà cụ thể là
hợp đồng cho thuê nhà.
Thật vậy, theo điều 125 Bộ Luật Dân Sự thì điều kiện của giao dịch dân sự có
điều kiện gồm hai loại: điều kiện làm phát sinh và điều kiện làm hủy bỏ hiệu lực
giao dịch dân sự.
Ở đây, hợp đồng được kí kết và có hiệu lực vào ngày 22/5/1014 và sự kiện
xảy ra vào thắng 2/2016. Có thể thấy, trước khi điều kiện xảy ra, ông Linh đã cho
bà Minh thuê, tức là giao dịch dân sự đã phát sinh hiệu lực nên không thể nói đây
là điều kiện phát sinh hiệu lực giao dịch dân sự.
Thứ hai, hai bên không những thỏa thuận thời hạn hợp đồng mà còn đặt ra
điều kiện để chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Khi điều kiện xảy ra, dù chưa hết 3
năm như hợp đồng đã ghi, bài Minh vẫn phải trả lại căn nhà cho ông Linh.
Như vậy, xét theo định nghĩa đã nêu ở phần 1, điều kiện này chính là điều
kiện chấm dứt hiệu lực giao dịch dân sự.
2. Các yêu cầu điều kiện của giao dịch dân sự có điều kiện phải thỏa mãn
a. Do chính các chủ thể của giao dịch dân sự tự định ra.
Giao dịch dân sự, như đã trình bày, chứ đựng ý chí và thể hiện ý chí của các
bên chủ thể. Một giao dịch xác lập không phải do các bên tự nguyện định ra sẽ
không được pháp luật công nhận và tùy trường hợp, sẽ bị xem là vô hiệu từng phần
hay vô hiệu toàn bộ.
5
Các chủ thể trong trường hợp này là ông Linh và bà Minh. Hai người tự
nguyện xác lập hợp đồng mua bán có ghi rõ điều kiện. Ở đây, điều kiện được xây
dựng trên nguyên tắc thỏa thuận, ông Linh bày tỏ nguyện vọng của mình, bà Minh
nhận thấy phù hợp nên đồng ý, không có bất kì sự lừa dối hay nhầm lẫn nào ở đây.
Yếu tố “tự định” nhằm bào đảm ý chí của các chủ thể được thể hiện và thực
hiện đúng. Tự định đồng nghĩa với sự thống nhất ý chí bên trong và cách thể hiện ý
chí ra bên ngoài. Ông Linh có ý định để cho con gái mở hiệu thuốc khi cô học
xong và thể hiện ý định đó qua hợp đồng bằng điều kiện này để đảm bảo khi con
gái học xong có mặt bằng để thực hiện ý định.
Người xác lập định ra điều kiện dưới nhiều hình thức, văn bản, bằng miệng
hoặc hành động. Trong trường hợp này, ông Linh và bà Minh định ra bằng văn
bản, cụ thể là hợp đồng.
Điều kiện này để tránh trường hợp điều kiện phát sinh hay hủy bỏ giao dịch bị
thay đổi nội dung bởi bên thứ ba làm ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của các bên
chủ thể. Chỉ có những gì được viết trong hợp đồng hợp pháp mới được công nhận
và thực hiện. Mọi điều kiện khác hay sự thay đổi điều kiện không được ghi trong
di chúc hoặc thực hiện không đúng điều kiện cụ Huyên đặt ra đều không thỏa mãn
điều kiện này.
b. Sự kiện là điều kiện phải có tính thực tế và chưa xảy ra.
Con người dù thế nào cũng có một giới hạn nhất định, người ta không thể
dùng một sự kiện quá vô lí, trái ngược các quy luật tự nhiên để làm điều kiện giao
dịch. Đó giống như một hình thức áp đặt, vì đã biết trước bên còn lại không thực
hiện được, chắc chắn giao dịch sẽ xảy ra như ý mình. Điều này vi phạm nghiêm
trọng nguyên tắc của giao dịch dân sự nên sẽ không được chấp nhận.
Một sự kiện là điều kiện của giao dịch dân sự chỉ khi điều kiện ấy có khả
năng xảy ra trong cuộc sống nhưng không chắc sẽ xảy ra. Trong trường hợp này,
cô Hạnh ra trường có thể sẽ về nhà mở tiệm thuốc như dự định cũng có thể không.
6
Dự định ban đầu có thể thay đổi cũng có thể tới sớm hơn hay muộn đi. Không ai có
thể chắc chắn bao giờ thì cô về bởi vậy không thể kết luận khi nào thì hợp đồng
chấm dứt trước thời hạn.
Kèm theo tính thực tế, sự kiện đó phải chưa xảy ra ở quá khứ hay hiện tại.
Một sự kiện đã xảy ra không thể làm căn cứ phát sinh hay hủy bỏ hiệu lực giao
dịch vì nếu lấy điều kiện ấy thì hiệu lực giao dịch chắc chắn phát sinh hay hủy bỏ.
hay nói cách khác, vì mục đích của mình, một bên chủ thể sẽ lợi dụng sự kiện đó
để làm hiệu lực giao dịch phát sinh hay hủy bỏ theo mong muốn. Như vậy không
đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thiện chí của dân sự. Ở tình huống trên, cô Hạnh
hiện chỉ mới học năm 4 còn chưa tốt nghiệp trường đại học Y Hà Nội nên hiển
nhiên sự kiện chưa xảy ra. Chính vì thế, Bà Minh mới chấp nhận điều kiện này.
c. Điều kiện xảy ra phải mang tính khách quan.
Tính khách quan có nghĩa là không phụ thuộc vào ý chí của các bên chủ thể.
Điều kiện là do các bên chủ thể quyết định, song việc điều kiện ấy xảy ra hay
không, xảy ra lúc nào không do bất cứ bên nào quyết định.
Điều kiện này được bộ Luật Dân Sự 2005 ghi nhận ngay tại khoản 2 điều 125:
“Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự
không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba
thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người
thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự
xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra”
Nếu một trong các chủ thể của giao dịch dân sự có hành vi ngăn cản không
cho các điều kiện đó xảy ra, hoặc có hành vi thúc đẩy cho điều kiện đó nhanh
chóng xảy ra để không thực hiện nghĩa vụ, thì cũng không làm phát sinh hoặc
chấm dứt hậu quả pháp lý của dân sự. Đây là nội dung mới được quy định tại Bộ
luật dân sự năm 2005 so với Bộ luật dân sự năm 1995; quy định này không những
bảo đảm nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự là “tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
7
thuận”,mà còn phải bảo đảm nguyên tắc: “các bên trong giao dịch dân sự phải
thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không
bên nào được lừa dối bên nào”. Việc một bên chủ thể ngăn cản không cho điều
kiện xảy ra hoặc thúc đẩy điều kiện xảy ra là vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung
thực đã được quy định tại Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2005.
Ở đây, sự kiện con gái ông Linh trở về mở tiệm thuốc hoàn toàn không phụ
thuộc vào ý chí của bất cứ bên nào. Nó phụ thuộc vào thời gian tốt nghiệp của
Trường đại học Y Hà Nội và phụ thuộc vào cô Hà có muốn trở về hay không. Vì
cô Hạnh không liên quan tới giao dịch, không có quyền và nghĩa vụ với iao dịch
nên không được xem là bên thứ ba.
d. Điều kiện phải không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội.
Điều 128 bộ Luật Dân Sự 2005 quy định:
““Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật,
trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ
thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người
trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.
Pháp luật cho phép các chủ thể được tự do xác lập và thực hiện giao dịch dân
sự. Tuy nhiên, “tự do thực hiện giao dịch dân sự” chỉ được thừa nhận ở một mức
độ hợp lý, nếu giao dịch đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã
hội. Trong một số trường hợp pháp luật quy định các chủ thể không được thực hiện
một số giao dịch dân sự, ví dụ: không được mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí
v.v… Thông thường các quy định của pháp luật trong đó đã hàm chứa những nội
dung phù hợp với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, có một số giao dịch không có quy
8
định của pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn bị coi là vô hiệu vì xâm phạm đạo đức
xã hội.
Trường hợp tình huống đã nêu điều kiện của hợp đồng hoàn toàn hợp pháp.
Việc ra trường của một sinh viên đã tốt nghiệp là chuyện thường tình, hơn nữa khi
đã có giấy phép hành nghề, chị Hạnh có đầy đủ điều kiện để mở một tiệm thuốc tại
nhà sau khi xin cấp phép hoạt động. Điều kiện hai bên đã thỏa thuận hoàn toàn
không bị pháp luật cấm thực hiện hay vi phạm đạo đứng xã hội.
3. Đánh giá khoản 1 điều 125 Bộ Luật Dân Sự 2005
Khoản 1 điều 125 Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định:
“Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ
giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy
bỏ”
Quy định này có những ưu điểm cũng như những tồn tại, hạn chế nhất định
cần phải sửa chữa, thay đổi.
a. Ưu điểm
Khoản 1 điều 125 là quy định chung về giao dịch dân sự có điều kiện, là căn
cứ duy nhất của loại giao dịch này trong bộ Luật Dân sự Việt Nam. Chính điều đó
tạo nên vai trò vô cùng đặc biệt, góp phần giúp những chủ thể của giao dịch dân sự
có điều kiện thực hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ của mình.
Ngôn ngữ giải dị, súc tích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tìm hiểu, nghiên
cứu luật hiểu một cách rõ ràng, không hiểu sai nghĩa của quy định. Từ đó, góp
phần nhận định, phân loại cũng như giúp việc áp dụng pháp luật được dễ dàng hơn.
b. Hạn chế
Các quy định về giao dịch dân sự có điều kiện còn thiếu mà hiện nay chỉ mới
quy định rất chung tại Điều 125 về giao dịch dân sự có điều kiện. điều này dẫn đến
thiếu cơ sở pháp lí khi giải quyết những vụ việc liên quan đến giao dịch dân sự có
điều kiện.
Đồng thời, chúng ta cũng thấy rằng, tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật dân sự ghi:
"Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao
dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ";
9
điều luật có ý chỉ dẫn tới hợp đồng dân sự có điều kiện, vì nói "thỏa thuận" tức là
nói tới hợp đồng, mà thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ thì nói tới giao
dịch dân sự có điều kiện. Như vậy, thực chất ở đây chưa phù hợp với hành vi pháp
lí đơn phương (vì không có thỏa thuận) mặc dù đây cũng là một dạng giao dịch dân
sự.
Chưa có quy định rõ ràng về điều kiện cần thỏa mãn của sự kiện là điều kiện
của giao dịch dân sự.
4. Giải pháp khắc phục hạn chế
Dựa trên những hạn chế đã nêu, em xin trình bày ý kiến của mình để khắc
phục những tồn tại, hạn chế ở Khoản 1 này:
- Cần xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành hoặc bổ sung thêm căn cứ pháp lí
cho giao dịch dân sự có điều kiện
- Cần quy định rõ ràng về điều kiện, phân biệt điều kiện của giao dịch dân sự
có điều kiện với “điều kiện” có hiệu lực của giao dịch dân sự.
- Cần thay cụm từ “thỏa thuận” trong khoản 1 điều 125 để tránh mâu thuẫn,
áp đặt cho hợp đồng có điều kiện.
KẾT LUẬN
Như vậy, có thể thấy giao dịch dận sự có điều kiện ngoài những đặc
C.
điểm của giao dịch dân sự nói chung còn có những điểm khác biệt chủ yếu
liên quan đến điều kiện. Bộ Luật Dân sự 2005 đã quy định về loại giaodichj
này, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Thiết nghĩ rằng, đây là loại
giao dịch dân sự vô cùng phổ biến, chính vì vậy cần xây dựng hệ thống quy
phạm pháp luật chặt chẽ hơn để điều chỉnh quan hệ dân sự liên quan đến giao
dịch dân sự có điều kiện.
10
D.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, nxb Công An nhân dân,
2. Bộ Luật Dân sự 2005, nxb Lao Động
3. Bộ Luật Dân Sự 2015, nxb Lao Động
4.Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ
biên), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
5. />6. />7. />
11