ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Tiểu luận:
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI QUẢNG NINH
Hà Nội, 2011
1
MỤC LỤC
Mở đầu........................................................................................................................................................3
Do đó trong tiểu luận này sẽ đề cập đến vấn đề BĐKH và sự phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh –
một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của miền bắc nước ta. Trong đó chú trọng đến những hành động
giảm thiểu và thích nghi với BĐKH...............................................................................................................3
1.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh............................................................4
1.1.1. Vị trí địa lý......................................................................................................................................4
1.1.2. Khí hậu...........................................................................................................................................4
1.1.3. Tài nguyên......................................................................................................................................4
1.1.4. Dân số............................................................................................................................................5
1.2. Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam...............................................................................................5
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển tỉnh Quảng Ninh............................................................7
1.3.1. Tác động đến du lịch......................................................................................................................7
1.3.2. Tác động đến ngành nuôi trồng thủy hải sản.................................................................................7
1.3.4. Tác động đến môi trường và sức khỏe con người..........................................................................9
1.3.5. Tác động đến ĐDSH......................................................................................................................11
1.4. Những hành động giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững...................13
2
Mở đầu
Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể
những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công
nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đất nóng dần lên, từ đó gây ra hàng
loạt những thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên. Nếu chúng
ta không có những hành động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu và thích nghi, hậu quả
đem lại sẽ vô cùng thảm khốc.
Theo dự báo của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm 2100
nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,4 0C tới 5,80C. Sự nóng lên của bề mặt trái đất sẽ làm
băng tan ở hai cực và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao thêm khoảng 90 cm
(theo kịch bản), sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa
hình thấp.
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu
(BĐKH). BĐKH là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu
vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm [1].Những biến đổi này gây ra do
quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con
người. Nước biển dâng gây nên hiện tượng ngập lụt ở một số nơi tại Đồng Bằng Sông
Cửu Long, tần suất những cơn bão gia tăng, tăng cường độ mạnh của các hiện tượng
thiên nhiên,…
Quảng Ninh là một tỉnh có ngành công nghiệp, thương mại và du lịch rất phát
triển. Ngoài dân số nội tỉnh, hàng năm tỉnh còn có trên 3 triệu lượt khách tham quan du
lịch, dự kiến đến năm 2020 sẽ có khoảng trên 6 triệu lượt khách. Một trong những điểm
thu hút khách du lịch đến với Quảng Ninh là Vịnh Hạ Long – đã được UNESCO hai lần
công nhận là di sản thế giới. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có thị trường tiêu thụ rất lớn của
một số nông – lâm – thuỷ sản, như: lương thực; rau đậu thực phẩm; thịt gia súc, gia cầm,
trứng, sữa; gỗ trụ mỏ, gỗ sản xuất đồ mộc dân dụng; các loại thuỷ sản; vv...
Do đó trong tiểu luận này sẽ đề cập đến vấn đề BĐKH và sự phát triển bền vững
của tỉnh Quảng Ninh – một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của miền bắc nước ta.
Trong đó chú trọng đến những hành động giảm thiểu và thích nghi với BĐKH.
3
1.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh
1.1.1. Vị trí địa lý
Quảng Ninh là tỉnh ven biển nằm ở vùng địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam. Tọa
độ địa lý khoảng 106026’ đến 108031’ kinh độ Đông và từ 20040’ đến 21040’ vĩ độ Bắc.
Giáp với các tỉnh:
+ Phía Tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang.
+ Phía Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng.
+ Phía Bắc giáp Trung Quốc với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường.
+ Phía Đông giáp biển Đông.
1.1.2. Khí hậu
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét
riêng của một tỉnh miền núi ven biển vừa có đặc trưng của khí hậu đại dương.
Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn
định dưới 20oC. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25 oC. Giữa hai mùa lạnh
và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ
khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).
1.1.3. Tài nguyên
Tài nguyên nước: Quảng Ninh có tài nguyên nước khá phong phú và đặc sắc.
Nước mặt chủ yếu là nước sông hồ với các sông lớn: Ka Long, Hà Cối, Đầm Hà, Tiên
Yên... Tổng trữ lượng tĩnh các sông ước tính khoảng 175.106 m3. Lượng nước ngầm qua
thăm dò và khảo sát tại 13 khu vực đô thị và công nghiệp ước tính có thể khai thác
64.388 m3/ ngày. Quảng Ninh có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang Hanh
(Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu).
Tài nguyên biển: Quảng Ninh có hầu hết các chủng loại hải sản Việt Nam: các loài
cá có chim, thu, nhụ, đé, song, ngừ… loài tôm tiêu biểu là tôm he núi Miều, đứng đầu về
chất lượng tôm Việt Nam. Ngoài ra biển Quảng Ninh còn có trai ngọc, bào ngư, đồi mồi,
sò huyết, ngao, ngán, hàu, rau câu, sái sùng…
Tài nguyên rừng: Quảng Ninh có thế mạnh rừng và đất rừng. Đồi và rừng Quảng
Ninh có tiềm năng trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và nhiều loài cây công nghiệp. Hiện
4
Quảng Ninh đang mở rộng diện tích cây ăn quả, trong đó có vùng vải thiều Đông Triều
3.000 ha đã cho thu hoạch, vùng chè đã cho chè búp chất lượng tốt. Vùng núi Quảng
Ninh đang phục hồi và phát triển những giống cây đặc sản như quế, hồi, trẩu, sở và
những cây dược liệu. Động vật hoang dã có khỉ vàng, nai, hoẵng, chim trĩ, đại bàng, lợn
rừng, nhiều loại chim di cư (sâm cầm, chim xanh), tê tê, rùa gai, rùa vàng..
Tài nguyên khoáng sản: Nói đến Quảng Ninh là nói đến vùng than giàu có của
Việt Nam. Tuyến mỏ than Quảng Ninh dài 150 km, từ đảo Kế Bào (Vân Đồn) đến Mạo
Khê (Đông Triều). Tổng trữ lượng đã tìm kiếm, thăm dò có thể khai thác là 3,8 tỷ tấn;
cho phép khai thác 30 - 40 triệu tấn/ năm. Quảng Ninh có ba trung tâm khai thác than:
Hòn Gai, Cẩm Phả - Dương Huy và Uông Bí - Mạo Khê. Ngoài ra, một loại khoáng sản
có trữ lượng lớn và quan trọng khác của Quảng Ninh là khoáng sản vật liệu xây dựng,
bao gồm đá vôi, đất sét sản xuất xi măng, đất sét sản xuất gạch chịu lửa, đất sét sản xuất
gạch ngói, cao lanh, cát trắng, cát-sỏi xây dựng, đá ốp lát…
1.1.4. Dân số
Dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người, trong đó nữ có 558.793 người.
Mật độ dân số của Quảng Ninh hiện là 188 người/km 2 (năm 1999 là 196 người/km 2),
nhưng phân bố không đều. Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố
Hạ Long 739 người/km2, huyện Yên Hưng 415 người/ km2, huyện Ðông Triều 390
người/ km2. Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30 người/ km 2, Cô Tô 110 người/ km2, Vân Ðồn
74 người/ km2.
1.2. Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo
BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nội tháng 2/2008
Bảng 1. Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam (so với năm 1990)
Năm
Nhiệt độ tăng thêm (0C)
Mực nước biển tăng thêm (cm)
2010
0,3 – 0,5
9
2050
1,1 – 1,8
33
2100
1,5 – 2,5
45
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu,2008 [2]
Bảng 2. Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam
5
(nhiệt độ tăng thêm 0C so với năm 1990)
Năm
Tây
Bắc
Đông
Bắc
Đồng
Bằng
Bắc
Trung
Nam
Trung
Tây
Nguyên
Nam Bộ
2050
1,41
1,66
1,44
1,68
1,13
1,01
1,21
2100
3,49
4,38
3,71
3,88
2,77
2,39
2,80
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu,2008 [2]
Bảng 3. Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990
Kịch bản/năm
2050
2100
A1F1
13,7
39,7
A2
12,5
33,1
A1B
13,3
31,5
B2
12,8
28,8
A1T
112,7
27,9
B1
13,4
26,9
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu,2008 [2]
Tính trung bình của cả 6 kịch bản thì đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có khả năng tăng
thêm 2,80C, mực nước biển dâng cao thêm 37cm chưa tính đến sự tan băng mà chỉ tính
đến sự dãn nở của nước đại dương. IPCC cũng dự báo rằng cuối thế kỷ 21 mực nước biển
có thể tăng tối đa 81cm[1]
• Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam:
Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam, nhiệt độ ở các
vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa. Đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ
có thể tăng thêm từ 4,0 đến 4,5 0C theo kịch bản cao nhất và 2,0 đến 2,2 0C theo kịch bản
thấp nhất. Biên độ dâng cao mực nước biển ở nước ta là khá lớn theo tất cả các kịch bản,
mặc dù vậy vẫn chỉ là tương đương hoặc thấp hơn chút ít so với dự báo của IPCC năm
2007.
BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khu vực miền
Trung – Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà thậm chí còn gây
khô hạn ngay trong thời gian El Nino.
6
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển tỉnh Quảng Ninh
1.3.1. Tác động đến du lịch
Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong
những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của BĐKH dẫn đến nước biển
dâng cao.
BĐKH tác động trực tiếp tới phát triển du lịch ở 3 hình thức. Đó là tác động đến:
+ Tài nguyên du lịch, điểm hấp dẫn du lịch trong đó có cả những tài nguyên du lịch tự
nhiên đã hình thành, tồn tại hàng triệu năm qua như Vịnh Hạ Long.
+ Tác động tới các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động lữ hành bị ảnh hưởng, đình
trệ thậm chí hủy do điều kiện thời tiết xấu liên tiếp, bão lụt, lũ quét di biến đổi khí hậu
gây ra. Nhiều chương trình du lịch phải hủy, hoãn, chấm dứt giữa chừng do mưa bão.
+ Tác động trực tiếp đến hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch nhất là hệ thống
giao thông, cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí.
BĐKH toàn cầu với mực nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh tới cảnh quan, hệ
thống đảo, hang động và đa dạng sinh học của Vịnh Hạ Long là điểm thu hút lượng
khách lớn nhất tỉnh.
Quảng Ninh với 250 km đường bờ biển và hơn 700 hòn đảo lớn nhỏ, xói lở bờ biển
và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguy hiểm. Theo kịch bản
dâng cao mực nước biển Việt Nam đến 2050 nước biển sẽ dâng cao thêm 33 cm, theo
quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ là 330 m- 3300 m, có nghĩa là
rất nhiều bãi tắm đẹp của tỉnh hiện đang thu hút lượng khách lớn sẽ có nguy cơ mất trắng.
1.3.2. Tác động đến ngành nuôi trồng thủy hải sản
Trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, BĐKH tác động đến sản xuất
nông nghiệp và an ninh lương thực rất lớn, đó là biến động về diện tích đất canh tác do
nước biển dâng (vùng ven đầm phá); biến động về năng suất sản lượng cây trồng và vật
nuôi; thay đổi cơ cấu, thời vụ cây trồng vật nuôi; biến đổi về nhu cầu nước; quy hoạch và
phát triển hệ thống đê sông, đê bao, hệ thống cấp thoát nước, tưới tiêu. Đặc biệt là, trong
7
lĩnh vực thuỷ sản, BĐKH tác động tới diện tích nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, năng
suất, sản lượng và giải pháp bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản.
Nhiệt độ nước biển tăng làm nguồn lợi thuỷ hải sản phân tán. Các loài cá nhiệt đới
tăng lên, các loại cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao giảm. Trữ lượng các loài hải sản
kinh tế bị giảm; do vậy sản lượng đánh bắt cũng như thu nhập sẽ giảm. Hiện tượng
ENSO tăng làm thay đổi vị trí mật độ cá thông qua cấu trúc các vùng nước chồi, nước
thụt, dòng hải lưu giảm. Nước biển dâng tác động mạnh nhất đến hệ thống đầm phá đã và
đang được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản. Nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m thì
toàn bộ hệ thống bờ ngăn, đê quai hiện có sẽ không còn khả năng sử dụng; nhiều diện
tích nuôi trồng thuỷ sản sẽ chìm trong nước mặn. BĐKH sẽ làm gia tăng các hiện tượng
thời tiết bất lợi như bão, lũ. Thời gian ảnh hưởng của bão kéo dài, tần suất xuất hiện bão
thường xuyên hơn làm giảm thời gian đánh bắt, chi phí xăng dầu phòng tránh bão lớn.
Bão lụt phá hoại nhiều ngư cụ khai thác cố định trên đầm phá, biển (nghề mò sáo, đáy,
lồng cá,..) tăng chi phí sửa chữa Lũ lụt lớn thường xuyên xảy ra làm biến đổi dòng chảy
của các vùng cửa sông ảnh hưởng đến hành trình tàu thuyền khai thác thuỷ sản, các luồng
di cư sinh trưởng của cá. Nước biển dâng tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các vùng cửa
sông như sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Mông Dương.... ảnh hưởng
xấu đến đất nông nghiệp. Đồng thời, độ mặn đầm phá tăng lên làm cho các hệ sinh thái
đầm phá đặc trưng có nguy cơ bị biến mất, nguồn lợi thủy sản nước lợ suy giảm. Nước
ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở
các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất
đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh. Diện tích và
sản lượng nuôi trồng thủy sản có tăng lên hoặc chuyển đổi qua các loại hình nuôi xen
ghép và thay đổi cơ cấu giống vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao hơn; nhưng dịch bệnh
cũng phát triển phức tạp và khó kiểm soát. Năm 2010, tình hình thời tiết diễn biến phức
tạp, các đợt nắng nóng và gió mùa xen nhau trong thời gian ngắn 1- 2 ngày. Vì vậy, nhiệt
độ chênh lệch và thay đổi đột ngột đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của các loài
nuôi trồng thủy sản.
Thời tiết biến động mạnh làm ảnh hưởng đến mùa vụ nuôi trồng, dịch bệnh phát
sinh ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng. Dịch bệnh đã gây không ít khó khăn cho người
nuôi trồng thuỷ sản. Đã có trên 240ha tôm nuôi bị mắc các bệnh đốm trắng, đỏ thân, teo
gan... chủ yếu tập trung ở các địa phương Yên Hưng, Móng Cái, Đầm Hà, Tiên Yên, Hải
8
Hà. Một số vùng nuôi cá nước ngọt ở Uông Bí, Yên Hưng, Đông Triều có hiện tượng cá
chết rải rác do bị bệnh nhiễm vi khuẩn, đối tượng chủ yếu là cá rô phi. BĐKH sẽ làm
thay đổi môi trường tự nhiên dẫn đến biến đổi đa dạng sinh học, tập tính sống của các
loài động thực vật thuỷ sinh; biến động nguồn giống trong tự nhiên.
Khi nhiệt độ tăng quá cao, động vật nuôi trong các ao hồ có thể chết, chậm lớn, ăn
kém... làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng; các chủng vi khuẩn, nấm phát triển
nhanh, mạnh gây ra dịch bệnh. Hiện tượng phú dưỡng trong ao nuôi, ngoài đầm phá xuất
hiện. Đây là một yếu tố bất lợi cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.
Như vậy, lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy sản đang và sẽ là lĩnh vực chịu tác
động lớn của BĐKH trong tất cả các lĩnh vực kinh tế của tỉnh Quảng Ninh.
1.3.4. Tác động đến môi trường và sức khỏe con người
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động trực tiếp lên môi trường, đời sống sinh
hoạt, tài nguyên nước,.. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan đã gây ra các thảm
họa về môi trường, làm gia tăng các loại bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới
đời sống, sức khỏe người dân trên phạm vi toàn thế giới, nhất là các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam.
BĐKH là môi trường để một số bệnh gia tăng. Báo cáo của Diễn đàn Nhân đạo
toàn cầu (GHF) cho thấy, do ảnh hưởng của BĐKH, trên thế giới mỗi năm làm chết
300.000 người. Trong đó, 90% do môi trường suy thoái, 99% tử vong là từ các quốc gia
đang phát triển, vốn đóng góp chưa đến 1% lượng khí thải cacbon gây tình trạng ấm dần
lên toàn cầu. Đồng thời, cũng cảnh báo BĐKH sẽ khiến toàn bộ mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ (MDG) về giảm đói nghèo, trẻ em chết yểu và lan tràn dịch bệnh sẽ khó thành
hiện thực. BĐKH khiến hàng trăm triệu người thiếu nước sinh hoạt năm 2003.
Hậu quả của BĐKH cho đến nay vẫn được ví như “khủng hoảng im lặng”, do ít
được chú tâm. Khủng hoảng này đang đe dọa tới sức khỏe cộng đồng, sản lượng lương
thực và an ninh quốc gia. Các nhà khoa học, các chuyên gia đã cảnh báo, BĐKH đe dọa
gây thiệt hại tương đương một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân và kêu gọi các nhà lãnh đạo
trên thế giới khẩn trương giải quyết vấn đề này.
9
Hiện nay, các nhà khoa học và y học ngày càng quan tâm đến sự gia tăng của các
bệnh nhiệt đới, các bệnh do nguồn nước, môi trường ô nhiễm gây ra. Ngoài ra, còn rất
nhiều các vấn đề về sức khỏe có liên quan đến BĐKH. Tổ chức Y tế thế giới (WHO),
trong Ngày Sức khỏe thế giới đã nhấn mạnh vào mối liên hệ giữa sức khỏe và sự nóng
lên của Trái Đất. Thông điệp cho thấy, sự BĐKH làm sức khỏe của con người giảm đi rất
nhiều lần, đây là điều mà các bác sĩ cần phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với hậu quả
của nó.
Việt Nam là một trong những nước phát triển chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH,
thiên tai, lũ bão, chiều cường, hạn hán xảy ra thường xuyên. Ô nhiễm nguồn nước, môi
trường thay đổi, nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi sự phân bố và gia tăng các bệnh truyền
nhiễm do nguồn nước và thực phẩm bị ô nhiễm… Do biến động cả về số lượng và mức
độ gây hại của các trung gian truyền bệnh như: Muỗi, ruồi, chuột, điều này đã làm gia
tăng các bệnh truyền qua vật chủ trung gian. Các đợt nóng xuất hiện ngày càng nhiều hơn
và cường độ mạnh hơn sẽ làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong, nhất là người nghèo, người
già và trẻ em.
Thời gian vừa qua, Việt Nam đã và đang nỗ lực triển khai nhiều biện pháp, nhiều
chương trình mục tiêu quốc gia nhằm kiểm soát và phòng chống các bệnh dịch, nâng cao
nhận thức người dân, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy vậy, do ảnh hưởng ngày càng
mạnh mẽ của BĐKH nên một số bệnh dịch như: Bệnh thương hàn, tả, sốt rét, cúm A
(H5N1), sốt xuất huyết… vẫn xuất hiện nhiều tại một số địa phương, nhất là một số bệnh
dịch truyền nhiễm có nguy cơ bùng phát và lây lan rộng làm ảnh hưởng tới đời sống sức
khỏe người dân.
Ở các vùng ven biển, miền núi, những người nông dân, phụ nữ và trẻ em là những
đối tượng chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH. Để ứng phó với BĐKH, giảm thiểu
việc ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, các tỉnh, thành phố đã, đang khẩn trương đánh
giá tác động của BĐKH đến các khu vực, các lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị tổn thương, từ đó
các giải pháp ứng phó giảm thiểu những tác động lây truyền của dịch bệnh đến người
dân… Bộ Y tế đã xây dựng kế hoạch ứng phó, góp phần hạn chế các bệnh dịch, trong đó
có các nhiệm vụ: Lập bản đồ các khu vực bị ảnh hưởng của BĐKH đối với sức khỏe
người dân; tổ chức tuyên truyền cho các cán bộ, nhân viên ngành Y tế và cộng đồng các
kiến thức về tác động của BĐKH; huy động sự tham gia của cả cộng đồng trong công tác
10
ứng phó nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; tổ chức các chiến dịch truyền
thông về BĐKH tới sức khỏe tại các khu vực nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng…
1.3.5. Tác động đến ĐDSH
Tỉnh Quảng Ninh là vùng ven biển, có vườn Quốc gia Bái Tử Long có giá trị
ĐDSH cao với các hệ sinh thái rừng, ĐDSH biển với rạn san hô và các nguồn lợi thủy
sản, do đó là một trong những vùng chịu hậu quả nặng nề nhất của BĐKH.
Có thể phân tích tác động của BĐKH tới ĐDSH dựa trên các hậu quả của BĐKH
gây ra gồm: nước biển dâng, nhiệt độ tăng, chu kỳ sinh khí hậu thay đổi (số ngày có nhiệt
độ < 200C giảm và số ngày có nhiệt độ > 250C tăng; tổng lượng nhiệt tăng, nhiệt độ tối
thấp tăng); tài nguyên nước thay đổi - suy giảm về trữ lượng; thiên tai (lũ lụt, lũ quét, hạn
hán, sạt lở) xảy ra với cường độ và tần suất cao hơn.
Mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn/các hệ sinh thái đất
ngập nước ĐNN và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các khu bảo
tồn thiên nhiên, sinh quyển. Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích
hợp của một số loài thủy sản nước ngọt. Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái
rong biển giảm, dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng
cho sinh vật đáy. Do vậy chất lượng môi trường sống của nhiều loại thủy sản xấu đi.
Rừng ngập mặn ở Quảng Ninh có mật độ trên 10.000 cây/ha với tổng diện tích 100 ha.
phân bố tại một số địa điểm chính như : Vụng Cái Quýt, Vụng Lỗ Hố, Thung áng Cái
lim… Hệ sinh thái rừng ngập mặn là nguồn cung cấp thức ăn vô cùng phong phú cho
nhiều loài hải sản, là nơi cư trú, bãi đẻ, của các loài tôm, cua, cá, sá sùng,...là nơi ở và
kiếm ăn của nhiều loài động vật trên cạn như : các loài thú móng guốc ăn thực vật, các
loài khỉ, nhiều loài chim. Nước biển dâng lên sẽ làm giảm diện tích rừng ngập mặn ảnh
hưởng đến nơi cư trú của các loài thủy sản trên.
BĐKH còn ảnh hưởng đến các thủy vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy...) qua sự thay
đổi nhiệt độ nước và mực nước làm thay đổi lớn tới thời tiết (chế độ mưa, bão, hạn hán,
cháy rừng, El Nino…), tới lưu lượng, đặc biệt là tần suất và thời gian của những trận lũ
và hạn hán lớn sẽ làm giảm sản lượng sinh học bao gồm cả các cây trồng nông, công và
lâm nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động thực vật bản địa, gây hậu quả nghiêm
trọng cho nền kinh tế. Bão, sóng nhiệt, lũ lụt, hỏa hoạn và những thay đổi điều kiện sinh
thái khác sẽ dẫn tới các thảm họa chết người, ốm đau, thương tích, suy dinh dưỡng và các
11
bệnh dịch mới, nhất là các bệnh do vectơ truyền có tỷ lệ tử vong cao. Một yếu tố quan
trọng trong đánh giá hậu quả của BĐKH là độ trơ của hệ thống khí hậu: sự thay đổi của
khí hậu xảy ra từ từ và khi sự thay đổi đáng kể xảy ra thì khó đạt lại trạng thái ban đầu.
Do đó, thậm chí khi nồng độ các chất gây ra hiệu ứng nhà kính đã được ổn định thì sự ấm
lên của Trái đất vẫn tiếp tục xảy ra trong vài thập kỷ và mực nước vẫn tiếp tục tăng lên
trong hàng thế kỷ tiếp sau.
Nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều
HST: các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các HST ven biển và có xu hướng chuyển dịch
lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các HST trên cạn, các loài ôn đới sẽ giảm đi, cấu trúc
chuỗi và lưới thức ăn cũng thay đổi.
Cụ thể, nhiệt độ tăng gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực,
ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật. Một số loài di chuyển lên phía Bắc giảm
hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố thủy sinh vật theo chiều sâu. Quá trình
quang hóa và phân hủy các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của
sinh vật. Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các
hoạt động sống khác làm giảm năng suất và chất lượng thủy sản. Suy thoái và phá hủy
các rạn san hô, thay đổi các quá trình sinh lý, sinh hóa diễn ra trong mối quan hệ cộng
sinh giữa san hô và tảo. Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong
một thời gian dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu,
ngao, sò…) bị chết hàng loại do không chịu nổi với nồng độ muối thay đổi.
Đối với hệ sinh thái rừng, BĐKH làm thay đổi số lượng và chất lượng hệ sinh thái
rừng, đa dạng sinh học. Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ làm
thay đổi sự phân bố và khả năng sinh trưởng của các loài thực vật và động vật rừng.
Nhiều loài cây nhiệt đới ưa sang sẽ di cư lên các vĩ độ cao hơn và các loài cây á nhiệt đới
sẽ mất dần. Số lượng quần thể các loài động vật rừng quý hiếm sẽ ngày càng suy kiệt và
nguy cơ tuyệt chủng tăng. Nhiệt độ tăng và hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ cháy
rừng, nhất là các rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng
lượng phát thải khí nhà kính, làm gia tăng BĐKH và tạo điều kiện cho một số loài sâu
bệnh hại rừng phát triển. Chức năng và dịch vụ môi trường (điều tiết nguồn nước, điều
hòa khí hậu, chống xói mòn…) và kinh tế của rừng bị suy giảm
12
1.4. Những hành động giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu
và phát triển bền vững
1.4.1. Những biện pháp giảm thiểu tác động của BĐKH
a. Những biện pháp khoa học công nghệ và kỹ thuật
+ Phát triển công nghệ sạch trong công nghiệp đó là sử dụng máy móc trang thiết
bị hiện đại không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, tăng hiệu suất sử dụng nhiên liệu giảm
lượng khí thải, phát triển các dòng sản phẩm thân thiện với môi trường như tủ lạnh không
dùng CFC, xe ô tô chạy bằng hidro.
+ Quảng Ninh là tỉnh giáp biển, với 252km đường biển. Nên việc tìm ra những
nguồn năng lượng sạch như gió, mặt trời, sóng, là việc cần ưu tiên.
+ Tăng diện tích che phủ rừng, trồng rừng vừa phát triển lâm nghiệp, vừa giảm
CO2 do rừng là là phổi xanh của trái đất, thông qua hoạt động quang hợp cây đã hấp thụ
CO2 đồng thời thải ra O2
+ Trong số các kĩ thuật CDR được đưa ra, những biện pháp sau được xem tiềm
năng hơn cả:
• Tách khí CO2 trong không khí và lưu trữ chúng - đây là một biện pháp geoengineering
rất được quan tâm do nó làm thay đổi trực tiếp nguyên nhân của biến đổi khí hậu.
• Tăng cường phong hóa - đây là biện pháp tận dụng các phản ứng tự nhiên của CO2
trong không khí với đá và các chất khoáng, và được xem như một lựa chọn dài hạn khả
quan.
• Sử dụng đất và trồng rừng – báo cáo chỉ ra rằng quản lý việc sử dụng đất đóng vai trò
tuy nhỏ nhưng quan trọng trong việc giảm mức tăng CO2 trong khí quyển.
+ Khi nhiệt độ tăng tới mức báo động và cần đến những biện pháp nhanh chóng
hơn, các kĩ thuật SRM sau đây tỏ ra khả quan hơn cả:
• Phun sulfur vào tầng bình lưu để tạo ra các đám mây bức xạ ánhsáng mặt trời – đây là
một biện pháp khả thi, các đợt phun trào núi lửa trong quá khứ chính là những cuộc thử
nghiệm sơ bộ ngắn hạn cho mức độ hiệu quả của biện pháp này. Chi phí được đánh giá
là tương đối thấp và thời gian thực hiện ngắn. Tuy nhiên, vẫn có nhiều câu hỏi lớn xung
quanh tác động phụ cần được trả lời, đặc biệt là việc phá hủy tầng bình lưu.
• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu (albedo) của mây, tăng lượng mây
• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu của mặt đất (các kỹ thuật SRM, bao
gồm sơn trắng mái nhà, trồng cây có khả năng phản chiếu ánh sáng và đặt gương phản
13
quang trên sa mạc) – đây là những biện pháp tỏ ra không mấy hiệu quả, chi phí đắt đỏ và,
trong một số trường hợp, có thể gây ra những tác động nghiêm trọng tới thời tiết trong
vùng.
b. Giải pháp về quản lý
- Cần phải xây dựng và thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng ngừa và giảm
thiểu thiệt hại trước, trong, sau thiên tai xảy ra.
- Nghiên cứu phân tích thiên tai xảy ra ảnh hưởng của nó đến con người từ đó
tuyên truyền tăng cường nhận thức của người dân.
- Xem xét gốc rễ vấn đề giải quyết nguyên nhân
- Dự báo, chuẩn bị sẵn sàng, hành động khẩn cấp, kịp thời.hiệu quả khi thiên tai xảy
ra
- Khôi phục đời sống sau thiên tai
Việt nam là một nước nằm trong khu vực trung tâm bão phía tây Thái Bình
Dương, hằng năm phải hứng chịu một số lượng bão lớn cả về tần suất và cường độ ngoài
ra còn có lốc, lũ, sét…Vì vậy công tác quản lý phòng tránh giảm thiểu những tác động
lớn của thiên tai càng phải chú trọng
c. Giải pháp về cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism) là
cơ chế hợp tác được thiết lập trong khuôn khổ nghị định thư Kyoto(Nhật Bản) tháng 12
năm 1992 nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng gia tăng phát thải khí nhà kính đưa ra
các mục tiêu giảm phát thải chính và thời gian thực hiện cho các nước phát triển, theo đó
các nước phát triển hỗ trợ, khuyến khích các nước đang phát triển thực hiện các dự án
thân thiện với môi trường, nhằm phát triển bền vững.
2. Các biện pháp thích ứng với BĐKH
a. Định nghĩa “Thích ứng với BĐKH”:
- Là một quá trình, qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu
đến sức khỏe, đời sống đồng thời sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường mang lại.
Thích ứng với khí hậu hiện tại không đồng nghĩa với sự thích nghi với BĐKH
trong tương lai.
Sự thích ứng diễn ra ở cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội.
b. Các phương pháp thích ứng.
14
Chấp nhận sự tổn thất: phương pháp thích ứng này là phản ứng cơ bản “không làm
gì cả”
Chia sẻ tổn thất: chia sẻ tổn thất giữa cộng đồng dân cư, bảo hiểm.
Làm thay đổi nguy cơ: giảm nhẹ BĐKH.
Ngăn ngừa các tác động: thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động của
BĐKH và bất ổn cùa khí hậu.
Thay đổi cách sử dụng: BĐKH khiến các hoạt động kinh tế không thể thực hiện
được thì có thể thay đổi cách sử dụng.
Thay đổi/chuyển địa điểm: thay đổi/ chuyển địa điểm các hoạt động kinh tế.
Nghiên cứu: Phát triển công nghệ mới và phương pháp mới về thích ứng.
Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: phổ biến kiến thức thông
qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục dẫn đến việc thay đổi hành vi.
c. Một vài ví dụ về hoạt động thích ứng với BĐKH.
a)
Trong lĩnh vực dịch vụ công nghiệp, dịch vụ.
Nhà chống bão giúp hàng trăm người vượt thiên tai
Qua kinh nghiệm của khoảng thời gian phục vụ trong quân đội từ năm 1979 đến
những năm 2000, kỹ sư Hà Trọng Dũng đặt ra ba tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu cho nhà
cơ động HD-21N là: nhanh chóng, mạnh mẽ và hiệu quả.
Mỗi ngôi nhà cơ động HD-21N có diện tích là 16 m2 (3m x 6m) hoặc 24 m2 (4m
x 6m), trọng lượng chưa tới 200 kg, có thể lắp đặt xong trong vòng một giờ, đặt được trên
mọi địa hình có bề mặt phẳng, kể cả phao trên sông và di chuyển dễ dàng với bốn người
khiêng.
Những ngôi nhà này còn được thiết kế theo dạng mở, có thể dễ dàng mở rộng diện
tích ra trước sau hoặc hai bên bằng các vật liệu bổ sung và nâng chiều cao của mái theo ý
muốn của người sử dụng.
Phần khung được làm bắng những tuýp nước mạ kẽm chống han gỉ và có khả năng
chịu lực rất cao. Toàn bộ khung nhà được lắp ghép thành một khối hình học vững chắc
với mặt đế là một khối liên kết ngang có trọng tâm chịu lực ở giữa.
Phần vách được làm bằng những tấm pano nhựa nhẹ và bền, trong trường hợp
chuyển đổi thành nhà sử dụng lâu dài có thể thay bằng vật liệu kiên cố hơn như xi măng.
15
Phần mái được lợp bằng tôn, căng bằng bạt hoặc sử dụng các vật liệu sẵn có ở địa
phương, tùy thuộc từng hoàn cảnh cụ thể.
Mô hình đã triển khai tại một đơn vị xây dựng ở thành phố Hạ Long, Quảng Ninh
và nhà kỹ sư Dũng. Tại tầng thượng nhà ông Dũng, trong một ngõ hẻm của phố Hàng
Đậu, nhà cơ động HD-21N được dựng mô phỏng nhà của một gia đình nông dân trong
điều kiện lũ lụt ập đến bất ngờ.
Khi nước dâng cao, vách nhà sẽ được rút để không cản trở luồng lưu thông của lũ,
phần trần nhà được kê các vật liệu sẵn có như ván, thân tre, nứa sẽ trở thành tầng gác
dùng làm nơi ở và chứa đồ đạc, còn cửa sổ thành thang leo.
b.Trong lĩnh vực xã hội.
Khuyến khích người dân dùng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng và thân thiện
với môi trường: - sử dụng bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời để góp phần giảm
thiểu nguồn điện năng tiêu thụ.
Sử dụng bóng đèn compact trong thắp sáng.
Tắt các thiết bị điện không cần thiết để giảm lượng điện năng tiêu thụ.
Tuyên truyền sâu rộng tới cộng đồng dân cư về những biện pháp đối phó với các
thảm họa thiên tai có thể xảy ra.
Hưởng ứng tích cực các hoạt động như “giờ trái đất”
Tài liệu tham khảo
1. http://www/dadangsinhhocvietnam.com.vn
2. Trần Trung Dũng, Đánh giá hiện trạng đất nương rẫy trên cao nguyên Buôn Ma Thuột.
Đề xuất phương hướng sử dụng hợp lý, luận văn tiến sĩ, Hà Nội 2000
3. />4. vukehoach.mard.gov.vn/DataStore/chienluoc/657QuangNinh.doc
16
5. Ảnh hưởng của BĐKH đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, Trần Thị Tú, Trần Hiếu
Quang, Viện Tài nguyên Môi trường và Công nghệ sinh học
17