VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
HIỆN TƯỢNG GIAO THOA THỂ LOẠI
TRONG SÁNG TÁC CỦA A.CHEKHOV
(Qua khảo sát kịch và truyện ngắn)
Chuyên ngành: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Mã số: 62.22.02.45
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
1
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO TUẤN ẢNH
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
Phản biện 1: PGS.TSKH. Nguyễn Đức Hân
Phản biện 2: GS.TS. Lộc Phương Thủy
Phản biện 2: PGS.TS. La Khắc Hòa
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
.... giờ, ngày ..... tháng ..... năm 2016.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
Thư viện Quốc gia Việt Nam
NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
CỦA NGHIÊN CỨU SINH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2014), Đổi mới phương pháp giảng
dạy truyện ngắn và kịch trong chương trình Ngữ Văn THCS, In trong Kỉ
yếu Hội thảo cấp thành phố Đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình
THCS, trang: 81 - 85, Đại học Sài Gòn.
2. Nguyễn Thị Quỳnh Trang, (2014), Tính kịch trong cốt truyện
trong truyện ngắn A.Chekhov, Tạp chí Nguồn Nhân lực, Học viện
KHXHVN, số 7/2014, trang 71 – 78.
3. Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2014), Hình tượng nhân vật trẻ thơ
trong truyện ngắn A.Chekhov, Tạp chí khoa học Đại học Phú Yên, số
9/2014, trang 75 – 81.
4. Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2014), Kịch hóa nhân vật trong truyện
ngắn A.Chekhov, Tạp chí khoa học Đại học Đồng Tháp, số 9/2014, trang 91
– 95.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Không chỉ đóng vai trò là người khép lại một cách xuất sắc chủ nghĩa
hiện thực Nga cuối thế kỷ XIX, Anton Pavlovich Chekhov (1860 - 1904)
được thế giới thừa nhận là một nhà cách tân vĩ đại trong lĩnh vực truyện
ngắn và kịch. Thống nhất trong cùng một phong cách nghệ thuật, giới
nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam đã bước đầu chỉ ra sự giao thoa ảnh
hưởng lẫn nhau giữa kịch và truyện ngắn của ông ở nhiều bình diện như: đề
tài - chủ đề; nhân vật trung tâm; cốt truyện khung, nhãn quan hiện thực,
nghệ thuật phân tích tâm lí... Trong xu hướng giao hòa của văn học - sân
khấu - điện ảnh - vũ đạo, các tác phẩm kịch, truyện và cả đời tư, quá trình
sáng tạo của A.Chekhov còn được biểu hiện trong những hình thức hoàn toàn
mới của nghệ thuật đương đại.
Kịch và truyện ngắn của ông (ở giai đoạn chín muồi) đóng vai trò
gạch nối, bản lề, phản ánh sâu sắc những biến động mạnh mẽ về tư tưởng
và nghệ thuật; gián tiếp truyền tải yêu cầu cấp thiết thay đổi tư duy hình
tượng và ý thức thẩm mĩ ở nút thắt giao thời văn hóa - văn học. Dự cảm
nhạy bén của một người dẫn đầu đã giúp Chekhov tạo nên sự chuyển dịch
đó ngay trong các tác phẩm nghệ thuật của mình (biểu hiện ở sự thay đổi
trong các giai đoạn sáng tạo), dịch chuyển trong tính chất của từng thể loại
(truyện ngắn trào phúng - truyện ngắn trữ tình, hài kịch - bi kịch), dịch
chuyển theo dòng chảy của các loại hình văn học (tự sự - kịch - trữ tình).
Những tìm tòi thử nghiệm để hoàn tất quá trình chuyển dịch đồng thời ghi
nhận sự xâm nhập, ảnh hưởng, thẩm thấu lẫn nhau giữa truyện và kịch đã
tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo của văn hào Chekhov.
Sự phân loại văn học là bước đầu tiên nhận thức các quy luật thể loại.
Các nhà nghiên cứu thống nhất chia loại ra các thể và xem thể như là một
tiểu loại. Yếu tố ổn định truyền thống cho ta những tiêu chí để phân biệt cái
cốt lõi bất biến của từng loại thể. Yếu tố giao thoa, tương tác được xem là
ngoại biên của thể loại vẫn còn gây nhiều tranh cãi về vai trò, tần suất, mức
độ ảnh hưởng... Luận án không chỉ đặt mục tiêu chỉ rõ những đặc tính ổn
định, bất biến cùng những yếu tố xâm lấn lẫn nhau giữa các thể loại (tự sự,
trữ tình, kịch) trong sáng tác của Chekhov mà còn có ý nghĩa trong việc nối
kết các vấn đề thuần túy lý thuyết với thực tiễn sáng tạo nghệ thuật của nhà
văn, gắn kết các vấn đề lí luận với tiến trình phát triển thể loại văn học.
1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Xác định vị trí bản lề: kết thúc trào lưu văn học cũ và khơi dòng,
góp phần đặt nền móng cho nền văn học Nga hiện đại của văn hào
A.Chekhov. Đồng thời, nhấn mạnh khả năng thiên tài cùng những cơ sở
thực tiễn sáng tạo giúp A.Chekhov có được sự gắn kết các thể loại văn học
để tạo nên những cách tân đột phá.
2.2. Phân tích, hệ thống những tín hiệu - yếu tố kịch và trữ tình đặc
sắc và nổi trội để làm nên sự giao thoa, xuyên thấm của chúng sang truyện
ngắn (đặc biệt chú trọng đến sự ảnh hưởng của từng loại hình tương ứng
với các giai đoạn sáng tạo). Đó là sự biểu hiện của những tiếp thu truyền
thống và đối thoại về thể loại mới của văn hào.
2.3. Chỉ rõ và phân tích những yếu tố tự sự và trữ tình cùng những tìm
tòi mới mẻ tương đồng của kịch và truyện trong giai đoạn chín muồi thể
hiện tư tưởng dung hợp ở tầm mức cao trong sáng tác của Chekhov. Theo
đó, khuynh hướng mạch ngầm và tính chất liên văn bản giữa các thể loại
văn học đã được thiết lập tạo nên những cách tân độc đáo của văn nghiệp
A.Chekhov.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung phân tích những yếu tố, tính chất của các thể loại
văn học đã được vận dụng, xuyên thấm lẫn nhau có tính hệ thống trong các
sáng tác của A.Chekhov. Những bàn thảo về lí thuyết thể loại sẽ được lồng
ghép trong quá trình phân tích cứ liệu. Chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề
nghiên cứu ở ba góc độ chính yếu, đó là: cơ sở của sự giao thoa thể loại qua
việc khảo sát vị trí của A.Chekhov trong giao thời thế kỉ XIX - XX; “cuộc
cách mạng thể loại” của A.Chekhov và hiện tượng giao thoa được biểu hiện
cụ thể ở hai thể loại là truyện ngắn và kịch của ông.
Phạm vi nghiên cứu trực tiếp của luận án là các sáng tác truyện ngắn
và kịch của A.Chekhov đã được tuyển chọn dịch thuật và giới thiệu bằng
tiếng Việt. Chúng tôi sử dụng những bản dịch ưu tú nhất (nếu có nhiều bản
dịch cho cùng một tác phẩm). Bên cạnh đó, luận án còn tham khảo thêm các
thông tin về các sáng tác được trích dẫn, tóm tắt, bàn thảo trong các bài viết
- công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam mà chưa được
dịch thuật.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án đề cập tới sự giao thoa thể loại trong sáng tác của A.
Chekhov, do vậy lí thuyết thể loại chính là cơ sở để triển khai những vấn đề
2
đặt ra.
Trong luận án, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng
bao gồm: thi pháp lịch sử, phương pháp loại hình. Về mặt thao tác, chúng
tôi sử dụng các biện pháp như so sánh, thống kê, khảo sát, phân tích tổng
hợp theo đặc trưng thể loại.
5. Đóng góp mới của luận án
Truyện và kịch A.Chekhov đã được dịch, giới thiệu, nghiên cứu khá
nhiều ở Việt Nam, nhưng đây là công trình đầu tiên khảo sát hai thể loại trong
một trường khai thác, đối sánh, tổng hợp để nhận diện những điểm tương đồng,
cộng hưởng, phát triển trên nền tảng của những dung nạp và biến hóa các đặc
tính tiêu biểu của các thể loại văn học ngoài chúng. Điểm nhìn của luận án
còn hướng đến sự kế tục truyền thống và hiện đại mà A.Chekhov đã đóng
vai trò gạch nối. Với những tài năng thiên bẩm như A.Chekhov, việc xóa
nhòa đường biên các thể loại trong các văn phẩm tiếp tục đưa đến những
ngạc nhiên cho các nhà lí luận, do đó, sự bí ẩn và kì thù của quá trình sáng
tạo lại thôi thúc việc giải mã và công cuộc “tái cấu trúc” lại lí thuyết.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Vận dụng thi pháp học lịch sử cùng phương pháp loại hình, luận án
tiến hành nghiên cứu vấn đề giao thoa thể loại trong sáng tác của một trong
những tài năng vĩ đại của nền văn học Nga, để hoàn thiện chân dung
A.Chekhov - kịch tác gia xuất sắc bên cạnh chân dung A.Chekhov - bậc
thầy truyện ngắn; đồng thời thực thi sự gắn kết các vấn đề thuần túy lý
thuyết với thực tiễn sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, gắn kết các vấn đề lí
luận với tiến trình phát triển thể loại văn học. Vì thế, luận án có giá trị khoa
học và thực tiễn, có thể ứng dụng trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu
văn học ở trường đại học.
7. Cơ cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được cấu trúc thành bốn
chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Những tiền đề cách tân và giao thoa thể loại trong sáng tác
A.Chekhov.
Chương 3. Giao thoa thể loại trong truyện ngắn A.Chekhov.
Chương 4. Giao thoa thể loại trong kịch A.Chekhov.
Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ở chương này, bên cạnh nội dung trọng tâm là lịch sử nghiên cứu vấn
đề giao thoa thể loại trong sáng tác của Chekhov, những phác thảo về thành
tựu của lí thuyết loại hình và thể loại văn học cũng được triển khai ở mức
độ khái lược để tạo nên điểm tựa lí luận cho luận án.
1.1. Sơ lược những thành tựu của lí thuyết loại hình và thể loại
văn học
1.1.1. Ngay từ thời cổ đại, Aristotle trong công trình Nghệ thuật thi ca
đã đặt nền móng tách chia văn học thành ba phương thức phản ánh: tự sự,
trữ tình, kịch; trở thành một lí thuyết tiên phong định hướng cho hoạt động
sáng tạo. Từ những hạt nhân quan niệm của triết học và mĩ học, G.Hegel đã
làm sáng rõ thêm những tiêu chí phân định thể loại, tính chất và các thành
phần của chúng. Trong lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX, thể loại trở
thành một trong những phạm trù gây tranh cãi nhiều nhất. Vấn đề xác định
thể loại, theo nhận định chung, là một trong những vấn đề quan trọng nhất,
song cũng là vấn đề phức tạp, không rõ ràng. Nhà nghiên cứu A.Fowler cho
rằng trên mọi cấp độ của mình thể loại chống lại mọi loại định nghĩa. Từ
đây nảy sinh hai loại quan niệm. Quan niệm thứ nhất cho đó là một phạm
trù già cỗi, lỗi thời cần loại bỏ (F.de Man, U.B.Michell…). Ngược lại với
quan niệm cực đoan nêu trên là khuynh hướng khẳng định vị trí, vai trò của
thể loại trong lí luận và lịch sử văn học. Dường như các nhà thể loại học thế
hệ hiện nay không thỏa mãn với các quan niệm có uy tín có vẻ bền chắc về
thể loại của các tiền bối, chẳng hạn như quan niệm về thể loại của R.Wellek
và A.Waren, trong đó nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các hình thức bên
trong và bên ngoài của nhóm tác phẩm. Họ cố gắng tìm tòi nhằm đưa ra sự
xác định chính xác về một khái niệm luôn biến đổi này.
1.1.2. Trường phái Hình thức Nga là một tiếng nói mới mẻ, độc đáo,
mang đến nhiều góc tiếp cận về vấn đề hình thức của tác phẩm, thay đổi
toàn diện cách nhìn đối với vấn đề văn học phản ánh hiện thực cũng như lí
giải bản chất của văn học. Iu.Tynianov đã đưa ra lí thuyết về sự vận động,
tiến triển của văn chương bao hàm trong đó là sự tiến triển, biến đổi các thể
loại văn học. Hệ quả từ lí thuyết chức năng, Tynianov đi khẳng định:
“không có thể loại văn học có sẵn” và rằng mỗi thể loại, trong khi thay đổi
từ thời đại này sang thời đại khác, lúc mang ý nghĩa lớn khi tiến vào trung
tâm, hoặc ngược lại, lùi xuống hàng thứ yếu hay thậm chí chấm dứt sự tồn
4
tại của mình. Tranh luận với các nhà hình thức chủ yếu gắn sự tồn tại của
thể loại với sự đối lập của các trào lưu trường phái bên trong thời đại,
M.Bakhtin cho rằng thể loại có những yếu tố cổ mẫu mang tính bền vững,
và tôn vinh nó là nhân vật chính quá trình phát triển văn học. V.E.Khalizev
chú ý tới các hình thức “liên loại hình” và hình thức “ngoài loại hình”.
V.Tomasevsky cho rằng những dấu hiệu thể loại rất đa dạng và không thể
đưa ra sự phân loại logic về thể loại theo một cơ sở nào đó.
1.1.3. Thực tiễn sáng tác văn học đương đại Việt Nam đã dẫn lối các
nhà lí luận tiếp tục khảo cứu về loại hình và thể loại trong văn học hiện đại,
thậm chí là cả văn học trung đại của nước nhà. Các vấn đề nghiên cứu liên
tiếp xuất hiện với các định ngữ như: khuynh hướng sử thi trong truyện
ngắn, tính chất tiểu thuyết trong truyện ngắn, chất thơ trong văn xuôi, tính
kịch trong văn xuôi tự sự, tính tự sự trong trường ca, màu sắc kí trong tiểu
thuyết…đã cho thấy những hình thức biến tấu thể loại vô cùng phong phú
trong văn học Việt Nam.
1.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề giao thoa thể loại trong sáng tác
Chekhov
1.2.1. Các bài viết, công trình ở nước ngoài
1.2.1.1. Cách tân thể loại của Chekhov trong các công trình nghiên cứu
Khi đề cập tới tiến trình biến đổi loại - thể loại giao thời văn học
cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, một số nhà lí luận thường lấy sáng tác của
Chekhov chứng minh cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như G.Pospelov,
trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, khi xây dựng lí thuyết về cốt truyện đã
phát hiện những điểm khác biệt so với những mô thức chung trong truyện
ngắn A.Chekhov, trong Lí luận văn học, khi phân tích độ nén và tính xung
đột của hành động kịch, người viết đã chỉ rõ đặc trưng kịch Chekhov trong
sự khác biệt với kịch cổ điển. V.Khalizev trong chuyên luận Kịch như một
hiện tượng của nghệ thuật (1978) nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về sự biến
đổi thể loại kịch giao thời thế kỉ XIX - XX dựa vào sáng tác của Ibsen,
Chekhov và các kịch gia khác. Với trục quy chiếu là nghệ thuật trần thuật mà trung tâm là vấn đề người kể chuyện - công trình Thi pháp Chekhov của
A.Trudakov đã tạo được tiếng vang lớn với nhiều luận điểm khái quát sâu
sắc, tinh tế, khoa học, giàu sức thuyết phục. Trong cuốn Về thi pháp
Chekhov nhà Chekhov học kì cựu E.Poloskaia đã dành một chương với tiêu
đề Những bức thư và tài năng nhà viết kịch để nghiên cứu sự tương tác giữa
nghệ thuật thư tín của Chekhov với kịch của ông với tư cách một loại hình
5
văn học. Trong bài viết Anton Chekhov, khi tổng kết toàn bộ sáng tác của
Chekhov, Poloskaia khẳng định sự cách tân thi pháp trong lĩnh vực văn
xuôi tự sự (truyện ngắn, truyện vừa) và kịch gắn với sự cách tân thể loại của
Chekhov, cho phép nói tới “thi pháp thể loại” của ông.
1.2.1.2. Giới sáng tác bàn về cách tân của văn xuôi tự sự và kịch
Chekhov
Nhà văn lão thành Nga D.Grigorovich là người đầu tiên có công
phát hiện và dự báo về tài năng viết truyện ngắn độc đáo của A.Chekhov.
L.Tolstoy đã nhắc đến ông như một người kế tục và thừa hưởng đầy đủ
truyền thống văn hóa - tinh thần tốt đẹp của văn học Nga. V.Mayakovsky,
V.Grossman, Bondarep, V.Nabokov… bày tỏ sự trân trọng trước những
sáng tạo hình thức và nội dung phong phú nhưng vẫn giữ vẻ đẹp nguyên sơ,
bình dị, chân thực. Các thế hệ nhà văn đương thời hay kế tục trên thế giới
cũng thể hiện sự khâm phục tài năng nghệ thuật của ông như T.Man - nhà
văn Đức, O.Connor - nhà văn Ireland, nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, cây
bút truyện ngắn Mĩ Raymond Carver…
Ngay từ đầu thế kỷ XX, giới nghiên cứu, phê bình và các nhà văn
Nga hầu như đã nhận ra tầm vóc lớn lao và những cách tân táo bạo của
A.Chekhov trong nghệ thuật kịch, tiêu biểu là các ý kiến đánh giá của
K.Arabadin, A.Souvrine, M.Gorki, A.Belyi... Về cơ bản, họ đã nắm bắt rất
tinh nhạy những phương diện sáng tạo của ông trong nghệ thuật kịch như: cốt
truyện kịch thiếu vắng xung đột, sự lơi lỏng đầy dụng ý trong cấu trúc đối
thoại, tính trữ tình. Trong các tác phẩm kịch, Chekhov muốn truyền đạt
những cảnh của đời thường, thoát ra khỏi truyền thống motif chủ đạo và cách
diễn đạt kịch tính. Đáng chú ý là những trân trọng, ngợi ca của E.Olbea,
Bernard Shaw, M.Gorki, Stanislavski, G.Berdnikov, L.Sophie, Jean Louis
Barrault… Các vở kịch của ông rất được ưa thích trong thập niên 1920, và
đã trở thành những dàn dựng kinh điển trên sân khấu nước Anh. Ảnh hưởng
của ông sau đấy lan đến Mỹ, những kịch tác gia như Tennessee Williams,
Arthur Miller và Clifford Odets, đã sử dụng kỹ thuật kịch nghệ của ông. Có
thể nói có rất ít nhà văn trong thế kỷ XX hoàn toàn thoát khỏi tầm ảnh
hưởng của Chekhov.
1.2.2. Các bài viết, công trình trong nước
1.2.2.1. Bàn về truyện ngắn Chekhov
Luận án chủ yếu điểm diện những ý kiến trực tiếp bàn về tính chất
hòa kết và giao thoa trong thể loại này. Khởi đầu là cảm nhận của Nguyễn
6
Tuân về tiếng nói hiện thực kết hợp với nhịp thơ lãng mạn trong truyện
ngắn của nhà văn, các nhà nghiên cứu đã dần dần khám phá, thẩm bình các
sáng tác Chekhov trong sự giao thoa thể loại cùng cái nhìn đối sánh thú vị.
Đáng chú ý là các bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu như Nguyễn
Hải Hà (Cái mới trong truyện ngắn Chekhov), Phạm Vĩnh Cư (Chekhov nhà văn xuôi tự sự, nhà viết kịch), Đào Tuấn Ảnh (Cách tân nghệ thuận
Anton Chekhov), Đỗ Hải Phong (Mạch ngầm văn bản trong truyện ngắn
Chekhov) Trần Thị Quỳnh Nga (Dấu ấn văn xuôi Nga thế kỉ XIX trong sáng
tác của một số nhà văn Việt Nam), Phạm Thị Phương, Trần Thị Phương
Phương… Trong đó, luận án nhấn mạnh tới những kết luận của nhà nghiên
cứu Phạm Vĩnh Cư (khi đã diễn giải và chứng minh tính “song trùng” kịch truyện Chekhov ở mọi cấp độ) và nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh (phác họa
và lí giải ngọn nguồn cách tân và giao thoa thể loại trong sáng tác Chekhov
từ bối cảnh văn hóa - văn học kỉ nguyên Bạc) đã trở thành những gợi ý để
luận án xây dựng và triển khai các luận điểm.
Kịch của Chekhov vừa được giới thiệu muộn, vừa ít về số lượng
vừa không có được những tiếp xúc rộng rãi với bạn đọc Việt Nam so với
truyện ngắn của ông. Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các học giả nước
ngoài, nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng đã bàn thảo và khai thác khá
nhiều góc cạnh trong kịch A.Chekhov. Từ Lời giới thiệu của dịch giả Nhị
Ca, một số phương diện nổi trội trong thi pháp kịch của ông đã được định
hình, tiếp tục được triển khai qua một số bài viết của các nhà nghiên cứu
như: Tất Thắng (Kịch Nga ở Việt Nam – sự tiếp nhận thi pháp), Võ Công
Liêm (Chekhov với sân khấu cuộc đời), Lê Nguyên Cẩn (Vấn đề kịch tính
trong Vườn anh đào của A.Chekhov), Đỗ Hải Phong (Phức điệu trong kết
cấu “Hải âu” của Chekhov), Trần Thị Phương Phương (Đọc Chekhov - sự
tiếp nhận đa diện), Jennifer Trần (Khế ước của Chekhov và Kafka).. Tuy
nhiên, phải đến chuyên luận Những vấn đề thi pháp kịch Chekhov của
Hoàng Sự thì những cấp độ kết cấu kịch của Chekhov mới được nghiên cứu
một cách có hệ thống nhưng vẫn chưa đáp ứng trọn vẹn nhu cầu tìm hiểu,
nghiên cứu ở Việt Nam.
1.3. Đánh giá tổng quan
Thứ nhất, vấn đề giao thoa thể loại trong sáng tác của Chekhov dựa
trên cơ sở lí thuyết về loại hình và thể loại đã được triển khai trên nhiều
khuynh hướng khác nhau. Điều đó có nghĩa là những tiền đề lí luận đã đi
7
trước khai sáng, tạo cơ sở cho luận án bổ sung và hoàn thiện bằng hệ thống
luận điểm cụ thể và dẫn chứng minh xác.
Thứ hai, những vấn đề các nhà nghiên cứu đi trước đã làm được:
xác định rõ vị trí và đóng góp của A.Chekhov trong nền văn học Nga; vận
dụng nhiều hướng tiếp cận đã nghiên cứu toàn diện truyện ngắn của ông
trên rất nhiều bình diện; phân tích kĩ lưỡng những cách tân độc đáo của các
sáng tác kịch; bước đầu nêu rõ một số điểm chung giữa hai thể loại kịch và
truyện ngắn; phân tích sâu sắc khá nhiều văn bản kịch và truyện ngắn để
bày tỏ cảm thụ văn học hoặc minh chứng cho những vấn đề lí thuyết. Đó là
những đóng góp quan trọng, là điểm tựa tư liệu chủ yếu để chúng tôi tham
khảo, tiếp thu và phát triển luận án.
Chương 2
NHỮNG TIỀN ĐỀ CÁCH TÂN VÀ GIAO THOA THỂ LOẠI
TRONG SÁNG TÁC A.CHEKHOV
Giao thoa thể loại trong sáng tác của A.Chekhov không phải là một
hiện tượng tự phát, tình cờ, ngẫu nhiên mà đã có một quá trình khởi động,
tích lũy, dịch chuyển trên nền tảng những biến đổi mạnh mẽ của lịch sử văn hóa - xã hội. Việc phục dựng bối cảnh nước Nga chuyển biến dữ dội
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, điểm diện những giao tranh về văn hóa - tư
tưởng giữa các trường phái, trào lưu cùng sự hình thành các quan điểm
nghệ thuật tác giả, chương viết có cơ sở để tham chiếu vấn đề tiếp biến và
đối thoại về thể loại của truyện ngắn và kịch Chekhov trong thế kỉ XIX thế kỉ vàng của văn học Nga.
2.1. “Kỉ nguyên Bạc” – thời đại mới của văn học nghệ thuật
Văn học kỉ nguyên Bạc (văn học thập niên cuối thể kỉ XIX - hai thập
niên đầu thế kỉ XX) được coi là gạch nối chuyển giao của hai thời đại. Nó
có vai trò đặc biệt trong việc tổng kết giai đoạn cổ điển và khơi nguồn một
nền văn học hiện đại, chảy chung vào đời sống nghệ thuật thế giới thế kỉ
XX. Đây là thời kì văn học phát triển đặc biệt bởi sự đua tranh của các tài
năng và các khuynh hướng nghệ thuật.
2.1.1. Khủng hoảng chính trị và bước ngoặt tư tưởng của các giai
tầng xã hội
Về bối cảnh chính trị, cuối những năm 70 của thế kỉ XIX, trong xã hội
Nga đã hình thành những đối nghịch tác động rất lớn đến tư tưởng của các
giai tầng trong xã hội, tạo nên các thái cực trong đời sống tinh thần cũng
như việc sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật: về lực lượng xã hội (quý tộc
8
phong kiến - giai cấp tư sản mới) về xu hướng cách mạng (hướng cải cách
dân chủ tư sản - hướng cách mạng vô sản), về quan điểm chính trị của giới
trí thức (cải cách điều hòa xã hội mang tính cải lương - cách mạng bạo
động)… Chiến tranh và cách mạng khiến nước Nga lạc hậu rơi vào khủng
hoảng chính trị xã hội sâu sắc.
Sau một thế kỉ “giao lưu” tự do với châu Âu, văn học nghệ thuật
Nga, như một đứa trẻ sinh sau đẻ muộn, đã hấp thu những tinh tuý của văn
hóa châu Âu, tạo đà phát triển tăng tốc gia nhập vào quỹ đạo chung của
phát triển văn hóa thế giới. Bên cạnh đó, xã hội Nga với những biến đổi đến
tận “hố móng” đã không còn thoả mãn chỉ với một cách thức phản ánh của
chủ nghĩa hiện thực cổ điển thế kỉ XIX, nó đòi hỏi phải được lí giải, phản
ánh trên tầm cao triết học văn hóa, triết học lịch sử, với những quan niệm
mới về thực tại và con người cùng những thủ pháp nghệ thuật đa dạng.
2.1.2. Sự đối lập trong thống nhất giữa các trào lưu văn học
nghệ thuật giai đoạn “kỉ nguyên Bạc”
Những tiếp biến văn hóa châu Âu vào nửa cuối thế kỉ XIX có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển văn học kỉ nguyên Bạc, trong đó có cuộc
cách mạng thể loại. Đi sâu vào bản chất của giai đoạn văn học kỉ nguyên
Bạc, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh về sự đối lập “gay gắt” giữa chủ
nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tượng trưng, là chiến trường giao tranh giữa
hai hệ thống triết học: duy vật và duy tâm; hai quan điểm về nghệ thuật:
phản ảnh hiện thực đương thời hay chỉ là sự chuyên chú vào chính bản thân
nghệ thuật rời xa các vấn đề xã hội và cách mạng. Trên thực tế, trong cuộc
tìm kiếm những con đường mới của các khuynh hướng nghệ thuật khác
nhau, xu hướng xích lại gần nhau của hai mặt đối lập này đã làm nên một
“chỉnh thể phức tạp” của văn học kỉ nguyên Bạc, tạo nền móng cho những
chuyển giao, giao thoa tự nhiên giữa tư tưởng nghệ thuật và loại hình văn
học.
2.1.3. Dấu ấn cách tân của văn học “kỉ nguyên Bạc”
Không thể phủ nhận sự bùng dậy của cái tôi bản ngã một cách
mạnh mẽ trong hầu hết sáng tác của các nhà văn tượng trưng Nga. Các khái
niệm như mẫu gốc, sự viết tiếp về một kiểu hình tượng được bãi miễn, thể
hiện sự đối lập sâu sắc giữa yếu tố cá nhân và siêu cá nhân, giữa tự do tinh
thần và quy phạm xã hội, giữa cái đột biến và cái bất biến. Hệ quả từ việc
đề cao biểu đạt các vấn đề bản ngã là sự gia tăng mối quan tâm tới số phận
cá nhân. Cảm quan về một thế giới đứt gãy, một xã hội xáo trộn tới hỗn
9
loạn và sự phản ánh thế giới ấy cùng sự khắc phục nó bằng những cách tân
nghệ thuật táo bạo, những liên kết thể loại, liên văn bản, gia tăng tính trữ
tình ... thể hiện vô cùng sáng rõ trong sáng tác của Chekhov - một nghệ sĩ
tinh tế, nắm bắt nhanh nhạy những biến đổi dẫu ở mức tế vi của thời cuộc
và tâm hồn con người.
2.2. Vị trí của A.Chekhov trong văn học “kỉ nguyên Bạc”
2.2.1. Chekhov và các khuynh hướng sáng tác đương thời
Đồng tình với quan niệm về kỉ nguyên Bạc do N.Bogomolov đề
xướng mà theo diễn giải của V.Keldysn là: tính hiện đại của nhà văn trong
tư tưởng và hình thức không lệ thuộc vào khuynh hướng sáng tác, luận án
xác lập A.Chekhov có thể không phải là một tác gia điển hình nhất, nhưng
lại là người khởi đầu của mọi mầm mống cách tân và có sức lan tỏa mạnh
mẽ nhất đến giai đoạn văn học này.
Có hai xu hướng song hành tồn tại trong đánh giá sáng tác của
Chekhov: truyền thống dân chủ Nga từ những năm 60 không thừa nhận quy
luật và cách tân trong hệ hình thi pháp tác giả; ngược lại tác phẩm của văn
hào lại được các nhà văn thuộc nhóm phái hiện đại chủ nghĩa nồng nhiệt
tiếp nhận.
2.2.2. Nguyên tắc sáng tạo. Cái mới từ những tương tác nghệ
thuật
A.Chekhov đã sớm xác định rõ nguyên tắc sáng tạo với nhiều tiêu
chí như ngắn gọn, khách quan, giản dị.. Phá bỏ ranh giới và những bế tắc
của chủ nghĩa hiện thực cổ điển, các tác phẩm của A.Chekhov đã tạo được
một mô hình thẩm mĩ mà mẫu số chung của nó là cái nhìn thế giới của một
thời đại mới.
Sáng tác của Chekhov là hệ quả trực tiếp và biểu hiện sinh động nhất
của những gắn kết chặt chẽ giữa văn học, triết học, tôn giáo và các bộ môn
nghệ thuật khác. Đó là sự lĩnh hội cách biểu đạt của trường phái ấn tượng
hội họa trong tạo hình, tả cảnh với những nét chấm phá tinh diệu để tác tạo
nên những phức điệu giữa tự sự và trữ tình, giữa hài và bi, giữa cái nghiêm
và cái bình thường.
Sự đổi mới trong nghệ thuật viết kịch đã được các thế hệ sau học hỏi
như kết hợp giữa hài kịch và bi kịch , tính chất phi cốt truyện của Chekhov,
sự ưu tiên cho hành động bên trong so với hành động bên ngoài, tính tiền
định của các số phận nhân vật, những đối thoại câm lặng, kết thúc mở, sự
dư thừa những yếu tố phi sân khấu, tính tổng hòa mà nhờ đó tác phẩm
10
không chỉ dùng để dàn dựng trên sân khấu kịch mà còn để đọc. Những quy
luật sáng tác của Chekhov không hình thành từ hư vô, mà là kết quả của sự
tiếp nhận, quá trình liên văn bản phức tạp, kết hợp và biến đổi các kiểu diễn
ngôn của văn học hiện thực truyền thống.
2.3.1. Truyện ngắn
2.3.1.1. Các hình thức truyện ngắn Nga thế kỉ XIX
Trước Chekhov, truyện ngắn không phải là một thể loại có vị trí
quan trọng trong văn học Nga nhưng vẫn luôn được các nhà văn Nga thử
nghiệm sáng tạo. Luận án tiến hành phân chia truyện ngắn thành các dạng
thức cụ thể là: hình thức novella truyền thống (truyện ngắn khung); hình
thức truyện – kí; truyện ngắn tâm lí.
2.3.1.2.Tiếp biến và “đối thoại” thể loại từ truyện ngắn A.Chekhov
Kế tục A.Puskin, N.Gogol trong việc lựa chọn đề tài - chủ đề, con
người bình dân vẫn là trung tâm phản ánh trong tác phẩm A.Chekhov. Vận
dụng những kĩ thuật novella điêu luyện của N.Gogol, A.Chekhov đã viết
nên những truyện ngắn đúng quy cách, đúng trình tự, đúng tính chất. Sau
đó, truyện của ông đã trở thành hiện tượng “lật đổ”, phản novella rất độc
đáo: Cô đào hát, Người báo thù, Que diêm Thụy Điển… Hình thức truyện kí
từ Turgenev cũng đã được tái hiện trong nhiều sáng tác những năm 90 của
A.Chekhov như Thảo nguyên, Phòng 6, Nhà tu hành vận đồ đen, Trong khe
núi. Sự bãi miễn kịch tính của cốt truyện, thay thế chúng bằng những ghi
chép tưởng như tản mạn và gia tăng phân đoạn miêu tả phong cảnh thiên
nhiên, A.Chekhov đã tỏ rõ sự đồng điệu với Turgenev về cái nhìn mới đối
với thế giới, tạo nên những trang viết đậm chất trữ tình. Khước từ những
tính cách điển hình trong hòan cảnh điển hình theo kiểu L.Tolstoy hay
những nhân vật biểu tượng có tính cực đoan của Dostoevsky, A.Chekhov
đã “hạ độ cao” cho hình tượng và sự quan tâm của độc giả Nga đến môi
trường mưu sinh thiết thân, đã diễn tả những ba động dữ dội hoặc chỉ lăn
tăn gợn sóng trong tâm hồn từ những ý nghĩ bất chợt, những tình cảm
thoáng qua, những dư âm tiềm thức. Đó mới là những nét tâm lí chính yếu,
thường trực, phổ quát và vĩnh cửu trong tâm hồn nhân loại. Kĩ thuật truyện
ngắn đến A.Chekhov vì thế cũng đã tự tháo dỡ đi những phần khung xơ
cứng, dồn sức hướng đến lay động các giác quan, khơi gợi sự đồng điệu đến
tối đa để có thể nắm bắt sự mênh mông của vũ trụ và tìm cách khám phá
bản thân.
11
2.3.2. Kịch
2.3.2.1. Các trường phái kịch Nga cổ điển
Tiếp nối cảm quan cuộc sống hiện thực được đưa vào trong vở kịch
Boris Godunov từ A.Puskin, sáng tác kịch của N.Gogol đã tiễn biệt hai xu
hướng kịch merlodrama và vaudeville, xoá sổ hình bóng của những nhân
vật kì quặc lai căng từ Pháp và Đức để đưa đời sống xã hội Nga lên chiếm
lĩnh sân khấu đương đại. Các trường phái phát triển tuần tự, liền mạch vừa
dung hợp vừa không ngừng tìm sự đột phá như: trường phái kịch của
N.Gogol; trường phái kịch Turgenev; trường phái kịch A.Ostrovsky.
2.3.2.2. Kịch A.Chekhov: tiếp nhận và cải biến
A.Chekhov đã nắm bắt tinh tường dự cảm về việc phải đổi mới
hình thức và nguyên tắc kịch từ thập niên cuối thế kỉ XIX. Thế nhưng, sự
thất bại của vở kịch Chim hải âu trong lần đầu công diễn được lí giải trước
hết thậm chí không phải do khán giả chưa được chuẩn bị, mà là sự thiếu
chuẩn bị của bản thân các diễn viên. Cốt truyện trong cách hiểu truyền
thống, tức là cốt truyện - tình tiết không phải là cái chính trong kịch của
Chekhov: ông không chú ý tới những hoàn cảnh bên ngoài như những điều
kiện hình thành tính cách, không chú ý tới các hành vi của nhân vật. Đối
với Chekhov, “động cơ” hành động trong tác phẩm nghệ thuật là cuộc sống
nội tâm của các nhân vật. Chính cốt truyện bên trong này đã lí giải đặc thù
của xung đột trong các tác phẩm Chekhov: xung đột giữa mơ ước và thực
tại trở thành yếu tố nổi trội, chủ đạo, chính yếu nhất của kịch Chekhov. Sự
tác động qua lại và sự đối lập giữa hai phương diện này tạo nên không khí
căng thẳng của thế giới nghệ thuật. Kiểu nói lấp lửng, sự im lặng và lời
bóng gió tiếp tục văn bản ngầm - là cái có ý nghĩa duy nhất trong kịch
Chekhov. Tác động qua lại giữa văn bản và văn bản ngầm, cũng như tác
động qua lại giữa xung đột bên trong và bên ngoài đã tạo nên không khí
căng thẳng thường xuyên biến đổi, và cái không khí này mới chính là cốt
truyện đích thực của kịch Chekhov.
Chương 3
GIAO THOA THỂ LOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN A.CHEKHOV
3.1.Tính kịch trong truyện ngắn Chekhov
3.1.1. Nhan đề tác phẩm - những tín hiệu dự báo kịch tính
Tiêu đề truyện ngắn Chekhov tưởng như cực kì đơn giản, tùy hứng,
ngẫu nhiên nhưng lại đưa đến cho người đọc những hình dung sơ khởi, gơi
khợi sự tò mò cùng những tưởng tượng vô hạn làm nên ấn tượng về tính
12
kịch. Hầu hết tên gọi các truyện ngắn Chekhov có điểm chung đó là trực
tiếp nhấn mạnh vào nhân vật, đồ vật, thuộc tính hoặc những tình huống tạo
nên xung đột hoặc gây đột biến trong tác phẩm. Khi tiếp tục thâm nhập vào
nội dung, từng sự định danh, định tính ấy trở thành điểm mấu chốt tạo dựng
mâu thuẫn hoặc chuyển tải thông điệp tạo nên độ “căng” cho cốt truyện và
sự bất ngờ khi kết thúc.
3.1.2. Tính kịch trong kết cấu cốt truyện truyện ngắn Chekhov
3.1.2.1. Kết cấu cốt truyện hoạt cảnh
Đây là kiểu cốt truyện có mâu thuẫn và xung đột nổi trội, phân
tuyến nhân vật rõ rệt, được tổ chức như màn kịch một hồi (có cao trào và có
hạ màn) thuận theo thời gian tuyến tính hầu hết được Chekhov lựa chọn xây
dựng ở giai đoạn đầu văn nghiệp. Tổ chức cốt truyện bị chi phối và tập
trung vào một sự kiện trọng đại, tất cả các nhân vật đều xuất hiện từ đầu,
các đối thoại đều hướng đến giải quyết sự kiện đó, kết thúc truyện các cực
bị đảo lộn, tạo nên tiếng cười châm biếm sâu sắc. Trên cái nền của những
truyện kể tưởng như sẽ bùng nổ bởi những xung đột đậm kịch tính,
Chekhov đã rất tài tình bẻ chệch hướng của khối mâu thuẫn để đọng lại cuối
cùng là những mảnh đời, bộc lộ những ấn tượng và tư tưởng sâu sắc. Do
khai thác triệt để các xung đột tạo nên kịch tính của cốt truyện cho nên rất
dễ chuyển thể những câu chuyện có tính kịch này sang kịch nói.
3.1.2.2. Tính kịch trong mở đầu và kết thúc tác phẩm
* Mở đầu trực tiếp, tiến thẳng vào mạch truyện
Chekhov thường chọn cách đi thẳng vào vấn đề trung tâm của tác
phẩm bằng những lời trần thuật trực tiếp để đưa độc giả gia nhập vào không
khí truyện. Kết cấu tiến thẳng vào trung tâm truyện với nhịp điệu linh hoạt,
chuyển đổi tinh tế bằng những đối thoại khiến quá trình biến đổi tâm lí nhân
vật diễn ra tự nhiên, tạo cảm giác về sự chân thực. Ấn tượng câu chuyện
vẫn đang tiếp diễn ở hiện tại gợi cho người đọc về cái “chưa thể hoàn tất”,
mở ra khả năng đồng sáng tạo, thâm nhập sâu vào kết cấu truyện ngắn
Chekhov.
* Kết thúc truyện ngắn nhanh chóng, đột biến, bất ngờ
Truyện ngắn A.Chekhov giai đoạn những năm 80 thường có kết
cục đột biến, bất ngờ, rẽ lối sang một hướng khác thật ngoạn mục, nhanh
chóng. Điểm kết cũng chính là thời điểm cao trào cốt truyện được đẩy đến
đỉnh điểm với cảm giác “thắng gấp” không ngờ. Cảm xúc và tính cách nhân
vật được bóc trần đến tận cùng. Người đọc có lúc ngỡ ngàng với sự thay đổi
13
chóng vánh ấy. Kết thúc mở cũng là một hình thức sáng tạo của Chekhov
nhằm tạo nên những bất ngờ, đột biến. Đọc chúng, độc giả luôn phải tiếp
tục suy nghĩ về những gì mà nhà văn chưa nói.
3.1.3. Tính kịch trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.3.1. Nhân vật - những vai kịch đặc sắc
Trong truyện ngắn A.Chekhov giai đoạn đầu, các nhân vật đi đứng,
nói năng, hành động mang tính chất “sắm vai” có phần cường điệu. Nhân
vật tự phô diễn, đối thoại, tự gây dựng mâu thuẫn rồi bị bóc mẽ tạo nên
tiếng cười châm biếm sâu cay khi kết thúc tác phẩm. Tính chất sắm vai của
các nhân vật nổi bật với sự cố tình che đậy ý đồ, tư tưởng, bản chất khá
vụng về. Ở một hướng khai thác khác, nhà văn đã tạo dựng kiểu hình thức
“sắm vai” khác của các nhân vật là tình trạng con người không được sống
thật với tình cảm, suy nghĩ, khát vọng, mong ước của bản thân; cố gắng
giấu diếm, “đào sâu chôn chặt” tâm tư của mình xuống tận đáy lòng để chạy
trốn những mối nguy hiểm, hiện trạng ghẻ lạnh của xã hội hoặc một nỗi lo
sợ mơ hồ vu vơ không thể nào xác định. Các nhân vật này vẫn là những vai
kịch tự tạo, tuy không gây hại cho ai, không phải là những nhân cách suy
đồi nhưng số phận cũng thật đáng thương, thảm hại.
3.1.3.2. Tính kịch trong ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật
Trong cấu trúc ngôn ngữ truyện ngắn thời kì đầu của Chekhov,
ngôn ngữ đối thoại chiếm một dung lượng lớn, có vai trò kết nối hệ thống
sự kiện và nhân vật. Lời thoại của các nhân vật không chỉ nhằm tự phô diễn
tính cách, nội tâm mà còn mang chức năng thúc đẩy kịch tính lên cao trào.
Qua đối thoại, bóng dáng người kể chuyện hầu như biến mất mà chỉ trưng
lên trên bề mặt văn bản tổng thể tâm tư, hành động của các nhân vật. Đối
thoại trong truyện ngắn Chekhov mang tính trực khởi và tính khuynh hướng
nhằm biểu đạt nhiều đối nghịch, góp phần thúc đẩy cốt truyện đến giai đoạn
thắt nút, cao trào.
3.1.4. Kiến tạo không gian mang đậm tính kịch
Tổ chức không gian trong truyện ngắn Chekhov thường mang tính
xác định. Không gian được giới thiệu, miêu tả sống động bởi hàng loạt các
chi tiết cụ thể và hệ thống đồ vật. Không gian ít có sự dịch chuyển gợi ấn
tượng về một sự duy nhất, tĩnh tại, không thay đổi. Tính chất của không
gian nổi trội với hai đặc điểm như sau: không gian hẹp, khép kín, mang tính
cản trở với motif không gian căn phòng và motif không gian ngôi làng, thị
trấn, bãi chợ thường được miêu tả có vị trí biệt lập như cắt rời với thế giới
14
xung quanh, cuộc sống như ngưng đọng, người dân nhẵn mặt nhau; tồn tại
những mảnh đời và cuộc sống thật đáng sợ. Thứ hai, không gian luôn hiện
ra như một trở ngại ghê gớm mà con người không thể vượt qua được là
những thử thách mà con người rất khó vượt qua. Chỉ trong bối cảnh bức
bối, ngột ngạt và yếm khí này, mọi mâu thuẫn càng lúc càng tăng tiến tạo
nên không khí đặc trưng của các lớp kịch.
3.2. Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn A.Chekhov
3.2.1. Từ cốt truyện ý thức mang tính kịch tới cốt truyện trữ
tình men theo dòng tâm lí nhân vật
Khảo sát 19 truyện ngắn của Chekhov viết trong giai đoạn những
năm 90, cốt truyện nổi trội với đặc tính tản mạn, dàn trải, thiếu vắng các
tình huống gây đột biến, không theo mô thức của những thắt nút li kì và mở
nút hồi hộp, có sự đảo lộn trật tự thời gian khi chêm xen các đoạn mạch hồi
tưởng - hoài niệm. Đó là kiểu cốt truyện tâm lí - trữ tình lấy diễn biến tình
cảm - cảm xúc làm trục kết nối mọi sự kiện. Dòng cảm xúc của nhân vật chi
phối mạnh mẽ đến mở đầu hoặc kết thúc thiên truyện, đến việc lựa chọn chi
tiết - đồ vật miêu tả, cảnh tượng chứng kiến, ấn tượng về con người ... Vì
thế, cốt truyện không theo quy luật tuyến tính - nhân quả, điểm dừng của
truyện vẫn mở ra những suy tư không ngừng nghỉ.
3.2.2. Cảm xúc trữ tình từ hệ thống nhân vật
3.2.2.1. Thuật kể hồi ức và mạch ngầm tâm trạng nhân vật
Hầu hết nhân vật trong truyện ngắn của A.Chekhov ở giai đoạn này
được xây dựng ở hai phương diện tưởng chừng đối lập: phần tính cách nổi
lên trong đối đãi và mưu sinh, phần tâm lí chìm đi trong sự tự vấn và cô
đơn. Đó là những dòng viết giàu giá trị, đong đầy cảm xúc tạo nên bước
ngoặt lớn trong nhận thức bản tính con người và tạo nên tính trữ tình cho
thiên truyện. Không ít nhân vật chỉ thực sự sống với những kí ức và hoài
niệm và cho đó là phần đời đáng sống của mình. Giọng điệu sôi nổi, xúc
động là dấu hiệu của một thái độ trân trọng dĩ vãng làm nên những trang
viết đậm chất thơ.
3.2.2.2. Cảm xúc trữ tình từ lời người kể chuyện
Dẫu chỉ đóng vai trò người quan sát, dẫn dắt, nhưng người kể
chuyện đã thể hiện rõ sự thâm nhập sâu sắc, thường xuyên bộc lộ tâm tình,
thái độ, trở thành một điểm nhìn quan trọng, độc lập, đúc kết chân lí và
thông điệp. Tuy không lấn át các nhân vật chính thức của truyện ngắn
nhưng giọng điệu và phát ngôn ẩn tàng của người trần thuật cũng trở thành
15
một điểm sáng hội tụ và kết nối dòng cảm xúc chủ đạo xuyên suốt tác
phẩm.
3.2.3. Yếu tố trữ tình trong kiến tạo không gian và miêu tả
thiên nhiên
Tiếp nối motif không gian các thị trấn, ngôi làng, thành phố như ở
giai đoạn trước, không gian của những truyện ngắn có dung lượng dài hơi
này vẫn chẳng có gì thay đổi, vẫn mang màu sắc ảm đạm, buồn tẻ bao trùm.
Đặc tính này hoàn toàn tương thích với dòng cảm xúc buồn bã, bế tắc, tạo
nên dư vị trữ tình đượm buồn ở hầu hết các sáng tác. Ở một phương diện
khác, tính chất cao rộng, khoáng đạt là thiết kế không gian đặc trưng trong
sáng tác của Chekhov những năm cuối đời. Không gian này gắn bó chặt chẽ
với những bức tranh thiên nhiên hoang sơ, tinh khiết giúp tác giả bộc bạch
những suy nghĩ, ưu tư của con người về cuộc đời, về những vấn đề mang
tính triết lí xã hội lớn lao, về khát vọng thay đổi và đi đến tương lai. Không
gian tâm lí là kiểu không gian được tạo ra do dòng ý thức bên trong của
nhân vật, thường gắn liền với những hồi ức, tưởng tượng, giấc mơ; in dấu
ấn sâu sắc trạng thái tinh thần, đặc điểm tính cách, số phận của từng cá nhân
cụ thể.
3.2.4. Yếu tố trữ tình từ điểm nhìn nội tâm và ngôn ngữ độc
thoại
Điểm nhìn nội tâm là một hướng dịch chuyển vào tầng sâu của cấu
trúc tâm lí nhân vật và chuyện kể được Chekhov liên tiếp vận dụng để khám
phá các trạng thái tâm lí, tình cảm nhân vật. Từ đây, truyện ngắn Chekhov
được xếp vào kiểu dạng những truyện ngắn tâm và là truyện ngắn dường
như không có cốt truyện. Tính chưa hoàn tất của việc xét đoán nhân vật
diễn tiến theo chiều dọc của tác phẩm như là một quá trình săn đuổi ý thức
của chúng. Cũng ở điểm nhìn nội tâm, người trần thuật dễ dàng thoải mái
nhập vào tâm trạng của nhân vật, thể hiện những trăn trở bên trong của
nhân vật ấy.
Thủ pháp độc thoại nội tâm chính là cách thức trực tiếp để tiến
thẳng vào trung tâm tình cảm, tâm lí nhân vật. Về mặt hình thức và kĩ thuật,
A.Chekhov thường đặt nó trong dấu nháy (“..”) để phân định. Có lúc dòng
độc thoại nội tâm được nhấn mạnh bằng những từ ngữ băt đầu như: “nghĩ
rằng”, “nhớ lại”, “cảm giác rằng”, “cảm tưởng rằng”. Độc thoại nội tâm rất
phong phú về kiểu dạng đưa đến những góc nhìn thú vị và khai thác toàn
16
diện tâm tư các nhân vật với nhiều hình thức như: độc thoại nội tâm liên
tưởng, độc thoại nội tâm hồi tưởng,độc thoại nội tâm so sánh.
Chương 4
GIAO THOA THỂ LOẠI TRONG KỊCH CHEKHOV
4.1. Tính tự sự trong kịch Chekhov
4.1.1. Sự tương đồng của văn xuôi tự sự và kịch trong lựa chọn
đề tài - chủ đề
4.1.1.1. Đời thường – chất liệu đề tài kịch Chekhvov
Kịch mới của Chekhov đã chính thức đưa cuộc sống đời thường với
tất cả những sinh hoạt bình dị, đơn giản, quen thuộc, thậm chí là tẻ nhạt,
dung tục, tầm thường vào sáng tác kịch. Không gian sống lặng lẽ, buồn tẻ,
thậm chí hẻo lánh ở những thị trấn, vùng quê vô danh là phông cảnh, chứng
tích cho cuộc sống tù đọng, héo mòn của những kiếp nhân sinh, khơi gợi
cảm quan ban đầu về tính tự sự ở nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp, trì trệ đã
được kéo lê từ quá khứ đến hiện tại.
4.1.1.2. Sự tương đồng hoặc viết lại các motif đề tài – chủ đề từ văn
xuôi tự sự
Kịch và văn xuôi tự sự Chekhov đều là sự khúc xạ hình ảnh của
một cuộc sống tù đọng, các nhân vật bị sa lầy, nhân cách con người bị bào
mòn dần bởi nhịp điệu sinh hoạt tẻ nhạt, những ước mơ tuổi trẻ bị vùi lấp
theo thời gian, sự trống rỗng tâm hồn - tư tưởng. Có thể lược thuật một số
motif đề tài - chủ đề từ truyện ngắn sang kịch là: motif tình yêu trong
nghịch cảnh, motif hôn nhân “đôi đũa lệch, cọc cạch”, motif chủ đề sự tàn
lụi ước mơ - khát vọng - nhân cách, chủ đề sự thất bại trong nghề nghiệp
của đội ngũ nhà văn, họa sĩ đã cho thấy sự gắn kết hoàn toàn “không tình
cờ” giữa tự sự và kịch của Chekhov.
4.1.2. Tính tự sự trong xây dựng cốt truyện kịch
4.1.2.1. Tính chất “giải thể”,“giải trung tâm” thay thế cho tính tập
trung cao độ trong kịch truyền thống
Từ sự lựa chọn các đề tài về cuộc sống đời thường, kịch Chekhov
thiếu vắng hẳn hệ thống sự kiện liền mạch, tập trung, căng thẳng, gây đột
biến như cốt truyện kịch truyền thống. Các nhân vật trong kịch ưa đàm
luận, bộc bạch, thuật kể những câu chuyện cá nhân. Sự phân tuyến dường
như biến mất, không ai đấu tranh với ai nên không có kẻ thắng, người thua
và không đưa đến những kết cục tang thương hoặc thăng hoa tổng thể,
những bùng phát mạnh mẽ. Cốt truyện được hợp thành bởi những câu
17
chuyện đời tư nhỏ lẻ, cốt truyện bên ngoài qua từng lớp, từng hồi được
“giải thể”, “phi trung tâm” chuyển thành cốt truyện bên trong lấy tâm lí tình cảm của các nhân vật làm trục kết nối chưng cất thành một ấn tượng
chung ở điểm kết.
4.1.2.2. Phương thức “mảnh gương vỡ” trong kiến tạo tình tiết, sự
kiện. Quan hệ giữa cốt truyện bên ngoài và cốt truyện bên trong
Hệ thống sự kiện trong cốt truyện kịch của Chekhov vốn rất ít ỏi,
thậm chí có lúc còn khó nhận diện. Các sự kiện kịch thường bị dẫn ra khỏi
tiêu điểm; được mô tả nhỏ lẻ, vụn vặt, thình lình xuất hiện hoặc biến mất,
đan xen vào nhau hoặc rẽ ngang sang hướng khác. Chính vì thế nên giới
nghiên cứu đã dùng hình tượng “mảnh gương vỡ” ám chỉ kĩ thuật kịch này
của ông đã vượt ra khỏi phép tắc biên kịch truyền thống. Đối với các kịch
gia cổ điển, một số sự kiện bề nổi có vẻ như giật gân, động trời (tự sát, nổ
súng truy đuổi, đấu súng) hẳn sẽ tạo ra những ảnh hưởng quyết định và
những thay đổi bước ngoặt trong tiến trình phát triển của vở kịch. Nhưng
trong kịch Chekhov, người ta thấy các nhân vật của ông, sau những sự kiện
ầm ĩ ấy, vẫn lẵng lẽ sống, lặng lẽ làm việc của mình.
4.1.3. Tính tự sự thể hiện trong nghệ thuật xây dựng xung đột
kịch
4.1.3.1. Xung đột hành động nhường chỗ cho xung đột nội tâm
Giống với văn xuôi tự sự, nguyên tắc thể hiện cuộc sống và con
người là cái hàng ngày, cái phi anh hùng cho nên kịch Chekhov giai đoạn
cuối không có những xung đột đối kháng và đấu tranh căng thẳng, gay gắt.
Có cảm giác ở những vở kịch này không có gì diễn ra, chủ yếu là những
cuộc trò chuyện về những điều nhỏ nhặt hàng ngày, thậm chí không liên
quan gì đến nhau. Tương thông với kiểu cốt truyện kịch bị “giải trung tâm”,
tạo cảm giác “không có cốt truyện”, xung đột kịch cũng bị “giải xung đột”,
4.1.3.2. Nghệ thuật “giải xung đột” trong kịch Chekhov
Nhìn trên bề mặt, theo lí thuyết kịch truyền thống, cần phải có một vấn đề
trọng đại, thông suốt từ điểm đầu đến điểm kết thúc giúp kết nối các tình
tiết, sự kiện và nhân vật. Chekhov cũng dựng nên một sự kiện có tính xung
đột như thế, nhưng đã dần dần gỡ bỏ đi tính cấp thiết và quan trọng của nó,
từ cái quan trọng chuyển thành cái “không còn được để tâm” và không có
khả năng thúc đẩy tiến trình của tác phẩm. Trong các vở kịch của Chekhov
thường chứa đựng nhiều tình tiết và xung đột song song tồn tại, được đan
xen vào nhau mà vẫn phát triển nhiều hướng đề tài khác nhau nhưng lại
18
không hề làm triệt tiêu và tổn hại lẫn nhau. Thậm chí có cả những việc nằm
phía bên ngoài sân khấu lại có tác dụng và ảnh hưởng không nhỏ đến nội
dung của vở kịch, đến tâm tư của nhân vật phía trong sân khấu.
4.1.4. Thời gian trong kịch Chekhov
4.1.4.1. Sự đan xen giữa thời gian hiện tại và quá khứ. Thủ pháp
hồi cố
Tính chất trần thuật nổi trội đã làm gia tăng sự hiện hữu của thời
gian quá khứ chêm xen, lấn át thời điểm sống hiện tại của các nhân vật
trong kịch Chekhov. Hồi tưởng lại những kỉ niệm đã qua với tất cả sắc màu
và dư âm đẹp, lung linh là một phương thức chối bỏ, chống chọi với thực
tại tẻ nhạt bế tắc của hầu hết các nhân vật. Tính chất tĩnh tại hoặc cố kéo
xích quá khứ về trong thực tại đã khiến cho cốt truyện kịch như ngưng trệ,
đóng băng. Cũng có cảm giác về xung đột như chưa từng xảy đến, mâu
thuẫn giữa các nhân vật trong thế giới vật chất cũng bị lãng quên để tiếp tục
chuỗi ngày sống vô vị, chìm đắm trong bi kịch cá nhân của họ.
4.1.4.2. Tính tự sự trong lời kể của nhân vật
Bốn vở kịch trứ danh của Chekhov thông qua đối thoại để tổ chức
các sự kiện. Thế nhưng đối thoại này hầu hết chỉ là đơn thoại hoặc độc thoại
mà các nhân vật sử dụng để kể về các sự kiện xảy ra hoặc cảm nhận của cá
nhân. Tương thích với hệ thống sự kiện dàn trải, không tập trung, bị phân
mảnh đồng thời là sự chia tách lời thuật kể cho hầu hết các nhân vật. Nội
dung trần thuật của các nhân vật không chỉ đơn giản về ai, ở đâu, làm gì,
mà đã đi vào sự miêu tả chân xác, cụ thể từ hình dạng, màu sắc, trạng thái
đến cảm nhận, ấn tượng, tạo nên sự sắc nét, sống động cho từng sự kiện,
từng câu chuyện.
4.1.5. Tính tự sự thông qua các chi tiết chỉ dẫn sân khấu
Từ kịch Chekhov, chỉ dẫn sân khấu đã được đôn lên thành một hệ
thống thông tin và kể chuyện lớp lang, rành rẽ, chứa đựng những ý đồ nghệ
thuật của người sáng tạo. Dung lượng của chỉ dẫn sân khấu ở đầu mỗi màn
kịch tối thiểu chiếm hơn nửa trang văn ; khá dụng công khi mô tả cặn kẽ, cụ
thể bối cảnh không gian cùng trạng thái, tư thế, dáng vẻ của các nhân vật
trong hồi kịch cùng ngôn ngữ miêu tả và thuật kể được trau chuốt, thể hiện
sự kĩ lưỡng nhằm tạo dựng nên một bầu khí quyển đặc biệt trong kịch.
4.2. Tính trữ tình trong kịch Chekhov
4.2.1. Tính trữ tình trong nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch
19
4.2.1.1. “Tự biểu hiện” - đặc trưng hình tượng nhân vật kịch
Chekhov
“Tự biểu hiện” thể hiện trước hết là các nhân vật tự giới thiệu về
mình ở mọi phương diện. Các nhân vật trong kịch Chekhov, thông qua đối
thoại và độc thoại đã tự kể “tiểu sử” bản thân, kể về quá khứ cùng những kỉ
niệm sâu sắc đã tác động hình thành nên tính cách và nhân cách, kể về sự
mưu sinh trong thực tại của họ. Không ai thực sự hiểu ai. Chỉ họ và duy
nhất từ họ trực tiếp thổ lộ cõi lòng của mình như một thế giới biệt lập. Từ
những lời tự giãi bày về tâm trạng - tinh thần, độc giả mới thâm nhập và
nắm bắt đầy đủ về mỗi nhân vật từ điểm mở màn cho đến phút hạ màn.
4.2.1.2. Nội tâm - phương diện chính yếu của nhân vật kịch Chekhov
Nhân vật trong kịch Chekhov hầu như được chuyên chú vào việc
biểu đạt thế giới tâm hồn, xúc cảm, trạng thái tâm lí, suy tưởng tinh thần
sâu kín. Không dừng lại ở sự tạo dựng đời sống nội tâm hoàn chỉnh cho hầu
hết các nhân vật, kịch Chekhov đạt đến những bước chuyển biến cao trào
khi tập hợp, dồn chứa và bùng phát những trạng thái tâm lí “căng thẳng”,
xúc cảm điển hình, những cơn địa chấn tinh thần, giây phút bột phát thăng
hoa mãnh liệt của tình cảm.
4.2.1.3. Nhân vật kịch hiện diện như một “chủ thể trữ tình”
Nhân vật kịch Chekhov không chỉ được biểu đạt trọn vẹn về đời
sống nội tâm, mà hơn thế nữa, một số nhân vật đã trở thành sự hiện thân
cho một tiếng nói trữ tình thông suốt, nhất quán; được xây dựng như một
biểu tượng của “chủ thể trữ tình” trong kịch. Ở một số trường đoạn kịch
xuất hiện sự chuyên chú giãi bày, thổ lộ trực tiếp tâm tư tình cảm nhân vật;
hé lộ hoặc ẩn tàng thái độ và tình cảm của tác giả; truyền dẫn cảm xúc
mãnh liệt đến độc giả, thì ở tại thời điểm ấy, nhân vật dường như mang
phẩm chất của một “chủ thể trữ tình”.
4.2.2. Tính trữ tình trong nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ kịch
4.2.2.1. Màu sắc trữ tình trong ngôn ngữ độc thoại
Với đặc tính “tự biểu hiện” rất nổi trội, các nhân vật kịch Chekhov
thường xuyên vận dụng độc thoại để bộc lộ bản thân. Độc thoại được tạo
dựng với nhiều bình diện: những gì nhân vật thốt lên thành tiếng, những gì
nó suy nghĩ, những gì xuất hiện trong chốc lá, trong ý thức nhân vật, những
gì nó đã biết trước kia trực tiếp bằng tình cảm chứ chưa phải bằng lí trí và
những gì nhân vật thoáng nhớ lại hiện thời. Phần lớn nội dung lời độc thoại
20
ấy đã được chuyển xuống tầng ngầm để biểu đạt tâm tư tình cảm của các
nhân vật, tạo nên chất thơ đặc trưng của văn phong Chekhov.
4.2.2.2. Sự dịch chuyển ngôn ngữ đối thoại sang phương thức “độc
thoại hóa”
Khác với kịch truyền thống, ngôn ngữ đối thoại kịch Chekhov đã có
sự biến đổi rất lớn về phương diện cấu trúc và nội dung. Đối thoại không
chỉ được tiến hành giữa hai người mà còn giữa nhiều người. Kiểu đối thoại
này thường được gọi là đối thoại nhiều bè: nhiều người cùng tham dự vào
một câu chuyện và đưa ra ý kiến riêng của mình. Chúng tôi xác định đây là
hiện tượng “độc thoại hóa” ngôn ngữ đối thoại, góp phần tăng cường tính
trữ tình trong sáng tác kịch, chuyên chở những trạng thái tình cảm xáo trộn,
phức tạp, bộn bề, chồng chất, muôn hình vạn trạng gắn với nỗi lòng riêng
của từng nhân vật. Những hợp âm lạc điệu của các đối thoại ấy mang chức
năng khá quan trọng trong việc “giải xung đột kịch”, “phi trung tâm hóa
nhân vật.
4.2.3. Dấu ấn trữ tình ngoại đề từ thi ca, âm nhạc – âm thanh
4.2.3.1. Trữ tình ngoại đề từ thi ca
Trữ tình ngoại đề bằng việc chêm xen các tứ thơ (lấy từ kho tàng
văn học dân gian Nga hoặc của các nhà thơ tiền bối) vào giữa lời thoại các
nhân vật là một dấu ấn độc đáo trong các vở kịch Chekhov cho thấy khả
năng liên văn bản trong sáng tác của ông; giúp nhân vật bộc lộ tâm tư sâu
kín bằng một phương thức riêng mà đôi khi những phát ngôn thông thường
không lột tả được hết.
4.2.3.2. Trữ tình ngoại đề từ âm nhạc - âm thanh
Cả một hệ thống âm nhạc - âm thanh được sử dụng đắc lực hỗ trợ
việc dàn dựng cốt truyện là dấu ấn đặc thù làm nên bản sắc riêng của kịch
Chekhov, mà nếu lược bỏ chúng đi sẽ không còn thấy tính chất cách tân của
nhà văn ở thể loại này như tiếng hát, lời hát, tiếng nhạc, bản nhạc, tập hợp
không ít các loại nhạc cụ, hệ thống âm thanh.. đảm nhiệm chức năng “thanh
lọc” cảm xúc của nhân vật, cũng như người tiếp nhận. Chekhov đã mang cả
hơi thở của không gian, bước chuyển của thời gian vào tác phẩm. Chúng
được hòa lẫn vào nhau, đan xen với nhau, xáo trộn cùng với âm nhạc giúp
tác giả tạo tác bức tranh chân thực về “cuộc đời sống động”.
21
4.2.4. Khả năng biểu đạt, khơi sâu mạch ngầm văn bản từ hệ
thống biểu tượng - tượng trưng.
Kịch Chekhov thoát khỏi tính chất ước lệ của kịch truyền thống ở
hai bình diện cùng song hành tồn tại: một mặt là xóa nhòa khoảng cách với
cuộc sống đời nhưng mặt khác lại kiến tạo nên một hệ thống các hình ảnh
biểu tượng, tượng trưng sao cho: “lời chật mà ý rộng”, tạo nên tính hàm
súc, cô đọng cùng những tầng bậc ý nghĩa sâu sắc. Các hình ảnh biểu tượng
- tượng trưng trong kịch có khả năng rất lớn để khơi gợi xúc cảm đồng thời
làm gia tăng tính đồng điệu trong tiếp nhận ví như : chim hải âu, Moskva,
mặt nạ, vườn anh đào...
KẾT LUẬN
1. Sáng tạo nghệ thuật trong giai đoạn giao thời giữa hai thế kỉ, chịu
những tác động sâu sắc của bối cảnh xã hội, đời sống cá nhân, những tiếp
biến văn hoá các trào lưu xu hướng gẫn gũi đã xác lập phong cách nghệ
thuật và thi pháp riêng của A.Chekhov trong văn xuôi tự sự và kịch. Luận
án đã đặt ra và giải quyết vấn đề giao thoa thể loại trong sáng tác kịch và
truyện ngắn của Chekhov chủ yếu dựa trên hệ hình lí thuyết thể loại nhằm
làm sáng tỏ sự xâm nhập, hòa quyện của các phương thức sáng tạo văn học
đánh dấu sự “khác biệt”, sự “làm mới” của người viết. Giao thoa thể loại
không phải là đặc thù, đặc quyền trong cách viết của Chekhov, mà vốn dĩ
đã là những hiện tượng từng diễn ra trong văn học trước đó. Ở những thời
điểm chuyển giao thể tài, thể loại, các giai đoạn và trào lưu văn học trong
quá khứ, sự hòa trộn - kết hợp này đã từng được thực thi và mang đến
những đột phá mạnh mẽ. Chekhov tiếp tục sứ mệnh của một người viết ở
bối cảnh chuyển biến để mang đến những đổi thay (cấp thiết và tất yếu) cho
văn học Nga cuối thế kỉ XIX nói riêng và văn học thế giới nói chung.
2. Truyện ngắn Chekhov không những hấp dẫn độc giả bởi nội
dung phong phú, đầy ắp các chi tiết và gần gũi với cảnh huống của đời sống
thường nhật mà còn không ngừng được khẳng định, khai phá vô tận về cách
thức thể hiện và nghệ thuật kiến tạo. Các nhà nghiên cứu và độc giả qua các
thế hệ luôn muốn tìm hiểu nhiều hơn và sâu hơn những kĩ thuật của người
nghệ sĩ bậc thầy trong địa hạt này. Ở góc nhìn của sự kết hợp thể loại, luận
án hi vọng sẽ mang đến một sự tường minh mới, cắt nghĩa sức ám ảnh của
các tác phẩm này. Việc sử dụng các thủ pháp kịch để xây dựng truyện ngắn
giai đoạn những năm 80, rồi chuyển sang vận dụng các yếu tố thuộc
phương thức trữ tình trong các sáng tác một thập niên sau đó, Chekhov đã
22