Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

XUẤT KHẨU mặt HÀNG tôm của VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (461.64 KB, 50 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
----------

ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
QUẢN TRỊ KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Đề tài:
XUẤT KHẨU MẶT HÀNG TÔM CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG MỸ

Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã SV
Lớp

: ThS. Nguyễn Thị Minh Nguyệt
: Chu Khánh Thiện
: 11133695
: QTKD Thương mại 55B

Hà Nội, 05/2016


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

MỤC LỤC

SV: Chu Khánh Thiện


Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1. Cơ cấu mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ T1 năm 2013. .Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2. Cơ cấu mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ T1 năm 2014
....................................................................Error: Reference source not found

SV: Chu Khánh Thiện

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc giao thương hàng
hóa với các nước khác trên thế giới là hết sức cần thiết và quan trọng đối với
Việt Nam. Điều đó càng làm nổi bật vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước EU,
các nước ASEAN,… Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam đó là
gạo, cà phê, thủy hải sản, hàng dệt may, dầu mỏ, than đá,… Trong những năm

vừa qua cùng với các mặt hàng xuất khẩu khác, thủy sản có đóng góp rất lớn
vào kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng tôm. Tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu không ngừng tăng lên, cải tiến về cả mặt số lượng
và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên các thị trường lớn như Mỹ,
EU, Nhật Bản,…Nó góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giải
quyết công ăn việc làm, cải thiện mức sống cho người làm ngư nghiệp nói
riêng và người dân Việt Nam nói chung. Để có được những thành tựu như
ngày hôm nay, người dân Việt Nam đã không ngừng học hỏi, tiếp thu kinh
nghiệm, khoa học kỹ thuật, công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới.
Trong đó không thể không kể đến những con người gắn bó với sông nước, với
con tôm, con cá. Phát huy được thế mạnh của mình, khai thác triệt để lợi thế
về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân công dồi dào, thủy sản Việt
Nam khẳng định được phần nào vị thế của mình trên thế giới.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tự đó, ngành xuất khẩu thủy sản Việt
Nam nói chung và xuất khẩu tôm nói riêng vẫn còn rất nhiều hạn chế, khó
khăn và thách thức, cần nhanh chóng khắc phục. Đó là đảm bảo chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm, ý thức trình độ kinh doanh của doanh nghiệp, giá cả
khi vào thị trường của Mỹ…Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay,
nhằm phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu
tôm nói riêng của Việt Nam, từ đó có thể đưa ra một số giải pháp để cải
thiện, nâng cao hoạt động xuất khẩu mũi nhọn này, em quyết định chọn đề tài:
SV: Chu Khánh Thiện

1

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

“Xuất khẩu mặt hàng tôm của Việt Nam sang thị trường Mỹ.”
Đây là đề tài không mới nhưng có nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến
kinh tế - xã hội, nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu
sót về nội dung cũng như hình thức, rất mong được thầy cô góp ý để đề tài
được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Nội dung đề án gồm:
Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
Phần 2: Thực trạng xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Mỹ
Phần 3: Đề xuất một số phương hướng và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu tôm
của Việt Nam sang thị trường Mỹ

SV: Chu Khánh Thiện

2

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC
DÂN
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa hay dịch vụ của một quốc

gia cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ để làm đơn vị thanh toán,
lấy lợi ích kinh tế làm mục tiêu. Mục đích của hoạt động này là khai thác
được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc
trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực
tham gia mở rộng hoạt động này. Xuất khẩu không phải là hoạt động kinh
doanh buôn bán riêng lẻ mà là hệ thống các quan hệ mua bán được pháp luật
các quốc gia trên thế giới cho phép.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện
từ rất lâu, ngày càng phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng
hóa tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hóa tư liệu sản xuất, như máy móc
thiết bị, nguyên nhiên vật liệu,… Hoạt động xuất khẩu có thể diễn ra trên
phạm vi khu vực lãnh thổ của một quốc gia hay trên toàn thế giới, có thể diễn
ra trong một thời gian rất ngắn hoặc kéo dài hàng năm.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của thương mại quốc tế - ngoại
thương, song song với nhập khẩu. Đây là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế
của các quốc gia phát triển, đặc biệt là đối với Việt Nam. Nó có những vai trò
quan trọng sau đây:
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, góp phần thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đối với một quốc gia đang
phát triển như Việt Nam hiện nay thì quá trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa

SV: Chu Khánh Thiện

3

Lớp: QTKD Thương mại 55B



Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

đất nước là vô cùng cần thiết để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu chậm
phát triển. Nhưng chúng ta lại cần một lượng vốn lớn để có thể nhập khẩu các
máy móc, trang thiết bị, khoa học kỹ thuật từ các nước tiên tiến trên thế giới.
Vậy nguồn vốn này từ đâu? Thực tế cho thấy nước ta đang sử dụng những
nguồn vốn sau đây:
- Các nguồn vốn viện trợ ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
- Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ để thu về ngoại tệ
- Thu từ hoạt động xuất khẩu
Ta có thể thấy tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài là không thể
phủ nhận được, nhưng việc huy động chúng không dễ dàng và các nước đi
vay phải chịu nhiều thiệt thòi, chịu một số điều kiện bất lợi và có khả năng
gây nợ lớn sau này. Vì vậy xuất khẩu là hoạt động tạo nguồn vốn có thể nói
là quan trọng nhất, nó tạo tiền đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô hoạt
động nhập khẩu và tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Với điều kiện xuất khẩu lấy tiền tệ làm đơn vị thanh toán, xuất khẩu
góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia. Đặc biệt với các nước
đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được
từ hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa và sử
dụng ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần làm tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy phân công lao động quốc tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và sản xuất phát triển.
Đối với một nước có truyền thống về nông lâm ngư nghiệp như Việt
Nam, thì xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông lâm ngư nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ.
- Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành có cùng cơ hội phát triển. Ví dụ

như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như sản xuất
bông, sợi, thuốc nhuộm, sẽ có cơ hội phát triển theo.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn
định sản xuất, tăng quy mô hoạt động của doanh nghiệp.

SV: Chu Khánh Thiện

4

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

- Xuất khẩu cho phép một quốc gia sản xuất một số lượng lớn hàng
hóa hơn gấp nhiều lần so với nhu cầu tiêu dùng trong nước, mở rộng thị
trường tiêu dùng của mỗi quốc gia.
- Xuất khẩu góp phần nâng thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất. Trong
nền kinh tế toàn cầu hiện nay, một loại sản phẩm hàng hóa nào đó có thể
không chỉ sản xuất trong một quốc gia. Nó có thể được nghiên cứu ở quốc gia
thứ nhất, chế tạo linh phụ kiện ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ
ở nước thứ tư và thanh toán ở nước thứ năm. Như vậy có thể thấy sự tác động
qua lại giữa chuyên môn hóa và xuất khẩu.
Thứ ba, xuất khẩu góp phần làm tăng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ đối ngoại của quốc gia nói
chung và của doanh nghiệp nói riêng. Khi thị trường được mở rộng đồng thời
cũng khiến cho doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều hơn các doanh nghiệp
khác. Từ đó bắt buộc doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung phải

không ngừng nâng cao trình độ sản xuất ( máy móc thiết bị, khoa học kỹ
thuật, công nghệ, trình độ của công nhân viên, của cán bộ đầu ngành,…). Nhờ
hoạt động xuất khẩu mà các quan hệ quốc tế được nâng cao, mở rộng, thu hút
ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ tư, xuất khẩu góp phần giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao đời
sống của người dân. Hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu và có xu hướng thành lập các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu khác, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động.
1.1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của xuất khẩu
a. Mục tiêu của xuất khẩu
Trong những thời kỳ khác nhau, mục tiêu của xuất khẩu là khác nhau,
nhưng mục tiêu chính, then chốt nhất của xuất khẩu vẫn là đáp ứng nhu cầu
của kinh tế quốc dân. Xuất khẩu hàng năm phải ngày càng phát triển, tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực xuất khẩu như dầu thô, gạo,
cà phê, cao su, hàng thủy sản, dệt may, da giày, hàng thủ công mỹ nghệ, điện
tử và linh kiện điện tử,… Đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

SV: Chu Khánh Thiện

5

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Xuất khẩu phải đáp ứng đầy đủ các nhu cầu như phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa, cho tiêu dùng xuất khẩu và tạo công ăn việc làm. Do đó

việc thực hiện mục tiêu phải linh hoạt, chính xác và đúng thời điểm.
b. Nhiệm vụ của xuất khẩu
Xuất phát từ những vai trò, mục tiêu đa dạng trên, xuất khẩu tự đặt ra
cho mình những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu chiến lược, chính sách và công cụ nhằm phát triển thươn
mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng theo hướng tiềm năng, khả năng
kinh tế nói chung và sản xuất hàng hóa dịch vụ của nước ta nói riêng vào sự
phân công lao động quốc tế. Ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của
đất nước, không đánh giá mình quá cao, quá lạc quan cũng như tự ti đánh giá
mình quá thấp, tránh bỏ lỡ những cơ hội làm ăn với nước ngoài, liên kết và
đan xen vào chương trình kinh tế thế giới.
- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng ngày càng
chứa đựng nhiều chất xám, kỹ thuật và công nghệ để tăng nhanh khối lượng
và kim ngạch xuất khẩu.
- Tạo ra những mặt hàng, những nhóm hàng có khối lượng và giá trị
lớn đáp ứng những đòi hỏi của thị trường quốc tế và của khách hàng về cả số
lượng và chất lượng, có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao.
- Mở rộng thị trường và đa phương hóa đối tác.
- Hình thành các vùng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, tạo các
chân hàng vững chắc, phát triển hệ thống thu mua hàng xuất khẩu. Xây dựng
các mặt hàng chủ lực ở phạm vi chiến lược, từ đó có kế hoạch tối ưu để phát
triển các ngành hàng chủ lực đó.
1.1.4. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu ở Việt Nam
- Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức xuất khẩu mà trong đó Doanh
nghiệp kinh doanh quốc tế trực tiếp xuất khẩu hàng hóa của mình ra nước
ngoài thông qua các bô phận xuất khẩu của mình. Doanh nghiệp trực tiếp ký
kết các hợp đồng xuất khẩu, tổ chức giao hàng, tổ chức nguồn hàng, bao bì,
vận chuyển và thanh toán tiền hàng. Trong lĩnh vực thủy sản có thể kể đến
Công ty cổ phần thủy sản Cà Mau (SEAPRIMEXCO-VIETNAM) là một
trong những công ty được phép xuất khẩu trực tiếp thủy sản ra nước ngoài.

SV: Chu Khánh Thiện

6

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Công ty thành lập từ năm 1976 với tiền than là một doanh nghiệp nhà nước,
đến nay đã phát triển lớn mạnh với công suất trên 6000 tấn/ năm, xuất khẩu
trực tiếp sang nhiều thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU, Úc,…với kim ngạch
xuất khẩu trên 50 triệu USD/ năm.
Xuất khẩu trực tiếp thường đòi hỏi chi phí cao và nguồn lực lớn để phát
triển thị trường. Công ty xuất khẩu trực tiếp cũng phải chịu rủi ro cao, vốn
đầu tư lớn, tốc độ chu chuyển vốn chậm. Doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài
chính. Tuy nhiên hình thức này sẽ mang đến cho công ty nhiều lợi ích quan
trọng như: có thể kiểm soát được sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối ở thị
trường nước ngoài; có thể nắm bắt được sự thay đổi của nhu cầu, thị hiếu
người tiêu dùng ở nước ngoài, sự thay đổi của các yếu tố môi trường bên
ngoài để công ty đưa ra các hoạt động xuất khẩu thích ứng hơn với thị trường
nước ngoài. Hình thức này chỉ phù hợp với những công ty có quy mô lớn, đủ
các yếu tố về nguồn lực như vốn, nhân sự, nguồn hàng,…
- Xuất khẩu gián tiếp (hay xuất khẩu ủy thác): là hình thức xuất khẩu
mà doanh nghiệp xuất khẩu không trực tiếp đàm phán, ký kết và tổ chức thực
hiện hợp đồng mà phải ủy thác cho bên trung gian tiến hành. Trung gian này
có thể là công ty quản lý xuất khẩu , nhà ủy thác xuất khẩu, nhà môi giới xuất
khẩu, hãng buôn xuất khẩu,… Hình thức này được áp dụng khi công ty chưa

có đủ thông tin cần thiết về thị trường nước ngoài, như tình hình cung cầu cụ
thể, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, đối thụ cạnh tranh, hoặc công ty
lần đầu tiếp cận, thâm nhập thị trường; quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, các
nguồn lực của công ty có hạn trong khi cạnh tranh gay gắt, các rào cản thâm
nhập thị trường quá lớn. Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gián tiếp có ưu
điểm là có độ rủi ro thấp, chi phí ít nhưng nhận tiền nhanh, ít thủ tục, không
phải tự mình đối mặt với những rủi ro và rắc rối như xuất khẩu trực tiếp. Tuy
nhiên vì phát sinh những khoản chi phí trung gian mà lợi nhuận của doanh
nghiệp cũng giảm đi. Mặt khác không thể nắm bắt rõ được sự thay đổi trong
cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng mà cải tiến sản phẩm cho phù hợp.
- Xuất khẩu liên doanh: là hình thức liên kết của hai hay nhiều doanh
nghiệp trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất khẩu.
SV: Chu Khánh Thiện

7

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

- Gia công quốc tế: là một hình thức kinh doanh thương mại trong đó
có một bên nhận ra công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
một bên khác gọi là bên đặt gia công để chế biến thành phẩm giao lại cho bên
đặt gia công và nhận thù lao gọi là phí gia công. Có thể thấy hoạt động xuất
nhập khẩu gắn liền với hoạt độn sản xuất. Hoạt động gia công xuất khẩu ngày
nay khá phổ biến ở nhiều nước như Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc,
Singapore,… Đối với bên đặt gia công, hình thức này giúp họ tận dụng được

giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Còn đối với
nước nhận gia công sẽ giải quyết được vấn đề việc làm hay nhận được những
thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển kinh tế một cách nhanh chóng theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Ngoài ra bên cạnh đó còn có các hình thức xuất khẩu khá phổ biến khác
như buôn bán đối lưu, tạm nhập – tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa,…
1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA XUẤT KHẨU TÔM ĐỐI VỚI VIỆT
NAM
1.2.1. Lợi thế của Việt Nam trong nuôi trồng và xuất khẩu tôm
Ở nước ta, ngành thủy sản đã có mặt từ rất lâu đời. Từ chỗ là nghề sản
xuất phụ, mang tính tự cung tự cấp, đến nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành
một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát
triển ở tất cả các vùng nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững,
lâu dài, bảo vệ môi trường và hài hòa với các ngành kinh tế khác.
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản trong tháng 12/2015 đạt 590,68
triệu USD, giảm 1,7% so với tháng 11/2015. Xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam năm 2015 đạt 6,57 tỷ USD, giảm 16%, tương ứng giảm 1,25 tỷ USD so
với năm trước.
Xuất khẩu hàng thủy sản trong năm qua giảm mạnh ở hầu hết các thị
trường chính, cụ thể: sang Hoa Kỳ đạt 1,31 tỷ USD, giảm 23,4%; sang EU đạt
1,16tỷ USD, giảm 17,1%; sang Nhật Bản 1,04 tỷ USD, giảm 13,4%; sang
Hàn quốc đạt 572 triệu, giảm 12,2%.

SV: Chu Khánh Thiện

8

Lớp: QTKD Thương mại 55B



Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Sản xuất tôm là một trong những ngành chủ lực của nuối trồng thủy
sản, nhưng chỉ mới xuất hiện trong vài thập kỷ hiện nay. Bắt đầu từ những
năm 1990 nuôi tôm đã trở thành mũi đột phá quan trọng với diện tích nuôi
trồng không ngừng gia tăng.
Bảng 1. Diện tích nuôi tôm qua các năm
(đơn vị: nghìn ha)
Năm
Diện tích

2009
623,3

2010
629,0

2011
623,1

2012
2013
2014
623,0
637,7
690,0
Nguồn: Tổng cục thống kê


Trong khi đầu ra của các loại thủy hải sản như cá tra, cá ba sa gặp nhiều
khó khăn vì các vụ kiện bán phá giá thì con tôm đang là hướng đi được đa số
người dân các vùng nuôi nước mặn và nước lợ lựa chọn như một hướng đi
tương đối bền vững. Trong những năm 2009- 2013, sản lượng tôm nuôi gia
tăng từ hơn 400 nghìn tấn lên gần 550 nghìn tấn và tiếp tục tăng mạnh trong
hai năm gần đây.

Bảng 2. Sản lượng thủy sản nuôi trồng giai đoạn 2009-2014
(đơn vị: nghìn tấn)
Năm
2009
2010
2011
2012
2013 Sơ bộ 2014
Thủy sản
2589,8 2723,8 2933,1 3115,3 3215,9
3413,3
Tôm
419,4 449,7 478,7 473,9 560,5
631,5
Tỷ lệ tăng trưởng so
108,0 107,2 106,4
99,0
118,3
112,7
với năm trước (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê

SV: Chu Khánh Thiện


9

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Bảng 3. Sản lượng tôm nuôi các vùng trên cả nước các năm gần đây
(đơn vị: tấn)
2009
CẢ NƯỚC
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
Đồng bằng sông Cửu Long

419.38

2010

2011

2012

478.69


473.91

15.753
328

4
15.844
239

0
17.263
321

71.457

77.835

75.664

SƠ BỘ
2014

560.500

631.457

17.815
337

19.367

362

76.771

83.484

318.586 347.239 366.196 357.822 441.257

503.965

1
14.981
379
69.562

449.652

2013

Nguồn: Tổng cục Thống kê
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu tôm đối với Việt Nam
Với những lợi thế về khí hậu, diện tích mặt nước nuôi trồng tôm lớn
như trên thì nuôi trồng và xuất khẩu tôm đã trở thành một ngành mũi nhọn,
chiếm một vai trò vô cùng quan trọng đối với Việt Nam.
Thứ nhất, nuôi trồng và xuất khẩu tôm góp phần quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
chuyên môn hóa sản xuất. Với xu hướng mở rộng nuôi trồng các loại đặc sản
như tôm hùm, tôm sú, tôm càng xanh,…sự xuất hiện hàng loạt của các trang
trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thủy sản
làm hạt nhân) chuyển đổi phương thức nuôi quảng canh sang bán thâm canh

và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tầm quan trọng của vai trò của xuất khẩu
thủy sản nói chung và xuất khẩu tôm nói riêng là không thể phủ nhận.
Thứ hai, nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản nói chung và tôm nói riêng
góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động, góp phần xóa
đói giảm nghèo. Ngành thủy sản với sự phát triển nhanh chóng của mình đã
tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham
gia vào tất cả công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép vấn đề việc làm trên cả
nước. Hàng năm tỷ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành
SV: Chu Khánh Thiện

10

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

thủy sản là 2,4 %/ năm, cao hơn mức tăng bình quân cả nước 2%/ năm. Theo
báo cáo của Hội nghề cá Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 4,7 triệu lao
động, tập trung trong các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ
hậu cần ngành thủy sản. Nuôi trồng và xuất khẩu tôm nói riêng cũng đang
ngày càng khẳng định vai trò của mình trong việc tạo ra số lượng việc làm đa
dạng cho hàng triệu người dân Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, xuất khẩu tôm đem lại một nguồn thu ngoại tệ vô cùng lớn cho
nước ta, là tiền đề của nhập khẩu, góp phần làm tăng trưởng GDP của cả
nước. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu tôm được dự báo đạt 3,3 tỉ USD, tăng
12% so với năm 2015. Số liệu của VASEP cho thấy, nửa đầu năm 2015, kim

ngạch xuất khẩu tôm sang một số thị trường chính đã giảm mạnh như Mỹ
(hơn 50%), Trung Quốc (28%), Nhật Bản (gần 19%) và EU (hơn 14%). Và
theo dự tính, kim ngạch xuất khẩu tôm cả năm 2015 chỉ đạt 3 tỉ USD, bằng
75% kết quả của năm 2014, thị trường bị thu hẹp gần 1/3. Tuy nhiên với con
số trên 3 tỉ USD về kim ngạch xuất khẩu tôm hàng năm này thì chúng ta càng
thấy rõ hơn tầm quan trọng của xuất khẩu tôm đối với GDP của cả nước. Nhờ
xuất khẩu tôm mà nước ta đã thu về một lượng lớn ngoại tệ như vậy, là tiền
đề để nhập khẩu hàng hóa, khoa học công nghệ tiên tiến từ các nước trên thế
giới.
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ XUẤT
KHẨU TÔM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và các yếu tố đầu vào
Việt Nam là dải đất cong hình chữ S, chạy dọc phía đông bán đảo Đông
Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Với điều kiện mưa nhiều, độ ẩm cao đã
tạo nên một số lượng lớn sông ngòi, ao hồ thuận lợi cho phát triển nuôi trồng
thủy sản. Đường bờ biển kéo dài, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn
là một trong những nhân tố quyết định ảnh hưởng đến năng suất của ngành
thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng. Tuy nhiên Việt Nam cũng có rất
nhiều điều kiện bất lợi về tự nhiên như thời tiết thay đổi thất thường, nhiều

SV: Chu Khánh Thiện

11

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt


thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên nhất là đối với các
tỉnh miền Trung và Nam bộ. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tình hình nuôi
trông thủy sản của nước ta.
Vị trí địa lí của Việt Nam là niềm mơ ước của rất nhiều các quốc gia
trên thế giới. Với 3260 km bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên trải qua 13 vĩ độ
từ 823’ vĩ độ bắc đến 2129' vĩ độ bắc. Diện tích vùng nội thủy và lãnh hải của
Việt Nam rộng 226000 km và vùng biển đặc quyền kinh tế trên một triệu km
rộng gấp 3 lần diện tích đất liền.
Trên vùng biển Việt Nam có trên 4000 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo
lớn như: Cô Tô, Cát Bà, Phú Quốc… là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển
du lịch đồng thời đã, đang và sẽ được xây dựng thành một tuyến căn cứ cung
cấp các dịch vụ hậu cần, chu chuyển sản phẩm cho các đội tàu khai thác hải
sản, đồng thời là nơi cư trú của tàu thuyền trong mùa mưa bão. Ngoài ra
nước ta còn có 660 nghìn ha vùng nước lợ, đây là môi trường giàu chất dinh
dưỡng cho thực vật thủy sinh.. Là nơi cư trú, sinh sản, sinh trưởng của tôm
he, tôm nương, tôm rảo, tôm vàng, cá đối, cá vược, cá tráp, cá trai, cá
bớp, cua biển…
Ngoài ra còn có các nhân tố thuộc về các yếu tố đầu vào trong quá trình
sản xuất. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, thô sơ, mang tính thủ công nhỏ
lẻ. Hệ thống sau thu hoạch ở Việt Nam chưa được tổ chức môt cách hợp lý,
đồng bộ, còn mang tính truyền thống giản đơn, không tập trung vào một đầu
mối nhất định. Tuy nhiên Đảng và Nhà nước ta đang có những chính sách
thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu tôm phát triển thông qua việc phát triển khoa
học kỹ thuật, công nghệ nhập khẩu từ các nước tiên tiến trên thế giới.
1.3.2. Thị trường
Thị trường trong nước của Việt Nam vẫn còn tình trạng tranh mua
tranh bán, đây là một bất lợi lớn đối với một nước còn non trẻ, các doanh
nghiệp chưa có đủ năng lực để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
khác. Vì vậy, cần quy nguồn hàng về một mối, đảm bảo nguồn hàng ổn định

giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu chớp được những cơ hội thị trường, đảm
SV: Chu Khánh Thiện

12

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

bảo hiệu quả xuất khẩu.
Các doanh nghiệp Việt Nam do thiếu hiểu biết về thị trường thế giới,
không cập nhật kịp thời và chính xác đã gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu của nước ta, chưa đáp ứng được nhanh và chưa ứng xử kịp thời với diễn
biến thị trường. Qua đó ta có thể thấy thị trường là một nhân tố rất phức tạp,
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.3.3. Các chính sách của Nhà nước đối với xuất khẩu
Đảng và Nhà nước đã xác định đây là một trong những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam. Từ đó cần phải có các chính sách phù hợp như
chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản hợp lý, chính sách bảo hộ sản
xuất, các chính sách về đàu tư khoa học, chính sách về giá cả, trợ giá,… Nếu
kịp thời, đúng đắn, các chính sách của Nhà nước sẽ là một nhân tố quan trọng
thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu thủy sản. Mặt khác cũng có thể gây cản trở,
hạn chế nếu như thiếu tính đúng đắn và chính xác đó. Hiện nay, các chính
sách mà Nhà nước đưa ra vẫn chưa phát huy được hết tác dụng của nó.
1.3.4. Nhu cầu tiêu thụ tôm trong nước và trên thế giới
Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia dự báo dựa vào
chuỗi số liệu theo thời gian của FAO giai đoạn từ năm 1994 – 2013, đến năm

2020 tổng sản lượng cung tôm nuôi toàn cầu sẽ đạt khoảng 4,49 triệu tấn,
bình quân tăng 4,14%/năm bằng 1/2 so với tốc độ tăng thời trước đó (19942013) và tổng nhu cầu tiêu thụ tôm nuôi toàn cầu vào khoảng 6,55 triệu tấn,
như vậy khả năng thiếu hụt là rất lớn, khoảng 2,06 triệu tấn. Trong đó, nhu
cầu tiêu thụ tôm của Mỹ cần khoảng 652,7 nghìn tấn, thị trường Nhật Bản cần
khoảng 490,9 nghìn tấn, thị trường EU cần khoảng 889,8 nghìn tấn, riêng Việt
Nam nhu cầu tiêu thụ tôm cũng rất lớn khoảng 190,7 nghìn tấn vào năm 2020.
Vì vậy nhu cầu tiêu thụ tôm là một trong những yếu tố quyết định đến sản
lượng nuôi trồng và xuất khẩu tôm của cả nước. Nhìn vào các số liệu thống kê
trên cho thấy nhu cầu về tôm của thế giới ngày càng tăng mạnh do đây là một
loại thực phẩm ngon, bổ, giàu chất dinh dưỡng. Các doanh nghiệp, các hộ
nuôi tôm trong nước cần chú trọng trong việc dự báo cầu tiêu dùng tôm trong
SV: Chu Khánh Thiện

13

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

nước và ngoài nước để đáp ứng nhanh và kịp thời, đầy đủ về cả số lượng và
chất lượng, như vậy mới giữ vững được thị phần của mình trên toàn thế giới.
1.3.5. Các đối thủ cạnh tranh
Về khả năng cạnh tranh của sản phẩm tôm nước lợ Việt Nam so với các
nước trong khu vực nhìn chung trong giai đoạn từ 2010 – 2012 giá tôm của
Việt Nam tốt hơn so với Thái Lan, Malaysia, Indonexia vì có hệ số cạnh tranh
về giá nhỏ hơn 1, và chỉ thua duy nhất so với sản phẩm tôm xuất khẩu của Ấn
Độ. Tuy nhiên, đến giai đoạn 2013-2014 năng lực cạnh tranh về giá tôm xuất

khẩu bình quân lại có xu hướng không tốt, hệ số cạnh tranh về giá tôm xuất
khẩu của Việt nam đều lớn hơn 1 so với một số nước trong khu vục, chúng ta
chỉ có năng lực cạnh tranh tốt hơn duy nhất ở kích cỡ tôm 16 – 20 con/kg so
với Thái Lan. Đó đều là các đối thủ cạnh tranh mạnh với Việt Nam trong khu
vực Đông Nam Á. Ngoài ra, Việt Nam còn rất khó khăn trong việc cạnh tranh
với các nước khác ngoài khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Na Uy, Canada,
… Có thể thấy các nước này đều là các nước phát triền, có một nền tảng khoa
học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới, nên việc cạnh
tranh về sản lượng và cả chất lượng là một thách thức vô cùng lớn.
Trong bối cảnh của nền kinh tế mở định hướng thị trường, với xu thế
ngày càng tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản của các nước trên thế giới
thì việc đầy mạnh phát triển, tăng khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam
và đảm bảo phát triển bền vững là một hướng đi đúng, mang tầm chiến lược.
Thủy sản là nguồn sinh kế cực kỳ quan trọng của khoảng 10% dân số Việt
Nam và kinh tế thủy sản có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân.

SV: Chu Khánh Thiện

14

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM
CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
2.1. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG THỦY SẢN NÓI CHUNG VÀ THỊ

TRƯỜNG TÔM NÓI RIÊNG CỦA MỸ
Hoa Kỳ hay thường gọi là nước Mỹ tên đầy đủ là Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ là một cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 bang, có diện tích lớn thứ 3 thế
giới với khoảng 319 triệu dân có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau. Là một
đất nước đông dân, đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng và
phong tục, do vậy đây là một thị trường rất lớn, rất có tiềm năng để phát triển
hoạt động xuất khẩu vào quốc gia này nhưng cũng rất khó đối với các doanh
nghiệp còn non trẻ của nước ta.
Quan hệ thương mại Việt – Mỹ không ngừng phát triển
Trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng
liên tục kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào năm 2007. Theo
Phòng Thương mại Mỹ (Amcham), xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đã tăng
trưởng liên tục trong suốt 15 năm qua. Nếu như năm 2000, Việt Nam mới chỉ
xuất khẩu sang Mỹ khoảng 800 triệu USD thì dự kiến kết thúc năm 2014, Việt
Nam sẽ xuất khẩu đạt 29,4 tỷ USD (tăng gần 36 lần). Từ tỷ lệ khiêm tốn là
1% tổng giá trị xuất khẩu của ASEAN vào Mỹ năm 2000, kết thúc năm 2014
Việt Nam sẽ đạt 22% tổng giá trị xuất khẩu của khu vực vào thị trường này.
Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam vượt qua các đối thủ chính trong khu vực
là Thái Lan, Malaysia và Indonesia để trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất
khu vực vào thị trường Mỹ.
Với đà tăng trưởng này, AmCham dự đoán, xuất khẩu của Việt Nam
vào Mỹ sẽ còn tăng mạnh trong các năm tiếp theo. Đến năm 2020, xuất khẩu
của Việt Nam vào Mỹ đạt xấp xỉ 57 tỷ USD và chiếm 34,1% tổng giá trị xuất
khẩu của khu vực ASEAN vào thị trường này, đồng thời bỏ xa giái trị xuất
khẩu của các nước còn lại. Không chỉ tăng về khối lượng, hàng chất lượng
SV: Chu Khánh Thiện

15

Lớp: QTKD Thương mại 55B



Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

cao và giá trị gia tăng từ Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ ngày một nhiều hơn.
Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến
cuối năm 2014, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các doanh
nghiệp Mỹ đăng ký tại Việt Nam đạt gần 11 tỷ USD, đứng thứ 7/101 quốc gia
và vùng lãnh thổ đang đầu tư tại Việt Nam. Các nhà đầu tư Mỹ có chung nhận
định, Việt Nam là điểm đến hấp dẫn hàng đầu đối với giới đầu tư nước ngoài
ở khu vực Đông Nam Á khi nằm trên tuyến giao thương huyết mạch, chi phí
nhân công rẻ và triển vọng tăng trưởng tích cực.
Triển vọng năm 2016, 2016 là năm quan trọng bởi hai bên sẽ tổ chức
kỷ niệm 21 năm hai nước bình thường hóa quan hệ Việt Nam đã ký Hiệp định
kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây được đánh giá cơ hội chưa từng
có thể thúc đẩy hơn nữa quan hệ toàn diện giữa hai nước.
Dự báo thương mại hai chiều giữa Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2015 sẽ
vượt xa con số 30 tỷ USD của năm 2014. Lý do là Việt Nam đang ngày càng
làm tốt hơn việc cải cách các thủ tục hành chính, cải tiến về kỹ thuật nâng cao
chất lượng hàng hóa xuất khẩu. Ngoài ra, khả năng Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà
đầu tư số 1 vào Việt Nam trong thời gian tới cũng được các chuyên gia dự
báo.
Nhìn tổng thể, quan hệ hai nước trong hơn một năm qua đã phát triển
tích cực, tạo đà để hai bên tiếp tục đưa quan hệ đối tác toàn diện đi vào chiều
sâu trong năm 2015 và những năm tiếp theo.
Như vậy, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ đang ngày càng
phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hai nước giao thương hàng hóa, đem
lại một nguồn lợi vô cùng lớn cho cả hai quốc gia.

Từ xưa đến nay, Mỹ là một cường quốc trên thế giới về khai thác,
nuôi trồng và chế biến các loại thủy hải sản. Hiện nay sản lượng nuôi trồng
thủy sản của Mỹ đang tăng trưởng vì thị trường có nhu cầu cao. Sản lượng
khai thác không tăng mà còn giảm ít bởi vì Mỹ đang có chính sách bảo vệ
nguồn lợi hải sản lâu dài. Mỹ là một trong số ít các quốc gia có nguồn lợi thủy
SV: Chu Khánh Thiện

16

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

sản rất lớn, giàu có và được bảo vệ một cách có hiệu quả nhờ pháp luật chặt
chẽ. Mỹ là thị trường thủy sản lớn nhất hiện nay với sản lượng nhập khẩu
thủy sản luôn tăng. Người Mỹ có thị hiếu về các loại thủy hải sản đắt tiền như
tôm hùm, tôm he, cá ngừ, cá hồi, cua bề và các sản phẩm cao cấp khác như cá
phi lê, tôm nõn, thịt cua,… Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam là
phải chiếm lĩnh và đứng vững trong thị trường đầy tiềm năng này.
Hệ thống rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với mặt hàng thủy sản nói
chung và tôm xuất khẩu của Việt Nam nói riêng:
Hàng rào kỹ thuật đề cập tới các tiêu chuẩn của hàng hóa mà mỗi
quốc gia quy định khác nhau. Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm thông số,
đặc điểm cho mỗi loại hàng hóa do cơ quan chính quyền hoặc tổ chức tư nhân
đặt ra. Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật này có thể không bắt buộc
nhưng những ai không tuân thủ thì sẽ bị thị trường tẩy chay. Các tiêu chuẩn
kỹ thuật đòi hỏi các sản phẩm phải đạt được những yêu cầu nhất định trước

khi đưa ra thị trường. Các thông số kỹ thuật có thể đóng vai trò như các rào
cản thương mại, đặc biệt nó được quy định giữa các nước.
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại có thể chia thành 3 nhóm sau:
- Các quy định về dịch tễ vệ sinh an toàn thực phẩm
- Các biện pháp đối với người tiêu dùng: Các biện pháp quy định về
chất lượng và an toàn thực phẩm bao gồm nhãn mác, đóng gói, dư lượng
thuốc kháng sinh, hàm lượng dinh dưỡng và tạp chất.
- Các biện pháp thương mại: Được thực hiện nhằm ngăn chặn gian lận
thương mại, bao gồm các chứng từ vận chuyển và tài chính, các tiêu chuẩn
nhận dạng và tiêu chuẩn đo lường.
Cụ thể, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) của Mỹ
như sau: Theo luật, tất cả các loại thực phẩm sản xuất trong nước và nhập
khẩu đều phải chịu sự điều tiết của luật Liên bang như: Luật về thực phẩm,
Dược phẩm, Luật về bao bì và nhãn hàng và một số phần của Luật về dịch vụ
y tế. Ngoài ra còn có các quy định riêng của Bộ Nông nghiệp Mỹ, Cục Nghề
SV: Chu Khánh Thiện

17

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

cá biển quốc gia Mỹ. Nhà xuất khẩu và chế biến và chế biến đều phải tuân
theo các quy định của Mỹ, cụ thể là theo Bộ luật Liên bang Mỹ CFR (Code of
Federal Regulations) để đảm bảo sản phẩm không có độc tố, an toàn trong sử
dụng và được sản xuất trong điều kiện vệ sinh. Dưới đây là bảng danh mục

các chất kháng sinh cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản:
Bảng 4. Các chất kháng sinh cấm sử dụng theo tiêu chuẩn của FDA
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Tên chất kháng sinh cấm sử dụng
Chloramphenicol
Clenbuterol
Diethylstilbestrol (DES)
Dimetridazole
Ipronidazole
Nitroimidazoles
Furazolidone
Nitrofurazone
Sulfonamide
Fluoroquinolone
Glycopeptides
Nguồn: FDA, 1998

Bên cạnh đó là các quy định của Mỹ về kiểm dịch:

- Phụ gia thực phẩm: Theo luật FDA (Food and Drug Administration),
bất kỳ chất nào được sử dụng trong sản xuất, chế tạo, đóng gói, chế biến, xử
lý, bao gói, vận chuyển hoặc lưu trữ đều được coi là phụ gia thực phẩm.
- Phẩm mầu thực phẩm: Trừ những trường hợp được phép đặc biệt, tất
cả các loại phẩm mầu phải được FDA kiểm tra và chứng nhận trước khi đưa
vào chế biến thực phẩm. Việc chứng nhận chất phẩm mầu do một cơ quan
nước ngoài tiến hành không được chấp nhận thay thế cho chứng nhận của
FDA.
Và các quy định về nhãn mác: Luật pháp Mỹ quy định các nhãn hiệu
hàng hóa phải được đăng ký tại Cục Hải quan Mỹ. Đạo luật về nhãn hiệu năm
1946 cấm nhập khẩu những sản phẩm làm nhái theo những thương hiệu đã
được đăng ký tại Mỹ, hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Hàng hoá mang

SV: Chu Khánh Thiện

18

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền đều
bị cấm nhập khẩu vào Mỹ.
2.1.1. Khối lượng và giá trị nhập khẩu tôm của Mỹ.
Các mặt hàng tôm xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là tôm đông lạnh các loại,
ngoài ra còn một số loại tôm đặc sản khác như tôm sú, tôm hùm, tôm càng
xanh,… đều là những mặt hàng được ưa thích ở Mỹ. Những năm gần đây mỗi

năm Hoa Kỳ đều nhập khẩu tôm trị giá trên 5 tỷ USD, chiếm khoảng 88%
lượng tôm tiêu thụ tại Hoa Kỳ và chiếm khoảng 28% đến 32% giá trị nhập
khẩu thủy sản. Trong năm 2015, giá trị nhập khẩu tôm tươi, đông lạnh và chế
biến đạt trên 5,4 tỷ USD. Hoa Kỳ nhập khẩu 19 loại tôm khác nhau nhưng sản
phẩm có giá trị lớn nhất là tôm thịt đông lạnh, tôm bỏ đầu đông lạnh,… Nhưng
về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Các mặt
hàng tôm của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu ở dạng sơ chế, giá trị chưa
cao. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan thì vẫn còn đến 80% mặt
hàng xuất khẩu dưới dạng đông lạnh ít qua chế biến.
Hơn nữa, hạn chế về năng lực cạnh tranh của mặt hàng tôm xuất khẩu
cũng là một trong những thách thức lớn đối với ngành này. Hiện nay, cả về
khối lượng và giá trị nhập khẩu tôm vào Mỹ, Việt Nam vẫn đứng sau các nước
Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia. Ta có thể thấy thị trường Mỹ là một thị trường có
sức cạnh tranh rất lớn, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay.

SV: Chu Khánh Thiện

19

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Bảng 5. Khối lượng và giá trị nhập khẩu tôm của Mỹ
Sản phẩm tôm NK của Mỹ (KL: tấn, GT: nghìn USD)


Mã HS

Sản phẩm

2014

2015

Tăng, giảm

(%)
GT
KL
GT
KL GT KL
6.704.05 569.11 5.460.27 587.50 -19
3

Tổng tôm
Tôm thịt đông lạnh loại
0306170040
2.796.600 228.846 2.187.461 232.579 -22
khác
Tôm khác chế biến đông
1605211030
935.605 68.547 798.306 72.868 -15
lạnh
Tôm sông còn vỏ đông
0306170009
40203 32.475 348.518 38.020 -13

lạnh cỡ 21 - 25

6
17

1605211020Tôm bao bột đông lạnh

335.243 39.404

Tôm sông còn vỏ bỏ đầu
0306170015
đông lạnh cỡ 31 - 40

410.875 39.744

32841 41.512 -20

4

Tôm sông còn vỏ bỏ đầu
0306170003
đông lạnh cỡ <33

327.169 18.314

309.386 18.664 -5

2

Tôm sông còn vỏ bỏ đầu

0306170012
đông lạnh cỡ 26-30

366.481 31.686

283.930 33.047 -23

4

Tôm sông còn vỏ bỏ đầu
0306170006
đông lạnh cỡ 15-20

327.164 23.193

280.181 25.929 -14

12

242.071 25.887

188.087 26.611 -22

3

196.901 22.264

118.245 18.005 -40

-19


Tôm sông còn vỏ bỏ đầu
0306170018
đông lạnh cỡ 41-50
Tôm sông còn vỏ bỏ đầu
0306170021
đông lạnh cỡ 51-60

336.326 44.531 --

2

13

(nguồn : vasep.com.vn)

SV: Chu Khánh Thiện

20

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Bảng 6. Khối lượng và giá trị nhập khẩu thủy sản của Mỹ
năm 2014 và 2015
(KL: tấn, GT: nghìn USD)

2014

Sản phẩm
Tổng TS
Tôm
Thủy sản khác
Giáp xác khác
Cá hồi Salmon
Cá ngừ
Nhuyễn thể
Cá hồi Trout
Catfish

2015

GT
KL
GT
20.322.066 2.540.322 18.819.929
6.704.056
569.119 5.460.271
4.838.357
971.673 4.868.256
3.061.361
181.316 3.085.604
2.915.062
315.881 2.711.416
1.552.066
288.636 1.453.819
1.153.158

203.580 1.133.019
95.244
9.491
105.817
2.763
627
1.727

Tăng, giảm
(%)
KL
GT KL
2.602.506 -7
2
587.507 -19
3
1.000.505 1
3
183.880 1
1
344.449 -7
9
266.416 -6
-8
206.935 -2
2
12.496 11
32
318 -37
-49


Nguồn : vasep.com.vn
Dựa vào bảng số liệu trên ta có thể thấy tuy tôm không phải là mặt
hàng có khối lượng nhập khẩu vào Mỹ cao nhất nhưng lại là mặt hàng có giá
trị cao nhất. Trong năm 2015, tổng giá trị tôm nhập khẩu của Mỹ đã vượt con
số 5,4 tỷ USD, nhưng vẫn giảm 19% so với năm 2014.
2.1.2. Thị trường nhập khẩu tôm của Mỹ
Hiện nay thị trường Mỹ có hơn 120 quốc gia có quan hệ buôn bán thủy
sản với Mỹ. Đây là một thị trường mở, đồng thời cũng có nghĩa là sự cạnh
tranh ở đây diễn ra rất khốc liệt.Chỉ những ai nắm bắt được đầy đủ kịp thời,
chính xác các thông tin cần thiết, những ai có sản phẩm có sức cạnh tranh cao
(chủ yếu là sản phẩm đúng thị hiếu, có chất lượng cao) và tiếp thị giỏi mới có
cơ hội chiếm lĩnh được thị trường phong phú này.

Bảng 7. Top các nguồn cung thủy sản chính cho thị trường Mỹ
(KL: tấn, GT: nghìn USD)

SV: Chu Khánh Thiện

21

Lớp: QTKD Thương mại 55B


Đề án môn học

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Nguyệt

2014


Nguồn cung

GT
20.322.066
2.769.214
2.890.999
1.897.256
1.543.176
1.657.252
1.468.628
1.641.713
1.153.085
576.582
402.028
320.526
320.017
316.962

Tổng TG
Canada
Trung Quốc
Indonesia
Thái Lan
Chile
Ấn Độ
Việt Nam
Ecuador
Mexico
Na Uy
Nga

Nhật Bản
Philippines

2015

KL
2.540.322
290.828
580.861
159.738
230.202
162.652
123.198
229.353
134.293
64.298
44.134
23.345
21.561
47.454

GT
18.819.929
2.982.633
2.623.555
1.688.825
1.381.696
1.374.951
1.367.727
1.342.739

895.559
607.344
461.591
317.408
311.318
258.928

KL
2.602.506
328.409
559.568
176.395
216.721
164.777
150.339
229.205
129.877
71.058
60.221
23.727
20.675
42.642

Tăng, giảm
(%)
GT KL
-7
2
8
13

-9
-4
-11 10
-10 -6
-17 1
-7 22
-18 --22 -3
5
11
15 36
-1
2
-3
-4
-18 -10

Nguồn : vasep.com.vn
Theo thống kê của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
năm 2015, về xuất khẩu thủy sản sang Mỹ nói chung, Canada là nước có tổng
giá trị lớn nhất thế giới đạt 2,982 tỷ USD. Tiếp đến là các nước Trung Quốc
(2,623 tỷ USD), Indonesia (1,688 tỷ USD), Thái Lan (1,381 tỷ USD), Chile
(1,374 tỷ USD), Ấn Độ (1,367 tỷ USD), Việt Nam (1,342 tỷ USD). Nhưng
đối với mặt hàng tôm nói riêng thì Việt Nam là nước thứ 4 trên thế giới về
xuất khẩu tôm sang Mỹ, chỉ sau Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan.

Bảng 8. Top 20 nguồn cung tôm cho Mỹ từ năm 2014 đến 2015
(KL: tấn, GT: nghìn USD)
Nguồn
cung
Tổng TG

Ấn Độ
Indonesia
Thái Lan

2014
GT
6.704.056
1.384.248
1.318.683
816.677

SV: Chu Khánh Thiện

2015

KL
GT
569.119 5.460.271
108.933 1.284.690
103.329 1.100.983
64.816 755.512

22

Tăng, giảm (%)
KL
GT
KL
587.507 -19
3

135.650 -7
25
114.494 -17
11
73.883 -7
14

Lớp: QTKD Thương mại 55B


×