Bộ Công Thương
Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM
Viện Công Nghệ Sinh Học Và Thực Phẩm
Lớp: NCTP5A
Nhóm: 02
GV: Nguyễn Thị Trang
Đề Tài:
Enzyme protease
Nội dung chính gồm:
GIỚI THIỆU
II- CHUẨN BỊ GIỐNG – TẠO SINH KHỐI
2.1. Phân lập giống Vi Sinh Vật – Chủng nấm mốc Aspergillus Oryzae.
2.1.1. Vai trò của giống trong công nghệ enzyme.
2.1.2. Yêu cầu giống Vi Sinh Vật trong công nghiệp enzyme.
2.1.3. Giới thiệu về chủng nấm mốc Aspergillus oryzae.
2.1.4. Quá trình phân lập giống Vi Sinh Vật.
a. Phân lập giống trong điều kiện tự nhiên.
b. Phân lập giống trong điều kiện sản xuất.
c. Phân lập giống trong mẫu giống đã hư hỏng.
2.2. Giới thiệu phương pháp phân lập nấm mốc Aspergillus Oryzae
III: CÔNG NGHỆ LÊN MEN TẠO ENZYME PROTEASE
3.1. Giới thiệu về phương pháp lên men bề mặt
a. Môi trường lỏng.
b.Môi trường đặc.
3.2. Sản xuất nấm mốc giống – nuôi cấy tạo sinh khối.
3.2.1. Môi trường cho sản xuất mốc giống:
3.2.2. Chuẩn bị mốc giống.
3.2.3. Nuôi cấy tạo sinh khối .
3.3. Thu nhận enzym protease từ nấm mốc Aspergillus Oryzae.
3.3.1. Sinh trưởng và sinh tổng hợp protease từ nấm.
3.3.2.Qui trình thu nhận enzyme protease.
Thuyết minh qui trình:
Thu nhận sản phẩm:
Trích ly:
Quá trình kết tủa enzym protease:
II. Kết luận
I. Giới Thiệu
Sử dụng enzyme trong sản xuất và đời sống là một vấn đề được các nhà
khoa học và kỹ thuật chú ý từ lâu. Ngày nay, việc sử dụng này đã trở
thành phổ biến ở nhiều nước và đã mang lại lợi ích kinh tế khá lớn.
Ngoài số enzyme đa được sử dụng rộng rãi và lâu đời( amylaza,
prôtêaza…), còn có hàng chục loại enzyme khác đã được nghiên cứu và
áp dụng vào thực tế.
II- CHUẨN BỊ GIỐNG – TẠO SINH KHỐI
2.1. Phân lập giống Vi Sinh Vật – Chủng nấm mốc Aspergillus Oryzae.
- Quá trình lên men là hoạt động sống của tế bào Vi Sinh Vật trong môi
trường. Quá trình này xảy ra ở điều kiện tự nhiên và quá trình sản xuất
công nghiệp. Bản chất của 2 quá trình này có thể nói là như nhau nhưng
về mặt hình thức và phương diện thì khác nhau hoàn toàn.
Vi sinh vật công nghiệp.
Ứng dụng của Nấm mốc
Aspergillus oryzae
2.1.1. Vai trò của giống trong công nghệ enzyme.
Trong công nghệ enzyme từ VSV, giống đóng vai trò quyết định:
- Giống VSV quyết định đến năng suất enzyme của nhà máy.
- Giống VSV quyết định đến chất lượng sản phẩm sinh học ( hay là hoạt tính
enzyme).
- Giống VSV quyết định vốn đầu tư cho sản xuất.
- Và cuối cùng là giống VSV quyết định đến giá thành sản phẩm.
Như vậy, giống VSV có ý nghĩa to lớn trong phát triển công nghệ VSV.
vai trò của ion Hydronium trong phản ứng xúc
tác của các enzym
Enzyme tái tổng hợp
2.1.2. Yêu cầu giống Vi Sinh Vật trong công nghiệp enzyme.
Công nghệ sản xuất enzyme thuộc nhóm công nghệ lên men hiện
đại và được sản xuất theo quy mô công nghiệp. Do đó, giống VSV
ứng dụng trong công nghệ enzyme cần phải có những yêu cầu và
những chuẩn mực nhất định. Đó là:
- Giống VSV phải cho ra sản phẩm mà ta mong muốn.
- Giống phải cho năng suất sinh học cao.
- Giống VSV phải có khả năng thích nghi nhanh và phát triển mạnh trong điều kiện sản xuất công nghiệp.
- Giống VSV phải có khả năng đồng hóa các nguyên liệu rẻ tiền và dễ kiếm tại địa phương nơi nhà máy đang hoạt động.
Các vi sinh vật thường được sử dụng để lên men
là vi khuẩn
Công nghệ di truyền, côngnghệ tế
bào, công nghệ enzym
- Giống sử dụng trong các quá trình sản xuất hiện đại phải là những VSV thuần khiết,
có tốc độ sinh sản nhanh.
- Tốc độ trao đổi chất mạnh để tạo nhanh sản phẩm mong muốn; dễ dàng tách sản
phẩm ra khỏi các tạp chất môi trường và sinh khối VSV giống.
- Giống phải ổn định trong bảo quản và dể dàng bảo quản.
Để tạo thuận lợi nhất về chủng giống VSV cung cấp cho quá trình lên men công
nghiệp, ta cần tiến hành phân lập giống VSV thuần khiết.
2.1.3. Giới thiệu về chủng nấm mốc Aspergillus oryzae.
Aspergillus oryzae
- Asp. oryzae là một loại nấm vi thể thuộc bộ Plectascales, lớp
Ascomycetes ( nang khuẩn ). Cơ thể sinh trưởng của nó là một hệ
sợi bao gồm những sợi rất mảnh, chiều ngang 5-7 µm, phân
nhánh rất nhiều và có vách ngang , chia sợi thành nhiều bao tế
bào ( nấm đa bào ).
- Từ những sợi nằm ngang này hình thành những sợi đứng thằng
gọi là cuống đính bào tử, ở đó có cơ quan sinh sản vô tính. Cuống
đính bào tử của Asp.oryzae thường dài 1-2 mm nên có thể nhìn
thấy bằng mắt thường. Phía đầu cuống đính bào tử phồng lên
gọi là bọng.
-Từ bọng này phân chia thành những tế bào nhỏ, thuôn, dài, gọi là những tế bào hình chai. Đầu các tế bào hình chai phân chia thành những bào tử đính vào nhau, nên gọi là đính bào tử. Đính bào tử của Asp.oryzae có màu
vàng lục hay màu vàng hoa cau…
2.1.4. Quá trình phân lập giống Vi Sinh Vật.
- Thông thường để phân lập một giống chủng VSV để thu nhận enzyme thì
có 3 cách phân lập:
+ Phân lập giống trong điều kiện tự nhiên
+ Phân lập giống trong điều kiện sản xuất
+ Phân lập giống trong mẫu giống đã hư hỏng.
a. Phân lập giống trong điều kiện tự nhiên.
- Trong điều kiện tự nhiên, VSV để có thể tồn tại và thích nghi nhanh được
thì cần phải có khả năng sinh tổng hợp thật nhiều loại enzyme để chuyển
hóa nhanh cơ chất có trong môi trường thành vật chất cung cấp cho tế
bào. Điều này thì không thích hợp cho việc sinh tổng hợp enzyme ( ở quy
mô sản xuất công nghiệp ) với một loại enzyme thật sự mạnh.
các vi khuẩn có lợi đượcphân lập từ các loài vi
khuẩn có trong tự nhien
trong mọi điều kiện nhằm gia tăng số lượng sinh
sản trong tự nhiên
b. Phân lập giống trong điều kiện sản xuất.
- Mật độ tế bào vi sinh vật trong điều kiện sản xuất (trong dịch lên men,
dịch nước thải, chất thải của quá trình lên men) thường rất cao. Do đó,
khả năng thu nhận được những chủng có bản năng sinh tổng hợp cao
thường rất cao.
Sản xuất giống ca cao từ vườn cây đầu dòng được
công nhận
Tuyển chọn và sản xuất một sốgiống hoa hồng, hoa
cúc mới phù hợp với điều kiện sản xuất
c. Phân lập giống trong mẫu giống đã hư hỏng.
- Các ống giống có thể bị nhiễm do quá trình bảo quản. Do bị nhiễm, có thể rất nhiều tế bào VSV giống bị thoái hoá, nhưng cũng còn nhiều tế bào không bị thoái hoá. Việc phân lập lại từ nguồn giống này nhiều khi lại đạt được những kết quả tốt.