NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 10 HKII – 2015-2016
(Sưu tầm từ internet)
I.
ĐOẠN TRÍCH “TRAO DUYÊN” (TRÍCH TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU).
Phân tích đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều.
Bài làm
Đoạn thơ Trao duyên trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du là cái mốc đánh dấu sự mở ra
một chặng đường đầy biến cố và đau thương của nàng Kiều với chuỗi ngày sống không bằng
chết trong chốn nhơ nhuốc, hỗn loạn..Trao duyên chủ yếu thể hiện diễn biến tâm trạng của
Thúy Kiều từ mâu thuẫn dẫn đến chỗ ý thức được bi kịch. Đồng thời đoạn trích cho ta thấy rõ
tấm lòng cũng như tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lí nhân vật ở Truyện Kiều.
Ta có thể chia đoạn trích thành hai phần nhỏ nhằm thuận lợi trong việc phân tích và lam nổi
bật diễn biến tâm trạng của “cô Kiều” đáng thương. Phần thứ nhất từ đầu đến câu: “Duyên
này thì giữ, vật này của chung.” Phần thứ hai là phần còn lại.
Mở đầu đoạn thơ, người đọc bắt gặp cái băn khoăn, vướng mắc mà nàng Kiều đang rất bối
rối, e ngại. Và rồi đó là sự thổn thức trong lòng buộc nàng phải thốt ra những lời mà ngay cả
người đọc cũng cảm thấy mủi lòng huống hồ là em gái ngoan Thúy Vân của nàng…
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Không thể chối cãi tài năng về ngôn từ của Nguyễn Du. Trong vốn từ vựng giàu có và đồ sộ
của dân tộc ta, thật quá tài tình để chọn được một động từ diễn tả trọn vẹn cả ý và tình như
từ “cậy” và “lạy” trong câu thơ này. Có rất nhiều băn khoăn rằng nên chăng Kiều chỉ cần
“nhờ” em thôi, bởi từ “cậy” nó hơi “thái quá” khi Kiều là chị ruột Vân? Nhưng quả thật, trong
trường hợp này của Kiều, việc nàng “cậy” em nó không chỉ đơn thuần là sự nhờ vả giúp đỡ
nữa mà còn là sự tin tưởng, tin cậy đến mức tối đa mới có thể gửi duyên, trao phận được. Bởi
Kiều tự thân ý thức được em mình cũng sẽ ngạc nhiên và khó có thể chấp nhận được việc
mình sắp “cậy” nên nàng đã cương quyết, dứt khoát một lời rằng em có “chịu lời” thì “ Ngồi
lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
Đương nhiên là Thúy Vân không thể không “nhượng bộ” chị mình rồi. Kiều bắt đầu kể lại sự
tình cho em nghe.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
1
Sự đâu sòng gió bất kỳ,
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Từng mộng cảnh, từng phút giây thần tiên khi nao bên Kim Trọng cứ chập chờn xuất hiện
cùng với những nghẹn ngào khi nàng kể lại cho em gái tường mối “keo loan” mà nàng và Kim
Trọng đã thề nguyền chắp kết… Chính bởi Kiều là người con gái hiếu thảo và hiểu chuyện nên
sự mâu thuẫn “bên tình bên hiếu, bên nào trọng hơn” trong lòng nàng mới đạt mức đại như
vậy. Ta có thể hình dung được khung cảnh hai nàng Kiều nghẹn ngào trong đêm. Họ thật đáng
thương, cả kẻ nhận duyên lẫn người trao duyên. Hoàn cảnh gia đình khắc nghiệt bởi cơn tai
họa bất ngờ đã đẩy hai phận “liễu yếu đào tơ” đang độ “xuân xanh đến tuổi cập kê” đến bờ
khốn khổ mà đặc biệt là người chị cả Thúy Kiều. Những bộc bạch từ đáy lòng của Thúy Kiều
khiến ta không khỏi xót xa:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Phân tích đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du
“Ngày xuân em hãy còn dài”, thật mâu thuẫn ở đây bởi hai chị em cùng xuân xanh vậy mà lời
của Kiều như của một bà lão! Thực chất, Kiều đã dự đoán được phần nào sự khốn khổ, trái
ngang của con đường phía trước đang đợi mình: thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối.
Cười nơi chin suối mà phải thầm kín “ngậm cười” với sự “thơm lây” của duyên em cùng chàng
nơi trần thế. Sự bình tĩnh khi kể về quãng thời gian êm đẹp cùng Kim Trọng bao nhiêu thì đến
lúc trao kỉ vật cho Thúy Vân , Kiều lại tức tưởi, không đành lòng bấy nhiêu.
Chiếc
thoa
Duyên
này
thì
Kiều thật tội nghiệp biết bao!
với
giữ,
bức
vật
này
tờ
của
mây
chung
Mâu thuẫn trong lòng Kiều dần chuyển sang sự ngậm ngùi chấp nhận sự thật khắc nghiệt.
Phần hai khắc họa rõ sự ý thức bi kịch ấy của Kiều. Càng nói càng lắm tâm sự, dường như
màn đêm không dứt với hai chị em, muốn kéo dài để cho Kiều được nói cho thỏa nỗi lòng
nàng, những tâm sự ngổn ngang cùng với sự lưu luyến dư âm mối tình đẹp tựa ngàn hoa.
Kiều nghẹn ngào trong từng tiếng nấc:
2
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trong phần thơ này, người đọc có thể cảm nhận được ngay cái u uất, buồn trĩu lòng của Thúy
Kiều. Cái hình ảnh: người bạc mệnh, hồn mang nặng lời thề, nát thân bồ liễu mà Kiều dung để
ám chỉ chính bản thân mình cho thấy nỗi tuyệt vọng trong lòng nàng về tình yêu với chàng
Kim. Có một sự mâu thuẫn với lời trước: “ Chị dù thịt nát xương mòn. Ngậm cười chín suối
hãy còn thơm lây.” vậy mà ngay sau đó, Kiều đã tự họa cho mình những thảm cảnh trong
tương lai… Chính bở diễn biến tâm lí của nàng đã dẫn đến sự tưởng như mâu thuẫn mà lại
rất hợp tình ấy. Vẫn biết là báo hiếu cha mẹ nhưng làm sao có thể bắt một cô gái đương độ
xuân xanh chặt đứt những mầm yêu đương mà không hề oán thán, than trách được? Kiều
cũng đâu đổ lỗi tại ai đâu? Nàng tự thương cho cái mệnh bạc của mình đấy chứ!
Ta cũng có thể tách sau câu thơ sau thành một phần, nó không chỉ là lời thảng thốt của Kiều
với em trong đêm thâu mà còn là một tiếng nấc nghẹn gọi Kim Trọng, chăng chối với chàng:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, Kiều tự cho mình đã “phụ chàng” Kim bởi
dù có là một cơn “gió hiu hiu” nhưng hồn nàng vẫn mãi mang nặng một lời thề nguyền với
chàng. Tâm trạng tôi lỗi đã khiến Kiều ngất đi trong tiếng than thấu tận trời xanh:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
3
Người biên soạn sách giáo khoa thật tài tình trong việc đặt nhan đề cho trích đoạn này bởi
cái cảnh Trao duyên nó nào được diễn ra trong không khí lãng mạn, phấn khởi , vui tươi, tràn
trề hi vọng vào một tương lai gắn bó như trong các câu ca dao ngọt ngào hay trong các lễ hội
tưng bừng? Sự trao ở đây với Thúy Kiều đồng nghĩa với việc nàng phải chấp nhận từ bỏ mối
duyên đầu bao đắm say với Kim Trọng để cứu cha và em… Nhường lại tình yêu đó cho em gái,
xót xa thay cho Thúy Kiều, người đời “ Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên…” vậy mà nàng phải
nhường em tình yêu! Đoạn thơ là một cuộc khủng hoảng tinh thần tưởng như có thể vỡ tan
tành trái tim bé bỏng của nàng Kiều. Tài năng và tấm lòng Nguyễn Du đã được thể hiện phần
nào trong trích đoạn cảm động tình thân, tình yêu này.
Đề: Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích "Trao duyên" (Trích Truyện
Kiều - Nguyễn Du)
Bài viết của HS Phạm Thị Hạnh Dung, lớp 10 C5 (Năm học 2010-2011)
Đại thi hào Nguyễn Du (1765-· 1820) tên chữ là Tố Như là một thiên tài văn học, niềm tự hào
của dân tộc Việt Nam. Truyện Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai
oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích
“Trao duyên” đã nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa
nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy
Kiều. Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu. Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất nghẹn
ngào.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ “cậy”
được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy” khó lòng từ chối.
Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể thoái
thác được và phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài,
kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ
dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn chuẩn bị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện
hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất
khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị:
“Hở môi ra những thẹn thùng
Đề lòng thì phụ tấm lòng với ai”
Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử dụng
những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội
tâm mà Nguyễn Du muốn diễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất
nhiều, rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa
kết trái”, mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽ được lâu bền lại cho Thúy Vân:
4
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại “đứt gánh”
còn đâu. Tơ duyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ từa”. Chị hiểu em tuổi còn trẻ có thể
chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em
hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống
thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray
rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở
đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao
phó trách nhiêm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân.
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề”
Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào
đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và Kim Trọng như sống
lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt
ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm
đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
“Sóng gió bất kì” là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, cha và em
Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Những biến cố xảy ra liên tục, đẩy Kiều vào
chỗ bế tắc, là người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để gia đình được đoàn tụ, êm ấm,
bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.
Chữ Hiếu là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì hiếu con người ta phải dẹp bỏ tình riêng,
là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng không bao giờ cho
phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình cảm riêng tư để báo hiếu cho
cha mẹ:
“Nỗi riêng riêng những bàng hoàng
Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn”
Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự thấy mình
là người phản bội, không xứng đáng với chàng:
“Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa”
Ở đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Là người ai chẳng khát khao
được gắn bó với người mình yêu. Và ở người con gái đa sầu đa cảm như Kiều thì khát vọng ấy
lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả lễ giáo phong kiến khắc khe
5
nhất để “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật
đau đớn xiết bao! Nhưng vì:
“Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?”
Có lẽ chỉ có những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều mới đủ
sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế!
Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng
cùng em:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy
nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối từ, Kiều
đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình
chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng. Kiều cũng đã đặt
mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người
yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…
Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối với Kiều
giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ giữa nàng và
Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao duyên” cho em, nghe
thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là một việc không khó hiểu trong
xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng
phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén
để nói những lời trao duyên cho em. Thât đau xót thay! Chữ· Tình đối với Kiều vô cùng quan
trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất
đi tất cả. Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc,
níu giữ:
“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì đó là
một cái ơn lớn· đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời cảm tạ của Kiều
thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết mà vẫn đúng mực, kêu
nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn
nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình. Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn
mà”.
Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình. Thuý Vân dù có vô
6
tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc chắn rằng nàng
không thể khước từ và chỉ ngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ vì thế nên ngay từ đầu
chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ nghe những lời thuyết phục, van
nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.
Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm cười chín
suối”. Cuộc đời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm dứt. bởi lẽ mất đi
tình yêu là nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh hồn nàng như tê dại và
đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ở ngày mai.
Xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chà đạp
lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.
“Đau đớn thay phận đàn bà
Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”
kiếp số của họ:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự là một bậc đại tài trong việc
thấu hiểu từng khía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu sâu sắc ấy
cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du· tồn tại như một
giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại ấn tượng mạnh mẽ
trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải rơi nước mắt khóc than
cho số phận nàng Kiều:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Hay như Mộng Liên Đường cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu
rỏ lên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy", quả thật không ngoa chút nào!
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong đoạn trích “Trao
duyên” (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
7
Truyện Kiều là tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du. Vay mượn cốt truyện từ văn học Trung Quốc
nhưng bằng một “cảm hứng mới” và một bút lực nghệ thuật tài hoa Nguyễn Du đã viết lên
một “Truyện Kiều” được đánh giá là hiện tượng “tập đại thành” của nền văn học Việt Nam.
Giá trị của “Truyện Kiều” không chỉ dừng lại ở mặt tư tưởng, đạo đức mà còn ở nghệ thuật
văn chương tinh tế, điêu luyện đặc biệt là bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật. Về mặt này
Truyện Kiều được đánh giá là một “tiểu thuyết phân tích tâm lý, dưới hình thức hiện đại”.
Truyện Kiều có nhiều trang phân tích tâm lý tuyệt bút mà đoạn trích “Trao duyên” trong
chương trình Ngữ văn lớp 10 là một minh chứng tiêu biểu. Đây là một đoạn trích hay nhưng
cũng rất khó tiếp cận. Toàn bộ đoạn trích tập trung thể hiện tấn bi kịch của Thúy Kiều khi
phải trao lại tình duyên cho em. Bởi vậy theo chúng tôi để dạy tốt đoạn trích này cần tiếp cận
nó từ góc độ những nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du.
Trao duyên! Hai tiếng ấy đã toát lên sâu sắc bi kịch của người trong cuộc. “Duyên” là sự
gắn bó, hòa hợp tự nhiên, do trời định (duyên số), “duyên” còn là “tình” (duyên tình). Còn gì
đau đớn hơn khi phải “trao duyên” cho kẻ khác (cho dù đó là em gái mình). Kiều làm sao có
thể thuyết phục được em chấp nhận mối tình của mình trao lại trong khi trái tim nàng đang
chảy máu thế kia? Như vậy ngay từ đầu Nguyễn Du đã đặt nhân vật vào trong một tình thế
oái ăm để buộc nhân vật tự bộc lộ, tự giải bày những điều gan ruột nhất trong nội tâm của
mình. Người đọc cứ bị cuốn dần cuốn dần vào trong dòng tâm trạng với những diễn biến tinh
tế, phức tạp và nhiều phát triển bất ngờ của nhân vật.
Bên cạnh đó để làm nổi bật những giằng xé nội tâm của Thúy Kiều trước một biến cố
lớn của cuộc đời nàng, Nguyễn Du còn sáng tạo ra trong đoạn trích một hình tượng thời gian
độc đáo. Việc “trao duyên” của Kiều cho Vân được thực hiện vào đêm cuối cùng trước ngày
Kiều phải từ bỏ gia đình ra đi theo Mã Giám Sinh. Đây là khoảng thời gian ngắn ngủi mà Kiều
có được với gia đình của mình. Sự ngắn ngủi của thời gian tạo nên sự dồn nén cảm xúc trong
tâm hồn nhân vật: những dằn vặt về việc trả món nợ tình cho Kim Trọng, cảnh ngộ khó xử khi
nói lời trao duyên cho em, nỗi đau đớn tuyệt vọng khi ý thức rõ thân phận “bạc mệnh” của
mình… tất cả đều hiện lên chân thực qua ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế của Nguyễn Du.
Đoạn thơ mở đầu bằng một tư thế lạ:
“…Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giọng điệu trang trọng, khẩn thiết của câu thơ, cử chỉ bất bình thường của nhân vật báo hiệu
một điều gì đó vô cùng thiêng liêng, hệ trọng mà Kiều sắp sửa nói ra. Nguyễn Du quả thật là
tinh tế, tài hoa khi dùng từ “cậy” mà không dùng từ “nhờ”, dùng từ “chịu” mà không dùng từ
“nhận” dù đây là những từ đồng nghĩa. Phải là “cậy” thì mới tô đậm được cái quằn quại, khó
nói trong tâm lý nàng Kiều và làm nổi bật được ý nghĩa hy vọng thiết tha của một lời gửi gắm,
nương tựa. Còn “chịu” khác với chữ “nhận” ở sắc thái van vỉ, nài ép khiến cho người nghe
không thể không nhận lời. Chỉ với hai chữ ấy thôi Nguyễn Du đã cân được sức nặng của một
tình thế, một tâm trạng: lắt léo, trớ trêu và khó nói. Đặc biệt với sự hoán đổi vị trí trong quan
hệ chị em: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽthưa”, Kiều đã tạo ra tư thế lụy phiền bằng cách hạ mình
rất thấp để Vân có thể động lòng mà chấp nhận lời thỉnh cầu của mình. Hơn ai hết Kiều thấu
hiểu sự thiệt thòi của em gái mình trong tình thế phải nhận lời trao duyên. Hành động tôn
kính quá mức của Thúy Kiều (lạy/thưa) là sự tỏ lòng biết ơn, chịu ơn trước sự hy sinh của em
mình.
8
Những lời lẽ khẩn thiết, cảm động, những hành động gấp gáp, dồn dập trong 2 câu thơ mở
đầu trước hết bắt nguồn từ ý thức thời gian hiện tại ngắn ngủi, thắt ngặt của Thúy Kiều. Thúy
Kiều biết nàng không thể dùng dằng thêm một phút giây nào nữa bởi sáng mai đây thôi nàng
đã phải lên đường, phải từ bỏ tất cả: tình yêu, hạnh phúc của mình.
Khi khúc dạo đầu đã qua đi, Thúy Kiều bắt đầu kể cho em nghe cảnh ngộ khó xử của mình:
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Lời giải bày của nàng Kiều mang màu sắc tâm sự, vừa kể vừa để thuyết phục em bằng lí lẽ và
tình cảm. Kiều nhắc lại chuyện Kiều phải dứt tình thâm với Kim Trọng để bán mình chuộc cha,
phải hi sinh chữ tình cho chữ hiếu để hợp đạo làm con. Khơi được mạch cảm thông, Kiều mới
tha thiết thỉnh cầu:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Tác động vào lí trí chưa đủ Kiều còn viện cả tới tình cảm chị em và tình cảnh đau khổ của bản
thân để thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa chàng Kim. Những thành ngữ nói về tình máu
mủ, ruột rà: tình máu mủ / lời nước non, hay nói về cái chết: thịt nát xương mòn/ ngậm cười
chín suối tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lời tâm sự của Thúy Kiều. Kiều nói với em bằng
những lời thẳm sâu nhất từ trái tim của một người chị, nàng còn lấy cả linh hồn kẻ bạc phận
để biết ơn em “ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Kiều dứt khoát tìm mọi cách để thuyết
phục Thuý Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim, bởi Kiều ý thức sâu sắc về hạn chót của thời
gian, Kiều không thể làm gì khác để cứu tình yêu.
Khi đã thuyết phục được Vân, Kiều lấy những kỉ vật tình yêu với Kim Trọng để trao lại cho em:
Chiếc thoa, bức vành mây, phim đàn, mảnh hương nguyền. Bao nhiêu kỉ vật là bấy nhiêu tình
yêu. Những thứ thiêng liêng mà Kiều ôm ấp trong vòng tay, trong trái tim giờ đây nàng đành
phải trao lại cho em. Trao kỉ vật nàng ý thức được một sự mất mát to lớn không gì có thể cứu
vãn nên tay nàng trao cho Vân mà tim nàng rung lên đầy đau đớn: “ duyên này thì giữ vật này
của chung”. Có chút gì như là cố níu kéo, cảm giác nuối tiếc và nỗi “đau đớn lòng” trong hai
chữ “của chung” ấy. Thúy Kiều rơi vào sự mâu thuẫn giữa lời nói và hành động, lí trí và tình
cảm: duyên thì trao nhưng tình lại không thể dứt. Câu thơ của Nguyễn Du không có một từ
ngữ nào trực tiếp miêu tả tâm trạng vậy mà lại cồn lên biết bao nhớ nhung, nuối tiếc, giằng
xé đến chảy máu trong tâm hồn. Với Kiều đây không chỉ là hành động trao kỉ vật mà nàng
đang phải vĩnh biệt mối tình đầu trong sáng và đẹp đẽ của mình. Có thể nói để viết những câu
thơ này nhà thơ phải nhập rất sâu vào “vai” của nhân vật để phân tích, khơi đúng dòng ý thức
nhân vật.
Đoạn thơ trên không chỉ cho ta thấy một Thúy Kiều thông minh, sắc sảo qua những lí lẽ
thuyết phục Thúy Vân thay nàng trả nghĩa chàng Kim mà còn là sự ý thức sâu sắc của nàng
Kiều về số phận bi kịch của mình trong hiện tại: khát vọng tình yêu thì vô biên nhưng cuộc đời
9
lại nhiều dâu bể với những “sóng gió bất kì” khiến cho hạnh phúc tình yêu phút chốc lại trở
thành nỗi đau tan vỡ.
Từ điểm nhìn hiện tại ấy, Thúy Kiều hình dung ra một tương lai thật não nề khi đối
sánh thân phận “người bạc mệnh” của mình với hạnh phúc lứa đôi của Thúy Vân và Kim
Trọng. Nàng biết lấy gì làm cứu cánh, làm điểm tựa tinh thần nếu không quay về với những kỉ
niệm tình yêu của ngày đầu ước hẹn:
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa,
Sự đồng hiện quá khứ lúc này không cho nàng cái cảm giác ấm áp, ngọt ngào mà trái lại càng
khơi sâu vào nỗi đau trong trái tim nàng. Kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ ấy ngỡ như mới hôm qua
thôi mà nay đã trở thành cái “ngày xưa” xa hun hút, thăm thẳm. Biết bao nỗi niềm nuối tiếc,
xót xa trong hai chữ “ngày xưa” ấy. Tìm về quá khứ Thúy Kiều không thấy niềm an ủi, còn
tương lai thì thật hãi hùng:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về,
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai,
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan,
Ở đó nàng gặp mình trong hình ảnh người của thế giới bên kia. Nàng thấy mình là một “hồn
oan” vật vờ trong ngọn cỏ lá cây, bay về trong gió, linh hồn không siêu thoát được vì vẫn
mang nặng lời thề. Nàng thấy nỗi oan tình của mình cũng giống như chàng Trương Chi xưa
mang nặng khối tình xuống Tuyền đài chỉ có nước mặt của người xưa mới hóa giải được.
Tưởng rằng trao duyên rồi, Thúy Kiều sẽ tìm thấy được sự thanh thản trong tâm hồn nào ngờ
nỗi đau đớn càng dày thêm.
Giọng thơ thay đổi, hình ảnh thơ ma mị, chập chờn, huyền bí, không khí linh thiêng cùng dòng
thời gian tâm lý với sự đồng hiện của 3 chiều thời gian quá khứ - hiện tại – tương lai… Tất cả
giúp Nguyễn Du miêu tả thành công cơn khủng khoảng dữ dội trong tâm lý nàng Kiều khi
vĩnh viễn mất đi tình yêu của mình. Tình yêu với Kiều là toàn bộ cuộc sống và mất tình yêu thì
cũng có nghĩa là nàng đã chết – cái chết tinh thần.
Qua ngòi bút của Nguyễn Du, những mâu thuẫn trong thế giới nội tâm của nàng Kiều còn
được thể hiện chân thực thông qua việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Như chúng ta
đã biết Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự nhưng xuyên suốt tác phẩm, đặc biệt là ở đoạn
trích “Trao duyên” Nguyễn Du lại dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để miêu tả nhân vật. Đây
là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Để cho nhân vật độc thoại nội tâm nhà thơ muốn nhân
vật tự nếm trải cảm giác, tự bộc lộ, tự phơi bày tâm tư tình cảm và khát vọng sâu kín của
mình. Nhà văn không đứng bên ngoài để miêu tả nội tâm nhân vật mà để nhân vật tự cất lên
tiếng nói bên trong của mình. Có thể nói không ở đâu thế giới nội tâm nhân vật lại hiện lên
một cách sống động và chân thực như trong ngôn ngữ độc thoại. Đây là một sáng tạo độc đáo
của Nguyễn Du so với các cây bút đương thời khi xây dựng nhân vật.
10
Trong đoạn trích “Trao duyên” nếu như ở phần thứ nhất (phần trao duyên) nhà thơ chủ yếu
sử dụng ngôn ngữ đối thoại khi tái hiện những lời thỉnh cầu tha thiết, cảm động và những lí lẽ
giàu sức thuyết phục của Thúy Kiều để Thúy Vân chấp nhận trả nghĩa chàng Kim thì ở phần
hai ngôn ngữ thơ đã có sự thay đổi. Vẫn là lời của Kiều dặn dò Thúy Vân nhưng dường như
Thúy Kiều đã quên mất sự có mặt của Vân bên cạnh, nàng như đang tự nói với mình, thầm thì
với mình nỗi xót tiếc quá khứ, sự não nề trước tương lai mờ mịt, hãi hùng và một thực tế vỡ
tan:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Đang tự nói với mình, nàng lại chuyển đối tượng giao tiếp sang Kim Trọng:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!.
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Sự chuyển đổi này tạo ra một ngôn ngữ trữ tình đa âm, đa giọng, một điều cực kì hiếm thấy
trong văn học Trung đại. Trong lời nói Thúy Kiều, Nguyễn Du sử dụng một loạt thành ngữ
diễn tả sự tan vỡ, số phận bi kịch, sự trôi nổi, vô định của kiếp người (trâm gãy bình tan, tơ
duyên ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi). Tâm trạng Thúy Kiều đang chìm sâu
trong sự chiêm nghiệm cá nhân để nhận ra sự nhỏ nhoi, số phận bi kịch của mình trước cái vô
hạn của tình yêu, khát vọng (kể làm sao xiết muôn vàn ái ân). Và nỗi đau được đẩy tới cao
trao trong hai câu kết:
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Chỉ trong một câu thơ thôi nhưng có đến hai lần nàng gọi tên người yêu, gọi bằng tất
cả sự nồng nàn, thiết tha và đầy trân trọng (Kim lang chứ không phải là Kim Trọng). Thán từ
“Ôi”, “Hỡi” đứng đầu hai vế câu cùng dấu chấm than (!) và cách ngắt nhịp lẻ (3/3) làm cho
câu thơ giống như một tiếng nấc nghẹn ngào, tuyệt vọng của nàng Kiều. Trong tột cùng đau
đớn nàng tự nhận lỗi về mình “thiếp đã phụ chàng từ đây”. Thúy Kiều bán mình chuộc cha là
do hoàn cảnh khách quan, xuất phát từ tấm lòng hiếu nghĩa thơm thảo của nàng: “Làm con
trước phải đền ơn sinh thành”nhưng nghĩ về Kim Trọng nàng lại tự nhận mình là người phụ
bạc, bội ước. Tình yêu nàng dành cho Kim Trọng lớn tới mức khiến nàng quên cả nỗi đau đớn
của bản thân mà thương cho nỗi đau của Kim Trọng. Nàng không đổ thừa cho hoàn cảnh mà
dám nhận trách nhiệm về mình. Thúy Kiều quả là một con người có nhân cách cao thượng và
giàu lòng vị tha.
Với đoạn trích “Trao duyên”, Nguyễn Du đã vượt qua một “ca” tâm lí phức tạp, giàu kịch tính.
Sự kết hợp tuyệt diệu của hai bút pháp tự sự và trữ tình giúp nhà thơ miêu tả thành công
những mâu thuẫn bên trong hết sức chân thực của nội tâm nhân vật. Nguyễn Du đã nhập rất
sâu, có lúc như hòa làm một vào nhân vật để đồng cảm với nỗi đau dứt tình và khát vọng tình
yêu mãnh liệt của nhân vật. Viết về bi kịch tình yêu tan vỡ nhưng tác giả lại làm nổi bật được
vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Thúy Kiều đó là tình yêu thủy chung, lòng vị tha, đức hy sinh cao
cả…Nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy cùng cảm hứng nhân văn cao cả đã làm cho “Trao
duyên” trở thành một trong những đoạn trích tiêu biểu, có vị trí quan trọng nhất của Truyện
Kiều.
11
II.
ĐOẠN TRÍCH “CHÍ KHÍ ANH HÙNG” (TRÍCH TRUYỆN KIỀU–NGUYỄN
DU)
Phân tích đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Bài làm 1
Truyện Kiều không chỉ xuất sắc về ngôn ngữ nghệ thuật mà còn về nội dung ý nghĩa độc
đáo,sâu sắc.Nguyễn Du đã phản ánh một hiện thực xã hội bất công ,tàn bạo chà đạp nên
quyền sống của con người biệt là những người phụ nữ.Điều ấy khiến Truyện Kiều thấm đượm
tinh thần nhân đạo. Và khi đưa Từ Hải-người anh hùng đầu đội trời,chân đạp đất vào như
một nét sáng tạo trong cốt truyện Nguyễn Du đac thể hiện giấc mơ về một xã hội công bằng
tự do.Vẻ đẹp, phẩm chất anh hùng hiên ngang của Từ Hải được thể hiện rõ qua đoạn trích
“Chí khí anh hùng”.
Sau khi bị rơi vào lầu xanh lần hai,cuộc đời Thúy Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn .Giữa lúc
nỗi buồn đang dâng nên cao trào thì Từ Hải đột nhiên xuất hiện .Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều
như tìm đến với tri âm ,tri kỉ.Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh ,Từ Hải đã tinh
tương nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều với con mắt tinh đời.Ngay từ cuộc gặp gỡ
đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan tình cho
mình.Sau cuộc gặp gỡ đặc biệt ,Kiều và Hải đã tìm thây sự hòa hợp về tâm hồn của nhau .Hai
khoảng trống về tâm hồn đã được lấp đầy, san sẻ cho nhau bằng tình yêu.Sự tương xứng ấy
đã tạo nên một kết thúc có hậu:
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phi nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
Cuộc sống đôi lứa vừa mới chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải ra đi thực hiện nghiệp lớn:
Nửa năm hương khói đương nồng
Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.
Mặc dù trong thời gian sáu tháng ,tình yêu của họ luôn mặn nồng ,hạnh phúc “nửa năm
hương khói đương nồng”nhưng tâm chí Từ Hải luôn suy nghĩ đến việc lớn lao,khát khao lập
công danh nghiệp lớn .Vì thế Từ Hải “thoát đã động lòng bốn phương” là hợp lý. “Lòng bốn
phương” ở đây là hình ảnh ước lệ tượng trưng cho chí nguyện lập công danh ,sự nghiệp của
Từ Hải tạo nên tầm vóc lớn lao phi thường cho người chàng.Có thể nói tình yêu hay bất cứ
một thứ gì khác cũng không ngăn nổi bước chân của chàng.Trong 3254 câu Kiều ,Nguyễn Du
chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải để khẳng định sự trân trọng,kính phục của
ông đối với Từ Hải.Nguyễn Du xây dựng hình ảnh Từ Hải song song,sánh ngang với hình ảnh
trời đất.Nhắc đến Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất vũ trụ .Những từ láy,từ biểu
cảm chỉ độ rộng ,độ cao càng khắc họa rõ hơn tư thế của Từ Hải. Cái nhìn của chàng không
12
phải là cái nhìn bình thường mà là “trông vời”-cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi
thường.Hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”diễn tả phong thái ung
dung ,hiên ngang không vướng bận của người anh hùng trên đường ra đi gây dựng sự
nghiệp.
Đối với Thúy Kiều ,Từ Hải không chỉ như một người chồng mà còn như một vị ân nhân ,một
tri âm tri kỉ .Vì vậy ,trước quyết tâm ra đi thực hiện nghiệp lớn của chồng mình ,Thúy Kiều đã
xin đi theo để chăm sóc ,nâng khăn sửa túi cho chàng:
Nàng rằng : Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
Kiều biết Từ Hải ra đi trong cảnh “bốn bể không nhà” nhưng vẫn nguyện đi theo.Chữ “tòng”
không chỉ đơn giản như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “xuất giá tòng
phu” mà còn bao hàm ý thức chia sẻ nhiệm vụ ,đồng lòng tiếp sức cho Từ khi gặp khó khăn
trong cuộc sống.
Trước lời xin đi theo của Kiều , Từ Hải như khiển trách :
Từ rằng : Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình.
Từ Hải nói rằng Kiều chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình vừa là lời khiển trách vừa mong
Kiều cứng cỏi hơn vừa là lời dặn dò và niềm tin Từ Hải gửi gắm nơi Thúy Kiều.Đã là “tâm
phúc tương tri”
thì Kiều phải hiểu ,động viên ,chia sẻ ,là chỗ dựa tinh thần vững chắc , từ đó vượt qua sự bịn
rịn của nữ nhi thường tình để Hải có thể yên tâm lên đường ra đi thực hiên nghiệp lớn .Để rồi
một ngày nào đó Từ Hải trong sự nghiệp vẻ vang đón Kiều về nhà chồng trong danh dự:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất ,bóng râm rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Qua lời hứa với Thúy Kiều , ta thấy được lý tưởng lớn lao của Từ Hải.Nguyễn Du đã sự dụng
một loạt các từ ngũ thuộc phảm trù không gian như “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy
đất “...gợi nên khát vọng lớn lao ,mang tầm vóc vũ trụ của người anh hùng.Khát vọng “ làm
cho rõ mặt phi thường “ chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp ,công danh lẫy lừng ,xuất
chúng,hơn người.Thành công ấy sx chính là sính lễ để Từ Hải rước người tri kỉ “nghi
gia”.Những lời nói của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt này càng làm rõ chí khí anh hùng
của nhân vật này ,thay vì những lời nói thể hiện sự bịn rịn ,quyên luyến khi chia tay thì là
những ước mơ ,sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng.
Từ Hải còn thể hiện chí khí anh hùng của mình ở việc cho rằng Thúy Kiều đi theo sẽ “càng
thêm bận” nhưng sâu thẳm bên trong là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu khổ cực
,nay đây mai đó :
Bằng nay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
13
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì!
Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình
thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia
tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một
tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng
trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự
nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia
tay, niềm tin vào thắng lợi... tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim
bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.Hình ảnh: gió mây bằng đã đến
kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang
trời và mỗi bay thì chín vạn dậm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên
cành cây đã diễn tả những giây phút ngáy ngất say men chiến thắng cùa con người phi
thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt.
Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có
khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét
tính cách đẹp đẽ, sinh động.Từ Hải hiện nên như một vị anh hùng đầy phóng khoáng ,dứt
khoát ,nhanh nhẹn và oai nghiêm,có lý tưởng công danh lớn,rạch ròi giữa lý tưởng và tình
cảm. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người
anh hùng Từ Hải - nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại
thi hào qua đó cho thấy giấc mơ về một xã hội tự do,công bằng của Nguyễn Du.
BÀI LÀM 2
Song dẫu đa tình, Từ không quên mình là một tráng sĩ. Trong xã hội phong kiến, đã làm
thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải là một bậc anh hùng có chí
lớn và có nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính vì thế, tuy khi đang sống
với Kiều những ngày tháng thực sự êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của
bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt "động lòng bốn phương", thế là toàn bộ tâm trí
hướng về "trời bể mênh mang", với "thanh gươm yên ngựa" lên đường đi thẳng.
Không gian trong hai câu thứ ba và thứ tư (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể
hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hải.
Tác giả dựng lên hình ảnh "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong" rồi mới để cho Từ
Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lôgíc không ? Không, vì hai chữ "thẳng rong"
có người giải thích là "vội lời", chứ không phải lên đường đi thẳng rồi mới nói thì vô lí. Vậy có
thể hình dung, Từ Hải lên yên ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thuý Kiều. Và, có thể
khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng và Thúc
Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, có sự nhớ nhung của
14
một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh để chàng
về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp lại rất mong manh vì cả hai
đều biết tính Hoạn Thư, do đó gặp lại được là rất khó khăn. Chia tay Từ Hải là chia tay người
anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia biệt là khác hẳn
nhau.
Lời Từ Hải nói với Kiều lúc chia tay thể hiện rõ nét tính cách nhân vật. Thứ nhất, Từ Hải là
người có chí khí phi thường. Khi chia tay, thấy Kiều nói :
Nàng rằng : "Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi".
Từ Hải đã đáp lại rằng :
Từ rằng : "Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình".
Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng
vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin
tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng.
Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự :
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia".
Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu đuối như
Thúc Sinh khi chia tay Kiều. Sự nghiệp anh hùng đối với Từ Hải là ý nghĩa của sự sống. Thêm
nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông
cậy của người đẹp.
Thứ hai, Từ Hải là người rất tự tin trong cuộc sống :
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì !
Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là
người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công
trở về với cả một cơ đồ lớn.
Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt và ngôn ngữ bình
dân, dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố, điển tích. Đặc biệt, nhân vật Từ Hải được
Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hoá. Mọi ngôn từ, hình ảnh và cách miêu tả,
Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này.
15
Về từ ngữ, tác giả dùng từ trượng phu, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng
cho nhân vật Từ Hải. Trượng phu nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn. Thứ hai là từ thoắt
trong cặp câu :
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Nếu là người không có chí khí, không có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang nồng
ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang hạnh phúc,
chàng "thoắt" nhớ đến mục đích, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó phù hợp bản
chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ thực hiện được chí lớn thì xứng đáng với niềm tin yêu và trân
trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ động lòng bốn phương theo Tản Đà là "động
bụng nghĩ đến bốn phương" cho thấy Từ Hải "không phải là người một nhà, một họ, một xóm,
một làng mà là người của trời đất, của bốn phương" (Hoài Thanh). Hai chữ dứt áo trong
Quyết lời dứt áo ra đi thể hiện được phong cách mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng phu
trong lúc chia biệt.
Về hình ảnh, "Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi" là một hình ảnh so sánh thật đẹp đẽ và đầy ý
nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn. Không
chỉ thế, trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thoả chí tung
hoành "diễn tả một cách khoái trá giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt". Nói
thế không có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ khẳng định rõ hơn chí khí
của nhân vật. Hình ảnh : "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong" cho thấy chàng lên
ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn tả được cái cốt cách phi thường của chàng, của
một đấng trượng phu trong xã hội phong kiến.
Về lời miêu tả và ngôn ngữ đối thoại cũng có những nét đặc biệt. Kiều biết Từ Hải ra đi trong
tình cảnh "bốn bể không nhà" nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ "tòng" không chỉ giản đơn như
trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải "xuất giá tòng phu" mà còn bao hàm ý
thức sẻ chia nhiệm vụ, đồng lòng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn trong cuộc sống. Từ Hải
nói rằng sao Kiều chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình không có ý chê Kiều nặng nề mà
chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có 10
vạn tinh binh, Kiều tin tưởng Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý hợp,
tri kỉ, tri âm.
Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải và khẳng định lại một lần nữa tình
cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ
chồng.
Dàn ý phân tích bài chí khí anh hùng và liên hệ thực tiễn về lý tưởng sống
của thanh niên ngày nay
a. Mở bài:
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông có đóng góp to lớn đối với văn học dân
tộc về nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, xứng đáng là thiên tài văn học. Tác phẩm
16
“Truyện Kiều” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Trong “Truyện Kiều”, ND
đã đồng cảm với khát vọng tình yêu và công lý của con người. Nếu khát vọng tình yêu tự do
ND gửi gắm vào nhân vật TK thì khát vọng về công lý ông gửi gắm vào nhân vật Từ Hải - một
người chí khí,một người siêu phàm.Con người ấy đến từ một giấc mơ và ở lại như một huyền
thoại. Hiện diện trong “Truyện Kiều” như một nhân cách sử thi,Từ Hải đã làm nên những
trang sôi động nhất, hào sảng nhất trong cái thế giới buồn đau dằng dặc của “Đoạn Trường
Tân Thanh”. Đoạn trích “Chí khí anh hùng” là một đoạn trích tiêu biểu khắc họa rõ nét nhất về
chí khí của người anh hùng Từ Hải.
b. Thân bài:
1. NLVH:* Người anh hùng và nàng Kiều tài sắc đang sông êm đềm bên nhau nhưng chàng
muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã quyết định từ biệt Kiều ra đi. 4 câu thơ đầu đã
cho ta thấy rõ khát vọng lên đường của người anh hùng( Trích 4 câu thơ đầu)
-Nửa năm: thời gian TK – Từ Hải sống bên nhau
- Hương lửa: hình ảnh ước lệ chỉ tình yêu =>“Hương lửa đương nồng”: Tình yêu nồng nàn, say
đắm của Thúy Kiều – Từ Hải.
=> Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy
Kiều mới đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc.
-“Trượng phu” (Đại trượng phu): Là từ chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng => Nguyễn
Du dùng cách nói này thể hiện thái độ trân trọng với các vị anh hùng. Nó dựng lên dáng vẻ bệ
vệ, oai nghiêm, đĩnh đạc của một tướng võ.
-“Thoắt” (Tính từ): Chỉ sự dứt khoát, mau lẹ, kiên quyết, nhanh chóng trong khoảnh khắc bất
ngờ. Nói lên cách xử sự dứt khoát, khác thường của Từ Hải.
-“Động lòng bốn phương” (cụm từ ước lệ): Chỉ chí khí anh hùng tung hoành thiên hạ. Đó cũng
là lí tưởng anh hùng thời đại, không bị ràng buộc bởi vợ con, gia đình mà ở bốn phương trời,
ở không gian rộng lớn, quyết mưu cầu sự nghiệp phi thường.
=> Bối cảnh dẫn đến cuộc chia ly: Người anh hùng gặp người đẹp tri kỉ, đang say đắm trong
hạnh phúc lứa đôi, chợt nghĩ đến chí lớn chưa thành, đã động lòng bốn phương, dứt áo ra đi
theo tiếng gọi của ý chí.
- Tư thế: + “Thanh gươm yên ngựa”:1 mình, 1 gươm, 1 ngựa.
+ “Thẳng rong”: đi liền 1 mạch.
=> Với tư thế oai phong, hào hùng sánh ngang với trời đất
- Cách miêu tả: đặt nhân vật sánh ngang với không gian trời bể mênh mang.
=> Một tư thế đẹp, thể hiện sự kiên quyết, dứt khoát, ra đi hiên ngang, độc lập, không vướng
bận
- “Trời bể mênh mang”: không gian vũ trụ rộng lớn => Cảm hứng vũ trụ, con người vũ trụ với
kích thước phi thường, không gian bát ngát, nâng cao tầm vóc người anh hùng.
* Tiểu kết: Từ Hải không phải là một con người của những đam mê thông thường, mà là con
người của khát vọng, công danh.
17
* Trước ý chí quyết tâm mưu cầu nghiệp lớn của Từ Hải, TK chấp nhận và ngỏ ý muốn theo
Từ Hải. Từ Hải đã từ chối mong muốn của Kiều và thể hiện rõ lý tưởng anh hùng của mình
(Trích Từ rằng:...vội gì!”)
-“Tâm phúc tương tri”: Coi Kiều là tri kỉ của mình, hiểu Từ Hải hơn ai hết, hơn hẳn người vợ
bình thường – tầm thường.
-“Nữ nhi thường tình”: khuyên TK vượt lên t/cảm thông thường để xứng làm vợ một anh
hùng.
=>Từ chối mong muốn của Kiều và mong muốn Kiều là tri âm, tri kỉ xứng đáng nhất.
- Người anh hùng nêu lên lý tưởng của mình:
+ “Mười vạn tinh binh”, “Tiếng chiêng dậy đất”, “Bóng tinh rợp đường” => Hình ảnh âm thanh
hào hùng => Niềm tin sắt đá, sự quyết tâm, khát vọng lớn lao, cao cả về một sự nghiệp lẫy
lừng
- MĐ ra đi: làm cho rõ mặt phi thường=> chứng tỏ khả năng hơn người, bản lĩnh, ý chí phi
phàm
=> ND đã thể hiện hình ảnh người anh hùng oai phong, bản lĩnh với lý tưởng cao cả, ý chí,
hoài bão lớn lao.
- Lời hứa: “Sẽ rước nàng nghi gia”. Một lời hứa sẽ cho Thúy Kiều một cuộc sống có danh phận,
viên mãn bên người chồng thành công trong sự nghiệp =>Từ Hải là người anh hùng có chí
khí, thống nhất giữa khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ.
-“Bốn bể không nhà”: Thực tế gian nan, vất vả của buổi đầu lập nghiệp.
-Lời hẹn: “Một năm sau”: Khẳng định ý chí, bản lĩnh, sự tự tin.
=> Những câu sau không chỉ nói lên hoàn cảnh thực tại của người anh hùng đầy rẫy những
khó khăn mà còn nói lên tính cách rất dứt khoát, chí khí nhưng cũng rất tâm lí, gần gũi của
Từ Hải.
* Hình ảnh dứt áo ra đi của anh hùng Từ Hải
-Hành động: “Quyết lời” + “Dứt áo ra đi”=>Thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do
dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý chí của người anh hùng.
-Ẩn dụ: “Chim bằng”: Tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi
thường, mang tầm vóc vũ trụ. =>Đem hình ảnh chim bằng để ẩn dụ cho tư thế ra đi của Từ
Hải, Nguyễn Du muốn khẳng định Từ Hải chính là bậc anh hùng cái thế, có tầm vóc phi
thường, sánh ngang với đất trời, vũ trụ.
*Tiểu kết: Thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du: chân dung kì vĩ, chí
khí, bản lĩnh, tài năng phi thường, thực hiện giấc mơ công lí.
- NT: Xây dựng nhân vật bằng những hình ảnh ước lệ. Thông qua hành động, lời thoại trực
tiếp, thể hiện sự tự tin, bản lĩnh nhân vật => Lý tưởng hóa nhân vật mang cảm hứng ngợi ca
2. NLXH:
- Lý tưởng sống là cái đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới, là lí do, mục đích mà
mỗi con người mong mỏi đạt được. Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và
hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho mình, gia đình xã hội và đất nước.
18
- Biểu hiện:
+ Trong thời kỳ chiến tranh, bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu - lý
tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Với các tấm gương tiêu biểu bao đời
vẫn được ghi danh: Phan Đình Giót lấy thân mình bịt lỗ châu mai, Bế Văn Đàn lấy vai làm giá
súng,...
+ Thanh niên ngày nay đại đa số đều xác định được tưởng sống của riêng mình, biết phấn
đấu, nỗ lực để đạt được lý tưởng ấy. Vd: Nhiều bạn trẻ đã thể hiện lối sống cao đẹp, thổi bùng
ngọn lửa vì cộng đồng và không cam chịu đói nghèo. Các mùa hè tình nguyện đã thu hút hàng
nghìn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi. Nhiều dự án lớn do thanh
niên đảm nhiệm. Luôn khắc phục khó khăn vươn lên trong cuộc sống như Nguyễn Ngọc Kí,...
- Biểu hiện người không có lý tưởng sống:Một số chỉ biết sống cho chính bản thân mình,
những người có lối sống buông thả, sống cho qua ngày, họ chùn bước trước khó khăn, lắc đầu
trước thử thách và sống vô trách nhiệm với xã hội. Không có ước mơ, hoài bão, sống thực
dụng và ỷ lại, ăn chơi đua đòi, lãng quên quá khứ, sống thờ ơ với mọi người
-Là 1 thanh niên thế kỉ 21 với bước hội nhập hiện nay, với những lý tưởng và hoài bão lớn, em
sẽ ra sức học tập và sống có đạo đức để thật sự là 1 người có ích trên xã hội này. Chúng ta ai
cũng sống có khát vọng, hoài bão và hết mình vì nó. 'Cái quý nhất của con người là cuộc sống,
đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì nhưng năm tháng
sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài, sống phí... Sống có lý tưởng để
đưa đất nước mình đi lên hội nhập với các cường quốc năm châu.
- Tóm lại, thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, vì
mọi người, vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại cách sống của mình
để hướng đến tương lai tươi sáng.
c. Kết bài:
Dưới hình thức một cuộc chia li, đoạn trích “Chí khí anh hùng” mang chở khát vọng tự do, ước
mơ công lí của Nguyễn Du. Từ Hải- một con người chí khí phi thường, lý tưởng cao cả, tự tin,
đầy bản lĩnh, dứt khoát, kiên quyết trong hành động nhưng tâm lý lại gần gũi và sâu sắc.Chỉ
có người như vậy mới che chở được những nạn nhân sống dưới bầu trời tăm tối của thể giới
“Truyện Kiều”.
III.
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ - ĐẶNG
TRẦN CÔN
Đề bài. Cảm nhận nỗi buồn, cô đơn của người phụ nữ có chồng đi lính trong tác phẩm “Tình
cảnh lẻ loi của người chinh phụ“ (trích “Chinh phụ ngâm”) của Đặng Trần Côn.
Trong văn học trung đại, để lên án sự suy tàn của xã hội phong kiến, đồng thời ngợi ca khát
khao hạnh phúc của con người, nhiều thi nhân gửi tâm sự, nỗi bất bình của mình vào các bài
19
thơ, khúc ngâm. Thời Đường ở Trung Quốc, Vương Xương Linh oán ghét chiến tranh phi
nghĩa, mà viết “Khuê oán”. Thời Lê ở nước ta, Đặng Trần Côn cảm thông sâu sắc trước số
phận những người phụ nữ có chồng đi lính mà làm nên tuyệt tác “Chinh phụ ngâm”. Đoạn
trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ“ thuộc tác phẩm trên đã chạm đến trái tim người
đọc khi tái hiện hoàn cảnh cô độc, nỗi nhớ thương da diết của người phụ nữ ước mơ hạnh
phúc đoàn tụ.
“Chinh phụ ngâm” ra đời vào khoảng thế kỷ XVIII, đầu đời Lê Hiển Tông, phong trào khởi
nghĩa nông dân diễn ra liên miên, triều đình điều binh lính đi dẹp loạn. Từ đấy nhiều gia đình
chịu cảnh chia lìa, kẻ ở người đi, không hẹn ngày gặp lại. Số phận và bi kịch của những con
người nhỏ bé trong cái xã hội phong kiến đang đứng bên bờ vực thẳm ấy đã lay động trái tim
của Đặng Trần Côn. Trong khúc ngâm viết bằng chữ Hán của ông có 476 câu thơ, làm theo
thể trường đoản cú. Khi Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm đã chuyển tác phẩm về thể thơ
song thất lục bát, dùng âm điệu réo rắt, thiết tha của thể thơ dân tộc góp phần thể hiện tình
cảnh và tâm trạng của người phụ nữ có chồng đi lính. Sở dĩ Hồng Hà nữ sĩ trung thành với
nguyên tác và có nhiều sáng tạo trong quá trình dịch bởi dịch giả đã ở cùng một hoàn cảnh
với nhân vật trữ tình: sau khi cưới chưa lâu, chồng bà là Nguyễn Kiều phải đi sứ Trung Quốc,
chính vì thế, bà thấu hiểu cảnh sống cô đơn, tẻ nhạt với những buồn lo, nhung nhớ của người
chinh phụ.
Sau khi tiễn chồng ra trận, người chinh phụ bơ vơ chốn khuê phòng vắng lặng, lạnh lẽo, nỗi
khổ tâm của nàng được bộc lộ qua hành động và ngoại cảnh.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?”
Người chinh phụ dạo bước trong hiên vắng, vừa đi vừa thầm đếm bước chân mình, như đếm
từng ngày chồng đi. Những bước chân lặng lẽ của nàng nặng trĩu u sầu, đong đầy thương
nhớ, như bước chân người cung nữ trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều: “Ngán
20
trăm chiều bước lại ngẩn ngơ“. Trong những buổi đi dạo của nàng không còn vẻ ung dung, an
nhàn mà thay vào đó là sự ngán ngẩm, buồn chán – tâm trạng khác hẳn với Thúy Kiều khi
bước đi tìm người yêu: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.” Nàng Kiều đi tìm tình quân
trong niềm vui sướng, hạnh phúc ngập tràn, còn người chinh phụ vừa đi vừa gặm nhấm nỗi
cô đơn, lo lắng cho sự an nguy của người thân chốn biên ải xa xôi. Nàng hết dạo hiên, lại ngồi
buồn, cuốn rèm, buông rèm. Những hành động vô nghĩa ấy được lặp đi lặp lại trong vô thức,
nàng chẳng còn bận tâm mình đang làm gì bởi tâm trí nàng giờ dồn hết vào người chồng
đang tòng quân. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ “vắng”, “thưa” vẽ ra không gian trống trải, thưa
thớt tình thương yêu, càng tô đậm sự lẻ loi, buồn bã, bồn chồn của nhân vật trữ tình. Người
chinh phụ không chỉ buồn nhớ, lo lắng cho chồng mà còn trông ngóng tin chàng. Nàng đợi tin
lành của chim thước sẽ xoa dịu nỗi bất an, nhưng chim thước không tới. Nàng lại trỏ bóng
đèn, hỏi đèn mà hỏi lòng. Nàng nhận ra rằng càng hi vọng, mòn mỏi trông chờ nàng càng hụt
hẫng, tuyệt vọng. Khát khao sum vầy đoàn tụ, khát khao hơi ấm gia đình của nàng càng khiến
nàng đau đớn, thất vọng. Câu hỏi tu từ và điệp từ “rèm” lặp lại ba càng đẩy nàng vào bế tắc,
cái bế tắc của xã hội phong kiến suy tàn, của triều đình loạn lạc khiến niềm tin của con người
về tình yêu, hạnh phúc không còn giá trị. Chao ôi, người chinh phụ mới đáng thương làm sao!
Người chinh phụ hết mong ngày, lại mong đêm, khi bóng tối cô đơn tịch mịch kéo xuống bao
trùm lấy nàng, nàng chỉ có thể làm bạn với bóng đèn.
“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Điệp ngữ bắc cầu “đèn biết chăng”, “đèn có biết” khiến nỗi buồn đau, thương nhớ của người
chinh phụ thêm da diết, day dứt. Trong tâm trạng đó, nàng đối diện với ngọn đèn dầu, mong
muốn được thấu hiểu, được chia sẻ tâm tư. Hình ảnh cây đèn dầu cũng xuất hiện trong những
tác phẩm văn học dân gian và văn học trung đại khác. Ca dao có câu “đèn thương nhớ ai/ mà
đèn không tắt”, thể hiện nỗi nhớ nhung tha thiết của người con gái với người mình yêu.
21
Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Vũ Nương cũng lấy ngọn đèn dầu để xóa giải nỗi
cô đơn khi Trương Sinh đi lính. Nhưng đến “Chinh phụ ngâm”, ý nghĩa biểu tượng của ánh đèn
dầu không chỉ dừng lại ở đó. Đặng Trần Côn mượn cây đèn đang tàn mà ẩn dụ sự trôi đi
nhanh chóng của thời gian, sự tàn lụi, héo hon của kiếp người. Nhà thơ muốn nói: cuộc đời
chỉ là kiếp hoa đèn mong manh dang dở. Chính vì vậy, vật vô tri vô giác là cây đèn cháy đỏ
khắc khoải, cháy đến tàn bấc dầu kia không những không thể đồng cảm với nỗi đau buồn,
tình cảnh cô đơn, lẻ loi người chinh phụ mà càng khiến nàng vô vọng khôn cùng. Tâm trạng
của nhân vật trữ tình được khắc họa bằng những tính từ chỉ cảm xúc: “bi thiết”, “buồn rầu”,
“thương”. “Bi thiết” được hiểu là bi thương, thảm thiết, từ “thiết” theo nghĩa Hán Việt còn có
nghĩa là cắt, mài. Những suy tư muộn phiền của người chinh phụ khao khát được bộc lộ, được
thấu hiểu, nhưng trong tình cảnh cô độc vắng tẻ của nàng biết lấy ai để trút bầu tâm sự, nàng
chỉ biết dồn nén những cảm xúc ấy, cảm nhận nỗi đau như thể trái tim bị cứa, mài. Qua việc
cảm nhận tâm sự của người chinh phụ khi đối diện với ngọn đèn, người đọc trầm trồ ngợi ca
tài năng nghệ thuật trong miêu tả tâm trạng của tác giả!
Ngọn đèn tắt, bỏ lại người chinh phụ cô quạnh trong đêm dài tịch mịch u sầu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.”
Một đêm dài năm canh, người chinh phụ vì trông ngóng người chinh phu, thức trọn năm
canh, nghe tiếng gà gáy mà sợ hãi, buồn rầu. Cái âm thanh “eo óc” ấy thưa thớt, ghê rợn, tang
tóc, khó chịu, từng tiếng từng tiếng vang lên rõ mồn một, đối lập với sự tĩnh lặng, trầm lắng
trong tâm nàng. Tiếng gà gáy trong đêm gợi ra khoảng không mênh mông, hiu quạnh, khiến
người phụ nữ cô đơn, lẻ loi trở nên nhỏ bé, đáng thương. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đẩy tâm
trạng người chinh phụ lên một nấc thang mới, khiến nó đau đớn hơn, cô độc hơn, dày vò nàng
hơn. Không chỉ có tiếng gà gáy khiến nàng trằn trọc, bóng “hòe phất phơ“ cũng khiến người
chinh phụ suy tư, lo nghĩ. Vây quanh người chinh phụ là những bóng dáng mập mờ lay động
trong đêm, như ẩn như hiện, như có như không. Từ láy gợi hình “phất phơ“ càng tăng thêm
tính mơ hồ, hư ảo của cảnh vật, của tin tức về người chồng ngoài biên ải, của những buổi
đoàn tụ, sum họp gia đình trong mơ ước ấy, nàng càng mong chờ, càng cảm thấy xa xôi. Hình
22
ảnh cây hòe trong câu thơ trên gợi nhắc ta về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi: “Hòe
lục đùn đùn tán rợp giương”. Cây hòe của Nguyễn Trãi đẹp, căng tràn nhựa sống, gợi nên sự
vui tươi của buổi chiều mùa hạ, khác hẳn với vẻ buồn bã, u sầu của cây hòe đặt trong đêm
khuya thanh vắng trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn. Từ đó ta thấy nghệ thuật dùng từ
của tác giả, từ tính từ “phất phơ“ đến động từ “rủ“, tất cả mang sắc thái chán chường, ủ rũ.
Trong không gian vắng lặng, thời gian đã đi qua màn đêm, người chinh phụ ôm nỗi nhung
nhớ, thấm thía về bi kịch đời mình.
“Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Vắng chồng, cuộc sống của người chinh phụ thật tẻ nhạt, buồn chán và nặng nề với những
thương nhớ đong đầy từng khắc, cô đơn bủa vây từng giờ. Những ngày tháng này, thời gian
trôi đi thật chậm chạp, như muốn gặm nhấm chuỗi ngày sầu bi của nàng. Một ngày không còn
được đo bằng vài canh, mấy khắc, mà được tính đếm bằng cả năm dài “đằng đẵng”. Từ
láy “đằng đẵng” kéo dài thời gian, kéo dài nỗi buồn và tình cảnh lẻ loi của người phụ nữ có
chồng ra trận. Nàng giờ ở vào hoàn cảnh của Kim Trọng khi thương nhớ Thúy Kiều: “Sầu
đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!” Trong những ngày tháng khó
khăn này, người chinh phụ ngẫm về cuộc hôn nhân dang dở, về cuộc đời không được hưởng
hạnh phúc trọn vẹn, khiến nàng đã sầu lại càng sầu thêm. Quả đúng là “sầu đong càng lắc
càng đầy”, nỗi buồn của người chinh phụ càng triền miên, không có hồi kết. Tác giả đã so sánh
tâm tư của nàng với hình ảnh ước lệ “miền biển xa”, những lo lắng, buồn thương, đau xót của
người chinh phụ vượt ra ngoài giới hạn về không gian và thời gian. So sánh với bản chữ hán
của Đặng Trần Côn “Sầu tự hải/ Khắc như niên”, ta thấy Đoàn Thị Điểm không chỉ trung
thành với nguyên tác mà còn có những sáng tạo riêng trong quá trình dịch, giúp người đọc dễ
hiểu, dễ đồng cảm hơn với nhân vật trữ tình.
Người chinh phụ chán ghét thời gian trôi chậm chạp, cố vùng thoát khỏi chuỗi ngày cô đơn, lẻ
loi dai dẳng.
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
23
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”
Mong muốn xóa tan ưu phiền, người chinh phụ đốt hương nhưng lại không kìm được lòng mà
mê man trong quá khứ. Trong đoạn trích “Thề nguyền” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du,
Kim Trọng cũng đốt hương “Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương” để mùi hương trầm ấm áp
làm chứng cho thời khắc quan trọng – hai người cất hẹn ước trăm năm. Người chinh phụ
cũng bồi hồi nhớ lại lời hẹn thề năm nào. Mùi hương trầm đã vô tình đưa nàng trở về những
tháng ngày hạnh phúc trước kia, để tâm hồn nàng lạc đi tìm những kí ức đẹp quá xa vời.
Nhưng càng tiếc nuối quá khứ tươi đẹp, nhân vật trữ tình càng thấm thía bi kịch hiện tại.
Nàng trơ trọi, bơ vơ trong sự thật hiển nhiên: những mặn nồng xưa kia không thể lấy lại
được. Vậy, việc đốt hương vốn để tìm lại niềm thanh thản trong tâm hồn lại khiến người phụ
nữ bé nhỏ, đáng thương và bơ vơ thêm thống khổ. Người chinh phụ đành tìm cách khác để
giải tỏa tâm sự: nàng soi gương. Trong chuỗi ngày đợi chờ người chinh phu, người chinh phụ
chẳng buồn đoái hoài đến phấn son hoa lệ: “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với
ai?” Nhưng đêm nay, mong muốn thoát khỏi nỗi cô đơn bủa vây, nàng gượng gạo cầm gương
soi. Nàng giật mình xót xa cho dung nhan võ vàng của người phụ nữ trong gương kia. Nàng
thương đôi mắt buồn chứa chan u sầu, nàng thương đôi môi chẳng thể nở một nụ cười nhạt,
nàng khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho dung mạo đang độ tươi thắm bị nỗi đau âm ỉ tàn phá.
Nhưng những giọt lệ nào có thể giúp nàng cứu vãn được tình cảnh bi đát này. Cảm thấy việc
đốt hương, soi gương không thể giúp quên đi chuyện buồn, người chinh phụ tìm đến tiếng
đàn. Tác giả sử dụng một loạt hình ảnh ước lệ như “sắt cầm”, “dây uyên”, “phím loan” tượng
trưng cho tình yêu đôi lứa, cho vợ chồng hòa hợp. Người chinh phụ lo sợ dây đàn đứt, báo
điều chẳng lành về cuộc hôn nhân đang bị chia cắt, về người chồng ngoài chiến trường bặt vô
âm tín. Điệp từ “gượng” cho thấy sự cố gắng gượng gạo, chán nản ở người chinh phụ, nàng
vùng vẫy trong nỗi cô đơn nhưng lại bị chính nỗi cô đơn bóp chặt. Những thú vui của tầng lớp
quý tộc giờ đây lại không thể đem lại cho nàng niềm vui, hơn thế nữa chúng lại như liều thuốc
kích thích khối u sầu khổ trong lòng nàng. Nàng chỉ mong được sum vầy, nhưng buổi đoàn tụ
trong tưởng tượng của nàng lại quá đỗi xa xỉ trong hoàn cảnh này.
24
Giúp việc truyền tải nội dung và giá trị nhân đạo của “Chinh phụngâm” là tài năng nghệ thuật
và sáng tạo tài tình của tác giả và dịch giả. Xuyên suốt mười tám câu thơ trong đoạn
trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ“ là các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, câu
hỏi tu từ, ẩn dụ,… và các bút pháp ước lệ tượng trưng, tả cảnh ngụ tình. Tác giả cũng có sự
chọn lọc tinh tế các từ ngữ gợi hình, gợi cảm để miêu tả chi tiết và chân thực, cảm động từng
cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thêm vào đó, thể thơ song thất lục bát với âm điệu
réo rắt, thiết tha, giàu tính nhạc cũng góp phần quan trọng thể hiện nội tâm người chinh phụ.
Bên cạnh đó, Đoàn Thị Điểm rất trung thành với nguyên tác khi dịch nên nhiều ý thơ giàu cảm
xúc được truyền tải đến người đọc một cách trọn vẹn.
Kết lại, “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ“ trích “Chinh phụngâm” của Đặng Trần Côn đã
để lại trong lòng người đọc nhiều dư âm sâu sắc về nỗi buồn đau, thương nhớ da diết, tình
cảnh cô độc, lẻ loi của người phụ nữ có chồng đi lính. Qua đó, người đọc hiểu những tâm tư
tình cảm và suy nghĩ của tác giả về con người, xã hội đương thời. Ông lên án chế độ phong
kiến mục nát với những cuộc chiến tranh phi nghĩa kéo dài và ngợi ca tình yêu cao đẹp, khát
khao yêu thương đôi lứa.
25