Câu 1 :Phân tích định nghĩa vật chất của Lê Nin ?ý thức phương pháp luận
của định nghĩa.
Trong lịch sử triết học phạm trù vật chất đã làm xuất hiện các cuộc dấu tranh
gay gắt giữa chủ nghĩa duy tâm va chủ ngĩa duy vật,giữa phương pháp biện
chứng và phương pháp siêu hình .
Chủ nghĩa duy tâm luôn tìm mọi cánh phủ nhận chủ nghĩa duy vật họ cho rằng ,
vật chất chỉ là sản phẩm của một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể do ý chúa,
phi hiện thực một sự nhào nặn chủ quan chủa các nha duy vật ma thôi.
Vào thời đại của mình Mác – Ă nghen đã đưa ra quan niệm khái quát về vật
chất ‘vật chất với tính cánh là vật chất là một sự sáng tạo thuần túy của tư duy ,
la một điều trìa tượng hóa thuần túy khác với nhuwg vật chất nhất định và đang
tồn tại, vật chất
Với tính cánh là vật chất không tồn tại cảm tính’.Như vậy Mac – Ăng hen đã
nêu lên tư tưởng cơ bản vật chất là cái tồn tại khách quan ở trong các sự vật hữu
hình, ở bên ngoài ý thức và để hiểu được vật chất thì phải trừu tượng hóa nó
không phải là một dang cụ thẻ nào đó ma chỉ bằng cảm tính người ta có thể
nhận biết được .Tuy nhiên , vào thời kỳ của Mác – Ăng hen chưa đưa ra được
một định nghĩa vật chất mang tính kinh điển mà nêu ra nhưng nội dung bản chất
về nội hàm phạm trù vật chất trong triết học duy vật biện chứng.
Vào cuối thé kỉ XIX đầu thế kỉ XX khoa học tự nhiên và và những điều kiện về
lịch sử , kinh tế và xã hội , đã có những thay đổi lớn liên quan trực tiếp đến vấn
đề cơ bản của triết học và đòi hỏi phải có nhận thức mới, quan niệm mới về vật
chất.
Trên lĩnh vực khoa học tự nhiên:
Năm 1895 Rơnghen đã phát hiện ra tia X, đó là 1 loiaj sóng điện từ có bước
sóng cực ngắn, 1 hiên tượng mới lạ về vật chất tồn tại dưới dạng sóng.
Năm 1896 Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ điều đó chứng tỏ nguyên
tử không phải là cái bất biến như quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Năm 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử là 1 thành phần cấu tạo nên nguyên tử.
Năm 1901 Kaufman đã chứng minh được khối lượng điện tử không phải là đại
lượng tĩnh mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử.
Với những phát minh đó quan niệm xưa cũ về nguyên tử với tư cách là vật chất
đã trở nên lạc hậu, những quan niệm về giới hạn cuối cùng của vật chất là
nguyên tử, rồi nó không thể phân chia được rồi khối lượng của nó không thể thay
đổi đã suy sụp trước đó những phát minh khoa học, điều này gây ra sự Hoang
mang cho các nhà khoa học tự nhiên trên lĩnh vực vật lý học. Những người theo
CNDT đã lợi dụng cơ hội này để tấn công CNDV để phủ nhận CNML từ nên
tảng của nó là VC, họ cho rằng VC đã tiêu tan vì vậy CNDV k có cơ sở.
Trên lĩnh vực CT-XH:
1
Vào đầu Tk XX trung tâm của CMTG đã chuyển dịch từ Tây Âu về Đông Âu và
tập trung ở nước Nga những mâu thuẫn về dân tộc, giai cấp đang dần chín mùi.
Điều kiện khách quan và chủ quan cho 1 cuộc CM ở Nga đang dần được hội tụ.
Cuộc chiến tranh trên bình diện ý thức diễn ra gay gắt quyết liệt giữa 1 bên là
CNM chân chính vơi 1 bên là CN cơ hội dưới nhiều màu sắc. Vấn đề cần phải
bảo về và phát triển CNM trong thời kỳ mới được đặt ra 1 cách trực tiếp.
Từ yêu cầu của việc giải quyết cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực vật lý và bảo vệ
CNM chống lại CNDT,CN cơ hội; từ yêu cầu chuẩn bị về mặt lý luận cho cuộc
CMVS đang tới gần thì Lenin đã viết 1 tác phẩm nổi tiếng ‘‘ CNDV và CN kinh
nghiệm phê phán’’. Chính trong tác phẩm đó ông đã đưa ra 1 định nghĩa KH
mang tính kinh điển về VC đó là:
‘‘VC là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta sao lại, chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không phụ thuộc và cảm giác’’
Về nội dung ý nghĩa
Trước hết Lenin khẳng định ‘‘VC là 1 phạm trù triết học’’ tức là VC là đói
tượng nghiên cứu của triết học. Nó là VC nới chung, vô hạn, vô tận, k sinh ra, k
mất đi.
Đồng thời quan niệm VC là 1 phạm trù triết học nhằm tránh nhầm lẫn với VC
theo quan niệm của các ngành KH # , mỗi ngành KH chỉ nghiên cứu 1 lĩnh vực ,
1 phạm vi nhất định của hiện thực vật chất, do vậy phạm trù của nó cũng chỉ
phản ánh VC ở lĩnh vực nhất định của hiện thực.
Thuộc tính chung nhất, cơ bản nhất của VC là ‘‘thực tại khách quan’’. Theo
Lenin thực tại là tất cả những gì tồn tại còn khách quan là bên ngoài, độc lập với
ý thức của con người .Tất cả những gì tồn tại bên ngoài ko phụ thuộc vào ý thức
con người đều thuộc vào phạm trù vật chất .Đây là thuộc tính cơ bản của mọi
dạng vật chất khác nhau , cái căn bản đẻ pân biệt vật chất với ý thức , ý thức
cũng là cái có thực ,là tồn tại ,tuy nhiên nó tồn tại trong bộ óc con người tức tồn
tại chủ quan, do đó nó ko thể là vật chất. Điều là những dang khác nhau của vật
chất ,kể cả các quan hệ sản xuất của XH,Quan hệ SX tuy ko tồn tại dưới dang
vật thể ,ko có cấu trúc dưới dang nguyên tử ,pân tử nhưng chúng lại tồn tại một
cánh khách quan và độc lập với ý thức
Phần đưa các khoa học ra khỏi cuộc khủng hoảng lúc bấy giờ về mặt thế gới
quan trong lĩnh vực vật lý học cũng như trong khoa học tự nhiên , do vậy nó đã
có vai trò định hướng , vạch ra cho các dạng # nhau cua VC tìm ra PP cải tạo
TG ngày càng có hiệu quả .
Khắc phục được những thiếu sót khiếm khuyết của chủ nghĩa duy vật trước Mac
về VC hoặc quy luật vào 1 thuộc tính cụ thể nào đáy của nó.
2
Định ngĩa VC của Le nin về VC chống lại các quan điểm duy tâm cả khách
quan và chủ quan về VC , đồng thời nó khắc phục được cả quan điểm duy tâm
về đòi sống Xh.
Bảo vệ và phát triên triêt học Mc xít lên 1 tầm cao mới , đấu tranh quyết liệt với
chủ ngĩa duy tam khách quan và chủ quan.
Là cơ sở để xác định những dạng VC cụ thể đặc biệt là VC trong lĩnh vực XH.
Định nghĩa VC trở thành cơ sở lý luận và phương pháp luận hết sức quan trọng
cho khoa học công an nhất la những vấn đề liên quan đến khoa học
Của con người ,Quan hệ SX chính là vật chất dưới dạng XH.
‘VC là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác …và tồn
tại ko lệ thuộc vào cảm giác,
Ở đây Lê nin khẳng định , VC là tính thứ 1, là nguồn gốc khách quan của cảm
giác ,ý thức .VC nó ko tồn tại 1 cánh vô hình trừu tượng mà nó tồn tại hiện thực
,cụ thể, cảm tính và khi nó tác động vào cảm quan một cánh trực tiếp hay gián
tiếp thì gây ra cảm giác ở con người .Mặt # ý thức của con người chẳng qua chỉ
là sự phản ánh VC ma thôi , như vậy ở trong quan hệ giữa VC và ý thức thì vật
chất là cái có trước và quyết định ý thức ‘Được cảm giác chúng ta chép lại ,
chụp lại,phản ánh’
Theo Lê nin Vc la cái được cảm giác của chúng ta chép lại,chuoj lại ,phản ánh.
Trên cơ sở sự tác động của sự vật khách quan lên các cơ quan cảm giác , con
người có được hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Như vậy , thông qua
cá giác quan mà con người có theerr nhận thức được thế giới bên ngoài .Khả
năng đó chính là xuất phát từ t
Thuộc tính ‘tồn tại cảm tính’, nghĩa là sự tồn tại có thể nhân thức được
Về phương pháp định nghĩa :
VC là 1 trong những phạm trù rộng nhất trong triết học nên ko thể định nghĩa nó
bằng phương pháp thông thường la quy khái niệm cần định nghĩa vào khái niệm
rộng hơn và chỉ ra những đặc điển # biệt Ví dụ khi định nghĩa về ANQG thì
‘ANQG là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ XH, độc lập , chủ quyền
,thống nhất ,toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của 1 quốc gia;.
Leenin đã định nghĩa VC đặt nó trong quan hẹ với cái đối lập ,tức với ý thức ,và
chỉ ra những thuộc tính căn bản , phổ biến để pân biệt VC với ý thức .Leenin
chính là người đầu tiên sử dụng phương pháp khoa học này đẻ định nghĩa pạm
trù Vc.
Ông khẳng định :’VC ko là cái gì khác hơn là thực tại khách quan tồn tại độc lập
với ý thức của con người và đượng ý thức phản ánh ‘.
Sự đối lập giữa VC và ý thức vừa mang nghĩa tuyệt đối bừa mang ngĩa tương
đôií Tuyệt đối là trên phương diện nhận thức để xác định về mặt bản thể luận cái
gì là v
3
Cái gì là VC, cái gì ko phải là vật chất để khẳng định VC có trước ý thức có sau.
Tương đối là giữa VC và ý thức có quan hệ với nhau, nguồn gốc nội dung của ý
thức có liên quan mật thiết với VC .Leenin đã nhấn mạnh :’Dĩ nhiên sự đối lập
giữa VC và ý thức có ý nghĩa hết sức hẹp trong vấn đè nhận thức luận về cơ bản
là thừa nhận cái gì có trước ,cái gì có sau.
Ngoài ra ko còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối’’.
Ý nghĩa khoa học của định nghĩa :
Định nghĩa VC của Lê nin đã giải pháp được đầy đủ 2 mặt của vấn đè cơ bản
của triết học trên lập trường duy vật biện chứng , là khát quát hóa , trừu tượng
hóa cao độ, khẳng định được thế giới VC.Nó là cơ sở để định hướng vững chắc
cho TG quan triết học duy vật giúp chúng ta xác định được cái VC trong lĩnh
vực XH, đó chính là các quan hệ XH tóm lại độc lập với ý thức của con người.
Định nghĩa VC của Lê nin là kết quả của sự khát quát hóa các thành tựu của
khoa học tự nhiên và đã đóng góp
4
Câu 2 :QUAN ĐIỂM MAC XIT VỀ VẬN ĐỘNG – Ý NGHĨA CỦA
NÓ(VẬN ĐÔNGLÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT VÀ
LÀ THUỘC TÍNH CỐ HƯU CỦA VẬT CHẤT .HIỂU NHƯ THẾ NÀO
VỀ NGUYÊN LÝ NAY?Ý NGHĨA CỦA NÓ).
Trong lịch sử tồn tại của triết học và các trường phái triết học đã có rất nhiều
quan điểm # nhau đề cập tới phạm trù vận động. Phạm trù này xuất hiện sớm
trong lịch sử.
Quan điểm của CNDT :xuất phát từ việc phủ nhận sự tồn tại của VC CNDT
cũng phủ nhận luôn sự vận động của VC, họ chỉ thừa nhận rằng vận động là vận
động của thượng đế ,của thần linh và thượng đế, nó chỉ còn là vận động thuần
túy.
Quan điểm của CNDV siêu hình :Thừa nhận sự vận động của vật chất tuy nhiên
học cho rằng ,vận động chỉ là sự dịch chuyển vị trí của sự vật 1cách giản đơn và
mang tính cơ học vận động cơ giới và họ xác định nguyên nhân cùng các loại
hình cũng như nguyên nhân của sự vận động đó .Triết học Mac xít cho rằng vận
động là mọi sự biến đổi biên hóa nói chung . Ăng hen định nghĩa:’ Vận động
hiểu theo nghĩa chung nhất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi vị trí đơn giản
cho đến tư duy’’.
Như vậy # với những quan niệm thông thường trong triết học , vận động ko chỉ
đơn thuần là sự dịch chuyển ,thay đổi vị trí ko gian, ngược lại ,sự thay đổi vị trí
trong ko gian chỉ là 1 hình thức vận động thấp và đơn giản của VC. Với sự tồn
tại đa dạng và phong phú của nó ,VC còn nhiều hình thức vận đọng khác ,phức
tạp hơn nhiều so với vận động cơ học.
Triết học Mác – Lê nin khẳng định vận động gắn liền với VC ,ko có VC nào ko
vận động .Vận động là thuộc tính cố hữu của VC ,là phương thức tồn tại của VC
,điều đó có ý nghĩa VC tồn tại bằng sự vận động và thông qua vận động bộc lộ
sự tồn tại của mình, k thể có VC nào k vận động và ngược lại k thể có sự vân
động nào lại ko phải là vân động của VC ,ko thuộc VC và diễn ra bên ngoài VC
Bản thân sụ vận động của tư duy ý thức bản chất cũng chính là sản pảm của sự
vận động TG VC mà thôi .Mác Ăng hen khẳng định:
‘Các hình thức và các dạng khác nhau chỉ có thể được nhận thức thông qua vận
động , thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ thông qua vận động ,về 1 vật thể ko vận
động thì ko có gì để nói cả’’
Bất cứ 1 sự vật hiện tượng VC là 1 hệ thống bao gồm nhiều mặt , nhiều bộ phận
,nhiều yếu tố # nhau được sắp xếp theo 1 kết cấu nhất định và chúng có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau,ảnh hưởng tác động qua lại với nhau và chính sự tác động
qua lại vói nhau đó tạo nên sự biến đổi nói chung .Mọi sự biến đổi của VC ko
pải là do tác động của bên ngoài, nguồn gốc của sự biến đổi nằm ngay trong sự
vật .Vì vạy triết học Mác xít khẳng định vận động của VC là tự thân vận
5
động.Và bản thân vận động cũng ko do ai sáng tạo ra và ko bị tiêu diệt.Đây la 1
nguyên lý của cơ bản của chủ nghĩa biện chứng ,quy luật này nó được khẳng
định bởi luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của…theo định luật này thì
trong quá trình vận động và chuyển hóa sang 1 cái khác vật chất luôn được bảo
toàn cả về mặt lượng lẫn mặt chất.Nếu 1 hình thức vận động nào đó mất đi thì
tất yếu nảy sinh 1 hình thức vận động # thay thế nó.Các hình thức vận động có
sự dịch chuyển hóa lẫn nhau, còn vận động của VC thì vĩnh viễn tồn tại cùng sự
tồn tại của VC.
Quan diểm này trên của chủ nghĩa duy vật đối lập với quan điểm của các nhà
triết học theo chủ nghĩa duy tâm và siêu hình ,họ ko đi tìm nguồn gốc của sự
vận động về thần linh hoặc chủ thể nhận thức.
Vận động của VC là tuyệt đối la thương xuyên ko ngừng còn hiện tượng đứng
im chỉ là tương đối tạm thời và xét trong 1 quan hệ xác định nào đó về thực chất
đứng im chỉ là 1 dạng vận đọng đạc biệt đón là vận động trong trạng thái cân
bằng.
Ăng hen đã khẳng định.’’Cần pải hiểu tính bất diệt của vận động ko chỉ đơn
thuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nũa’’.
Thông qua sự vận động mà VC bộc lộ những đặc trưng ,đậc điểm ,những thuộc
tính của mình ,vận động của VC ở đây là vận động trong không gian và time ,nó
ko có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
Dựa trên những thành tựu khoa học của thế kỷ XIX và thành tựu của khoa học
hiện đại chủ nghĩa duy vật biện chứng đã phát hiện ra nhiều nnhuwngx hình
thức vận động mới của VC ,các hình thức vận động đó hết sức đa dạng và
phong phú tuy nhiên khát quát lại thì có 5 hình thức vận động cơ bản sau:
Vận đông cơ học : Thể hiện sự duy chuyển vị trí của các vật thể trong ko gian .
Vận động vật lý: Là sự vận động biến đổi của các phân tử ,các hạt nguyên tử
,quá trình nhiệt điện.
Vận động hóa học :Thể hiện quá trình biến đổi của các nguyên tố ,quá trình hóa
hợp ,phân giải các chất…
Vận động sinh học thể hiện ở hoạt động sống của cơ thể ,quá trình trao đổi chất
giữa cơ thể và môi trường.
Vận động xã hội thẻ hiện ở sự biến đổi thay thế lẫn nhau các chế độ XH ,các
hinh thái XH…
Tuy nhiên ở đây chúng ta cần chú ý rằng các hình thái vận động trên có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, Các hình thức vận động của VC pụ thuộc vào trình
độ tổ chức kết cấu của VC,Các hình thức vận động tồn tại ko tách rời nhau,1
hình thức vận động cao có thể bao hàm trong nó nhiều hình thức vận động
thấp , song nó lại luôn biểu hiện đặc trưng của hình thức vận động đó ,song hình
thức vận động ko thể chứa đựng hình thức vận động cao.
6
Mặt # ,các hình thức trên có sụ khác nhau về chất ,do dó ko thể quy các hình
thức vận động cao vào hình thức vận động thấp,mỗi kết cấu VC #nhau thi lựa
chọn 1 hình thức vận động phù hợp vói mình ,nhin chung kết cấu đơn giản thì
vận động thấp.Riêng đối với con người và xã hội con người thì hinh thức vận
động chủ yếu là vận động xã hội.
Trong sự tồn tại của mình ,mỗi 1 sự vật có thể gắn liền với nhieuf hình thức vận
động # nhau,Tuy nhiên ,bản thân sụ tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưng
bằng 1 hình thức vận động cơ bản.
Mọi liên hệ giũa các hình thức vận động còn biểu hiện ở sự chuyển hóa giũa
chúng ,Hình thức vận động này luôn có khả năng chuyển hóa thành hình thức
vạn động #.Ngoài ra các hình thức vận động này còn liên hệ với nhau qua
những mắt khâu giao tiếp có tính chất trung gian .KH càng phát triển thì phát
triển ngày càng nhiều các mắt khâu giao tiếp giữa nghành này và nghành #.
Việc phân loai hình thức vận động cơ bản như trên ,ăng hen đã đặt cơ sở cho sự
pân loại của các nghành KH tương ứng với đối tượng nghiên cứu cúa chúng và
chỉ ra được cơ sở của khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của các KH. Mặt
# tư tưởng về sự # nhau về chất và sự thống nhất của các hình thức vân động cơ
bản nó còn là cơ sở cho việc chống lại những khuynh hướng sai lầm trong nhận
thức, đó là đem quy hình thức vận động cao vào hình thức vận động thấp hơn và
ngược lại.
Ý nghĩa:
-Khi nghiên cứu và giải quyết 1 sự vật hay 1 vấn đề nào đó cần đặt nó vào trong
trạng thái vận động biến đổi, bởi chỉ có thông qua sự vân động thì SV mới bộc
lộ ra những đặc trưng đặc điểm, những thuộc tính của mình và phải thông qua
sự vận động biến đổi ấy để tìm hiểu xác định bản chất của vận động.
-Cần xác định đúng những hình thức vận động đặc trưng cho SVHT hay vấn đề
đang nghiên cứu, chống quan điểm siêu hình trong nhận thức và hành động thực
tiễn, cần xây dựng quan điểm động với tư duy năng động.
-Việc nhận thức sự thống nhất và sự khác nhau cảu các hình thức vận động nó
giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ và sự # biệt giữa trình độ VC # nhau,tránh
được khuynh hướng đơn giản hóa chủ nghĩa cơ giới dẫn đến thủ tiêu hình thức
này hay hình thức # của vận động,điều đó dẫn đến những sai lầm trong nghiên
cứu KH và thực tiễn XH.
-Trong giai đoạn hiên nay để phát triển đất nước công cuộc đổi mới cần quán
triệt quan điểm vận động và phát triển nhanh phát triển bền vững.
7
8
Câu 3: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
Ý thức là phạm trù cơ bản của triết học, trong lịch sử đã từng diễn ra cuộc đấu
tranh quyết liệt giữa quan điểm DT và DV giữa biện chứng và siêu hình, Triết
học ML định nghĩa: ý thức là sự phản ánh của TGKQ và trong bộ óc con người
là hình ảnh chủ quan về TGKQ.
Ý thức của loài người hình thành từ 2 nguồn gốc TN và XH
-Nguồn gốc TN: gồm bộ não người và sự phản ánh của TGKQ và trong bộ não
của con người. Dựa trên những thành tựu của KHTN nhất là sinh lý học thần
kinh, CNDV biện chứng khẳng định ý thức là 1 thuộc tính của VC nhưng k phải
của mọi dạng VC mà là thuộc tính của 1 dạng VC sống có tổ chức cao là bộ óc
con người. Bộ óc người là cơ quan VC đặc biệt, có cấu trúc phức tạp, hiện đại
với 14-15 tỷ nơ ron thần kinh. Bộ não người là sự tiến hóa lâu dài về mặt sinh
vật XH sau khi vượn tiến hóa thành người, óc vượn chuyên hóa thành óc người,
làm xuất hiện 1 kết cấu VC có tổ chức hoàn thiện, tinh vi phức tạp đó là bộ óc
của con người.
Bộ óc người là cơ quan VC để trong đó diễn ra các quá trình ý thức ,nhờ có hệ
thống thần kinh và hoạt động của hệ thống thần kinh trên vỏ não mà sự phản
ánh đã phát triển và hoàn thiện mang tính chủ động và sáng tạo .Không có bộ óc
người thì ko thể có ý thức ,khi bộ óc người bị tổn thương thì dẫn tới sự rối loạn
ý thức .Tuy nhiên nếu chỉ có bộ óc người thôi mà ko có sự tác động của thế giới
bên ngoài ,thì cũng chưa thể xuất hiện ý thức ,mà pải có sự pản ánh của bộ não
khi thế giới quan tác động.
-Pản ánh là thuộc tính phổ biến có ở mọi dạng VC đó là pản ánh.Pản ánh là sự
tái tạo những đặc điểm của hệ thống VC này ở 1 hệ thống VC # trong quá trình
tác đọng qua lại giauwx chúng .Phản ánh là quá trình từ thấp đến cao ,tương
ứng với quá trình tiến hóa của thế giới VC.Hình thức đầu tiên đơn ngianr nhát
đăc trưng cho giới tự nhiên vô cơ là pản ứng vật lý.hóa học .Sự pản ánh này còn
mang tính chất của sự pản ánh tâm lý ý thức ra đời đưa tới sự xuất hiện ý thức
-Nguôn gốc XH ý thức là sự phát triển của XH pụ thuộc vào XH,ngay từ đầu
tính chất XH.Quá trình hình thành lên ý thức ko phải chủ yếu nhờ vào tự nhiên
và sự tác động của tự nhiên vào con người mà chủ yếu nhờ vào hoạt động của
con người trong quá trình cải biến tự nhiên.\
-Nhờ vào hoạt động đặ biệt là hoạt động thực tiễn của mình trong đó trước hết
là hoạt động LĐSX con người tác động vào tự nhiên,bắt giới tự nhiên phải bộc
lộ những thuộc tính những đặc điểm ,những thuộc tính những đặc điểm ,những
quy luật thành những hiện tượng thông qua những hiện tượng đó con người có
tri thức về tự nhiên.
-Mặt # cũng thông qua lao động con người đã cải biến được bản thân mình theo
hướng ngày càng hoàn thiện .Các giác quan nhạy cảm hơn ,các hoạt động của
bộ óc năng động hơn nhờ vậy khả năng nhận thức về thế giói khách quan ngày
càng phát triển .Chính thông qua quá trình lao đông ấy ở con người xuất hiện
nhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm thông tin cho nhau…từ nhu cầu này đã làm
xuất hiện ngôn ngữ cả (tiếng nói chữ viết.)Ngôn ngữ là cái vỏ VC tu duy ,nó
9
vừa là công cụ vừa là phương tiện để thực hiện tu duy ý thức và đồng thời phát
triển ý thức .Ko có ngôn ngữ thi ý thức ko có cái để thể hiện cũng như để thực
hiện .Ăng hen khẳng định Trước hết là LĐ,sau LĐ và đồng thời với LĐ là ngôn
ngữ đó la hai kích thích tố chủ yếu làm hình thành lên ý thưc’’
-Tóm lại ý thức ra đời từ 2 nguồn gốc tự nhiên và XH vầ thiếu 1 trog hai nguồn
gốc ấy thì ý thức ko thể ra đời được ,trong đó nguồn gốc XH là chủ yếu mang
tinh quyết điịnh .
-Bản chất của ý thức là sự pản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con
người 1 cánh năng động sangs tạo.
Trc hết pải thừa nhận ý thức là cái pản ánh hiện thực khách quan là cái bị pản
ánh ,trong mối quan hệ này cái bị pản ánh tồn tại khách quan bên ngoài ,nội
dung của ý thức đương nhiên là hiện thực khách quan ,tuy nhiên hình ảnh về nó
còn phụ thuộc vào yếu tố chủ thể là con người chảng hạn về trình độ ,về tâm
trạng…
-Ý thức ko phải la sự pản ánh tùy tiện xuyên tạc cũng như ko pải là sự sao chép
giản đơn ,con người la 1 thực thể xã hội hoạt động của con người là năng động
sáng tạo vì vậy ý thức của con người cũng là sự pản ánh mang tính chủ động
,tính năng sang tạo.
-Tính năng động sáng tạo của ý thức được thể hiện đa dạng phong phú ,nó có
thể tao ra những tri thức mới về sự vật,có thể tượng tưởng ra những cái ko có
trong trực tế,có thể dự báo tiên đoán được tương lai,có thể tạo lên những cái ko
có trong thực tế tạo lên ảo tưởng ,những huyền thoại ,những lý thuyết khoa học
…
-Quá trình năng động sáng tạo của ý thức cũng là quá trình thống nhất của
những mặt sau đây:
-Là quá trình trao đổi thông tin gữa chủ thể và đối tượng phản ánh sự trao đổi
này có tính chất 2 chiều và có sự chọn lọc ,định hướng.
-Là quá trình mô hình hóa đối tượng trong tu duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.
-Là qua trình chuyển mô hình từ trong tu duy ra hiện thực khach quan tức là
thông qua hoạt động thực tiễn để thực hiện hóa các ý tưởng.
-Tính sáng tạo của ý thức ko có nghĩa là ý thức đẻ ra VC .Sáng tạo của ý thức là
sáng tạo của sự pản ánh ,sáng tạo theo quy luật và trong khuôn khổ của sự pản
ánh .chính thức tiễn XH của con người tạo ra sự pản ánh pức tạp sáng tạo năng
động của bộ óc .
-Ý nghĩa là 1 hiện tượng XH ,ra đời ,tồn tại gần với hoạt động thực tiễn của con
người chịu sự chi phối của các quy luật khách quan ,đặc biệt và chủ yếu là các
quy luật XH ,điều kiện hoàn cảnh ,trình độ XH …Vì thế ,ý thức mang bản chất
XH ,Mác đã nhấn mạnh : Ngay từ đầu ,ý thưc là một sản pẩm của Xh ,và là như
vậy chừng nào con người còn tồn tại.
10
Câu 4 : Mối quan hệ biện chứng giữa VC và ý thức ,ý nghĩa PP luận MQH
nay?
-Trong lịch sử tồn tại và phát triển của triêt học đã diễn ra cuộc đấu tranh gay
gắt giữa các trường phái triết học và các quan điểm triết học nhằm trả lời câu
hỏi VC và ý thức ,cái nào có trước ,cái nào quyết định cái nào giữa chúng có
quan hệ thế nào .Trước khi chủ nghĩa duy vậy biện chứng ra đời ,đã có rất nhiều
các trường phái và các quan điểm triết học khác nhau đi vào nghiên cứu ,tìm
hiểu nhằm trả lời câu hỏi trên tuy nhiên họ đều có những hạn chế nhất định ,rơi
vào quan điểm duy tâm hoặc duy vật siêu hình máy móc .
-Việc tìm hiểu về quan hệ giữa VC và ý thức có rất nhiều quan điển khác
nhau :chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là cái có trc VC,sinh ra VC ,chi phối
sự tồn tại và vận động của thế giới VC ,các sự vật hay TG VC chỉ là kết quả cho
sự phức hợp các cảm giác mà thôi .
-Các nhà duy vật trước Mác cũng chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa VC và ý
thức.Tuy nhiên ,do những hạn chế của sự nhận thức khoa học đương thời và do
ko nắm được pép biện chứng do đó họ ko thể giải thích nổi những vấn đề phức
tạp liên quan đến nguồn gốc của bản chất và ý thức.Các nhà duy vật siêu hình
mặc dù thừa nhận tunhs có trước của vật chất ,ý thức có sau ,xong họ chỉ thấy
vai trò ,tác động 1 chiều của vật chất mà ko thấy sự tác động trở lại của ý thức
với VC.
-VC và ý thức là 2 pạm trù cơ bản của triết học ,giữa chúng luôn có mối quan hệ
biện chứng với nhau,chỉ đến triết học Mác Lê nin quan hệ nay mới là sáng tỏ
trên lập trường duy vật và PP biện chứng .
-Còn quan điểm của Mác Lê nin khẳng định VC là tinh thứ nhất ý thức là tính
thứ 2 ,VC quyết định ý thức ,Sự khawnhr định này dưa trên căn cứ chủ yếu sau
đây :
-Xét về mặt time :Vc là cái có trước ,cái vô cùng vô tân , ko có điểm khởi đầu
và điểm kết thúc .Trong lịch sử tiến hóa ,ý thức là cái có sau ,ý thức chỉ xuất
hiện cùng với sự xuất hiện của loài người.
-Xét về mặt nguồn gốc : ý thức được hình thành từ những nguồn gôc tự nhiên
va XH ,những nguồn gốc này có liên quan mật thiết với VC ,có tiền đè từ
VC ,Vì vậy ko có VC thi ko có những tiền đè để hình thành ý thức
-Xét về mặt nooijn dung ý thức chỉ là cái pản ánh còn VC là cái được pản ánh
và đương nhiên nếu ko có TG VC thì cũng chẳng có được 1 hình ảnh nào về nó
về nó ỏ trong vỏ não của con người về thế giới chẳng qua chỉ la nhưng hình ảnh
kiền thức về TG bên ngoài mà thôi.
-Xét vè mặt biến đổi và phát triển của ý thức:sự biến đổi phát triển của ý thức
chỉ có thể được thể hiện trên cơ sở biến đổi phát triển của thế giới hiện thực ,của
sự tác động của tg hiện thực con người vào con người .Mặt khác sự biến đổi
phát triển của ý thức còn phụ thuộc vào mức độ và trình độ của những hoạt
động có tính VC của con người đó là hoạt động thực tienx LĐSX..Từ những
pân tích trên MÁC LÊ nin khẳng định VC giữ vai trò quyết định ý thức.
11
-Khi khẳng định vai trò quyết định của VC đối với ý thức chủ nghĩa duy vạt
biện chứng đồng thời cũng vạc rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý
thức với VC,
-Ý thức thông qua hoạt động thức tiễn của con người (trước hết là LĐSX nó có
thể thúc đẩy sự quá trình biến đổi của những điều kiện VC ,cải tạo làm hoàn
cảnh và biến đổi TGKQ .
-Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định song khi nó ra đời thì nó có tính độc
lập tương đối và có tác động trở lại rất lớn đối với sự tồn tại và phất triển của
TGVC.
-Trong quá trình hoạt động cụ thể của con người ,nhân tố chính trị tư tưởng
được hình thành từ những điều kiện VC ,điều kiện kinh tế ,song chính trị tư
tưởng cũng được tác động trở lại đối với sự phát triển của bản thân hiện thực
khách quan theo cả hai xu hướng .
-Tác động tích cực :những ý thức pản ánh 1 cánh đúng đắn cánh mạng và khoa
học pản ánh chính xác bản chất quy luật vận động của thế giới VC 1 cánh nhanh
hơn ,lúc đó ý thức trở thành tư tưởng .kim chỉ nam của hoạt động thực tiễn.
-Tác động tiêu cực :Những ý thức tư tưởng pản khoa học ,lạc hậu pản ánh
xuyên tạc bản chất ,quy luật vận động của TGVC thì có tác động kìm hãm sự
vận động phát triển của TGVC .
Mặt khác vai trò của ý thức còn thể hiện ở chỗ nó trang bị cho con người những
tri thức về bản chất quy luật của đối tượng ,giúp con người đúng đắn mục tiêu
,đề ra được các phản ánh hoạt động phù hợp hình thành nên các biệp pháp tổ
chức có hiệu quả hoạt động thực tiễn ,hiện thực phát triển bởi ý thức luôn mang
tính năng động sáng tạo vượt trước .
Sự tác động của giới vật chất bao giờ cũng phải thông qua hoạt động thực tiễn
của con người .Bản thân ý thức tự nó ko trực tiếp làm thay đổi được j đối với
thế giới vật chất .Vì vậy nói đến vai trò của ý thức là thức chất nói đến vai trò
của con người ,đến tính chủ động sáng tạo trong hoạt động của con người ,ý
thức chỉ đạo hoạt động con người hình thành ở họ mục tiêu ,kế hoạch ,giải pháp
…từ đó hình thành lên ý chí thúc đẩy hành động thực tiễn của con người.
Sự tác động của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng diễn ra trên cơ sở vật chất
là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Trong bất kỳ trường hợp nào ý thức cũng
chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo
trong phản ánh và được định hướng bới những nhu cầu thực tiễn, ý thức tác
động trở lại vật chất phải bằng lực lượng vật chất, không có một trường hợp nào
ý thức quyết định vật chất.
Ý nghĩa PP luận.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn con người vào điều kiện khách
quan, lấy khách quan làm cơ sở, làm phương tiện cho hoạt động có mục đích
của mình, làm căn cứ cơ sở cho mọi hoạch định về chủ trương, đường lối, chính
sách, giải pháp… phải biết nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan một
cách chủ động sáng tạo, với ý chí quyết tâm cải tạo hiện thức theo nhu cầu tiến
bộ xã hội.
12
-
Tinh thân cách mạng và khoa học trong việc vận đụng mối quan hệ vật
chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải chống lại thái độ tiêu cực, thụ động, bảo
thủ, trì trệ, vịn vào điều kiện khách quan để ngồi chờ, không dám hành động,
đồng thời phải chống lại chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí mà biểu hiện của nó là
hành động bất chấp quy luật, điều kiện cụ thể.
Trong hoạt động của cong người, nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần ó
mối liên hệ hữu cơ với nhau, giữa chúng có sự tác động qua lại tạo thành một
thể thống nhất, chặt chẽ. Sức mạnh ý thức của con người không chỉ ở chỗ tách
rời điều điện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan mà phải biết dựa vào điều
kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới
khách quan.
Lênin đã từng cảnh báo: “Không được lấy ý muốn chủ quan của mình
làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược,
sách lược cách mạng, nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan lấy ý chí áp đặt cho
thực tế, lấy ảo tưởng thay thế cho hiện thực thì mắc phải bệnh chủ quan duy ý
chí”.
Thực tế ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới Đảng ta đã phạm phải sai lầm
chủ quan duy ý chí, vi pham quy luật khách quan trong việc xác định mua tiêu,
bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN chủ trương xây
dựng đất nước XHCN chỉ trong một thời gian rất ngắn khi mà những điều kiện
của thức tế khách quan chưa cho phép. Chúng ta chủ trương xóa bỏ hoàn toàn
những thành phần kinh tế tư bản trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế.
Tại đại hội VII đã khẳng định: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí vi
phạm quy luật khách quan” và Đại hội cũng rút ra bài học là “Mọi đường lối
chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế tôn trọng quy luật khách quan”.
Đến đại hội IX tổng kết 10 năm đổi mới Đảng cũng đã chỉ rõ: Đổi mới phải phù
hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo.
ĐH X tiếp tục khẳng định: Chiến lược 10 năm 2001-2010, xây dựng nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Bài học lớn về đường lối chính sách của Đảng phải xuất phát từ
thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, một lần nuawax được nhấn mạnh trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển) năm 2011.
Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, tính tích cực chủ động trong
hoạt động cải biến thế giới khách quan của con người. Vai trò tích cực của ý
thức không phải ở chỗ nó trực tiếp làm biến đổi hiện thức mà là nhận thức đúng
đắn hiện thực từ đó hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần
thiết cho hoạt động. càng phản ánh đúng đắn hiện thực bao nhiêu thf hoạt động
cải tạo hiện thực càng có hiệu quả bấy nhiêu. Vì vậy phát huy tính năng động
sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt động là vấn
đề có ý nghĩa quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng.
Tại đại hội VIII Đảng CSVN đã khẳng định: Trong thời kỳ đổi mới phải
lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
13
và bền vững, phải khơi dậy cho nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát
huy tài trí của người VN quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi đói nghèo lạc hậu.
Tại đại hội IX nhấn mạnh: Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh
tinh thần của người VN coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững:, Đảng ta cũng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triển
sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn
hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đại hội X Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đổi mới giáo dục một cách
nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ
thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của
nền giáo dục nước nhà. Văn kiện ĐH XI tiếp tục nhấn mạnh đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng VN dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh.
Trong lĩnh vực công tác công an, xuất phát từ những nhiệm vụ
chung là bảo vệ an ninh quốc gia và TTATXH, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước
và cuộc sống bình yên của nhân dân, bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước theo
con đường XHCN. Lực lượng công an trước hết phải quán triệt, nắm vững
những nội dung cơ bản của các phạm trù vật chất và ý thức, nội dung mối quan
hệ biện chứng giữa chúng để từ đó cụ thể hóa những nội dung đó trong công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Cụ thể khi xảy ra một vụ án, từ việc nhận tin cho tới quá trình tiến
hành công tác khám nghiệm hiện trường nhằm thu nhập những dấu vết của tội
phạm để lại trên hiện trường xảy ra vụ án, điều đặc biệt quan trọng là chúng ta
phải tôn trọng thực tế khách quan từ khâu đầu đến khau cuối cùng trong khi thu
thập dấu vết nhằm đảo bảo dấu vết và chứng cứ thu được phải phản ánh đúng
những gì nó đã diễn ra phục vụ cho việc đánh giá chứng cứ và tầm quan trọng
của chúng đối với vụ án. Từ đó xác định phương án đấu tranh tập trung và có
hiệu quả. Chống lại các biểu hiện của quan duy ý chí, không tôn trọng thực tại
khách quan trong việc thu nhập và đánh giá chứng cứ để dẫn đến việc kết
luaatnj theo ý chí chủ quan và làm oan sai.
Thường xuyên tiến hành công tác tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở tôn trọng hiện thực khách
quan từ đó làm căn cứ cơ sở cho mọi hoạch định về chủ trương, đường lối,
chính sách, giải pháp, trong công tác tổ chức lực lượng để đấu tranh phòng
chống tội phạm một cách có hiệu quả và phải biết nhận thức và vận dụng các
quy luật khách quan một cách chủ động sáng tạo, với ý chí không ngừng tấn
công tội phạm nhằm đảm bảo ANQG và TTATXH.
14
Câu 5: Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến – ý nghĩa phương pháp luận?
Phép biện chứng duy vật được Mác và Awngghen sáng lập vào giữa thế kỷ
XIX và được LêNin phát triển vào đầu thế kỷ XX. Hai nguyên lý của PBCDV
vừa là nguyên tắc phương pháp luận để đi sâu vào nghiên cứu thế giới. Trong
đó nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nhằm làm rõ những điều kiện
của sự tồn tại trong mỗi SVHT.
Trước hết ta cần đi vào tìm hiểu về khái niệm của mối liên hệ: Mối liên hệ là
1 phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, sự tác động
qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của 1
SVHT trong thế giới khách quan.
Các quan điểm triết học trước Mác cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong thế
giới chúng tồn tại ở trạng thái cô lập, biệt lập tách rời nhau, cái nào riêng cái ấy,
cái này tồn tại bên cạnh cái khác, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có
mối liên hệ rằng buộc chuyển hóa quy định lẫn nhau. Nếu có thì cũng chỉ là
những mối liên hệ mang tính ngẫu nhiên, hời hợt bên ngoài. Tuy vậy cũng có
một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối
liên hệ rất đa dạng, phong phú, tuy nhiêu các hình thức liên hệ khác nhau lại
không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
Quan niệm trên đây của phương pháp siêu hình đã dẫn đến những sai lầm về
thế giới quan, nó không có khả năng phát hiện ra cái chung, cái bản chất, cái
mang tính quy luật của sự vật động và phát triển của sự vật hiện tượng. Còn chủ
nghĩa duy tâm thì giải thích một cách thần bí về sự liên hệ, tác động qua lại giữa
sự vật hiện tượng là do cảm giác, ý thức, ý niệm, ý niệm tuyệt đối hay là các lực
lượng siêu nhiên.
Ngược lại, triết học Mác- Lê Nin khẳng định thế giới là một chỉnh thể thống
nhất. Các sự vật hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt lại
vừa có sự tác động qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Cơ sở của mối
liên hệ là sự vận động và tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật trong
thế giới vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình bằng vận động mà vận động có
nghĩa là liên hệ. Các sự vật hiện tượng
trong thế giới dù có đa dạng phong phú và khác nhau đến mấy chăng nữa thì
chúng cũng chỉ là những dạng, những hình thức tồn tại khác nhau của thế giới
duy nhất là thế giới vật chất mà thôi. Ngay bản thân ý thức vốn không phải là
vật chất nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính của
một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của ý thức có
mối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài.
Các sự vật hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, phong phú thế nào chăng
nữa thì chúng đều có một thuộc tính chung là tồn tại khách quan, do đó mối liên
hệ giữa các sự vật hiện tượng mang tính chất khách quan.
15
Phép biện chứng duy vật không chỉ khẳng định tính khách quan mà còn khẳng
định tính phổ biến của sự liên hệ và tính phổ biến ấy được thể hiện trên những
khía cạnh sau:
Xét về mặt không gian: Một sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt,
song chúng tồn tại không phải trong trạng thái biệt lập, tách ròi đối với sự vật,
hiện tượng khác mà giữa chúng luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, không có
sự vật, hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ. Chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ
đâu, bất cứ thời gian nào, lĩnh vực nào những sự vật hiện tượng tồn tại một cách
biệt lập, hoàn toàn riêng rẽ. Các sự vật, hiện tượng trong sự tồn tại của mình
chúng tác động lẫn nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiện tượng khác.
Đó chính là hai mặt của 1 quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Ăng ghen đã khẳng định: “Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được
là một hệ thống, một tập hợp các vật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc các
vật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã có ý nghĩa là các vật thể này tác
động qua lại lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là vận động”. Trong thực
tế của thời Ngày nay, trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa,
khu vực hóa của mọi mặt của đời sống xã hội, khu vực hóa của mọi mặt của đời
sống xã hội. Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn
nhau trên con đường phát triển của mình.
Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của sự vật, hiện tượng: Xét về mặt cấu
trúc bên trong của mỗi sự vật hiện tượng thì mỗi sự vật
hiện tượng đều được cấu tạo lên bởi nhiều yếu tố, bộ phận khác nhau. Các yếu
tố bộ phận đó không tồn tại trong trạng thái biệt lập hay hỗn độn mà chúng đều
được kết cấu theo một trật tự Lôgic nhất định, một kiểu tổ chức nhất định để tạo
thành một chỉnh thể. Mỗi mặt yếu tố bộ phận đó vừa thực hiện chức năng của
mình vừa tạo điều kiện cho những bộ phận yếu tố khác. Sự biến đổi của một yếu
tố nào đó trong cấu trúc của sự vật sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận khấc và
đối với cả chỉnh thể.
Xét về mặt thời gian: Mối 1 SVHT nói riêng và cả thể giới nói chung trong sự
tồn tại phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn, các thời kỳ khác
nhau và các giai đoạn đó không tách rời nhau, có liên hệ làm tiền đề cho nhau,
không những giai đoạn trong một quá trình mà cả quá trình trước và quá trình
sau trong sự vận động và phát triển của thế giới nói chung và của từng sự vật,
hiện tượng nói riêng cũng luôn liên hệ với nhau, sự kết thúc của giai đoạn này
làm mở đầu cho gian đoạn khác tiếp theo. Điều này thể hiện rõ trong mối liên
hệ giữa quá khứ - hiện tại- tương lai.
Ngoài tính khách quan và phổ biến, sự liên hệ của các sự vật hiện tượng còn
mang tính phong phú, đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vật
động và phát triển của sự vật, hiện tượng quy định. Khi nghiên cứu hiện thực
16
khách quan có thể phân chia mối liên hệ thành nhiều loại khác nhau, tùy theo
từng cặp, theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ
nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp. Khái quát lại có những mối liên hệ
chính sau đây:mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ
yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, mối liên hệ bản chất và không bản chất,
mối liên hệ tất nhiên hay ngẫu nhiên… trong đó mối liên hệ bên trong, trực tiếp,
bản chất, tất nhiên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng quyết định đối với sự tồn
tại phát triển của sự vật.
Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân
sự vật hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ. tuy sự phân chia thành
các mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết
bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vài trò xác định đối với sự vận động, phát
triển của sự vật hiện tượng, con người cần nắm đúng các mối liên hệ để có cách
tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.
Triết học Mác xít thừa nhận rằng những mỗi liên hệ khác nhau có thể chuyển
hóa thay đổi vị trí cho nhau, điều đó diễn ra có thể do sự thay đổi phạm vi bao
quát khi nghiên cứu, xem xét hoặc có thể do kết quả vận động khách quan của
chính sự vật hiện tượng.
Ý nghĩa phương pháp luận:
- về mặt nhận thức khi nghiên cứu SVHT phải đặt nó trong mối liên hệ tác động
qua lại với những SVHT khác và cần phải phát hiện ra những mối liên hệ giữa
các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các giai đoạn khác nhau của bản thân sự vật,
kể cả các mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng. Mặc dù trên thực tế chúng ta
không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, chính xác nhưng sự cần
thiết phải xem xét tất cả mọi mặc sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai
lầm và sự cứng nhắc. Lê nin khẳng định: “Muốn thức sự hiểu được sự vật, càn
phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt của mối liên hệ và quan hệ của
sự vật đó:. Để nhận thức đúng SVHT cần phải xem xét nó trong mói liên hệ với
nhu cầu thực tiễn, ứng với mỗi thời kỳ, giai đoạn, thế hệ thì con người bao giờ
cũng chỉ phản ánh được số lượng hữu hạn các mối liên hệ. Vì vậy, tri thức về
các SVHT chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần phải được thường xuyên bổ
sung thếm. Quan điểm toàn diện về sự vật đòi hỏi chúng ta phải phát hiện ra
không chỉ là mối liên hệ của nó mà còn phải biết xác định phân loại tính chất,
vai trò, vị trí cũng mỗi loại liên hệ đối với sự phát triển của sự vật. Cần chống
cả hai khuynh hướng sai lầm phiến diện một chiều, cũng như đánh giá ngang
bằng vị trí của các loại quan hệ.
Về mặt thực tiến: quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiện tượng
cần làm thay đổi mối liên hệ bên trong của SVHT, cũng như mối liên hệ giữa
SVHT đó với SVHT khác. Muốn vậy cần phải xác định, sử dụng đồng bộ các
17
phương pháp, các biện pháp, phương tiện giải quyết sự vật. Mặt khác quan điểm
toàn diện phải đỏi hỏi trong hoạt động thực tiễn cần kết hợp chính sách dàn đều
và chính sách có trọng điểm. Vừa chú ý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựa
chọn những vấn đề trọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc
giải quyết vấn đề khác.
Đối với VN trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng CSVN xác định cần phải
đổi mới toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội, xong mỗi bước đi phải xác định
khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm co sở đổi mới các khâu khác, lĩnh
vực khác. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng đã coi đổi mới tư duy
lý luận chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, nhấn mạnh phải chú trọng
tăng trưởng KT đi liền với thực hiện công bằng XH, giải quyết những vấn đề
XH, đẩy mạnh CNH-HĐH, đi tới bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tụ chủ, ANQP…trong
đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm. Văn kiện đại hội lần thứ XI tiếp tục
nhấn mạnh: đổi mói toàn diện, mạnh mẽ đất nước theo con đường XHCN. Sau
25 năm đổi mới toàn diện đất nước, thế và lực của đất nước không ngừng lớn
mạnh. Những thành tựu của công cuộc đổi mới là hệ quả chứng minh cho sự
vận dúng đúng đắn quan điểm đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để, có trọng tâm,
trọng điểm, lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, xây dựng đảng làm then chốt,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự phát triển văn hóa, mở rộng hợp tác sâu rộng,
toàn diện với các nước trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ.
18
Câu 6: Nguyên lý về sự phát triển – ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý về sự phát
triển. Sự liên hệ, tác động qua lại của các SV,HT tất yếu dẫn đến sự vận động
biến đổi và phát triển của chúng. Nguyên lý về sự phát triển nhằm làm rõ quá
trình vận động và phát triển của thế giới khách quan. Trong lịch sử triết học, khi
xem xét về sự phát triển, đã có nhiều quan điểm khách quan:
Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo xem sự phát triển như là kết quả của
những ý niệm của các lực lượng siêu tự nhiên hoặc ý muốn chủ quan của con
người.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình xem xét các sự vật hiện tượng
như là những cái được sinh ra một lần là xong, không có sự biến đổi từ sự vật
này sang sự vật khác vì vậy họ phủ nhận sự phát triển, sự phát triển chỉ là sự
tăng lên hoặc giảm đi về lượng mà không có sự thay đổi về chất, không đề cập
đến cái mới, hoặc là họ cho sự phát triển chỉ là sự thăng trầm, phức tạp, biến đổi
tuần hoàn lặp lại theo vòng tròn khép kín không có bước quanh co phức tạp và
nguồn gốc của sự phát triển là do yếu tố bên ngoài.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mac-Leenin cho rằng: Phát
triển là một phạm trù của triết học dùng để khái quát quá trình vận động từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ khém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện
hơn, các quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của
cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn
đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc. Có nghĩa là
quá trình phát triển, dường như quay lại điểm khởi đầu song trên cơ sở mới cao
hơn. Quan điểm của phép biện chứng duy vật khẳng định nguồn gốc của sự phát
triển nằm ngay trong bản thân của sự vật, do những mâu thuẫn của sự vật quy
định.
Sự phát triển là kết quả đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn bên trong
của sự vật. Triết học Mác xít khẳng định “phát triển là tự thân phát triển, nso là
quá trình khách quan độc lập với ý thức của con người. Sai lầm của chủ nghĩa
duy tâm về vấn đề này là đi tìm nguồn gốc của sự phát triển trong lực lượng
siêu tự nhiên hay cho rằng ý thức con người quyết định tất cả. Còn nhược điểm
của chủ nghĩa duy vật siêu hình trước Mác là ở chỗ đi tìm sự phát triển từ sự tác
động bên ngoài, hoặc cho rằng, phát triển chẳng qua chỉ là tăng lên về mặt số
lượng. Lê Nin đã từng so sánh “hai quan niệm về sự phát triển (sự tiến hóa) sự
phát triển coi như giảm đi và tăng lên, như là sắp lại và sự phát triển coi như là
sự thống nhất thành các mặt đối lập. Quan niệm thứ nhất là khô cứng, nghèo
nàn và khô khan. Quan niệm thứ 2 là sinh động. chỉ có quan niệm thứ 2 mới cho
ta chìa khóa của sự tự vận động, của tất cả mọi cái đang tồn tại, chỉ có nó mới
cho ta chía khóa của những bước nhảy vọt, của sự gián đoạn, của tính tiệm đến,
19
của sự chuyển hóa thành các mặt đối lập, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh
cái mới. Theo quan điểm này sự phát triển không bao quát chung toàn bộ sự vận
động mà nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động. Phát triển là một
trường hợp đặc biệt của sự vận động. Nói đến phát triển là nói đến vận động.
Tuy nhiên không phải với mọi sự vận động đều là sự phát triển mà chỉ có
quá trình vận động biến đổi nào làm nảy sinh ra những tính quy định mới cao
hơn về chất mà nhờ đó làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, làm cho cả cơ
cấu tổ chức, phương thức tồn tại vận động của sự vật cũng những chức năng
vốn có của nó ngày càng được hoàn thiện hơn thì mới được gọi là phát triển.
Như vậy sự phát triển chỉ khái quát xu hướng chung của vận động là xu
hướng đi lên sự vật mới, cái mới ra đời thay thế cái cũ và đó là trường hợp đặc
biệt của vận động. Trong hiện thực khách quan, tùy theo hình thức tồn tại cụ thể
của vật chất khác nhau mà sự phát triển được thể hiện khác nhau hay nói cách
khác sự phát triển mang tính đa dạng, phong phú.
Trong thế giới vô cơ: Sự phát triển thể hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố
và hệ thống vật chất. Sự tác động qua lại giữa chúng là quá trình hòa hợp và
phân giải các chất vô cơ từ đơn giản đến phức tạp làm xuất hiện những vật chất
phức tạp hơn.
Trong thế giới hữu cơ: Sự phát triển thể ở khả năng thích nghi của sinh
vật với những biến đổi phức tạp của môi trường sở sự hoàn thiện khả năng trao
đổi chất giữa cơ thể và môi trường, ở khả năng tự sinh ra chính mình với trình
độ ngày càng cao hơn làm xuất hiện những giống loài mới.
Đối với con người, sự phát triển thể hiện ở năng lực trinh phục tự nhiên,
sự hoàn thiện khả năng lao động, sự phát triển và hoàn thiện tư duy trí tuệ của
con người cho phù hợp với sự biến đổi của môi trường sống của chính con
người. Hay nói cách khác đối với con người nó chính là khả năng tự hoàn thiện
mình cả về thể chất và tinh thần phù hợp với sự vận động phát triển của môi
trường.
Trong tư duy, sự phát triển thể hiện ở sự nhận thức ngày càng sâu sắc,
đầy đủ, chính xác bản chất quy luật vận động của nhận thức.
Trong hiện thức và trong tư duy, sự phát triển diễn ra theo con đường
quanh co phức tạp, thậm chí có những bước thụt lùi tương đối, đó là quá trình
thay đổi từ lượng đến chất, là kết quả đấu tranh giữa các mặt đối lập, của sự phủ
định cái mới với cái cũ, con đường của sự phát triển không phải là thẳng tắp
cũng không phải là vòng tròn khép kín mà diễn ra theo đường xoắn ốc tạo thành
xu thế phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn
thiện cho tới hoàn thiện hơn của giới tự nhiên, XH và tư duy, nghĩa là trong quá
trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên
cơ sở trình độ cao hơn.
20
Lê Nin đã từng nhấn mạnh rằng: “nếu hình dung sự phát triển của toàn
thế giới như con đường thẳng tắp không có bước quanh co, những sự thụt lùi
đôi khi ra xa so với hướng chủ đạo là không thực tế, không biện chứng”.
Sự phát triển diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy mà
nguonf gốc của nó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật
hiện tượng. Như vậy phát triển là quá trnhf khách quan độc lập với ý thức của
cn người, song không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra 1 cách đơn
giản theo đường thẳng tắp. Xét từng trường hợp các biệt thì có sự phát triển đi
lên, tuần hoàn thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trong một phạm vi
rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng chung thống trị và chủ đạo của sự
vận động với mỗi sự vật, hiện tượng.
Ý nghĩa:
Quan điểm phát triển yêu cầu chúng ta, trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn khi nghiên cứu và phân tích một sự vật hiện tượng nào đó cần phải xây
dựng quan điểm phát triển, nghĩa là phải đặt nó trong trạng thái vận động, phát
hiện và vạch ra được xu hướng , biến đổi và chuyển hóa của chúng, khắc phục
tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Như Lê Nin cho rằng “Lô gic biện chứng đòi hỏi phải
xem xét sự vận động trong sự phát triển, trong sự “tự vận động”. (…) trong sự
biến đổi của nó”.
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại ở sự
vật mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó đồng
thời phải khái quát được khuynh hướng chủ đạo của những biến đổi khác nhau
của sự vật.
Xem xét sự vật phải biết phân chia các quá trình giai đoạn phát triển trên
cơ sở đó tìm ra phương pháp tác động phù hợp nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển đó tùy theo lợi ích của con người xã hội.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xây dựng quan điểm lịch
sử cụ thể. Quan điểm này đòi hỏi khi nhận thức và tác động vào sự vật phải chú
ý điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đến môi trường cụ thể mà trong đó sự vật
được sinh ra tồn tại và phát triển. Sự phát triển của sự vật trong thực tế là quá
trình đầy mâu thuẫn. Do vậy khi vận dụng quan điểm vào nhận thức chúng ta
phải thấy rõ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển như một hiện tượng phổ
biến, sự chiến thắng của cái mới là vô cùng phức tạp và phải trả giá, trên con
đường tiến tới cái mới có cả sự vấp ngã và mất mát, nếu không chúng ta sẽ dễ bi
quan, dao động khi tiến trình cách mạng nói chung cũng như tiến triển của mỗi
cá nhân nói riêng tạm thời gặp khó khăn trắc trở.
Một luận điểm hay một giải pháp nào đó có thể là đúng đắn là chân lý
trong điều kiện hoàn cảnh này nhưng lại trở thành sai lầm, không đúng trong
điều kiện hoàn cảnh khác. Vì vậy phân tích tình hình cụ thể đề ra những giải
21
pháp cụ thể cho từng công việc cụ thể đó là nguyên tắc bản chất sống của chủ
nghĩa Mác. Cần phải chống khuynh hướng bảo thủ trì trệ, đồng thời chống tư
tưởng bảo thủ trì trệ không dám đổi mới hoặc nóng vội chủ quan đốt cháy giai
đoạn.
Nắm vững quan điểm về sự phát triển giúp chúng ta có thái độ lạc quan
vào sự nghiệp của cách mạng ở VN. Sự đổi mới sự nghiệp đổi mới chính thức
được khởi xướng tự sau đại hội VI của Đảng vào tháng 12/1986. Xét về thực
chất sự nghiệp đổi mới ở VN là nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ và văn minh theo định hướng XHCN. Quá trình đổi mới
diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm ddauw lại sự phát triển
theo hướng CNH-HĐH, đổi mới ở VN là quá trình phát triển đưa nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu sang một trình độ CNH-HĐH văn minh, và thực sự đây là
quá trình phức tạp, khó kahwn lâu dài. Đảng đã nêu rõ: Sự nghiệp đổi mới ở
nước ta diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế còn yếu kém, lạc hậu, thai tai liên tấp
xảy ra, cuộc khủng hoảng TC-KT xảy ra ở một số nước Châu Á, tình hình thế
gioiwsi và khu vực diễn biến phức tạp. Tuy nhiên với quan điểm phát triển,
chúng tra luôn tin tưởng vào tính tất thắng của cái mới, Đảng ta đã nhận thức và
dự đoán đúng xu thế phát triển của thế giới và xác định động lực của sự phát
triển, của sự nghiệp đổi mới chính là nguồn nội lực trong đó có sự tranh thủ
ngoại lực từ bên ngoài đồng thời vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận về
sự phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta,
tranh thủ đi tắt đón đầu. Vì thế, trên 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực CT-KT-XH. Những thành tựu đó
đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt và cuộc sosongs của đất
nước của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng
cao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế và trong khu vực. Đó
chính là nguồn động viên to lớn, giúp chúng tra không dao động trước những
diễn biến phức tạp của tiến trình cách mạng trong nước và trên thế giới. Nghị
quyết XI tiếp tục nhấn mạnh trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, mạnh mẽ đất
nước, cần đặc biệt chú ý xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và
phát triển, giữa đổi mói kinh tế và đổi mới chính trị, giữa nội lực và ngoại lực,
giữa cơ hội và thách thức, giữa độc lập tự chủ với mở rộng quan hệ hợp tác, hội
nhập, hòa nhập và chống hòa tan, giữ gìn bản sấc văn hóa dân tộc. Đảng ta
khẳng định quan điểm phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát
triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh.
22
Câu 7: Quy luật là gì? Tính chất của quy luật? Sự khác nhau giữa quy luật
tự nhiên và quy luật xã hội?
Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, phổ biến và được
lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật hay giữa các sự vật
hiện tượng cùng loại.
Triết học Mác Lênin khái quát quy luật mang tính khách quan và tính đa
dạng:
Tính khách quan: Đó là những mỗi liên hệ bản chất, bên trong của các sự vật
hiện tượng. Nó không do ai sinh ra và cũng không bị mất đi. Nó không phụ
thuộc vào ý thức chủ quan của con người, con người chỉ có thể nhận thức và
vận dụng nó vào trong thực tiễn của mình.
Tính đa dạng: các quy luật hết sức đa dạng, chúng khác nhau về mức độ phổ
biến, phạm vi bao quát, tính chất tác động, vai trò của chúng trong sự vận động
phát triển của thế giới khách quan. Căn cứ vào mức độ tính phổ biến có quy luật
riêng, quy luật chung, quy luật phổ biến; Căn cứ vào lĩnh vực tác động thì có
quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật của tư duy.
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu các quy luật phổ biến tác động trong tất
cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Sự khác nhau giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội:
Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự động, không cần có sự tham gia của
con người. Quy luật xã hội được hình thành thông qua hoạt động của con người
có ý thức. quy luật tự nhiên mang tính tự phát, vô thức, mù quáng, quy luật xã
hooij mang tính tự giác, thông qua hoạt động có ý thức của con người.
- Quy luật tự nhiện biểu hiện như mọt quan hệ trực tiếp, có tính xác định. Quy
luật xã hội thường biểu hiện là tính xu hướng, mang tính định hướng. Các sự
kiện sảy ra trong đời sống xã hội diễn ra trong một thời gian càng dài, trong
không gian càng rộng thì biểu hiện quy luật càng rõ nét.
- Kết quả của quy luật xã hội phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng của con
người, vì con người là chủ thể của xã hội. Không có con người thì không có xã
hội và do vậy cũng không thể có quy luật xã hội.
Quy luật xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động con người. Con người
xét đến cùng thông qua hoạt động của mình mà sáng tạo ra quy luật song đến
lượt nó, hoạt động của con người lại chịu sự chi phối và phụ thuộc vào quy luật.
23
24
Câu 8: Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mật
đối lập? ý nghĩa của quy luật
Phép biện chứng duy vật được Mác và Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX
và được Lênin phát triển vào thế kỷ XX. Nội dung của phép biện chứng duy vật
rất phong phú: nó bao gồm 2 nguyên lý, sáu cặp phạm trù cơ bản và 3 quy luật,
trong đó Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (hay còn
gọi là quy luật mâu thuẫn) là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy
vật. Quy luật này được xác định là quy luật quan trọng nhất, là hạt nhân của
phép biện chứng duy vật bởi khi nghiên cứu về quy luật này, nó vạch ra cho ta
thấy được nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển của các
sự vật hiện tượng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để giúp ta nhận thức đúng đắn
những phạm trù quy luật khác của phép biện chứng duy vật.
Lênin từng đánh giá:”Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học
thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của
phép biện chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát
triển thêm”.
Nội dung chủ yếu của quy luật này được thể hiện thông qua những phạm
trù cơ bản và mối liên hệ giữa các phạm trù đó như là mặt đối lập, mâu thuẫn,
sự thống nhất, sự đấu tranh.
Trong hiện thực khách quan tất cả các sự vật hiện tượng đều chứa đựng
những mặt trái ngược nhau, những mặt trái ngược đó được gọi là mặt đối lập.
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật: Mặt đối lập là phạm trù
triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những
tính quy định có khuynh hướng biển đổi trái ngược tồn tại một cách khách quan
trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Chính những mặt đối lập như vậy nằm trong sự
liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thanh mâu thuẫn biện chứng.
Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các
sự vật, song cần chú ý rằng nói đến mặt đối lập đương nhiên là nói đến sự khác
nhau, tuy nhiên không phải tất cả sự khác nhau đều là đối lập, mà chỉ có những
sự khác nhau có khuynh hướng vận động trái chiều nhau, phủ định nhau thì mới
được gọi là mặt đối lập.
Cũng không được nhầm lẫn giữa mặt đối lập với mâu thuẫn, mỗi một
mâu thuẫn bao giờ cũng bao gồm ít nhất 2 mặt đối lập song không phải mọi đối
lập nào cũng tạo lên mâu thuẫn. Chỉ có những mặt đối lập cũng nằm trong một
chỉnh thể và giữa chúng có mối liên hệ khăng khít với nhau thì mới tạo thành
mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các
mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng luôn luôn tồn tại trong sự
thống nhất với nhau.
25