Tải bản đầy đủ (.doc) (121 trang)

QUAN NGU TINH THAI TRONG TIEU THUYET SO DO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (466.76 KB, 121 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

------------

TRẦN THỊ PHƯƠNG

QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT
SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Phuợng

HÀ NỘI, 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất
kì công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương


LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của
PGS. TS Trần Kim Phượng. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn biết ơn sâu sắc


tới cô.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ
Ngôn ngữ, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng Quản lý sau đại học- trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
luận văn này
Hà Nội, ngày 15/10/2014
Tác giả luận văn

Trần Thị Phương


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Quán ngữ tình thái là một kiểu phương tiện đặc biệt, đó là những tổ
hợp từ có tính ổn định do nhu cầu giao tiếp mà được sử dụng nhiều lần. Đây
không phải chỉ là phương tiện kết nối hay phương tiện rào đón, đưa đẩy, dẫn
ý, chuyển ý mà còn có vai trò quan trọng hơn rất nhiều. Chúng tham gia biểu
thị tình thái của câu, nằm trong thành tố cấu trúc ngữ nghĩa- ngữ dụng, làm
phương tiện bổ trợ, tác động vào nội dung mệnh đề, vào ý nghĩa của chỉnh thể
câu, đưa vào câu nhiều kiểu tình thái đánh giá, biểu cảm khác nhau gắn với
hoàn cảnh giao tiếp, tạo tính hấp dẫn, sinh động của lời nói.
1.2. Gắn với một tác phẩm văn học, quán ngữ tình thái giúp cho việc
biểu lộ tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ của nhân vật trở nên phong phú, sinh động
với nhiều hàm ý sâu sắc đồng thời cũng góp phần tạo nên những đặc sắc nghệ

thuật lôi cuốn độc giả. Qua quá trình giải mã và lĩnh hội văn bản mà người
đọc có cái nhìn đa chiều hơn về thế giới nội tâm cũng như phong cách nghệ
thuật của nhà văn.
1.3. Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một trong những tiểu thuyết gây
được tiếng vang lớn trong lòng độc giả. Tác phẩm có sử dụng một số lượng
lớn các quán ngữ tình thái (chủ yếu ở lời thoại của các nhân vật), chúng có vai
trò vô cùng quan trọng trong việc biểu thị tính cách, suy nghĩ, thái độ, tình
cảm của các nhân vật và góp phần không nhỏ tạo nên những đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của tiểu thuyết này.
Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Quán ngữ tình thái trong tiểu
thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng với mong muốn tiếp cận sâu thêm và lĩnh
hội trọn vẹn hơn tác phẩm dưới góc độ ngôn ngữ học.

1


2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tình thái
- Các nhà nghiên cứu nước ngoài:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình thái của các tác giả nước ngoài,
tiêu biểu như: B. Gak, C. Bally, V. Vinogradov, O.B. Xirotinina, N. Chomsky, J.
Lyons, F. Palmer… Những nghiên cứu này chủ yếu đi theo hai hướng: quan
niệm rộng và quan niệm hẹp về tình thái.
+ Quan niệm rộng về tình thái: tình thái bao gồm “tất cả những gì mà
người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề”. [Dẫn theo 20, 92].
Đây là quan điểm của Bybee, Benveniste, Rescher…
+ Quan niệm hẹp: tình thái là “thái độ của người nói đối với nội dung
mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả”. [Dẫn theo 20,
85]. Đây là quan điểm của V.N. Bondrenko, J. Lyons, Palmer, Herman Paret …
- Ở Việt Nam, vấn đề tình thái cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên

cứu từ rất sớm. Có thể kể đến những tên tuổi như: Cao Xuân Hạo [19],
Nguyễn Đức Dân [10], Nguyễn Thị Thìn [45], Phạm Hùng Việt [53], Nguyễn
Minh Thuyết [46], Nguyễn Thị Lương [32], Bùi Minh Toán [47], Nguyễn
Văn Hiệp [20]…
Với các công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã đưa ra nhiều quan
điểm sâu sắc, thú vị trên nhiều phương diện khác nhau của vấn đề tình thái.
Điều này sẽ được chúng tôi cụ thể hơn ở chương Cơ sở lí luận.
2.2. Lịch sử nghiên cứu quán ngữ và quán ngữ tình thái
Quán ngữ và quán ngữ tình thái đã được đề cập đến trong rất nhiều
công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985,
1996), Hoàng Trọng Phiến (1982), Đỗ Hữu Châu (1985, 1996), Nguyễn Văn
Tu (1986), Cao Xuân Hạo (1991, 2004), Nguyễn Thị Thìn (2000, 2001), Đỗ
Thanh (2002), Ngô Hữu Hoàng (2002), Ngũ Thiện Hùng (2003)… Tuy nhiên,

2


quan điểm của các tác giả chưa thống nhất cả về tên gọi lẫn nội dung, đặc
trưng của quán ngữ, quán ngữ tình thái.
- Về tên gọi: quán ngữ và quán ngữ tình thái còn được gọi bằng những
tên khác nhau như:
+ Nguyễn Kim Thản [41] đề nghị gọi là phụ chú ngữ: nói trộm bóng,
có lẽ, kể ra…
+ Cao Xuân Hạo [18] gọi là đề tình thái với tổ hợp như: lẽ ra, không
khéo, có điều, được cái, khốn nỗi…; và thành phần chuyển tiếp với những tổ
hợp như: thế mà, thế rồi, thế nhưng…
+ Hoàng Văn Hành [17] coi là thành ngữ ở dạng tỉ dụ.
+ Vũ Đức Nghiệu [36] gọi là ngữ cố định định danh.
+ Lưu Vân Lăng [31] cho đó là gia tố: ấy thế, vả lại, mới chết chửa, có
ai ngờ…

+ Nguyễn Minh Thuyết [46] gọi các quán ngữ như: thì thôi, thì phải,
thì khốn, thì chết, thì chớ, là cùng, là may… là thành phần tình thái ngữ có
cấu tạo là những tổ hợp có tính đặc ngữ.
- Về khái niệm:
+ Các công trình nghiên cứu về quán ngữ diễn ra theo 2 hướng:
Hướng nghiên cứu thứ 1:
Giải thích theo lối chiết tự thì quán là quen, tức quán ngữ là một loại ngữ
cố định quen dùng, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của những yếu tố cấu thành.
Đây là quan điểm của: Hữu Đạt [11], Nguyễn Như Ý [55], Hoàng Phê
[37], Trần Thị Yến Nga [35]…
Hướng nghiên cứu thứ 2:
Một số nhà nghiên cứu lại chú trọng đến chức năng của quán ngữ mà
coi đây là những cách nói, cách diễn đạt được dùng lặp đi lặp lại trong các

3


phong cách khác nhau để đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh nội dung
nào đó.
Đây là quan điểm của: Nguyễn Thiện Giáp [15], Đỗ Hữu Châu [8], Vũ
Đức Nghiệu [36]…
+ Nói đến quán ngữ tình thái, các nhà nghiên cứu đều chú ý đến công
dụng, vai trò của lớp đơn vị ngôn ngữ này để đưa ra quan niệm.
Nguyễn Thị Thìn [44] xem quán ngữ tình thái là một tiểu loại của quán
ngữ, được dùng trong chức năng dụng học, có số lượng lớn, có khả năng thể
hiện ý nghĩa tình thái dụng học hết sức phong phú.
Theo tác giả Nguyễn Thị Việt [54], quán ngữ tình thái mang các đặc
tính cơ bản của quán ngữ nói chung, đồng thời được sử dụng để thể hiện mối
quan hệ giữa người nói với nội dung sự tình hoặc với người nghe.
- Về đặc trưng của quán ngữ:

+ Dựa theo kết quả của hướng nghiên cứu thứ nhất có thể thấy một đặc
trưng quan trọng: nghĩa của quán ngữ được suy ra từ nghĩa của các thành tố
hợp thành, tức chúng không có tính hình tượng (nghĩa bóng). Đây là đặc
trưng quan trọng giúp phân biệt quán ngữ và thành ngữ.
+ Theo kết quả của hướng nghiên cứu thứ hai có thể thấy một đặc trưng
nổi bật nữa của quán ngữ: được sử dụng lặp đi lặp lại thành quen dùng như
một cách nói chuyên dụng.
2.3. Lịch sử nghiên cứu về Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Số đỏ là một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của Vũ Trọng
Phụng, cùng với Giông tố là “những thùng thuốc nổ ném vào giữa xã hội thực
dân tư sản”. [34, 62]. Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu
liên quan đến tiểu thuyết Số đỏ như sau:

4


- Nguyễn Khải đánh giá cuốn tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là
một trong số những “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn
học” ra đời vào những năm 30. [28, 65],
- Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định Số đỏ “đã phát huy đến cao độ tài
năng trào phúng sắc sảo” của Vũ Trọng Phụng. Tác giả cũng chú trọng vào
những nét nghệ thuật trào phúng đặc sắc của tiểu thuyết trên các phương diện:
xây dựng các chân dung hí họa, tạo ra những tình huống trào phúng gây cười
đặc biệt, tạo mâu thuẫn trào phúng, sử dụng những cách so sánh, ví von bất
ngờ, độc đáo, cách phóng đại bằng những con số có vẻ chính xác… [34, 65]
- Nguyễn Hoành Khung cũng đưa ra nhiều ý kiến đánh giá giá trị của
tiểu thuyết Số đỏ. Tác giả chú ý đến những vấn đề như: phạm vi phản ánh
hiện thực của tác phẩm, tiếng cười trào phúng, tư tưởng bi quan định mệnh ít
nhiều còn chi phối tư tưởng nhà văn, biểu hiện trực tiếp qua một số nhân vật...
[30, 449]

- Trong luận văn thạc sĩ năm 2005, Đặng Nguyệt Anh chú trọng đi tìm hiểu
Đặc trưng lời nói nghệ thuật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
- Vũ Thị Bích Huệ đi vào tìm hiểu tầng nghĩa ẩn sâu qua lớp ngôn từ bề
mặt của Số đỏ với luận văn thạc sĩ Hàm ngôn trong tiểu thuyết Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng năm 2006
- Nghiên cứu về Số đỏ, Bùi Thu Hương lại đi vào khai thác khía cạnh
Đặc trưng phong cách câu văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng (qua khảo sát lời người kể chuyện) (Luận văn thạc sĩ,
ĐHSPHN, 2011).
Qua hàng loạt các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng có thể thấy rằng: tác phẩm này đã được đi sâu khai thác trên cả
phương diện nội dung và nghệ thuật. Nhưng đến nay chưa có bất kì một công
trình nào nghiên cứu về quán ngữ tình thái trong Số đỏ. Do vậy, chúng tôi lựa

5


chọn quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Số đỏ làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống các quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Số đỏ, miêu tả
những đặc trưng của chúng.
- Chỉ ra vai trò của quán ngữ tình thái trong việc biểu đạt các hành vi
ngôn ngữ và các sắc thái tình cảm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề cơ sở lý thuyết (quán ngữ, quán ngữ tình thái,
nghĩa tình thái).
- Thu thập ngữ liệu, khảo sát, thống kê, phân loại các nhóm quán ngữ
tình thái trong tiểu thuyết Số đỏ.

- Miêu tả các quán ngữ tình thái trong Số đỏ để thấy được đặc điểm cấu
tạo, vị trí và đặc trưng của từng nhóm quán ngữ tình thái.
- Tiến hành phân tích để rút ra được vai trò của các quán ngữ tình thái
trong việc thể hiện các hành vi ngôn ngữ và các sắc thái tình cảm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu Quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát các quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết
Số đỏ trong Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (tập 2), NXB Văn học, 2011.
Các tiểu từ tình thái, trợ từ, thán từ sẽ không phải là đối tượng nghiên
cứu của luận văn.

6


5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ
pháp cơ bản sau đây:
- Thủ pháp thống kê, phân loại được dùng để thu thập và xử lý ngữ liệu
về quán ngữ tình thái.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học được dùng để phân tích ngữ
nghĩa chức năng của các quán ngữ tình thái thu thập được.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học được dùng để trình bày quá trình
khảo sát, miêu tả đối tượng.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: phân tích quán ngữ tình thái không
thể tách rời với phát ngôn, ngữ cảnh mà nó xuất hiện. Vì vậy, phương pháp
này được sử dụng để tiến hành những nghiên cứu trong chương 3.
6. Đóng góp của luận văn

6.1. Về mặt lí luận
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng góp phần làm sáng tỏ vai trò
của quán ngữ tình thái, nghĩa tình thái… khi nghiên cứu các vấn đề cụ thể của
văn bản.
6.2. Về mặt thực tiễn
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn gợi một hướng tiếp
cận cho giáo viên, học sinh khi tìm hiểu các tác phẩm văn học trong chương
trình phổ thông: vận dụng các kiến thức ngôn ngữ học để phục vụ cho việc
đọc- hiểu tác phẩm văn học theo phương pháp tích hợp.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn được
chia thành 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí thuyết

7


+ Chương 2: Quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Số đỏ nhìn từ bình
diện ngữ pháp và ngữ nghĩa
+ Chương 3: Quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Số đỏ nhìn từ bình
diện ngữ dụng.
Ngoài ra, luận văn còn có phần mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục.

8


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái quát về tình thái
1.1.1. Khái niệm tình thái
Tình thái là một khái niệm vô cùng phức tạp, tồn tại rất nhiều quan

điểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước.
1.1.1.1. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài
Theo quan điểm của B. Gak, “tình thái phản ánh mối quan hệ của
người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế.
Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của
một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói”. [Dẫn theo 20, 84]
Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại
song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối hệ khác nhau của thông báo
với thực tế. Ông cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu
hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với thực tại” [Dẫn theo 20, 84].
O.B.Xirotinina cho rằng tình thái nằm trong cấu trúc vị tính của câu.
Theo đó “thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và
cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo”.
[Dẫn theo 20, 84]
Benveniste lại xem tình thái là một phạm trù rộng khó có thể tổng hợp,
nó gắn với sự mong chờ, đánh giá, thái độ… của người nói đối với nội dung
phát ngôn, đối với người nghe, với mục đích của phát ngôn: hỏi, mệnh lệnh,
xác tín… [Dẫn theo 33, 10]
Herman Paret quan niệm tình thái theo nghĩa hẹp: “tình thái biểu đạt
sự cần thiết, khả năng và sự ngẫu nhiên trong mệnh đề, mà các mệnh đề lại
phụ thuộc vào một động từ chỉ thái độ”… [Dẫn theo 33, 12].

9


1.1.1.2. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
Nguyễn Thị Thìn đặc biệt chú ý đến thành phần tình thái dụng học và
hình thức thể hiện trong câu tiếng Việt. Theo tác giả, thành phần tình thái
dụng học là thành phần nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa người nói với điều
được nói tới trong câu, giữa người nói với người nghe. Vì vậy, nó mang đậm

sắc thái chủ quan, đối lập với thông tin trí tuệ- thông tin phản ánh hiện thực
khách quan. Thành phần nghĩa dụng học gồm hai loại thông tin:
- Lập trường, thái độ, tình cảm cảm xúc, sự đánh giá chủ quan, quan hệ
của người nói đối với điều được nói tới trong câu hoặc đối với người nghe.
- Tình thái hành vi ngôn ngữ tức thông tin về hành vi ngôn ngữ được
thực hiện ngay khi nói và bằng việc nói ra câu đang xét trong một ngữ cảnh
cụ thể. [45, 29- 33]
Phạm Hùng Việt [53] quan niệm: “Trong một ngôn ngữ, bên cạnh nội
dung chứa đựng thông tin về sự kiện, sự việc, tình trạng... còn có một thành
phần thể hiện quan hệ của người nói đối với nội dung thông báo và quan hệ
của nội dung thông báo với hiện thực. Thành phần này được gọi là phần tình
thái của câu”. VD:
a. Lan đang học bài.
b. Lan đang học bài à?
c. Lan đang học bài cơ đấy.
d. Chắc là Lan đang học bài.
Các phát ngôn trên có chung một nội dung chính: Lan đang học bài
nhưng khác nhau về tình thái: khẳng định ở a, nghi vấn ở b, ngạc nhiên ở c,
giả định khả năng ở d.
Bùi Minh Toán khẳng định: để phát ngôn có được sức sống thực sự
trong hoạt động hành chức, ngoài nghĩa sự vật, trong câu còn cần có nghĩa
tình thái. Chính nghĩa tình thái sẽ giúp phát ngôn thích hợp với các nhân tố

10


giao tiếp và đạt được mục đích giao tiếp . Trong Giáo trình ngữ pháp tiếng
Việt, tác giả khẳng định: “Nghĩa tình thái là một phần nghĩa của câu thể hiện
thái độ hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện
thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong

câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan”. [47, 193].
Đến Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, tác giả đã miêu tả khá
rõ các nhiệm vụ của tình thái, đó là:
- Tình thái cho biết sự tình được đề cập đến trong phát ngôn chỉ là khả
năng, là giả thiết hay đã là hiện thực, là được khẳng định hay phủ định.
- Tình thái cho biết mục đích giao tiếp và hành động ngôn ngữ mà
người nói hướng tới khi đề cập đến sự tình.
- Tình thái còn cho biết quan điểm, lập trường, sự đánh giá của người nói
đối với sự tình được đề cập tới về các phương diện độ xác thực, độ tin cậy, tính
tích cực hay tiêu cực đối với những người tham gia hoạt động giao tiếp...
- Tình thái cho biết thái độ, quan hệ, tình cảm của những người tham
gia giao tiếp đối với nhau khi đề cập đến sự tình... [48, 65]
Như vậy, qua việc khảo sát hàng loạt các công trình nghiên cứu, có thể
thấy: khi nhìn nhận về vấn đề tình thái, nhìn chung các nhà ngôn ngữ học
thống nhất nhận định: tình thái là thái độ đánh giá của người nói đối với nội
dung thông báo của phát ngôn, đối với hoàn cảnh phát ngôn, đối với hiện thực
được nói tới và đối với người nghe.
1.1.2. Các loại ý nghĩa tình thái
Vì quan niệm về tình thái không giống nhau nên tất yếu dẫn tới việc
phân chia các loại ý nghĩa tình thái cũng hết sức khác biệt
Jespersen chủ trương chia phạm trù tình thái thành hai nhóm:
- Nhóm 1: có chứa các yếu tố ý chí:
+ Cầu khiến

+ Cho phép

11


+ Ép buộc


+ Hứa hẹn

+ Nghĩa vụ

+ Mong mỏi

+ Khuyên bảo

+ Ước vọng

+ Khẩn cầu

+ Dự tính

+ Khích lệ
- Nhóm 2: không chứa thành tố ý chí:
+ Xác thực

+ Khả năng

+ Đòi hỏi cần phải có

+ Điều kiện

+ Xác nhận

+ Giả thiết

+ Giả định có cơ sở


+ Nhượng bộ.

+ Hồ nghi. [Dẫn theo 20, 77]
Rescher quan niệm về tình thái theo nghĩa khá rộng do đó danh sách
các loại tình thái rất đa dạng: tình thái tất suy, tình thái nhận thức, tình thái
đạo nghĩa, tình thái thời đoạn, tình thái mong ước, tình thái đánh giá, tình thái
nhân quả. [Dẫn theo 20, 81].
Searle dùng lý thuyết hành vi ngôn ngữ để thảo luận những vấn đề về
thức và tình thái. Ông nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động tại lời: xác
quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố, biểu lộ. Theo đó, nhóm xác quyết có
liên quan đến toàn bộ tình thái nhận thức, nhóm khuyến lệnh là trung tâm của
mọi thảo luận về tình thái, nhóm kết ước được xử lý trong khuôn khổ tình thái
đạo nghĩa. [Dẫn theo 20, 81- 83).
Cao Xuân Hạo quan niệm cần phân biệt hai thứ tình thái khác nhau về
bình diện:
- Tình thái của hành động phát ngôn: thuộc bình diện dụng pháp, nó
phân biệt các lời về phương diện mục tiêu và tác dụng của giao tế, bao gồm
sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, hỏi, cầu khiến vốn được ngữ pháp
hóa trong hầu hết các thứ tiếng và được ngữ pháp truyền thống miêu tả;

12


những câu có giá trị ngôn trung (hay tại lời) được đánh dấu: câu xác nhận, câu
phản bác, câu ngôn hành.
- Tình thái của lời phát ngôn: thuộc bình diện nghĩa học, gắn với nội
dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt (trong câu trần thuật hay
câu hỏi). Nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra,
hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề. [18, 50-51].

Lê Đông - Nguyễn Văn Hiệp trong Khái niệm tình thái trong ngôn
ngữ học đồng tình với quan điểm phân chia này của Cao Xuân Hạo và bổ
sung điều chỉnh một số vấn đề. Đến 2008, Nguyễn Văn Hiệp công bố cuốn
Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp đã có nhắc lại những điều chỉnh này và
tóm tắt như sau [20, 126]:
- Tình thái của hành động phát ngôn:
+ Tình thái tại lời (tình thái hành động tại lời): hỏi, yêu cầu, khẳng
định, bác bỏ…
+ Tình thái của lời được phát ngôn, xác định đặc trưng của hành động
tại lời dưới hình thức những cam kết, đánh giá, thái độ của người nói với
những gì anh ta nói ra.
+ Phản ánh bình diện chủ quan của ngôn ngữ, phản ánh hoàn cảnh giao
tiếp.
+ Thuộc ngữ dụng
- Tình thái của sự tình được phản ánh:
+ Phản ánh trực tiếp thuộc tính của hoàn cảnh, sự vật.
+ Phản ánh hoàn cảnh, sự vật dưới góc độ bản thể.
+ Cơ bản thuộc nghĩa học.

13


1.1.3. Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái
1.1.3.1. Phương tiện ngữ âm
Ngữ điệu là một phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái, dùng ngữ điệu,
trọng âm để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để nhấn mạnh vào điểm mà người
nói cho là cần chú ý.
VD: Giỏi nhỉ!
Nếu phát âm bình thường, nhấn mạnh vào từ nhỉ ta được một lời nhận
định, thông báo với ý nghĩa khen ngợi.

Nếu phát âm nhấn mạnh vào từ giỏi và kéo dài hơi từ nhỉ thì đây là một
lời mỉa mai, ngầm ý không giỏi
1.1.3.2. Phương tiện từ vựng
+ Động từ tình thái: muốn, định, hòng, toan…
+ Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng,
vừa, mới…
+ Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi
e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng…
+ Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội
gì, đằng thằng ra, kể ra, làm như thể…
+ Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện
về ngôi, về chỉ tố thời…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu…
+ Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ, ối dào, trời ơi, chao, ô hay…
+ Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ tương đương: à, ư,
nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết…
+ Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái
(là), đáng buồn (là), đáng mừng (là), đáng tiếc (là)…
+ Các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới,
chỉ…

14


+ Đại từ nghi vấn dùng trong câu phủ định- bác bỏ: P làm gì, P thế nào
được…; các liên từ dùng trong câu hỏi: hay P, hay là P…
+ Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó
cho rồi, hỏi cái đếch gì…
1.1.3.3. Phương tiện ngữ pháp
Là các cách: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu, sử dụng kiểu câu
thường được gọi là câu ghép trong đó một thành phần biểu thị tình thái còn

thành phần kia phản ánh nội dung của câu. VD :
- Các kiểu câu biểu thị hành động cảm thán:
+ X ơi là X: đời ơi là đời, chồng ơi là chồng…
+ Động từ + cả + danh từ: sôi cả máu, lộn cả ruột…
+ Danh từ + với/ chả + danh từ: tiền với chả nong, bài với chả vở…
- Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu… thì, giá… thì, hễ… thì,… VD:
+ Nếu trời mưa thì chúng ta sẽ ăn cơm ở nhà
+ Giá có nhiều tiền thì tốt biết mấy.
Có thể nhận thấy trong số các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình
thái thì quán ngữ tình thái là một kiểu phương tiện có giá trị tiềm năng. Đây
cũng chính là đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến trong luận văn này.
1.2. Khái quát về quán ngữ và quán ngữ tình thái
1.2.1. Quán ngữ
1.2.1.1. Khái niệm
Đỗ Hữu Châu cho rằng quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần
thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng
nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện
tượng, tính chất...chưa có tên gọi.

15


Tác giả dẫn ra một loạt các ví dụ minh họa: một mặt thì, mặt khác thì,
chẳng nước non gì, chia cho hết, chia để trị, đáng chú ý là, không sớm thì
muộn… [7, 74]
Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: Quán ngữ là những cụm từ được dùng
lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, rào đón hoặc nhấn mạnh nội
dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách thường có những quán ngữ riêng,
chẳng hạn các quán ngữ của đáng tội, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai,
chẳng nước non gì, còn mồ ma... thường được dùng trong phong cách hội

thoại; các quán ngữ như trên đã nói, nói cách khác, trước hết… dùng trong
phong cách khoa học. [14, 101]
Dựa vào quan điểm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng
tôi đưa ra một số nhận định chung về quán ngữ như sau:
- Khái niệm: Quán ngữ là tổ hợp hai từ trở lên, mang tính cố định (tương
đối) về mặt kết cấu, tính thành ngữ về mặt nghĩa, có chức năng tạo câu.
- Đặc điểm:
+ Quán ngữ được hình thành trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân
dân, mang tính khẩu ngữ tự nhiên, giàu sắc thái chủ quan. Quán ngữ thường
thích hợp với phong cách hội thoại và phong cách nghệ thuật (trừ những quán
ngữ chuyên dùng để liên kết văn bản như: mặt khác, nói cách khác…)
- Quán ngữ không mang tính biểu trưng, tính hình ảnh. Cách hiểu quán
ngữ thường không theo cơ chế ẩn dụ, so sánh như thành ngữ. Mức độ chặt chẽ
về kết cấu và tính thành ngữ thường không cao bằng thành ngữ nhưng kiểu loại
và công dụng của quán ngữ đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thành ngữ.
1.2.1.2. Phân biệt quán ngữ và thành ngữ
- Về cấu tạo:
+ Thành ngữ có quan hệ cú pháp nội tại chặt chẽ: có cấu trúc đối xứng,
có đối, có điệp, có vần điệu, kết hợp với nhau theo một số quy luật nhất định.

16


VD: Mẹ tròn con vuông.
+ Quán ngữ có quan hệ cú pháp nội tại không chặt chẽ: có thể thêm vào,
bớt đi hoặc thay thế trong cấu trúc nội tại một đơn vị hay một kết cấu tương
đương khác cũng không ảnh hưởng đến ý nghĩa chức năng mà nó đảm đương.
VD: Các quán ngữ có từ là như: hay là có thể thay thế bằng hoặc là,
chắc là, họa là, miễn là…
- Về ngữ nghĩa:

+ Thành ngữ có nghĩa khái niệm, nghĩa của nó toát lên từ nghĩa của
toàn bộ tổ hợp. Thành ngữ có tính biểu trưng, tính hình tượng, bóng bẩy về
mặt ý nghĩa.
VD: thành ngữ đi guốc trong bụng có thể lý giải là: hiểu rất rõ suy nghĩ
của người khác.
+ Nghĩa của quán ngữ là nghĩa chức năng, nghĩa tình thái. Cách hiểu
quán ngữ thường không theo cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh mà gắn liền với
từng cách dùng của nó.
VD: Tìm hiểu nghĩa của quán ngữ không biết:
+ Trường hợp 1: không biết + P ? (Không biết ngày mai có mưa
không?)
Quán ngữ không biết bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở của người nói
đối với sự tình ngày mai có mưa không
+ Trường hợp 2: P+ thế + không biết! (Trời ơi! Nóng thế không biết!)
Quán ngữ không biết nhấn mạnh vào ý nghĩa mức độ cao, đồng thời
biểu lộ sự ngạc nhiên, lấy làm lạ trước sự tình P.
- Về chức năng:
+ Thành ngữ có chức năng định danh hoặc miêu tả và biểu thị sự vật,
hiện tượng một cách sinh động, gợi cảm.
VD: Ăn chắc mặc bền; Nước đổ lá khoai.

17


+ Quán ngữ không có chức năng định danh mà chủ yếu được dùng để
liên kết, chuyển ý, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung nào đó.
VD: khổ nỗi, suy cho cùng…
1.2.1.3. Phân loại quán ngữ
Nguyễn Thị Thìn [44] đã dựa vào công dụng để chia quán ngữ thành 4
loại:

(1) Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng nghĩa học. VD: ba xây, ba
chống, hai tốt, ba đảm đang, ba sôi hai lạnh, bằng được…
(2) Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng dụng học (quán ngữ tình
thái). VD: hình như, của đáng tội, xem chừng, có lẽ, may ra, chưa biết
chừng…
(3) Quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng liên kết văn bản. VD: nhìn
chung, trong khi đó, mặt khác, hơn nữa, nói tóm lại, nói cách khác, trước
hết…
(4) Quán ngữ đa chức năng. VD: biết tay, lấy được, hết ý, biết đâu, biết
đâu đấy…
Trong số bốn loại quán ngữ trên, quán ngữ tình thái (loại 2) chiếm đa
số (hơn 80%). Một số quán ngữ tình thái cũng đa chức năng, có thể dùng
trong cả chức năng ngữ nghĩa học, dụng học hay liên kết văn bản. Loại quán
ngữ này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng tôi lựa chọn 2
loại quán ngữ (loại 2 và loại 4) làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn này.
1.2.2. Quán ngữ tình thái
1.2.2.1. Khái niệm quán ngữ tình thái
Ngũ Thiện Hùng khẳng định: “Trong các phương tiện biểu hiện tình
thái nhận thức, thể hiện thái độ cam kết, lòng tin của người nói với nội dung
phát ngôn, có thể ghi nhận chức năng và vai trò của lớp đơn vị từ vựng khá
phổ biến là quán ngữ tình thái. Đây là lớp đơn vị ngoại vi của cấu trúc phát

18


ngôn mà Quirk (1985) gọi là Tình thái ngữ (Content Disuncts), Holmes
(1982) gọi là Dấu hiệu tình thái tri nhận (Epistemic Markers) còn Givon
(1989) thì gọi là lượng tử tình thái tri nhận (Epistemic Quantifers)"
Lớp đơn vị này có chức năng: góp phần đánh dấu lực ngôn trung, đánh
dấu thái độ đối với thông tin mệnh đề hay thành phần ngôn liệu.

Theo tác giả: việc sử dụng các quán ngữ tình thái không chỉ chịu sự chế
định của các yếu tố logic- cú pháp. Các điều kiện như định hướng nội dung hay
định hướng quan hệ (động cơ vì người nói/ người nghe) cũng phải được tính
đến… Quá trình đi đến kết luận này phải được thực hiện bằng các thao tác suy
đoán với các lớp siêu biểu diễn các nhận định của người nghe. [25, 1- 13]
Đánh giá về quán ngữ tình thái, Nguyễn Thị Việt dẫn ra một loạt các
lối nói có chứa các tổ hợp từ mang tính ổn định được tái sinh nhiều lần như:
- Ai đời P bao giờ, ai lại P thế bao giờ, ai bảo P, ấy thế mà P, đã đành
là P, dù thế nào cũng P…
- Cứ làm như là P, có họa là P, đáng lẽ P, lẽ ra P, làm như P không
bằng, ước gì P…
Theo tác giả, sở dĩ gọi đây là các quán ngữ tình thái bởi chúng có
chung một đặc tính cơ bản với những tổ hợp từ vốn được gọi là quán ngữ, đó
là tính quen dùng, ổn định. Song cũng dễ nhận thấy đây là các đơn vị quán
ngữ đã được mã hóa, dùng để trình bày những dạng có tính thể thức hoặc
tham gia cấu tạo nên khung câu. Đây là thành phần nghĩa thể hiện mối quan
hệ giữa người nói với điều kiện được nói trong câu, giữa người nói với người
nghe. [54, 22- 23]
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số nhận định
cơ bản về quán ngữ tình thái như sau:
- Quán ngữ tình thái là tập hợp gồm hai từ trở lên, mang tính chất cố
định, dùng để biểu thị (ý nghĩa) tình thái.

19


- Quán ngữ tình thái có chức năng bày tỏ, bộc lộ sắc thái biểu cảm. Đây
là đặc điểm khác hẳn với những quán ngữ chỉ dùng trong phong cách khoa
học, có chức năng liên kết.
- Về cấu trúc, quán ngữ tình thái thường có cấu trúc là cụm từ, một số

trường hợp có kết cấu là cụm chủ – vị (chẳng hạn: ai có ngờ đâu, ai có dè
đâu,…).
- Về chức năng tạo câu, quán ngữ tình thái tương đương với từ.
- Về ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa của quán ngữ tình thái tương đương với ý
nghĩa của một từ hoặc cụm từ.
- Quán ngữ tình thái là cụm từ cố định (đơn vị có sẵn trong vốn từ vựng
của ngôn ngữ) nhưng ranh giới của lớp từ này với cụm từ tự do (đơn vị cấu
tạo tự do trong lời nói) là không rõ ràng, cụ thể.
1.2.2.2. Đặc điểm của quán ngữ tình thái
* Đặc điểm về hình thức:
- Căn cứ vào số lượng thành tố tham gia cấu thành tổ hợp, có thể chia
quán ngữ tình thái thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1: các quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm hai thành tố: nhỡ ra,
ngộ nhỡ, chả gì, thế mà, thế ra, thật là, nghĩa là, may sao, chẳng ngờ, chả lẽ,
rõ ràng…
+ Nhóm 2: các quán ngữ tình thái có cấu tạo từ hai thành tố trở lên: sự
thật thì, thật quả nhiên, ai chả tưởng, kể cũng chẳng cần, có thể nói, hoặc có
khi…
- Căn cứ vào khả năng cải biến, chêm xen, thay thế các thành tố, có thể
chia quán ngữ tình thái thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1: Nhóm quán ngữ tạo thành từ mô hình trong đó chứa biến tố X.
VD: Mô hình Theo X thì P có các biến thể sau:
Theo tôi thì…

20


×