Tải bản đầy đủ (.doc) (103 trang)

LUAN VAN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (473.91 KB, 103 trang )

MỤC LỤC
Chương 3: Tác động đối với đời sống của người dân địa phương và tính bền vững của Quỹ Bảo
hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn..........................................................................................64


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

UBND:

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn
Bảng 2.1: Cơ cấu nghề nghiệp của thành viên tham gia quỹ được khảo sát
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ
Bảng 2.3. So sánh nguồn quỹ của các quỹ cộng đồng
Bảng 2.4. Chế độ đóng – hưởng tại một số quỹ lương hưu nông dân
Bảng 3.1: Các nhu cầu của người dân được đáp ứng khi tham gia quỹ
Bảng 3.2: Đánh giá tính ổn định về nguồn thu của quỹ
Bảng 3.3: Các khoản thu của quỹ
Bảng 3.4: Các khoản chi của quỹ
Bảng 3.5: So sánh mức đóng – hưởng của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã
Thanh Văn và Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam
Danh mục các hình
Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ


Hình 1.2: Thang nhu cầu Maslow
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu thu nhập trung bình của người dân/tháng
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của Quỹ bảo hiểm và Phúc lợi nông dân
xã Thanh Văn
Hình 2.3: Mô hình tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Hình 2.3: Sơ đồ thể hiện các khoản chi của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã
Thanh Văn
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện lý do người dân tham gia quỹ
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện đánh giá của người dân về khó khăn khi tham gia và nhận
chế độ từ quỹ


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
An sinh xã hội là một hệ thống quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của
mỗi quốc gia. An sinh xã hội thể hiện trách nhiệm của nhà nước trước những nhóm dân
cư, cộng đồng người bị rủi ro, thiệt thòi trong việc tiếp cận các thành quả của sự phát
triển xã hội. Khởi đầu là mô hình của nhà nước Phổ cách đây 200 năm nhằm khắc phục
những bất bình đẳng trong thu nhập, điều hòa rủi ro, tạo điều kiện cho nhóm dân cư
nghèo được thụ hưởng những điều kiện tối thiểu, ngày nay an sinh xã hội đã trở thành
một thành phần không thể thiếu trong hệ thống chính sách phát triển của mỗi quốc gia.
An sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng
đồng yếu thế hòa nhập và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Tại Việt Nam, an sinh xã hội có vai trò ngày càng quan trọng và ngày càng được
Đảng, Nhà nước quan tâm. Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định: “…xây dựng hệ
thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” [2, tr.11]; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
6 Khóa X cũng đề cập đến việc từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội
để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội,
nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo.

Trong hệ thống an sinh của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan
trọng, là hệ thống xương sống của toàn thể hệ thống an sinh. Nghị quyết số 21-NQ/TW
ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 ghi rõ: “Bảo hiểm xã hội và
bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an
sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị
- xã hội và phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.2]
Là một nước nông nghiệp, với nông dân chiểm trên 70% dân số và 50% lực
lượng lao động, muốn đạt được an sinh cho toàn dân thì cần chú trọng đặc biệt đến an
sinh xã hội cho nông dân. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội
1


nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng chưa chú ý đúng mức đến người nông dân.
Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2006, trong đó đã bước
đầu đề cập đến hệ thống Bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho nông dân (có hiệu lực
năm 2008). Đó là một dấu hiệu quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý để phát triển hệ
thống bảo hiểm xã hội dành cho nông dân nói riêng và đảm bảo an sinh cho người
nông dân nói chung. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội tự nguyên
chưa thu hút được sự tham gia của người dân, nhất là nông dân. Theo báo cáo của Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, đến tháng 10 năm 2012, mới có 135 nghìn người tham gia trong
số 30 triệu đối tượng của loại hình bảo hiểm này trong đó chủ yếu là những người thiếu
thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc các cán bộ cấp xã. Bảo hiểm xã hội tự
nguyện không thu hút được người dân là do mức đóng cao so với thu nhập của người
nông dân và các chế độ hưởng kém hấp dẫn…
Trong khi chính sách của nhà nước tỏ ra kém hiệu quả do thiếu tính sát thực thì
các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh lại được phát huy. Căn cứ trên nhu
cầu của người dân về lương hưu để đảm bảo cuộc sống khi về già, nhiều địa phương đã
hình thành các loại hình quỹ lương, quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi. Có thể kể đến các Quỹ
lương hưu tự nguyện ở tỉnh Nghệ An, Quỹ Phúc lợi tại nhiều xã ở tỉnh Bắc Giang, Bắc

Ninh hay Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội…Đây là một
trong những loại hình quỹ cộng đồng tự phát, hoạt động trên cơ sở quản lý của cộng
dồng để chi trả lương hưu cho người nông dân khi hết tuổi lao động. Nhiều mô hình
bộc lộ tính thiếu bền vững và đã chuyển đổi, tuy nhiên có những mô hình hoạt động rất
hiệu quả, thu hút sự tham gia và đồng tình của người dân. Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi
xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội là một ví dụ điển hình.
Việc đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm, thu hút nông dân và lao động ở khu vực
phi chính thức cũng là một chủ trương lớn của Chính phủ nhằm đảm bảo an sinh xã hội
tốt hơn cho người dân. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số
vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 cũng khẳng định chủ trương này:
2


“Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hóa các hình
thức bảo hiểm xã hội, mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội,
khuyến khích nông dân và người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo
hiểm xã hội”[5, tr.3]. Do đó, việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ cộng đồng
nói riêng và việc xã hội hóa công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong giai
đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết.
Nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm của loại hình quỹ
này trên cơ sở lý thuyết của An sinh xã hội và Công tác xã hội, tìm hiểu các cơ chế về
tổ chức, tài chính và chính sách, các tác động của quỹ đến đời sống người dân, từ đó
xác định các ưu và nhược điểm, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của loại
hình quỹ nói riêng và hoạt động bảo hiểm xã hội hướng đến nông dân nói chung.
Nghiên cứu cũng hướng đến việc tìm ra những nhân tố cần thiết để có thể xây dựng,
phát triển và hoàn thiện hệ thống các loại hình quỹ cộng đồng nhằm đảm bảo an sinh
xã hội cho người lao động ở khu vực phi chính thức nói chung và nông dân nói riêng.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu nước ngoài

An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội là những lĩnh vực quan trọng
trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia. Do đó, nghiên cứu về an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội là rất nhiều:
Neil Gilbert và Paul Terrell (2009): Dimensions in Social Welfare Policy/Khuôn
khổ của chính sách phúc lợi xã hội (tái bản lần 7) đã phân tích và đưa ra một công cụ
khá hoàn thiện, có chiều sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực khi nghiên cứu về chính sách
phúc lợi xã hội. Nghiên cứu đưa ra những minh họa thực tế để chứng minh cho các
luận điểm lý thuyết về bảo đảm thu nhập, phúc lợi trẻ em, những thành phố kiểu mẫu,
chăm sóc hàng ngày, hành động của cộng đồng và sức khỏe tâm thần. Ngoài ra, tác giả
còn nêu ra tổng quan về xu hướng của chính sách phúc lợi xã hội của các bang có hệ
thống phúc lợi tiến bộ, bao gồm: tính phù hợp, tài chính, phân phối và phân phối lợi
ích…
3


Neil Gilbert (1989) trong “Phúc lợi tư bản hiện đại ở Mỹ/The enabling state:
Modern welfare capitalism in America”: Sau hơn hai thập niên áp dụng chế độ tài
chính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ và một nước công nghiệp dân chủ khác, chế độ
phúc lợi mới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống. Lựa chọn mô hình nào là vấn
đề đặt ra. Nghiên cứu trên sẽ trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịch của
phúc lợi xã hội – từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi. Nghiên cứu tím hiểu
về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thị trường trong phân
phối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thức chuyển dịch từ thuế tiêu dung, hỗ
trợ tín dụng, các chi phí phát sinh khác sang nguồn quỹ phúc lợi xã hội.
Còn Howard Jacob Karger trong “Chính sách phúc lợi xã hội Mỹ/American
social welfare policy” (tái bản lần 6, 2009) lại nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội
Mỹ với cái nhìn đa chiều, gắn phúc lợi xã hội với nhiều vấn đề của xã hội Mỹ như
công nghệ, tôn giáo, bất bình đẳng, chính sách thuế và cả những biến đổi xã hội mang
tính cập nhật nhất: Bầu cử tổng thống 2008, khủng hoảng kinh tế, sự đóng băng của thị
trường bất động sản…

Về bảo hiểm vi mô, Eloisa A.Barbin, Christopher Lomboy và Elmer S.Soriano
trong nghiên cứu thực tế về bảo hiểm vi mô của Philippines/A Field Study of
Microinsurance in the Philippines đã đi đánh giá một cách tổng quát về mô hình bảo
hiểm vi mô mà MFIs( Microfinance Institution in Philippines) đã đang áp dụng cho các
gia đình có thu nhập thấp, trong đó có chú ý đến bảo hiểm từ sự đóng góp tự nguyện
trong cộng đồng nhằm hỗ trợ những người thu nhập thấp, người nghèo trước những rủi
ro về tài chính trong cuộc sống.
Trung Quốc, một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, cũng có nhiều
nghiên cứu về an sinh xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến hệ thống an sinh xã hội nói
chung và bảo hiểm xã hội nói riêng dành cho nông dân ở nông thôn.
Wang Dewen (2005) trong “Hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông
thôn Trung Quốc: Thách thức và lựa chọn/China’s Urban and Rural Old Age Security
4


System: Challenges and Options”. Nghiên cứu cho thấy lịch sử phát triển và hiện trạng
của hệ thống an sinh cho người cao tuổi Trung Quốc ở đô thị và nông thôn. Nghiên cứu
cũng nêu lên những thách thức và lựa chọn trong quá trình xây dựng một hệ thống an
sinh bền vững dành cho người cao tuổi. Hệ thống lương hưu hiện tại mới chỉ có độ phủ
cao ở đô thị trong khi chưa bao phủ đến nông dân ở nông thôn. Kẻ hở của quỹ và
những tài khoản cá nhân trống rỗng đặt một gánh nặng lên tính bền vững của hệ thống
lương hưu ở đô thị. Tuổi trung bình ngày càng cao và thu nhập lại thấp đặt ra thạch
thức không nhỏ cho hệ thống hỗ trợ các gia đình dễ tổn thương ở nông thôn. Sự tách
biệt giữa hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông thôn còn đặt ra áp lực
cho quá trình đô thị hóa và những nông dân mất đất. Do đó, cải cách hệ thống an sinh
là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế.
Changyou Zang (2009), “Phương thức bảo hiểm xã hội dành cho nông dân Trung
Quốc/Research on Chinese Farmers’ Social Endowment Insurance Mode”: Dựa trên lý
thuyết an sinh xã hội, vận vào điều kiện thực tế của Trung Quốc, tác giả cho rằng: Giá
trị lao động thực sự phải bao hàm khả năng bảo hiểm cho lao động đó và một phần cho

cha mẹ của họ. Bằng cách này, tác giả hợp nhất hình thức bảo hiểm nhà nước, tập thể,
gia đình, cá nhân…thành một phương thức bảo hiểm phức tạp. Phương thức này bao
gồm hệ thống bảo hiểm xã hội của nhà nước và các hệ thống hỗ trợ của gia đình và
cộng đồng. Hệ thống bảo hiểm xã hội này bao gồm hưu trí cơ bản, hưu trí xã hội và các
kế hoạch hưu trí mang tính chất gia đình dành cho nông dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra
cách thức quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội nông thôn và làm rõ những thành phần cơ bản
trong hệ thống bảo hiểm xã hội khá phức tạp dành cho nông dân Trung Quốc này.
Zhang Jianwei (2008) trong “Nghiên cứu về an sinh lương hưu/Study on farmer’s
pension security” lại quan tâm đến hệ thống lương hưu cho người cao tuổi ở nông thôn
Trung Quốc. Theo đó, cuộc sống của những người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc
chủ yếu dựa vào hỗ trợ của gia đình, nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thức
lớn. Nông dân Trung Quốc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau và nghiên cứu
5


chỉ đi sâu vào việc thiết kế hệ thống lương hưu cho những nông dân đích thực. Bởi vì,
tuy là nông dân nhưng những người làm việc tại các thị trấn, đô thị, trong các doanh
nghiệp lại được hưởng các chế độ của hệ thống an sinh xã hội đô thị. Nghiên cứu
hướng đến thiết lập một hệ thống bao gồm các thiết chế chính thức và không chính
thức có khả năng khích lệ cá nhân, gia đình, chính phủ và các nguồn lực xã hội trong
việc giảm trừ bất ổn kinh tế mà những người nông dân gặp phải khi bước vào giai đoạn
cao tuổi. Trong khi đó, những hỗ trợ của gia đình cho người cao tuổi vẫn được coi là
mô hình mang tính lâu dài và cần được củng cố ở khía cạnh kinh tế và đạo đức.
Như vậy, có thể thấy rằng, các nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và
bảo hiểm xã hội trên thế giới là rất nhiều. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ tập trung
vào thể chế chính sách, khuôn khổ và mối liên hệ của an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
cũng như bảo hiểm xã hội với các yếu tố kinh tế - xã hội xung quanh nó. Các giải pháp
mang tính cộng đồng như các loại hình quỹ ở Việt Nam chưa được nghiên cứu.
2.2.


Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội
cũng khá nhiều với những cách tiếp cận khác biệt.
Về lý luận chung, có thể nhắc đến các đề tài:
Viện Xã hội học: Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp cơ sở nông thôn và
đô thị (1983 – 1985); Chính sách xã hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa
(1987 – 1989); Người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội ở miền Bắc Việt Nam
(1991) là những đề tài đầu tiên tập trung nghiên cứu về chính sách xã hội ở Việt Nam
và bước đầu chú ý đến an sinh xã hội cho một số đối tượng cụ thể.
Tác giả Bùi Thế Cường là một người nghiên cứu khá sớm và đa dạng về các
chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở Việt Nam. Ông nghiên cứu về an sinh xã
hội và phúc lợi xã hội với nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau:
Toàn bộ các quan điểm, hệ thống chính sách xã hội nói chung và chính sách an
sinh xã hội nói riêng cũng như công tác xã hội đã được tác giả mô tả, phân tích, giải
6


thích khoa học trong “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90”.
Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cơ bản của chính sách xã hội và công
tác xã hội, đồng thời tiến hành nghiên cứu trường hợp về nhiều khía canh khoa học
khác nhau của chính sách xã hội và công tác xã hội: lý luận xã hội, lý luận về an sinh
xã hội; người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội; tệ nạn xã hội, xã hội học và công tác
xã hội; chính sách tiền lương, các tổ chức bảo đảm xã hội ở nông thôn trong Đổi mới;
phúc lợi doanh nghiệp; chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số…Có thể thấy, đây là
một nghiên cứu khá bài bản và được thực hiện từ rất sớm về một lĩnh vực khá mới lạ ở
Việt Nam lúc bấy giờ là chính sách xã hội và công tác xã hội.1
Là một đề tài nhánh nằm trong đề tài cấp Viện Xã hội học “Báo cáo xã hội năm
2000”, đề tài “Hệ thống phúc lợi xã hội và tình hình phúc lợi xã hội năm 2000” của
nhóm tác giả Viện Xã hội học do tác giả Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đã phân tích

và làm rõ bối cảnh xã hội cũng như các chính sách phúc lợi xã hội cụ thể: ưu đãi xã
hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, người tàn tật, già hóa dân số, thiên tai…
Nhóm tác giả Viện Xã hội học do Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài cũng có
một hướng tiếp cận khá độc đáo về phúc lợi xã hội. Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phúc lợi xã hội (năm 2001)” tập trung đi sâu phân tích và so sánh giữa mô hình phúc
lợi thực dân, tổ chức phúc lợi với tư tưởng của Hồ Chí Minh về phúc lợi; lại tiếp tục
phân tích và so sánh sự biến chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội ở
các thời kỳ cách mạng khác nhau: thời kỳ cách mạng tháng tám và kháng chiến chống
Pháp, thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa (1954-1969).
Đề tài Hệ thống phúc lợi thời kỳ đổi mới (2001-2003) của Viện Xã hội học, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam lại tập trung đi sâu phân tích hệ thống phúc lợi trong thời
kỳ đổi mới.
1

Năm 2010, Công tác xã hội mới được coi là một nghề khi Thủ tướng phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác
xã hội giai đoạn 2010-2020”.

7


Một nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh xã hội Việt Nam năm 2007
được thực hiện bởi tác giả Bùi Quang Dũng. Qua phân tích tình hình xã hội cũng như
hệ thống các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam năm 2007, tác giả đã phát hiện ra
nhiều vấn đề trong hệ thống an sinh xã hội: việc hạn chế tiếp cận hệ thống an sinh xã
hội của người nghèo, các chính sách an sinh xã hội chưa đồng bộ, độ bao phủ của
chính sách thấp…Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam.
Nhắc tới lý luận chung về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cũng không thể không
kể đến hai giáo trình phổ biến hiện nay. Giáo trình “An sinh xã hội” (NXB Đại học

kinh tế quốc dân, 2008) của tác giả Nguyễn Văn Định đã trình bày một cách tổng quát
về an sinh xã hội. Từ vai trò, bản chất, chức năng, các chính sách cụ thể ở Việt Nam,
một số kinh nghiệm về an sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Trung
Quốc, Nhật Bản và công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội…Đây là một công
trình được viết thiên về kinh tế, do đó, đôi khi nhấn mạnh tính tài chính mà không tập
trung vào những đặc điểm đặc thù và mục tiêu cơ bản của hệ thống an sinh xã hội là
đảm bảo an sinh cho người dân.
Trong giáo trình “Nhập môn an sinh xã hội” (NXB Lao động Xã hội, 2008), Tác
giả Nguyễn Hải Hữu cũng phân tích về khái niệm, các cách hiểu khác nhau, các tranh
luận về khái niệm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và các lĩnh vực liên quan. Tác giả
cũng đi sâu vào phân tích vai trò, bản chất, chức năng cũng như các chính sách cụ thể,
các thể chế tài chính, chính sách, cán bộ trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Với
kinh nghiệm của một nhà quản lý nhiều năm trong ngành lao động, tác giả đã khái quát
được khá đầy đủ những kiến thức cơ bản nhất, được chấp nhận một cách chính thống
nhất về an sinh xã hội, phúc lợi xã hôi, bảo hiểm xã hội. Tác giả cũng nhấn mạnh được
đến tính đặc thù và mục tiêu của an sinh xã hội.
Viện Khoa học Lao động (2010) “Quan điểm và định hướng về chính sách phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011-2020”
8


thông qua nghiên cứu thực trạng hệ thống an sinh xã hôi lại đưa ra 6 kiến nghị để định
hướng sự phát triển của các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ
mới.
Tác giả Đàm Hữu Đắc (2010) trong đề tài: Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã
hội và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập”, mã số: ĐTĐL.2007G/51 đã tập trung nghiên cứu toàn diện
về lý luận và thực tiễn của hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội chăm
sóc người cao tuổi Việt Nam. Nghiên cứu còn tìm hiểu những kinh nghiệm quốc tế để
từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã

hội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn.
Đề tài “Chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020” của Viện Khoa học Lao
động đã tổng kết kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội thời kỳ 2001-2010 và đề
ra chiến lược an sinh mang tầm quốc gia giai đoạn 2011-2020. Thông qua phân tích
định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách an sinh xã hội cũng như các hệ thống
chính sách về thị trường lao động chủ động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các
chương trình giảm nghèo…nghiên cứu đề ra những chỉ tiêu mang tính chiến lược cho
việc phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nói chung và mỗi lĩnh vực chính
sách cụ thể nói riêng.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở vùng nông thôn cũng như
xu hướng phát triển kinh tế xã hội, đề tài: “Hệ thống An sinh xã hội với dân cư nông
thôn giai đoạn 2011-2020” trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở
vùng nông thôn cũng như xu hướng phát triển kinh tế xã hội để đưa ra các giải pháp
mang tính định hướng trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại nông thôn
trong thời kỳ mới.
Một đề tài nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội Việt
Nam cũng như đề ra các kiến nghị để định hướng hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và
9


Phúc lợi xã hội giai đoạn 2015 – 2020 cũng đang được Khoa Xã hội học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội. Đề tài nằm trong chương trình
khoa học lý luận trọng điểm do đó mang tính khái quát và cập nhật cao. Thông qua
nghiên cứu đời sống, nghiên cứu hiệu quả của các chính sách về lao động – việc làm,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi và trợ giúp xã hội, đề tài sẽ cung cấp bức tranh
toàn cảnh về thực trạng các chính sách an sinh xã hội nói chung và các chính sách cụ
thể trong từng lĩnh vực nói riêng. Đồng thời, thông qua phân tích mô hình của các nước
trên thế giới, thông qua những thông tin thực tế tại Việt Nam, đề tài hướng đến việc
định hướng để hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong tương lai có

thể phục vụ tốt hơn, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của mỗi người dân nói riêng và xã
hội Việt Nam trong thời kỳ mới nói chung.
Là một quốc gia đi sau thế giới rất nhiều trong việc xây dựng hệ thống an sinh xã
hội, phúc lợi xã hội, do đó, các kinh nghiệm quốc tế từ cách hiểu về an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội đến cách thức tổ chức, cách thức xây dựng hệ thống là vô cùng hữu ích
cho việc hiểu, nghiên cứu, xây dựng hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở Việt
Nam. Do đó, có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào mảng này.
Tác giả Đinh Công Tuấn (2008) trong “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã trình bày, phân tích về quan điểm, lịch sử hình
thành, cách thức tổ chức và các chính sách an sinh xã hội cụ thể của các nước EU.
Trong các hệ thống an sinh xã hội của EU, tác giả lại đi sâu vào phân tích mô hình của
một số quốc gia điển hình như Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh…Thông qua việc so sánh,
phân tích với tình hình thực tế của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, tác giả đưa ra
những bài học kinh nghiệm từ việc tìm hiểu, phân tích sự thành công hay thất bại của
các nước EU để áp dụng vào điều kiện thực tế Việt Nam sao cho đem lại hiệu quả cao
nhất.
Cũng phân tích các bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam, Tác giả
Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011) lại tiếp cận dưới góc độ pháp luật về an
10


sinh xã hội. “Pháp luật an sinh xã hội kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam”
là một công trình khoa học công phu khi nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật an
sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời tác giả cũng phân
tích những quan điểm, nội dung và nguyên tắc cơ bản của hệ thống Pháp luật Việt
Nam. Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực Luật học, tác
giả đã đưa ra những nhận định, phân tích và đánh giá về ưu điểm và nhược điểm,
những bất cập trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, từ đó đưa ra các
kiến nghị để phát triển hệ thống an sinh xã hội về mặt pháp luật, chính sách một cách
toàn diện hơn, hoàn thiện hơn.

Các nghiên cứu về việc tiếp cận hệ thống an sinh của các đối tượng cụ thể trong
xã hội cũng là một mảng quan trọng trong các nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội:
Viện Khoa học Lao động (2010) với đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ
thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức”. Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu
đến khả năng tiếp cận chính sách việc làm, chính sách dạy nghề và chính sách bảo
hiểm xã hội của khu vực phi chính thức, từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở học tập
những kinh nghiệm quốc tế.
Cũng là khả năng tiếp cận của khu vực không chính thức, Hoàng Bá Thịnh (2011)
trong nghiên cứu “Lao động nữ di cư làm việc ở khu vực phi chính thức và mức độ tiếp
cận an sinh xã hội” lại đi sâu vào nghiên cứu lao động phụ nữ di cư, nghiên cứu chỉ ra
những khó khăn, rào cản của lao động nữ di cư trong khu vực phi chính thức trong việc
tiếp cận an sinh xã hội của nhóm này tại các khía cạnh cụ thể: chính sách bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế; dịch vụ giáo dục và y tế,…
Nghiên cứu “Cơ chế bảo trợ xã hội đối với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ ở
Việt Nam” do Oxfam và Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phối
hợp (2011). Thông qua khảo sát 580 hộ nông dân ở Hà Tĩnh và Vĩnh Long, nghiên cứu
chỉ ra rằng: nguy cơ tổn thương của người nông dân, gồm những tác động từ bên ngoài
11


như biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai, lũ lụt và những nguyên nhân khác như tiếp cận
vốn, vấn đề sức khỏe của người nông dân…Trong khi đó, bảo hiểm xã hội lại chưa hề
phát huy được vai trò trong việc bảo vệ người dân trước những rủi ro. Bảo hiểm xã hội
có tỷ lệ tham gia thấp (20%), Bảo hiểm y tế có 57,4% dân số tham gia…Nghiên cứu
khuyến nghị về việc tăng cường sự tham gia các loại hình bảo hiểm của người dân, qua
đó tăng năng lực ứng phó với các rủi ro.
Là xương sống và lưới đầu tiên trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, bảo hiểm
xã hội cũng là một nội dung quan trọng được nhiều cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong
lĩnh vực hoạch định chính sách.

Báo cáo “Dự báo cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội và các khuyến nghị pháp lý” do
ILO thực hiện tại Việt Nam là một báo cáo nhấn mạnh đến sự bền vững về khía cạnh
tài chính của Quỹ bảo hiểm xã hội. Theo nghiên cứu này, hiện nay, chính sách bảo
hiểm xã hội đã bao phủ khoảng 20% lực lượng lao động ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng
chỉ ra những rủi ro của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam: tuổi nghỉ hưu sớm trong khi
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa, chế độ chi trả hào phóng, chỉ có 47%
doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động (năm 2010). Nghiên cứu cũng
dự báo rằng, nếu không thay đổi chính sách, đến năm 2021, Quỹ Bảo hiểm xã hộisẽ bắt
đầu thâm hụt và cạn kiệt vào năm 2034. Từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp:
tăng tuổi về hưu, tính lại công thức đóng và hưởng, thay đổi cách thức đầu tư sinh lời
của nguồn quỹ, tăng cường việc tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động có đủ
điều kiện….
Liên quan trực tiếp đến đề tài về loại hình các quỹ cộng đồng: Về loại hình bảo
hiểm xã hội nông dân có nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội (2007). Trong báo cáo “Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải
pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện”
đã nghiên cứu về các đặc điểm của loại hình bảo hiểm xã hội nông dân, trong đó tập
trung nghiên cứu về tính bền vững tài chính và cách thức chuyển đổi sang bảo hiểm xã
12


hội tự nguyện. Sau nghiên cứu này, bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An đã được
chuyển đổi sang bảo hiểm tự nguyện, tuy nhiên, số lượng chuyển đổi ít và không thực
sự phù hợp với nhu cầu của người dân.
Ngoài ra còn phải kể đến một nghiên cứu rất toàn diện về loại hình quỹ này của
P.Castel (2007), Nghe An Voluntary Pension Fund: Transition to the nation scheme
policy Option. Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, thể
ché tài chính của loại hình quỹ này và đưa ra các lựa chọn cùng với bình luận về ưu và
nhược điểm cũng như những gói giải pháp đi kèm.
Về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, cũng có rất

nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo. Tuy nhiên, các bài báo mới chỉ
mang tính báo chí, giới thiệu mô hình mà chưa có tìm hiểu sâu sắc, mang tính khoa học
về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước về an sinh
xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các cơ chế cộng đồng trong hệ thống an sinh. Ngay cả
nghiên cứu về loại hình quỹ lương hưu tự nguyện cũng đã có. Tuy nhiên, nghiên cứu
này lại có hướng tiếp cận khác biệt. Nghiên cứu sẽ vận dụng các kiến thức của an sinh
xã hội và công tác xã hội; tiếp cận từ nhu cầu của người dân. Nghiên cứu không chỉ tập
trung vào tính bền vững về tài chính của quỹ như các nghiên cứu trên mà còn đánh giá
tính bền vững đó qua cơ sở pháp lý, qua tác động xã hội của quỹ, qua nhu cầu của
người dân, qua độ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương để từ đó đưa ra những
lựa chọn và những giải pháp sát thực để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện bảo xã hội cho
nông dân, hướng đến an sinh toàn dân.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1.
Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết và quan điểm khoa học về an sinh xã hội và công
tác xã hội vào nghiên cứu một loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi xã hội dành cho
nông dân. Thông qua nghiên cứu, các lý thuyết, quan điểm về an sinh xã hội, bảo hiểm
xã hội và công tác xã hội sẽ được vận dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam.
13


Nghiên cứu cũng sẽ khẳng định vai trò của các cơ chế cộng đồng trong việc đảm
bảo an sinh cho người nông dân. Nghiên cứu đi sâu vào phân tích hoạt động của Quỹ
dưới góc nhìn khoa học để cung cấp những tài liệu mang tính khoa học về một loại
hình quỹ cộng đồng vốn đã và đang tồn tại trong hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã
hội tại Việt Nam. Về cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu so sánh về thể chế tổ chức, thể chế
tài chính và thể chế chính sách của loại hình quỹ này với các loại hình bảo hiểm chính
thống của Nhà nước hiện nay để tìm ra sự giống và khác nhau.

Thông qua thực tế hoạt động của quỹ, nghiên cứu sẽ làm rõ hơn các giải pháp để
nâng cao hiệu quả trong việc phát huy các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an
sinh cho người nông dân nói riêng và người dân nói chung, từ đó đóng góp các ý tưởng
vào việc định hướng và hoàn thiện các cơ chế đảm bảo an sinh xã hội cho người nông
dân nói riêng và các tầng lớp xã hội nói chung.
3.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đánh giá ưu và nhược điểm của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi
dành cho nông dân đang tồn tại trong thực tế. Qua đó đề xuất những giải pháp phù hợp
để nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ tự nguyện này.
Đồng thời, nghiên cứu sẽ cung cấp một cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về các
loại hình quỹ bảo hiểm, phúc lợi: Tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội, nhấn mạnh đến
nhu cầu của đối tượng thụ hưởng. Đây là hướng tiếp cận liên ngành. Bởi có nhiều loại
hình quỹ, khi tiếp cận dưới góc độ an sinh xã hội hay bảo hiểm xã hội, nó không có
tính bền vững cao về mặt khoa học, nhưng lại phù hợp với nhu cầu của người dân và
vẫn thể hiện tính bền vững của mình về mặt tài chính, chính sách qua các năm. Do đó,
khi nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến an sinh xã hội, các loại hình bảo hiểm cần
hết sức chú ý đến tác động xã hội cũng như nhu cầu của đối tượng thụ hưởng. Ngoài sự
bền vững về tài chính, mức độ hài lòng và tin tưởng của người dân sẽ mang tính quyết
định sự tồn tại và bền vững của của các loại hình quỹ lương hưu nói riêng và các quỹ
trong an sinh xã hội nói chung.
Ngoài ra, nghiên cứu sẽ góp phần vào xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội
phù hợp, bền vững dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội nói
14


riêng và nông dân ở nhiều địa phương khác trong cả nước bằng việc khắc phục các
nhược điểm, phát huy các ưu điểm đã và đang tồn tại. Thông qua nghiên cứu, các ưu
điểm và nhược điểm của quỹ sẽ được đánh giá một cách toàn diện, từ đó, nghiên cứu sẽ
tổng kết ra những điểm chung nhất và cần thiết nhất trong việc xây dựng các quỹ có

tính cộng đồng tương tự.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Lịch sử ra đời và hoạt động của loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho
nông dân tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thực hiện như thế nào?
Tác động của quỹ đối với đời sống của người dân được thể hiện như thế nào?
Tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh
Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thể hiện như thế nào?
Có nên duy trì hoạt động của các loại hình quỹ tự nguyện trong hệ thống bảo
hiểm xã hội dành cho nông dân hay không?
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại xã Thanh Văn, huyện
Thanh Oai, Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
6. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013
Không gian: Xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung nghiên cứu hoạt động của loại hình
quỹ bảo hiểm và phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Qua đó so sánh các thể chế của quỹ với các loại hình quỹ cộng đồng khác cũng như
bảo hiểm xã hội của nhà nước. Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá các tác động của
quỹ đối với đời sống của người dân địa phương. Ngoài ra, nghiên cứu đánh giá tính
bền vững trong hoạt động của quỹ trên các tiêu chí: tính pháp lý, độ phù hợp với nhu
cầu của người dân, tính bền vững về tài chính…Từ đó đưa ra các đề xuất có tính thực
tiễn về việc duy trì loại hình quỹ cộng đồng trong hệ thống các cơ chế đảm bảo an sinh
xã hội cho người dân ở khu vực phi chính thức; đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng
cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng tại Thanh Văn nói riêng và hướng
15



đến việc hoàn thiện một hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp, sát thực, có khả năng thu
hút người dân tham gia, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho nông dân.
7. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
7.1. Mục đích
Nghiên cứu tập trung phân tích hoạt động của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc
lợi tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đồng thời, đánh giá tác động xã hội,
đánh giá tính bền vững của mô hình. Từ đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh cho người
nông dân nói riêng và người dân nông thôn nói chung.
7.2. Nhiệm vụ
Mô tả đặc điểm của loại hình quỹ ở các khía cạnh: hoạt động, đặc điểm tài
chính, đặc điểm tổ chức, đặc điểm chính sách…
Tìm hiểu, đánh giá tác động của quỹ đối với đời sống của người dân địa phương
Đánh giá tính bền vững của quỹ trên các tiêu chí: bền vững về tài chính, tính
pháp lý, độ phù hợp với nhu cầu của người dân.
Đưa ra các đề xuất phù hợp để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
có các đặc điểm hoạt động giống với bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn có tác động tích cực đối với đời sống
của người dân địa phương.
Cần thiết phải duy trì và phát triển hệ thống Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho
nông dân trong công tác đảm bảo an sinh cho người dân nông thôn.
Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển
loại hình quỹ cộng đồng này.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1.
Phương pháp luận
Mọi công trình khoa học đều không thể thiếu nền tảng phương pháp luận và

phương pháp nghiên cứu. Phương pháp luận cho biết cách thức tiếp cận một vấn đề xã
hội cụ thể. Phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cận
vấn đề của nghiên cứu. Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của

16


một nghiên cứu khoa học. Luận văn này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
phương pháp luận để lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội. Quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan không tồn tại riêng rẽ, tách rời mà có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Điều
đó đòi hỏi, khi nghiên cứu về loại hình quỹ bảo hiểm phúc lợi dành cho nông dân
không được xem xét nó một cách riêng lẻ, tách biệt với những mối liên hệ của nó trong
xã hội. Khi phân tích hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh
Oai, cần đặt các hoạt động của nó trong mối liên hệ với tình hình kinh tế - xã hội địa
phương, đời sống người dân, các luật pháp, chính sách quy định về an sinh xã hội nói
chung và hoạt động của các loại hình quỹ cộng đồng nói riêng. Sự tồn tại và phát triển
của Quỹ sẽ kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật, hiện tượng trong
xã hội với cái nhìn mang tính lịch sử của nó. Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động
của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi cũng phải đặt trong các bối cảnh kinh tế, văn
hóa, xã hội mà nó tồn tại; đồng thời cần nghiên cứu kỹ lưỡng sự biến chuyển trong các
hoạt động của quỹ theo thời gian.
9.2.
Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1. Trưng cầu ý kiến
Nghiên cứu tiến hành trưng cầu ý kiến của người dân tham gia quỹ.
Dung lượng mẫu: 155

Cách thức lựa chọn mẫu: Ngẫu nhiên nhưng đảm bảo cân bằng về số lượng
người được nhận và chưa được nhận lương, giữa nam và nữ
Cơ cấu mẫu: Trong 155 mẫu được lựa chọn, có 80 người trên 60 tuổi (52,1%)
người đã được nhận lương; có 74 người (47.7%) là nữ.
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn
Tiêu chí
Nam

Giới tính
Số người
81

Tỷ lệ (%)
52,3

Tiêu chí
Trên 60
17

Độ tuổi
Số người
80

Tỷ lệ (%)
52,1


Nữ
Tổng


74
155

47,7
100

Dưới 60
Tổng

18

75
155

47,9
100


9.2.2. Phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu là để thu thập các thông tin chính xác, cụ thể, có tính
chiều sâu. Để có những thông tin cụ thể, chính xác làm căn cứ phân tích hoạt động của
Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội.
Số lượng phỏng vấn sâu 25. Trong đó:
15 nông dân tham gia quỹ
05 người dân không tham gia quỹ
02 cán bộ quản lý quỹ
02 đại diện chính quyền
01 chuyên gia về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội ;
9.2.3. Phân tích tài liệu:
Nghiên cứu cũng thu thập và phân tích các tài liệu về lịch sử hình thành và phát

triển quỹ; cơ chế thu chi, các báo cáo hàng năm của quỹ cũng như các bài báo, các tài
liệu có thông tin về lịch sử hình thành, hoạt động, tác động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc
lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội với đời sống người tham gia.

19


NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Khái niệm công cụ
1.1.1. Quỹ cộng đồng (Mô hình bảo hiểm dựa vào cộng đồng)
“Là hình thức bảo hiểm vi mô do cộng đồng, tổ chức phi chính phủ (tự nguyện và
phi lợi nhuận) cung cấp dịch vụ cho các hộ gia đình với mục đích phòng ngừa, giảm
thiểu và khắc phục rủi ro.
Mô hình này được hoạt động theo cơ chế chia sẻ rủi ro, tập trung quyền lực của
những nhóm có cùng đặc trưng, lợi ích. Mô hình này được tổ chức và quản lý ở cộng
đồng và mang tính tự nguyện. Các thành viên tham gia đồng thời là chủ sở hữu và
người hưởng lợi” [23, tr.45]
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa trên của Viện Khoa học Lao
động xã hội và Giz trong cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội về quỹ cộng đồng. Các đặc
điểm, tính chất của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh
Oai, Hà Nội nằm trong đặc điểm, tính chất của loại hình quỹ cộng đồng (mô hình bảo
hiểm dựa vào cộng đồng nêu trên)
1.1.2. An sinh xã hội
Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Mỹ (Luật An sinh xã hội – 1935) chỉ
sự bảo vệ trong bốn trường hợp: Già cả, chết, tàn tật và thất nghiệp. Năm 1938, thuật
ngữ an sinh xã hội được sử dụng làm tên gọi cho đạo luật quy định về các chế độ trợ
cấp xã hội đang áp dụng tại New Zealand. Năm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức
Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua công ước 102 về an sinh xã hội. Ở Việt Nam, an
sinh xã hội được sử dụng lần đầu tiên tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về an sinh xã hội. Cho đến nay, do sự phức
tạp và đa dạng của an sinh xã hội nên tồn tại nhiều nhận thức khác nhau về lĩnh vực
này. An sinh xã hội cũng có những khác biệt giữa các quốc gia.
Có nguồn gốc từ tiếng Anh, Social security nhưng khi dịch sang tiếng Việt,
ngoài an sinh xã hội, nó còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã
hội…với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social
20


securiry là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống hòa bình, tự do làm
ăn, cư trú, di chuyển, tự do ngôn luận trong khuôn khổ của pháp luật; được bảo vệ,
bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, nhà ở; được đảm bảo thu nhập để
thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Điều này
cũng được thể hiện qua một số định nghĩa:
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “An sinh xã hội là những biện pháp
công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm
chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những
bấp bênh về thu nhập”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - 1984): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã
hội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng
rãi để đương đầu với những khó khăn, những cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc
suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong. An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ
giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” [10, tr.11]. Định nghĩa này nhấn mạnh
khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực
kinh tế không chính thức.
Theo tác giả Hoàng Chí Bảo trong đề tài KX02.02/06-10: “An sinh xã hội là
sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động
lực cho sự phát triển con người và xã hội. An sinh xã hội là những bảo đảm xã hội
cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người,
tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể

mang nhân cách.
An sinh xã hội bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con người
sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong
quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những đảm bảo về cuộc sống,
những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặc
phá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ”
21


Trong “Thuật ngữ an sinh xã hội” của Viện Khoa học Lao động Xã hội (Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội) và GIZ thì an sinh xã hội được định nghĩa như sau:
“An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội
và trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định và của tư nhân) nhằm
giảm mức độ đói nghèo và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và
xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định,
phát triển và công bằng xã hội” [23, tr.10]
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về an sinh xã hội.
Điều này không chỉ gây ra tranh cãi ở Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chú trọng sử dụng định nghĩa
của tổ chức Viện Khoa học Lao động Xã hội và GIZ (2011), vì định nghĩa này nhấn
mạnh đến vai trò của cộng đồng nói chung và tư nhân nói riêng, với các chế độ không
theo luật định. Định nghĩa này công nhận sự tồn tại của các quỹ cộng đồng là một
dạng thức nhỏ nằm trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam.
1.1.3. Phúc lợi xã hội
Cũng giống an sinh xã hội, cũng có rất nhiều khái niệm và nhận thức nhau về
phúc lợi xã hội. Thậm chí mối quan hệ giữa phúc lợi xã hội và an sinh xã hội cũng có
sự khác biệt ở mỗi trường phái, mỗi quốc gia.
Theo “Thuật ngữ an sinh xã hội” của ILLSA và GIZ (2011): “Phúc lợi là hoạt
động của người dân, cộng đồng và tổ chức trong xã hội nhằm đảm bảo mức sống tối
thiều và các điều kiện sống nhất định” [23, tr. 53 – 54]

Trong nghiên cứu này, phúc lợi xã hội được coi là bộ phận thu nhập được phân
phối lại để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần cho người dân. Người dân có thể
nhận được các loại hỗ trợ về y tế, nghỉ dưỡng, học tập…mà không phải trả tiền.
1.1.4. Bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [18, tr.2]..
22


×