Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô
giáo – PGS.TS Nguyễn Thị Thấn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học –
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy bảo, tạo điều kiện cho em trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy, cô giáo
trường tiểu học Thành Công B và trường tiểu học Dịch Vọng B đã nhiệt tình
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu, điều tra, thực
nghiệm và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè – những người đã
cổ vũ, động viên em trong suốt thời gian qua.
Do năng lực và thời gian nghiên cứu có hạn nên bản khóa luận này
không tránh khỏi những thiếu sót, sơ suất. Vì vậy, em rất mong nhận được sự
góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Mai Thị Thúy Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
GV:
Giáo viên
HS:
Học sinh
TCHT:
Trò chơi học tập
ĐC:
Đối chứng
TN:
Thực nghiệm
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
DANH MỤC BIỂU BẢNG VÀ BIỀU ĐỒ
Biểu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1
Kết quả thăm dò mức độ sử dụng các hình thức dạy học phần
Lịch sử
22
Bảng 2
Kết quả thăm dò quan niệm về vai trò của TCHT
23
Bảng 3
Kết quả thăm dò về mục đích sử dụng TCHT
23
Bảng 4
Kết quả thăm dò về những thuận lợi khi sử dụng TCHT trong
DH lịch sử
24
Bảng 5
Kết quả thăm dò về những khó khăn khi sử dụng TCHT
25
Bảng 6
Các nguồn trò chơi học tập dạy học lịch sử
26
Bảng 7
Kết quả đánh giá của GV về các TCHT Lịch sử trong một số
tài liệu hiện hành
27
Bảng 8
Kết quả thăm dò về thời lượng thực tế GV sử dụng để tổ
chức TCHT
27
Bảng 9
Kết quả thăm dò các điều kiện đảm bảo cho việc sử dụng
TCHT trong dạy học Lịch sử lớp 4
28
Bảng 10
Kết quả thăm dò những biện pháp phổ biến rộng rãi sử
dụng TCHT vào dạy học phần Lịch sử
29
Bảng 11
Mức độ hứng thú với phần Lịch sử của HS tiểu học
30
Bảng 12
Mức độ GV sử dụng TCHT phần Lịch sử qua điều tra HS
30
Bảng 13
Cảm nhận của HS khi chơi TCHT trong DH phần Lịch sử
31
Bảng 14
Mục đích sử dụng TCHT của GV qua điều tra HS
32
Bảng 15
Xếp loại học lực môn Lịch sử và Địa lí của lớp 4A5 và
4A4 trong học kì 1 năm học 2014 - 2015
70
Bảng 16
Kết quả kiểm tra sau TN bài 14 của lớp TN và lớp ĐC
73
Bảng 17
Đánh giá kết quả kiểm tra sau TN bài 14 của lớp TN và
73
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
lớp ĐC
Bảng 18
Kết quả kiểm tra sau TN bài 19 của lớp TN và lớp ĐC
75
Bảng 19
Đánh giá kết quả kiểm tra sau TN bài 19 của lớp TN và
lớp ĐC
75
Bảng 20
Thống kê tổng điểm trung bình cộng của lớp TN và lớp
ĐC
75
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1
Kết quả xếp loại trước thực nghiệm giữa lớp 4A4 và 4A5
71
Biểu đồ 2
Kết quả xếp loại học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng
76
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
MỤC LỤC
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là những viên gạch nền móng của ngôi nhà giáo dục
quốc dân. Cấp Tiểu học là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc giáo dục
nhân cách của học sinh. Bước vào trường tiểu học, học sinh được hình thành
cách học với hệ thống kĩ năng cơ bản tạo thành năng lực học tập của các em,
năng lực này tạo ra năng lực khác. Chính vì vậy ngay từ cấp học này, chúng ta
phải dạy cho học sinh biết cách tư duy, sáng tạo, tự mình chiếm lĩnh tri thức
bằng hoạt động của mình. Vì vậy người giáo viên phải tổ chức quy trình dạy
học theo hướng tích cực, thiết kế những hoạt động học tập theo phương châm
“Thầy thiết kế - trò thi công” giúp các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng
và phát triển các năng lực một cách tự nhiên.
Ngày nay, giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh là vấn đề được
quan tâm hàng đầu. Vì thế mà ở cấp tiểu học cùng với Toán và Tiếng Việt các
môn học khác cùng không kém phần quan trọng đặc biệt là môn lịch sử.
Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim có tác dụng
không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh. Những con người thực, việc
thực trong quá khứ sẽ khơi dậy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúng
đắn, xây dựng hành trang cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện hội nhập với
thế giới. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”
Phần Lịch sử giúp học sinh tiểu học lĩnh hội một số tri thức cơ bản,
thiết thực về các sự kiện lịch sử và văn hóa, một số danh nhân anh hùng dân
tộc, các nhà khoa học tiêu biểu điển hình từ buổi đầu dựng nước cho đến nay.
Đồng thời, giáo dục cho học sinh lòng tự hào về truyền thống anh hùng của
Khóa luận tốt nghiệp
1
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
dân tộc, ngưỡng mộ và noi theo các tấm gương, các danh nhân, các nhà khoa
học trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thực tế hiện nay, dạy và học lịch sử chưa đạt được kết quả như mong
đợi, đa số học sinh sau khi học xong chương trình phổ thông mà vẫn chưa
hiểu biết rõ về lịch sử. Các em thường không nhớ, không biết hoặc nhớ nhầm
và dẫn đến những lỗi sai lầm trầm trọng về lịch sử. Điều này đã được phản
ảnh rõ nét trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng này song nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là môn Lịch sử
chưa được coi trọng đúng mức nhất là ở trường Tiểu học. Ở trường Tiểu học,
các môn Toán, Tiếng Việt được coi ngầm là môn học “chính”, các môn còn
lại trong đó có Lịch sử là những môn “phụ”. Vì vậy, giáo viên chưa thực sự
quan tâm đến việc giảng dạy Lịch sử, chưa thường xuyên đầu tư vào bài học
để phát huy tính tích cực nhận thức, hứng thú cho học sinh. Ngoài ra, nội
dung dạy học Lịch sử chưa gây được hứng thú cho đa số học sinh.
Nhà sử học Xô viết Patusô đã khẳng định: “Muốn đào tạo con người
phù hợp với thời đại, chúng ta cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử. Để nâng cao được kết quả dạy học lịch sử thì giáo viên
phải khơi dậy hứng thú học tập của học sinh khi học tập Lịch sử”. Khổng Tử
từng dạy học trò rằng: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng vui say mà học”. Vì vậy một trong những biện pháp để tạo hứng
thú học tập cho các em là sử dụng trò chơi học tập. Trò chơi là một phương
pháp rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học. Trò chơi
thực sự là một phương pháp hữu hiệu để tạo ra sự hài hòa, không khô cứng
trong môn học lịch sử và giúp phát huy tính tích cực nhận thức, học sinh được
“học mà vui, vui mà học”. Qua trò chơi học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử
một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, giờ học sinh động hơn, nhờ đó các em có thể
hiểu và ghi nhớ kiến thức lịch sử sâu sắc hơn.
Khóa luận tốt nghiệp
2
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Hiện nay việc vận dụng trò chơi học tập vào dạy học không phải vấn đề
mới mẻ, song chưa được thường xuyên và chưa đạt kết quả cao. Mặt khác các
nguồn tư liệu giúp giáo viên thiết kế, xây dựng các trò chơi còn ít.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Vận dụng trò chơi học tập
trong dạy học Lịch sử lớp 4”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phần Lịch
sử lớp 4 nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập lịch sử cho học sinh tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Lịch sử lớp 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế, sưu tầm trò chơi và cách thức sử dụng chúng trong quá trình
dạy học phần Lịch sử lớp 4.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng các trò chơi học tập trong dạy học phần Lịch
sử lớp 4 một cách hợp lí, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu
học, phù hợp với nội dung của từng bài học thì sẽ góp phần nâng cao kết quả
học tập nội dung này ở học sinh tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về trò chơi học tập nói chung và trò
chơi học tập trong dạy học Lịch sử nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn tổ chức trò chơi trong dạy học lịch sử ở tiểu học
- Xây dựng và sử dụng các trò chơi học tập trong dạy học Lịch sử lớp 4 và
cách thức sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong dạy học phần Lịch sử lớp 4.
- Thử nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả thực tế của sử dụng phương
pháp trò chơi học tập trong dạy học phần Lịch sử lớp 4.
Khóa luận tốt nghiệp
3
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
6. Phạm vi nghiên cứu
- Thiết kế trò chơi học tập phân môn lịch sử lớp 4.
- Phạm vi điều tra:
+ Giáo viên trường tiểu học ở thành phố Hà Nội và một số tỉnh như
Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hưng Yên.
+ Học sinh lớp 4 trường tiểu học Thành Công B và Dịch Vọng B
- Phạm vi thực nghiệm: Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thành Công B.
7. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và nghiên cứu, tổng kết các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên
cứu để làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng trò chơi học
tập ở tiểu học.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra anket trên đối tượng giáo viên và học sinh: Điều
tra thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học lịch sử lớp 4 ở trường
tiểu học.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Chúng tôi quan sát hoạt động dạy và
học của giáo viên và học sinh các trường tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng kế hoạch bài học và trực
tiếp dạy học ứng dụng tổ chức trò chơi trong giờ dạy một số bài lịch sử lớp 4.
- Phương pháp thống kê toán học: Sau khi thu thập các thông tin cũng như
số liệu liên quan chúng tôi tiến hành thống kê và xử lí các số liệu liên quan.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng trò chơi học tập
Chương 2: Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Lịch sử lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Khóa luận tốt nghiệp
4
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC VẬN DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ LỚP 4
1.1 Trò chơi và trò chơi học tập
1.1.1 Khái niệm về trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động rất quen thuộc và gần gũi với mọi
người. Ở nhiều góc độ khác nhau trò chơi được định nghĩa theo các cách
riêng, có thể trò chơi là một hoạt động tự nhiên cần thiết thỏa mãn nhu cầu
giải trí của con người hay là một phương pháp thực hành hiệu nghiệm đối với
việc hình thành và phát triển nhân cách và trí lực của trẻ em…
Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa trò chơi như sau: “Trò chơi là hoạt động
bày ra để vui chơi giải trí” [18, tr1018]
Khái niệm trò chơi theo từ điển tâm lý học được nêu như sau: “Trò chơi
là một loại hình hoạt động trong các tình huống có điều kiện mà hoạt động đó
hướng đến sự tái tạo và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội được ấn định trong các
phương thức tồn tại của các hành động vật chất, trong các đối tượng của khoa
học và văn hóa”. Qua trò chơi với tư cách là dạng hoạt động thực tiễn xã hội,
các tiêu chuẩn của cuộc sống và hoạt động của con người được tái tạo, việc
tuân thủ các tiêu chuẩn đó đảm bảo việc nhận thức và lĩnh hội hiện thực vật
chất và xã hội, đảm bảo sự phát triển trí tuệ, tình cảm và đạo đức nhân cách.
Theo quan điểm của tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn “Tổ chức hoạt
động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học
sinh”: “Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, mang một nội dung
nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ”. [13, tr17]
Khóa luận tốt nghiệp
5
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Như vậy, trò chơi có nội dung, tổ chức của nhiều người và có quy định,
luật lệ riêng. Nó mang ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người tham gia,
góp phần hình thành nên những phẩm chất nhân cách cho trẻ.
1.1.2 Khái niệm về trò chơi học tập
Các nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học trẻ em đưa ra khái niệm
trò chơi học tập như sau: Trò chơi học tập là trò chơi có luật và những nội
dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính
xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí
tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ - trong đó nội dung học tập kết hợp
với hình thức chơi. [6]
Trò chơi học tập được hiểu một cách đơn giản là các trò chơi có nội dung
gắn với các hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh học tập trên lớp
được hứng thú, vui vẻ hơn . Trò chơi học tập giúp học sinh khai thác vốn kinh
nghiệm của bản thân để chơi và để học. Từ trò chơi học tập có tác dụng rèn luyện
về cả mặt thể chất, trí tuệ cũng như các phẩm chất đạo đức.
1.1.3 Phân loại trò chơi học tập
Dựa vào đặc điểm của trò chơi, ta có thể phân loại trò chơi như sau:
Phân loại trò chơi theo sự năng động của trò chơi gồm có trò chơi
vận động và trò chơi tĩnh.
Trò chơi động là những trò chơi có sự chuyển động hoặc vận dụng đến
cơ bắp của người chơi như: nhảy, kéo đẩy, chạy,…
Trò chơi tĩnh là những trò chơi cần vận dụng trí óc và giác quan, người
chơi ít di chuyển cũng như vận dụng cơ bắp.
Phân loại trò chơi theo không gian chơi gồm có trò chơi ngoài trời
và trò chơi trong nhà.
Trò chơi ngoài trời là trò chơi có thể tổ chức chơi được ngoài trời,
ngoài lớp học như sân trường công viên,…
Khóa luận tốt nghiệp
6
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trò chơi trong nhà thường thường là trò chơi tĩnh, ít di chuyển, không
cần không gian rộng,…
Phân loại trò chơi theo thời gian chơi gồm có trò chơi nhỏ và trò
chơi lớn.
Trò chơi nhỏ là những trò chơi được tổ chức trong nhà hay trên bãi
nhỏ, ứng dụng trong sinh hoạt, học tập,… và thời lượng chơi rất ngắn chỉ
khoảng 5 – 10 phút.
Trò chơi lớn là những trò chơi được dàn dựng công phu dựa theo một
câu chuyện, một lịch sử, truyền thuyết. Cũng có khi dùng trò chơi lớn như
một cách ôn tập các kiến thức đã học. Trò chơi lớn được dàn dựng ở những
địa thế rộng lớn, được tổ chức từ vài giờ đến vài ngày, cá biệt có những trò
chơi dài đến hàng tháng.
Trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển
tâm lực, trí lực và thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng lại đưa ra cách
phân loại trò chơi như sau: [13, tr26]
+ Trò chơi với đồ vật (hay trò chơi xây dựng)
Trẻ thường chơi với những vật thể đơn giản như cát, các hình khối, các mảnh gỗ
nhựa… hay với những đồ chơi, kể cả đồ chơi chuyển động (ô tô, tàu hỏa).
+ Trò chơi theo chủ đề:
Trò chơi theo chủ đề rất đa dạng, phù hợp với cuộc sống muôn màu,
muôn vẻ xung quanh bao gồm trò chơi sắm vai, trò chơi đạo diễn, trò chơi
đóng kịch. Các trò chơi có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách,
trong sự phát triển trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ của trẻ em.
+ Trò chơi vận động (hay trò chơi linh hoạt)
Đây là trò chơi có sự vận động của cơ bắp. Các trò chơi vận động cũng
có nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi ở người chơi sự chú ý, nhanh trí, phản
Khóa luận tốt nghiệp
7
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
ứng nhanh, mau lẹ có ý thức. Trò chơi vận động có ảnh hưởng tốt đến sự phát
triển của trẻ.
+ Trò chơi học tập (hay trò chơi giáo dục)
Đối với trẻ nhỏ, trò chơi học tập thường có nội dung giản đơn với yêu
cầu thấp, vừa sức như trò chơi: “Đoán xem quả gì, con gì?”
+ Trò chơi trí tuệ
Đây là trò chơi hoàn toàn dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo của trẻ em
như các câu đố, đố ghép chữ, trả lời câu hỏi…
Một số tài liệu khác lại phân loại trò chơi như sau:
+ Phân loại theo mục tiêu dạy học thì có: trò chơi hình thành kiến thức,
trò chơi hình thành thái độ, trò chơi hình thành hành vi, thói quen…
+ Phân loại trò chơi theo tiến trình bài học thì có: trò chơi khởi động,
trò chơi hình thành kiến thức và rèn kĩ năng, trò chơi ôn tập củng cố.
+ Phân loại theo hình thức tổ chức thì có: trò chơi tập thể, trò chơi cá
nhân, trò chơi trong giờ lên lớp, trò chơi ngoài giờ lên lớp…
Ngoài các cách phân loại trò chơi như trên, người ta còn phân trò chơi
thành hai loại là: Trò chơi dân gian và trò chơi hiện đại.
1.2 Đặc điểm nội dung dạy học phần Lịch sử lớp 4
1.2.1 Mục tiêu phần Lịch sử lớp 4
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản thiết thực về các sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo dòng thời gian
lịch sử của Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến triều Nguyễn (1858).
Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng: quan sát sự
vật, hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau; nêu
thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp;
trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…, vận dụng
các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.
Khóa luận tốt nghiệp
8
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Từng bước phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen: ham học
hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh, yêu thiên nhiên, đất nước, tôn
trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, văn hóa.
1.2.2 Nội dung phần Lịch sử lớp 4
Phần Lịch sử lớp 4 gồm có tất cả 29 bài được bố trí trong 35 tuần chia
như sau:
+ Phần bài học 29 bài, tương đương với 29 tiết của 29 tuần.
+ Phần ôn tập, kiểm tra cuối học kì I và cuối học kì II: 4 tiết
+ Dành cho dạy học lịch sử địa phương và dã ngoại: 2 tiết
Chương trình Lịch sử lớp 4 bao gồm những nội dung chính sau:
Phần thứ nhất, đề cập đến nội dung buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ
khoảng 700 năm TCN đến 179 TCN) như: Nước Văn Lang, Nước Âu Lạc. Mục
đích của phần này: giúp cho học sinh có những kiến thức nhất định về nhà nước
Văn Lang, kinh đô, thời gian tồn tại, những nét chính về đời sống vật chất và tinh
thần của người Việt cổ (sản xuất, ăn, mặc, ở, ca hát, lễ hội…). Nắm được một
cách sơ lược cuộc kháng chiến chống Triệu Đà của nhân dân Âu Lạc.
Phần thứ hai, đề cập đến nội dung hơn một nghìn năm đấu tranh giành
lại độc lập (từ năm 179 TCC đến thế kỉ X) như: Những chính sách thống trị
và đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc và phong trào đấu tranh
của nhân dân ta để giành lại quyền độc lập, tự chủ (tiêu biểu là khởi nghĩa Hai
Bà Trưng năm 40 và chiến thắng Bạch Đằng năm 938). Mục đích của phần
này là: giúp học sinh nắm được thời gian đô hộ của phong kiến phương Bắc
đối với nước ta. Đôi nét về đời sống cực nhục của nhân dân ta dưới ách đô hộ
của phong kiến phương Bắc, về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40) và
trận Bạch Đằng (năm 938).
Phần thứ ba, đề cập đến nội dung buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến
1009) với những sự kiện tiêu biểu: Nhà Ngô, Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ
Khóa luận tốt nghiệp
9
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
quân thống nhất đất nước; Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc
kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (năm 938). Mục đích của phần này là:
giúp cho học sinh nắm được các sự kiện từ năm 938 đến năm 1009; chú trọng
hai sự kiện lớn: Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và cuộc kháng chiến
chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất.
Phần thứ tư, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009
đến năm 1226) với những sự kiện tiêu biểu: dời đô ra Thăng Long; Lí Thánh
Tông đổi tên nước là Đại Việt; sự phát triển của đạo Phật; cuộc kháng chiến
chống Tống lần thứ hai. Mục đích của phần này là: giúp cho học sinh nắm
được các sự kiện từ năm 1009 đến năm 1226.
Phần thứ năm, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thời Trần (từ năm
1226 đến năm 1400) với những sự kiện tiêu biểu: sự quan tâm của nhà Trần
tới sản xuất nông nghiệp; nêu một số sự kiện tiêu biểu về ba lần kháng chiến
chống quân Mông – Nguyên; sự suy tàn của nhà Trần. Mục đích của phần này
là: giúp cho học sinh nắm được các sự kiện từ năm 1226 đến năm 1400.
Phần thứ sáu, đề cập đến nội dung nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê
(thế kỉ XV) với những sự kiện tiêu biểu: khởi nghĩa Lam Sơn (tập trung vào
trận Chi Lăng) và nhà Hậu Lê được thành lập; sự phát triển của giáo dục, văn
học và khoa học thời Hậu Lê. Mục đích của phần này là giúp học sinh nắm
được một số sự kiện thế kỉ XV.
Phần thứ bảy, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thế kỉ XVI – XVII.
Nội dung chính giai đoạn này được đề cập: Một vài sự kiện về sự chia cắt đất
nước; sơ lược về quá trình khẩn hoang Đàng Trong; miêu tả những nét cụ thể,
sinh động về ba thành thị: Thăng Long, Phố Hiến, Hội An để thấy sự phát
triển của thương nghiệp trong thời kì này. Mục đích của phần này là: giúp cho
học sinh nắm được một số sự kiện thế kỉ XVI – XVII.
Khóa luận tốt nghiệp
10
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Phần thứ tám, đề cập đến nội dung buổi đầu thời Nguyễn (từ năm 1802
đến năm 1858) như: việc nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long diệt chúa
Trịnh (1786). Nhà Nguyễn thành lập, Kinh đô Huế. Mục đích của phần này
là: giúp cho học sinh nắm được một số sự kiện từ năm 1802 đến năm 1858.
Sau đây là bảng tóm tắt nội dung:
STT
1
Giai đoạn
lịch sử
Triều đại trị vì
Thời gian
Các bài học
Tên nước –
Nội dung cơ bản của lịch sử
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
Buổi đầu
Khoảng
- Nước Văn Lang
kinh đô
- Các Vua
dựng nước
700 năm
- Nước Âu Lạc
Hùng, nước Văn
phong tục, tập quán riêng.
và giữ
TCN đến
Lang, đóng đô
- Đạt được nhiều thành tựu
nước
năm 179
Phong Châu –
như: đúc đồng (trống đồng),
TCN
Phú Thọ
xây thành Cổ Loa.
- Hình thành đất nước với
- An Dương
Vương, nước
Âu Lạc, đóng đô
2
Hơn 1000
Từ năm
- Nước ta dưới ách
ở Cổ Loa.
- Các triều đại
- Hơn 1000 năm nhân dân ta
năm đấu
179 TCN
đô hộ của các triều
Trung Quốc
anh dũng đấu tranh.
tranh giành
đến năm
đại phong kiến
thay nhau thống
- Có nhiều nhân vật và cuộc
lại độc lập
938
phương Bắc.
trị nước ta.
khởi nghĩa tiểu biểu như: Hai
- Khởi nghĩa Hai Bà
Bà Trưng, Bà Triệu.
Trưng (năm 40).
- Với chiến thắng Bạch Đằng
- Chiến thắng Bạch
938, Ngô Quyền giành lại độc
Đằng do Ngô
lập cho đất nước ta.
Quyền lãnh đạo
3
Buổi đầu
Từ năm
(năm 938).
- Đinh Bộ Lĩnh dẹp
- Nhà Ngô, đóng
- Sau ngày độc lập, nhà nước
độc lập
938 đến
loạn 12 sứ quân.
đô ở Cổ Loa.
đầu tiên đã được xây dựng.
năm 1009
- Cuộc kháng chiến
- Khi Ngô Quyền mất, đất
chống quân Tống
nước lâm vào thời kì loạn 12
xâm lược lần thứ 2.
sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh là
người dẹp loạn, thống nhất đất
nước.
Khóa luận tốt nghiệp
11
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
- Đinh Bộ Lĩnh mất, quân
Tống kéo sang xâm lược nước
ta, Lê Hoàn lên ngôi lãnh đạo
nhân dân đánh tan quân xâm
4
Nước Đại
1009 –
- Nhà Lý dời đô ra
- Nhà Lý, nước
lược Tống.
- Xây dựng đất nước thịnh
Việt thời Lý
1226
Thăng Long.
Đại Việt, kinh
vượng về nhiều mặt: kinh tế,
- Chùa thời Lý.
đô Thăng Long.
văn hóa, giáo dục, cuối triều
- Cuộc kháng chiến
đại vua quan ăn chơi xã ỉ nên
chống quân Tống
suy vong.
xâm lược lần thứ 2
- Đánh tan quân xâm lược nhà
(1075 – 1077).
Tống lần thứ 2.
- Nhân vật lịch sử tiêu biểu: Lý
Công Uẩn, Lý Thường Kiệt
5
Nước Đại
1226 –
- Nhà Trần thành
Triều Trần,
- Tiếp tục xây dựng đất nước,
Việt thời
1400
lập.
nước Đại Việt,
đặc biệt chú trọng đắp đê, phát
- Nhà Trần và việc
kinh đô Thăng
triển nông nghiệp.
đắp đê.
Long.
- Đánh bại cuộc xâm lược của
Trần
giặc Mông – Nguyên.
- Các nhân vật lịch sử tiêu
biểu: Trần Hưng Đạo, Trần
6
- Chiến thắng Chi
- Nhà Hồ, nước
Quốc Toản.
- 20 năm chống giặc Minh, giải
Việt buổi
Lăng.
Đại Ngu, kinh
phóng đất nước (1407 – 1428)
đầu thời
- Nhà Hậu Lê và
đô Tây Đô
- Tiếp tục xây dựng đất nước,
Hậu Lê
việc tổ chức quản lí
- Nhà Hậu Lê,
đạt được đỉnh cao trong mọi
đất nước.
nước Đại Việt,
lĩnh vực thời Lê Thánh Tông.
- Trường học thời
kinh đô Thăng
- Các nhân vật lịch sử tiêu
Hậu Lê.
Long
biểu: Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê
Nước Đại
Thế kỉ XV
- Văn học và khoa
7
Thánh Tông.
Nước Đại
Thế kỉ XVI
học thời Hậu Lê.
- Trịnh Nguyễn
Việt thế kỉ
– XVII
phân tranh.
vong.
nhau giành quyền lợi, nhà Lê
- Cuộc khẩn hoang
- Triều Mạc.
suy vong, đất nước loạn lạc bởi
XVI - XVII
Khóa luận tốt nghiệp
12
- Triều Lê suy
- Các thế lực phong kiến tranh
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
ở Đàng Trong.
- Trịnh –
nội chiến, kết quả chia cắt
- Thành thị ở thế kỉ
Nguyễn.
thành Đàng Trong – Đàng
XVI – XXVII.
Ngoài hơn 200 năm.
- Cuộc khai hoang phát triển
mạnh ở Đàng Trong.
- Nghĩa quân Tây
- Triều Tây Sơn.
- Thành thị phát triển.
- Nghĩa quân Tây Sơn đánh đổ
Sơn tiến ra Thăng
chính quyền họ Nguyễn, họ
Long (Năm 1786).
Trịnh.
- Nghĩa quân Tây
- Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng
Sơn tiến ra Thăng
đế, lãnh đạo nhân dân đánh tan
Long.
giặc Thanh.
- Bước đầu xây dựng đất nước.
- Các nhân vật lịch sử tiêu
8
Buổi đầu
1802 –
- Nhà Nguyễn thành
- Triều Nguyễn,
biểu: Quang Trung.
- Họ Nguyễn thi hành nhiều
thời
1858
lập.
nước Đại Việt,
chính sách để thâu tóm quyền
- Kinh thành Huế.
kinh đô Huế.
lực.
Nguyễn
- Xây dựng kinh thành Huế.
Phần Lịch sử lớp 4 trình bày lịch sử Việt Nam lần lượt theo các thời kì
lịch sử từ buổi đầu dựng nước cho đến giai đoạn đầu của triều nhà Nguyễn
(1858). Trong từng thời kì, chương trình giới thiệu các nhân vật, các sự kiện
lịch sử, các thành tựu về văn hóa, khoa học tiêu biểu.
1.2.3 Đặc điểm của chương trình phần Lịch sử lớp 4
Một là, chương trình chọn yếu tố cốt lõi là hoạt động của con người và
những thành tựu của hoạt động trong không gian và thời gian. Vì vậy, chương
trình phần Lịch sử lớp 4 có nội dung cơ bản: Thời gian và tiến trình lịch sử
dân tộc; những hiểu biết cơ bản, ban đầu về một số sự kiện, hiện tượng và
nhân vật lịch sử điển hình; một số thành tựu văn hóa tiêu biểu đánh dấu sự
tiến triển của lịch sử dân tộc.
Khóa luận tốt nghiệp
13
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Hai là, chương trình Lịch sử gắn với địa phương: Chương trình Lịch sử
4 dành 2 tiết để tìm hiểu lịch sử địa phương.
Phần Lịch sử lớp 4, không trình bày Lịch sử theo một hệ thống chặt chẽ
mỗi bài học là một sự kiện, hiện tượng hay nhân vật Lịch sử tiêu biểu điển
hình của một giai đoạn Lịch sử nhất định. Sự lựa chọn cấu trúc và mức độ nội
dung như vậy nhằm đảm bảo mục tiêu phù hợp với thời lượng dành cho môn
học cũng như trình độ nhận thức của học sinh. Tuy nhiên, một sự kiện hiện
tượng hay nhân vật lịch sử không thể hình thành và phát triển một cách cô lập
mà trong một bối cảnh cụ thể có liên quan rất nhiều sự kiện nhân vật Lịch sử
trong bối cảnh đó.
Phần Lịch sử cung cấp kiến thức cho học sinh Tiểu học gồm bốn loại
cơ bản sau:
+ Kiến thức về các sự kiện Lịch sử.
+ Kiến thức về các nhân vật Lịch sử.
+ Kiến thức cơ bản về các thành tựu mọi mặt trong đời sống xã hội của
Lịch sử dân tộc.
+ Kiến thức cơ bản về một giai đoạn thời kì Lịch sử.
Trong các nhóm kiến thức trên thì nhóm kiến thức về các sự kiện Lịch
sử chiếm thời lượng lớn, nhân vật Lịch sử vừa phải.
Từ những đặc điểm của môn học như đã trình bày ở trên, chúng tôi
nhận thấy đây là môn học mà GV có nhiều cơ hội để đổi mới hình thức dạy
học. Vận dụng hình thức dạy học sử dụng trò chơi vào trong dạy học phần
Lịch sử là một trong những phương hướng đổi mới phù hợp. Hướng đổi mới
này không những phát huy được vốn sống, vốn kiến thức ở các em mà còn
phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con
người mới trong giai đoạn hiện nay. Khi sử dụng hình thức dạy học này giáo
viên không còn là người truyền thụ những tri thức có sẵn cho học sinh theo
Khóa luận tốt nghiệp
14
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
kiểu áp đặt, bắt học sinh phải nhớ, phải thuộc mà giáo viên trở thành người
thiết kế, người tổ chức định hướng các hoạt động cho các em, tạo điều kiện
cho các em được trực tiếp tiếp cận với đối tượng học tập, được tham gia hoạt
động vui chơi để từ đó rút ra tri thức của bài học, học sinh đóng vai trò chủ
thể của hoạt động nhận thức, các em tiếp nhận nhiệm vụ học tập thông qua
việc tham gia vào hoạt động vui chơi, qua sự tổ chức của giáo viên và rút ra
kết luận khoa học.
Tóm lại: Sử dụng hình thức trò chơi học tập vào trong dạy học phần
Lịch sử thực chất là việc chuyển giao nội dung kiến thức của bài học thành
các nhiệm vụ học tập thông qua cách chơi để tìm kiếm tri thức của bài học.
Trong lúc chơi các em sẽ không ý thức được là mình đang học mà các em sẽ
được thúc đẩy bằng động cơ vui chơi, cố gắng làm nhanh, làm đúng để thắng
cuộc. Bằng cách này trẻ sẽ tự mình giải quyết được các nhiệm vụ nhận thức
mà nội dung học tập được lồng vào nội dung thực hiện các trò chơi.
1.3 Vai trò của việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử lớp 4
Nét tâm lí nổi bật ở lứa tuổi học sinh tiểu học là “Vừa học vừa chơi”.
Do vậy, khi sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phần Lịch sử sẽ vừa thỏa
mãn nhu cầu tâm lý của trẻ vừa đạt được mục tiêu là nhằm hình thành, củng
cố, khắc sâu kiến thức ở mỗi bài học lịch sử.
Tổ chức trò chơi học tập sẽ nâng cao tính hấp dẫn, sự hứng thú, lôi
cuốn các em vào bài học. Từ đó các em cảm thấy say mê, phấn khởi khi học
Lịch sử. Qua việc tích cực tham gia các trò chơi, trẻ sẽ phát huy tính chủ
động, tích cực của mình trong giờ học. Trò chơi là một hình thức dạy học
thường được sử dụng trong quá trình dạy học để thực hiện một nhiệm vụ hoặc
giải quyết một vấn đề của bài học, muốn nhiều người tham gia. Vì vậy, sử
dụng hình thức trò chơi học tập sẽ động viên được nhiều HS tham gia vào bài
học, kể cả những học sinh e thẹn, nhút nhát. Khi sử dụng trò chơi học tập, HS
Khóa luận tốt nghiệp
15
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
học tập tích cực hơn trở thành nhân vật trung tâm của giờ học, tự mình giải
quyết những vấn đề của bài học.
Phần Lịch sử ở lớp 4 có 5 nội dung: Loại bài có nội dung về tình hình kinh tế chính trị; loại bài có nội dung về nhân vật lịch sử; loại bài có nội dung về các cuộc
khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công…; loại bài có nội dung
về thành tựu văn hóa – khoa học; loại bài ôn tập, tổng kết. Đây là những nội dung
yêu cầu HS phải biết và hiểu về những sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử tiêu
biểu trong tiến trình lịch sử dân tộc từ thời kì dựng nước đến triều Nguyễn. Những
nội dung này thường khô khan và khó nhớ với học sinh việc sử dụng trò chơi vào giờ
học các nội dung này sẽ góp phần làm tăng tính hấp dẫn, giảm được độ khó và khô
khan của bài học. Trò chơi học tập sẽ giúp các em tái hiện lại diễn biến các trận chiến
lịch sử, tích cách, phẩm chất của các nhân vật lịch sử tiêu biểu, qua đó cũng góp phần
giúp các em hiểu, ghi nhớ được công lao, những đóng góp và học được các phẩm
chất, đức tính tốt đẹp của thế hệ cha ông như trò chơi đóng vai. Ngoài ra trò chơi học
tập còn giúp các em khắc sâu hơn về hoàn cảnh, mốc thời gian, tên vua, nước, thời
gian, địa điểm các cuộc khởi nghĩa, chiến thắng, chiến dịch, thành tựu trong các lĩnh
vực như các trò chơi Ô chữ kì diệu, Theo dòng lịch sử, Tiếp sức đồng đội,…
Bên cạnh đó trò chơi học tập trong phần lịch sử còn tạo cho các em khả
năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết giao lưu, tạo tính chủ động, tự tin, mạnh
dạn cho các em. Trẻ học được cách tuân thủ kỉ luật và luật chơi, kiên nhẫn
trong khi chơi, biết sáng tạo, linh động trước những nhiệm vụ mà trò chơi yêu
cầu… Những phẩm chất đó là tiền đề quan trọng để hình thành nhân cách của
những “nhà sử học” tương lai.
Như vậy, có thể nói việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phần
Lịch sử có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử. Trò chơi học tập
thực sự là “con đường dẫn trẻ tới việc nhận thức thế giới mà trẻ sống trong đó
và trẻ có nhiệm vụ thay đổi thế giới ấy” (M. Goorki).
1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học về việc sử dụng trò
chơi học tập trong dạy học Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
16
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Quá trình giáo dục nói chung bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có
đặc điểm tâm lí của đối tượng giáo dục. Theo các nhà tâm lí, những đặc điểm
tâm lí của lứa tuổi học sinh làm thay đổi đáng kể hình thức và phương pháp
của hoạt động giáo dục. Do đó, để đạt được thành công khi vận dụng trò chơi
học tập trong dạy học phần Lịch sử lớp 4, chúng ta cần quan tâm đến các đặc
điểm tâm sinh lí của HS ở lứa tuổi này.
1.4.1 Về tri giác
Tri giác là quá trình nhận thức, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc
tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan.
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và
nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn
chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn.
Tri giác của học sinh Tiểu học phát triển trong quá trình học tập. Sự
phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân
hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn. Tri giác của HS cuối cấp Tiểu học nói
chung, học sinh lớp 4 nói riêng chuyển dần từ tính chất đại thể sang đi sâu
vào chi tiết và dần mang tính chủ động. Tuy nhiên các em vẫn tri giác tốt
những sự vật, hiện tượng mà các em gắn với hành động, với hoạt động thực
tiễn. Trò chơi học tập phần Lịch sử lớp 4 có những hoạt động đòi hỏi các em
tri giác nhanh, chi tiết sự vật vì vậy mà sẽ thu hút và kích thích quá trình tri
giác của các em.
1.4.2 Về chú ý
Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm đối tượng, sự
vật nào đó, để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí
cần thiết cho hoạt động tiến hành và có kết quả.
Ở lứa tuổi HS cuối cấp Tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng,
chú ý chủ định đang dần được hình thành. Chỉ cần hướng dẫn cụ thể là các em
Khóa luận tốt nghiệp
17
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các em thích hoạt động, thích học tập
trong môi trường hợp tác, thi đua, thân thiện. Do đó, nếu GV tổ chức quá
trình học tập có trò chơi học tập trong giờ Lịch sử thì dễ gây được chú ý,
hứng thú của học sinh.
Chú ý không chủ định là đặc điểm cơ bản của học sinh tiểu học. Chú ý
không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới
mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không
có sự nỗ lực của ý chí. Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi
giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp; sử dụng nhiều phương
pháp, hình thức dạy học đa dạng như trò chơi, dạy học theo nhóm thì sẽ gây
được chú ý của học sinh. Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý
không chủ định nên khi giáo viên tổ chức trò chơi thì giờ học sẽ hấp dẫn, tạo
nhu cầu, hứng thú, lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
Học sinh tiểu học sự tập trung chú ý của các em còn yếu, thiếu bền
vững, chú ý của các em còn bị phân tán. Nhiều công trình nghiên cứu về chú
ý đã cho thấy, học sinh tiểu học thường chỉ tập trung chú ý liên tục trong
khoảng từ 30 đến 35 phút. Sự chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào
nhịp độ học tập: nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận
lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý. Vì vậy, khi học sinh tiểu học
không thể chú ý học tập được nữa thì giáo viên tổ chức trò chơi học tập, học
sinh tiểu học nào cũng thích được chơi nên trò chơi học tập sẽ khơi dậy lại sự
chú ý của các em, giúp các em hứng thú để chơi mà học.
1.4.3 Về trí nhớ
Trí nhớ là quá trình tâm lí phản ánh vốn kinh nghiệm của con người
dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và nhớ lại
những điều mà con người đã trải qua.
Trí nhớ có vai trò rất to lớn trong đời sống của con người: không có trí nhớ
thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không có bất cứ một hoạt
Khóa luận tốt nghiệp
18
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
động nào, cũng như không thể hình thành nhân cách được. Đối với hoạt động học
tập cũng vậy, không có trí nhớ thì không thể học tập một cách bình thường.
Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu
thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín
hiệu thứ nhất ở các em tương đối chiếm ưu thế. Các em nhớ và giữ gìn chính
xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa,
những câu giải thích bằng lời. HS cuối cấp Tiểu học nói chung, học sinh lớp 4
nói riêng chuyển dần từ trí nhớ không chủ định sang có chủ định. Trẻ nhớ rất
lâu những gì gây ấn tượng mạnh mẽ với mình. Việc bắt học sinh học thuộc,
ghi nhớ kiến thức một cách máy móc là một yêu cầu khó khăn đối với các em.
Vì vậy, khi tham gia vào các trò chơi các em sẽ được chơi mà học, kiến thức
được tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, tự nhiên.
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của học
sinh quy định. Điều này còn phụ thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các
nhiệm vụ ghi nhớ. Hiểu mục đích của ghi nhớ và tạo ra được tâm thế thích
hợp là điều kiện rất quan trọng để học sinh ghi nhớ tài liệu học tập. Do đó,
cần rèn luyện cho học sinh tiểu học cả phương pháp nhớ lại tài liệu.
Trí nhớ của học sinh phát triển phụ thuộc chủ yếu vào nội dung và
phương pháp dạy học. Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học là hình thành cho học
sinh tâm thế học tập, ghi nhớ, hướng dẫn các em cách ghi nhớ tài liệu học tập.
Do vậy, trò chơi học tập là phương pháp giúp các em có tâm thế vui vẻ, tích
cực trong việc tiếp nhận tri thức một cách thoải mái, tự nhiên.
1.4.4 Về tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước
đó ta chưa được biết. Tư duy giúp con người hiểu biết sự vật, hiện tượng một
cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ hơn.
Khóa luận tốt nghiệp
19
Mai Thị Thúy Nga
Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
Học sinh giai đoạn cuối tiểu học đã có bước phát triển cao hơn về tư
duy. Các thao tác trí óc đã được hình thành và ngày càng trở nên hoàn thiện,
nhanh nhạy hơn, chính xác hơn. Học sinh cuối cấp học này có thể phân tích
các đối tượng mà không cần những hành động thực tiễn với đối tượng đó. Các
em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối
tượng dưới dạng ngôn ngữ. Khi hình thành khái niệm, học sinh hoàn toàn dựa
vào dấu hiệu phản ánh những mối liên hệ và quan hệ bản chất giữa các sự vật,
hiện tượng. Các em đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt các khái niệm
rộng hơn, hẹp hơn…
Tư duy của HS ở giai đoạn này đang dần chuyển từ tư duy cụ thể sang
tư duy trừu tượng: phạm vi các sự vật cần nhận thức rộng hơn, các sự vật cần
nhận thức sâu sắc hơn, từ đó tạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn. Vì vậy,
việc học sinh thực hiện trả lời các câu hỏi hay đáp ứng các hoạt động của trò
chơi sẽ vừa củng cố và phát triển tư duy cụ thể cho trẻ.
1.4.5 Về tình cảm
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,…Lúc này khả năng kiềm chế
cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên, vô tư… Vì thế có thể
nói tình cảm trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi. Như vậy khi cho trẻ được hóa
thân vào các nhân vật lịch sử, được giới thiệu về chiến thắng lịch sử hào
hùng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, vẻ vang … HS sẽ hiểu được giá trị, có những
tình cảm, niềm tự hào.
1.4.6 Về nhu cầu
Bước vào trường tiểu học, các em được hoạt động trong một môi
trường mới, môi trường nhà trường với hoạt động chủ đạo là học tập. Do đó,
nhu cầu học tập của học sinh ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với sự
phát triển trí tuệ. Chính nhu cầu học tập đã trở thành động cơ thúc đẩy các em
Khóa luận tốt nghiệp
20
Mai Thị Thúy Nga