Tải bản đầy đủ (.doc) (96 trang)

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG đồ gỗ nội THẤT và GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHO CÔNG TY TNHH THƯƠNG mại và DỊCH vụ HTL VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.92 MB, 96 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

NGUYỄN VĂN HẢI

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG ĐỒ GỖ NỘI THẤT VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHO CÔNG
TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HTL VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHAN THỊ THUẬN

HÀ NỘI - NĂM 2014
MỤC LỤC
Nguyễn Văn Hải

1

Luận văn thạc sỹ QTKD


1.2. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG.....................................................................13

LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Văn Hải, học viên lớp cao học 2011B – QTKD2 Trường
Đại Học Bách Khoa Hà Nội khóa 2011 – 2014. Tôi xin cam đoan những nội dung
trong luận văn này là đề tài nghiên cứu của riêng tôi cùng với sự hướng dẫn của


PGS. TS Phan Thị Thuận. Về cơ sở lý thuyết có sử dụng từ những nguồn sách tại
liệu của các nhà xuất bản. Các số liệu, tài liệu trong luận văn này là thực tế.
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày trong đề tài này.
Tác giả

Nguyễn Văn Hải

Nguyễn Văn Hải

2

Luận văn thạc sỹ QTKD


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

HTL

: Tên riêng của công ty

EU

: Cộng đồng chung các nước châu âu

ASEAN

: Cộng đồng chung các nước đông nam Á


USD

: Đô la Mỹ

XTTM

: Xúc tiến thương mại

TP

: Thành phố

VND

: Việt Nam Đồng

TV

: Ti vi

HAWA

: Hiệu hội ngành nghề gỗ thành phố Hồ Chí Minh

CSIL

: Trung tâm Nghiên cứu các ngành công nghiệp

VIFA Fair : Hội chợ Đồ gỗ Quốc tế


Nguyễn Văn Hải

3

Luận văn thạc sỹ QTKD


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG, SƠ ĐỒ
1.2. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG.....................................................................13

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Thị
Thuận Viện Kinh Tế, Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội – người đã hướng dẫn tác
giả thực hiện luận văn này về mặt định hướng khoa học cũng như những kỹ năng
thực hiện cần thiết khác.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, các Cô tại Viện Đào Tạo
Sau Đại Học, Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy những kiến thức
quan trọng của ngành quản trị kinh doanh, giúp tôi hoàn thành khóa học niên khóa
2011 – 2014.
Nguyễn Văn Hải

4

Luận văn thạc sỹ QTKD


Luận văn này là thành quả của cả quá trình học tập, rèn luyện bằng sự cố
gắng nỗ lực của bản than. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ kỹ thuật và
những hạn chế về mặt kiến thức, mặc dù đã có nhiều nỗ lực cố gắng tuy nhiên vẫn

không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các bạn để giúp tác giả hoàn thiện hơn nữa
đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.
Hà Nội, Ngày.... Tháng...... Năm 2014
Học viên thực hiện

Nguyễn Văn Hải

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện nước ta hiện này, khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh

mẽ, sự cạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt, sự đứng vững và khẳng định vị trí của
một doanh nghiệp trên thị trường cực kỳ khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp tư
nhân. Thị trường chính là đối tượng chủ yếu dẫn dắt hành động các các doanh
nghiệp thông qua các nhu cầu của nó. Để tồn tại và hoạt động kinh doanh có hiệu
quả thì bắt buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới thị trường, mà cụ thể là giải
pháp phát triển thị trường. Việc phân tích thị trường và áp dụng các giải pháp phát
triển thị trường có tính chất quyết định thành công hay thất bại trong kinh doanh,
quyết định việc doanh nghiệp có giữ vững và khai thác được thị trường hay không.
Nguyễn Văn Hải

5

Luận văn thạc sỹ QTKD


Bất kỳ môt doanh nghiệp thương mại muốn tồn tại và phát triển thì yếu tố thị

trường của doanh nghiệp bao giờ cũng được quan tâm và đặt lên hàng đầu. Trong
giai đoạn hiện nay, nền kinh tế trong và ngoài nước vẫn chưa khôi phục được hậu
quả qua cuộc khủng hoảng 2008-2013 để lại. Tình hình sản xuất kinh doanh đình trệ
khiến cho các doanh nghiệp phải tìm mọi phương pháp để cạnh tranh và phát triển.
Do vậy tôi chọn đề tài :“ Phân tích thị trường đồ gỗ nội thất và giải pháp phát
triển thị trường cho công ty TNHH thương mại và dịch vụ HTL Việt Nam”. Qua
đề tài này sẽ giúp tôi hiểu hơn về tình hình sản xuất kinh doanh của ngành và của
công ty nơi tôi đang công tác.
2.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp phát triển thị trường

cho công ty TNHH thương mại và dịch vụ HTL Việt Nam.
3.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là công ty TNHH thương mại và dịch vụ HTL Việt

Nam và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nội thất tại Việt Nam
4.

PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu là thị trường sản xuất, kinh doanh đồ gỗ nội thất tại Việt
Nam.

5.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích so sánh tổng hợp


điều tra
6.

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Kết cấu của luận văn gồm 3 phần chính như sau:
• CHƯƠN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI.
• CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG ĐỒ GỖ NỘI THẤT CỦA
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HTL VIỆT NAM
• CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CHO CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH HTL VIỆT NAM.

Nguyễn Văn Hải

6

Luận văn thạc sỹ QTKD


CHƯƠNG I
Nguyễn Văn Hải

7

Luận văn thạc sỹ QTKD


CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI


1.1.

THỊ TRƯỜNG

1.1.1. Khái niệm
Thị trường có nhiều khái niệm tuỳ theo cách tiếp cận:
Theo cách hiểu trong kinh tế chính trị: “Thị trường là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổi mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế.”
Theo Samuelson: “ Thị trường là tổng hoà các mối quan hệ mua bán trong xã
hội được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất
định”.
Theo quan điểm của marketing: “Thị trường là tập hợp các cá nhân và tổ
chức hiện đang có sức mua và có nhu cầu đòi hỏi cần được thỏa mãn”. Như vậy, thị
trường của các doanh nghiệp chính là khách hàng, tổ chức có nhu cầu và có khả
năng thanh toán.

Nguyễn Văn Hải

8

Luận văn thạc sỹ QTKD


Hiện nay, theo quan điểm của doanh nghiệp thị trường được cho là: “Bao
gồm tất cả những khách hàng hiện tại và tương lai, có cùng một nhu cầu hay mong
muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay
mong muốn đó”. Như vậy theo khái niệm này, quy mô thị trường sẽ tùy thuộc vào
số người có nhu cầu, mong muốn và lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng
bỏ ra để mua sắm hoàng hóa thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị
trường không phụ thuộc vào số người đã mua hàng và cũng không phụ thuộc và số

người có nhu cầu và mong muốn khác nhau. Mặc dù tham gia thị trường phải có cả
người mua và người bán, nhưng người làm marketing lại coi người bán hợp thành
ngành sản xuất – cung ứng, còn người mua mới hợp thành thị trường.
Như vậy, tùy theo cách tiếp cận cụ thể có các khái niệm về thị trường khác
nhau, nhưng luôn có điều chung nhất thị trường là nơi trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Là
nơi người bán và người mua tác động qua lại để xác định giá cả và lượng hàng hóa
mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhau. Các hoạt động này có tiền tệ làm môi
giới. Thị trường có bốn chức năng chính:
- Chức năng thừa nhận: thị trường thừa nhận chính là người mua chấp nhận mua
hàng hóa và do đó hàng hóa bán được.
- Chức năng thực hiện: Thị trường thông qua trao đổi hàng hóa, thực hiên cân bằng
cung cầu, thực hiện giá trị của hàng hóa thông qua giá cả.
- Chức năng điều tiết và kích thích: Thị trường thông qua các quy luật kinh tế sẽ
điều tiết sản xuất, thu hút vốn đầu tư vào các ngành sản xuất kinh doanh có lợi
nhuận cao, điều tiết quá trình lưu thông hàng hóa, điều tiết giá cả, kích thích các nhà
sản xuất kinh doanh tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ.
- Chức năng thông tin: Trên thị trường có rất nhiều mối quan hệ kinh tế - chính trị
- văn hóa – xã hội. Thị trường cho ta biết nhiều thông tin phục vụ cho hoạt động và
xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh như thông tin về số lượng cung cầu, giá cả
từng loại hàng hóa, hướng vận động của từng loại hàng hóa, các đối thủ cạnh tranh,
yêu cầu về số lượng và chất lượng hàng hóa, thị hiếu tiêu dùng….
1.1.2. Phân loại thị trường
Để thành công trong cuộc cạnh tranh trên thị trường thì yêu cầu đặt ra cho
các doanh nghiệp là phải hiểu tính chất, các mối quan hệ trên từng loại thị
Nguyễn Văn Hải

9

Luận văn thạc sỹ QTKD



trường. Phân loại thị trường có ý nghĩa quan trọng giúp cho các doanh nghiệp
nhận thức được điều đó. Có nhiều cách phân loại thị trường. Mỗi cách phân
loại có một ý nghĩa riêng.
- Phân loại theo góc độ sử dụng hàng hóa
+ Thị trường tư liệu tiêu dùng: Những mặt hàng phục vụ đời sống tiêu dùng của
xã hội đều được mua bán trao đổi qua thị trường này. Đây là hoạt động cuối cùng
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, với mức sống ngày càng cao, thị trường ngày
càng mở rộng.
+ Thị trường tư liệu sản xuất: Đây là thị trường cung ứng các tư liệu sản xuất làm
nền tảng cho cho sự phát triển của xã hội, là tiền đề cho sự phát triển của thị trường
tiêu dùng hàng hoá, thị trường này tạo ra lợi nhuận gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế đi
lên.
- Phân loại theo khu vực địa lý
+ Thị trường quốc tế: là nơi các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia tham gia
kinh doanh, là nơi giao lưu kinh tế quốc tế là nơi xác định giá cả quốc tế của hàng
hoá. Ngoài những quy luật của thị trường, thị trường quốc tế còn chịu sự tác động
của các thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế
+ Thị trường khu vực: Là thị trường bên ngoài quốc gia bao gồm một khu vực nhất
định như: EU, ASEAN…
+ Thị trường quốc gia: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán trong phạm vi quốc
gia thị trường này là thị phần của thị trường quốc tế chịu sự biến động cũng như chi
phối của từng quốc gia. Ngày nay hầu như không có thị trường quốc gia tồn tại độc
lập, với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới các quốc gia tất yếu phải hội nhập
+ Thị trường địa phương: Mỗi địa phương có phong tục tập quán khác nhau, do
vậy doanh nghiệp trước khi thâm nhập vào cần phải hiểu những điều này để có
những phương án tiếp cận cụ thế
- Phân loại theo đối tượng mua bán
+ Thị trường hàng hoá: Đây là thị trường có quy mô lớn nhất, rất phức tạp và tinh
vi. Trong thị trường này diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá với mục tiêu thoả

mãn nhu cầu về vật chất
Nguyễn Văn Hải

10

Luận văn thạc sỹ QTKD


+ Thị trường tiền tệ: Tín dụng là nơi diễn ra các loại hoạt động trao đổi tiền tệ trái
phiếu ….Với sự phát triển của nền kinh tế đây là một thị trường quan trọng quyết
định sự phát triển của xã hội.
+ Thị trường lao động : Ở đây xuất hiện mối quan hệ về mua bán sức lao động. Thị
trường này gắn với nhân tố con người, nhân cách, tâm lý, thị hiếu….Thị trường này
chịu ảnh hưởng của một số quy luật đặc thù. Thị trường chất sám diễn ra sự trao đổi
tri thức, mua bán bản quyền kỹ thuật, bằng phát minh sáng chế ….Dưới sự phát triển
như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế thị trường hiện đại thì thị
trường này trở thành trọng điểm, quyết định sự phát triển tri thức của toàn nhân loại
- Phân loại theo tính chất của thị trường
+ Thị trường vừa cạnh tranh vừa độc quyền: Là hình thái thị trường mà ở đó có
một người bán và nhiều người mua. Trên loại thị trường này bất kỳ một người
bán nào cũng có thể là người cạnh tranh hoặc là người độc quyền hoặc là
nhóm độc quyền đối với loại sản phẩm nào đó với số lượng và chất lượng sản
phẩm thường khác nhau chút ít. Ví dụ trên thị trường thuốc lá có một số doanh
nghiệp tham gia sản xuất thuốc lá nhưng với số lượng, chất lượng và nhãn hiệu
khác nhau. Ở đây các doanh nghiệp vừa là người cạnh tranh với nhau nhưng họ
lại được độc quyền đối với chất lượng và nhãn hiệu sản phẩm. Trong trường hợp
này mỗi doanh nghiệp vừa có quyền định giá bán vừa phải cạnh tranh. Các doanh
nghiệp cạnh tranh trên loại thị trường này muốn dành được thắng lợi thì phải
làm sao đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng mẫu mã đẹp trên cơ sở giá
thành thấp để có thể bán với giá thấp hơn đối thủ của mình mà vẫn thu được lợi

nhuận cao từ đó có thể mở rộng được phần thị trường của mình nhờ sự thu hút
khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
+ Thị trường đầu vào của doanh nghiệp: Đây là loại thị trường rất quan trọng đối
với các doanh nghiệp. Trên thị trường đầu vào doanh nghiệp đóng vai trò người
mua các yếu tố phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh như: Tư liệu sản xuất,
nguyên vật liệu, lao động, vốn... với ý nghĩa đó thị trường là điều kiện đảm bảo cung
ứng có hiệu quả các yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Đối với thị trường nguyên liệu của một doanh nghiệp công nghiệp
đặc biệt là thị trường nông sản có ý nghĩa rất quan trọng. Vì nguyên liệu vừa ảnh
Nguyễn Văn Hải

11

Luận văn thạc sỹ QTKD


hưởng đến giá thành sản phẩm vừa ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm vừa ảnh
hưởng đến tổ chức các quá trình sản xuất... do đó việc định ra một chiến lược phát
triển vùng nguyên liệu, chính sánh định giá mua nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn
đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng ở nước ta.
+ Thị trường đầu ra của doanh nghiệp: Đối với thị trường đầu ra (thị trường tiêu
thụ sản phẩm) là thị trường quan trọng nhất để bảo đảm cho quá trình tái sản
xuất, sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Thị trường này xác định nhu cầu
cho sản xuất kinh doanh định hướng mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Do
vậy thị trường đầu ra là thước đo là động lực của sản xuất kinh doanh.
+ Thị trường nông thôn: Do đặc điểm ở nước ta dân số sinh sống ở các vùng nông
thôn chiếm tới 80 - 85% dân số cả nước nhưng hiện tại mức thu nhập thấp nên việc
khai thác và mở rộng thị trường là tương đối khó khăn. Các doanh nghiệp hoạt
động trên thị trường này phải đưa ra được các loại sản phẩm không chỉ thoả

mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà còn phải có mức giá phù hợp với nhu cầu của
đại đa số gia đình nông dân.
+ Thị trường thành thị: Đây là thị trường quy mô lớn tính chất cạnh tranh cao cả
về số lượng chất lượng mẫu mã, giá cả và quy mô số lượng hàng hoá tiêu thụ lẫn
tổng giá trị của thị trường. Do đó các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường này mang lại doanh thu và lợi nhuận
lớn.
- Phân loại theo phạm vi nghiên cứu
+ Thị trường toàn bộ: toàn bộ các tổ chức cá nhân và tổ chức trong một khu vực
địa lý.
+ Thị trường tiềm năng: toàn bộ các cá nhân và tổ chức quan tâm đến một loại sản
phẩm như của doanh nghiệp.
+ Thị trường mục tiêu: toàn bộ các cá nhân và tổ chức mà doanh nghiệp muốn tập
trung các nỗ lực marketing vào đó
+ Thị trường thâm nhập được: toàn bộ các cá nhân và tổ chức đã mua sản phẩm
của doanh nghiệp.
- Phân loại theo mục đích mua sắm
Nguyễn Văn Hải

12

Luận văn thạc sỹ QTKD


+ Thị trường người tiêu dùng: Các cá nhân và hộ gia đình mua sắm để tiêu dùng
cá nhân, không phải kiếm lời.
+ Thị trường nhà trung gian: Là các đại lý phân phối mua các sản phẩm từ nhà
sản xuất và bán ra trên thị trường thông qua hình thức bán lẻ.
+ Thị trường nhà sản xuất: Tập hợp các nhà sản xuất mua sản phẩm, dịch vụ để
dùng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ khác.

+ Thị trường tổ chức phi lợi nhuận: các tổ chức chính tri – xã hội, tôn giáo, các tổ
chức phi chính phủ, quỹ từ thiện…
1.2.

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
Phân tích thị trường là quá trình tìm hiểu và nghiên cứu những biểu hiện của

thị trường có tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
một khoảng thời gian nhất định.
1.2.1. Thị trường mục tiêu và phân tích thị trường mục tiêu
- Phân khúc thị trường
Nhu cầu của mỗi người được phục vu một cách riêng biệt đó là điều lý tưởng
nhất, nhưng việc này không thể hiện nổi nếu như số lượng người mua rất lớn. Trong
những trường hợp như thế người ta cần phân khúc thị trường thành những khúc nhỏ
để phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Phân khúc thị trường là một quá trình
phân chia thị trường thành những khúc nhỏ nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của
khách hàng. Trên thực tế thị trường bao gồm những người mua, mà người mua thì
khác nhau rất nhiều về mặt nhu cầu, khả năng tài chính, vị trí địa lý, thái độ và thói
quen. Mỗi yếu tố này đến lượt nó đều có thể được sử dụng là cơ sở để phân khúc thị
trường.
+ Phân khúc thị trường theo nguyên tắc địa lý: Việc phân khúc thị trường theo
nguyên tắc địa lý đòi hỏi phải chia cắt thị trường thành những đơn vị địa lý khác
nhau như quốc gia, vùng, tỉnh, thành phố, xã…. Một số công ty còn phân chia them
các thành phố lớn thành những địa bàn nhỏ hơn.
+ Phân khúc thị trường theo nguyên tắc nhân khẩu học: Phân khúc thị trường
theo nguyên tắc nhân khẩu học là phân chia thị trường thành những nhóm căn cứ
vào những biến nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, quy mô gia đình, giai đoạn
Nguyễn Văn Hải

13


Luận văn thạc sỹ QTKD


của chu kỳ gia đình, mức thu nhập, loại nghề nghiêp, học vấn, tín ngưỡng, chủng
tộc, dân tộc. Một trong những nguyên nhân tao nên tính phổ biến như vậ là nhu cầu
và sở thích cũng như cường đồ tiêu dùng hàng hóa thường có liên quan chặt chẽ với
chính những đặc điểm nhân khẩu học. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các biến nhân
khẩu học nhất định được sử dụng để phân khúc thị trường như thế nào:
• Tuổi tác và giai đoạn chu kỳ gia đình
Nhu cầu và khả năng của người mua thay đổi theo tuổi tác. Ý thức được điều
này một công ty đồ chơi trẻ em đã thiết kế 12 loại đồ chơi khá nhau để sử dụng tuần
tự cho trẻ từ 3 tháng tuổi đến một năm. Một loại đồ chơi dành cho trẻ em, bắt đầu
biết chơi, loại khác để dành cho trẻ đã biết cầm nắm…. Cách phân chia như vậy
giúp cha me và những người muốn tặng quà dễ dàng lựa chọn đồ chơi thích thợp khi
biết lứa tuổi của đứa trẻ. Nhưng dù sao đi nữa thì các biến tuổi tác và giai đoạn của
chu kỳ gia đình cũng vẫn có thể là không đáng tin cậy. Thị trường mục tiêu thực tế
của một công ty không chỉ là những người trẻ trung về tuổi tác, mà có thể là tất cả
những người trung về tâm hồn.
• Giới tính
Việc phân chia thị trường theo giới tính đã được thực hiên từ lâu đối với quần áo,
dầu gội đầu, mỹ phẩm và tạp chí. Một ngành công nghiệp nữa cũng bắt đầu ý thức
được tiềm năng phân khúc thị trường theo giới tính, đó là ngành chế tao ôtô. Trước
kia ôtô được thiết kế theo thị hiếu chung của cả phái nam lẫn nữ. Nhưng do ngày
càng nhiều phu nữ đi làm và phụ nữ có xe riêng nên một số nhà sản xuất đã nghiên
cứu khả năng chế tao ôtô chỉ giành cho nữ giới, đặc biệt cho người lái xe là nữ giới
• Mức thu nhập
Một phương pháp phân khúc thị trường lâu đời nữa được áp dụng cho các mặt
hàng và dịch vụ như ôtô, canô, quần áo, mỹ phẩm, và du lịch là phân khúc thị
trường theo mức thu nhập. Đôi khi các ngành khác cũng thấy có khả năng phân

khúc thị trường kiểu này.
+ Phân khúc thị trường theo tâm lý học
Cơ sở lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, các yếu tố thuộc tâm lý đóng
vai trò quan trọng trong hành vi lựa chọn và mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng.
Nguyễn Văn Hải

14

Luận văn thạc sỹ QTKD


Phân khúc thị trường theo tâm lý học là chia thị trường thành các nhóm khách hàng
căn cứ vào vị trí xã hôi, lối sống và đặc tính nhân cách.
Theo quan niệm truyền thống, những người làm marketing cho rằng, các tiêu
thức thuộc tâm lý học thường được sử dụng để hỗ trợ cho các tiêu thức nhân khẩu
học và địa lý, vì tính “khó đo lường”. Nhưng càng ngày người ta càng nhận thấy
rằng, thị trường đã có sự biến đổi rất căn bản. Tiêu dùng của con người không đơn
giản chỉ vì sự tồn tại mà còn là cách người ta tự thể hiện mình. Vì vậy, cơ sở tâm lý
học càng được sử dụng nhiều hơn trong phân đoạn và hoạt động của marketing, đặc
biệt là trong kinh doanh các sản phẩm như may mặc, mỹ phẩm, thể thao, dịch vụ
giải trí. Khi lựa chọn và tiêu dùng những sản phẩm thuộc nhóm này, khách hàng
luôn dành sự chú ý đến đặc tính của sản phẩm gắn với các thuộc tính tâm lý như:
lòng tự hào về quyền sở hưu, cá tính, lối sống hơn là những khía cạnh khác.
+ Phân khúc thị trường theo hành vi
Theo hành vi thị trường người tiêu dùng sẽ được phân chia thành các nhóm
đồng nhất về các đặc tính như: Lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, sự trung thành, số
lượng và tỷ lệ sử dụng, cường độ tiêu thụ, tình trạng sử dụng.
• Lý do mua hàng
Người mua sẽ được phân biệt theo những lý do mua khác nhau ( mua cho nhu
cầu cá nhân, mua cho nhu cầu gia đình, mua cho nhu cầu công việc, mua cho nhu

cầu giao tiếp).
• Lợi ích tìm kiếm
Tiền đề của của cách phân khúc này là lợi ích mà người mua tìm kiếm khi sử
dụng sản phẩm. Cách phân khúc thị trường này là một cách tiếp cận thị trường tốt
nhất để có thể xác định rõ nhu cầu, ước muốn của nhóm người mua cụ thể đối với
từng nhãn hiệu hàng hóa.
• Số lượng và tỉ lệ tiêu dùng
Với tiêu thức này, thị trường tổng thể được phân thành các nhóm: Dùng nhiều,
dùng thường xuyên, dùng ít, dùng vừa phải. giúp người làm marketing có một khái
niệm đúng đắn về một “ Quy mô thị trường có hiệu quả”. Trong hầu hết các trường
hợp, cầu của khúc thị trường không chỉ phụ thuộc và số lượng khác hàng mà còn
Nguyễn Văn Hải

15

Luận văn thạc sỹ QTKD


phụ thuộc và sức mua của nhóm khách hàng trong đoạn đó. Những khúc thị trường
dù chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng sức mua lớn sẽ có tiêu thụ lớn.
• Mức độ trung thành với nhãn hiệu
Theo mức độ trung thành với nhãn hiệu, chúng ta sẽ có các nhóm khách hàng
điển hình: Khách hàng trung thành, khách hàng hay dao động, khách hàng hoàn toàn
không trung thành. Phân khúc thị trường theo mức độ trung thành giúp các doanh
nghiệp biết được mức độ chấp nhận của khách hàng về sản phẩm, Thương hiệu của
họ và của đối thủ cạnh tranh.
- Xác định thị trường mục tiêu
Phân khúc thị trường đã giúp cho các doanh nghiêp nhận diện được những thị
trường khác nhau, bước tiếp theo là lựa chọn thị trường mục tiêu.
Thị trường mục tiêu là một hoăc vài khúc thị trường mà doanh nghiệp lựa

chọn và quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh
doanh của mình.
Mỗi doanh nghiệp đều có thị trường mục tiêu của riêng mình để nhằm định
hướng phát triển kinh doanh theo các những mục tiêu cụ thể. Thị trường mục tiêu
của từng doanh nghiệp, của từng loại ngành nghề là khác nhau, tùy theo ý tường
kinh doanh của chủ doanh nghiệp. Có doanh nghiệp phân thị trường theo khu vực
địa lý, có doanh nghiệp lại phân loại thị trường mục tiêu theo độ tuổi…Thị trường
mục tiêu là thị trường nhằm quyết đinh đến sự thành bại của doanh nghiệp vì các
sản phẩm được sản xuất để nhằm tiêu thụ, hướng tới người tiêu dùng trên thị trường
này
- Nghiên cứu hành vi khách hàng
Hành vi của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ
ra trong quá trình điều tra, mua sắm, sử dung, đánh giá hàng hóa và dịch vu nhằm
thỏa mãn nhu cầu của họ. Tùy thuộc vào đặc điểm riêng của khách hàng mà dưới tác
động của hoạt động Marketing – Mix, và qua một quá trình phân tích lựa chọn của
khách hàng mới đi đến các quyết định mua hàng đi từ việc lựa chọn sản phẩm, nhãn
hiệu, nhà phân phối, thời gian mua sắm và số lượng mua sắm. Các yếu tố tác động
đến tiến trình ra quyết định mua hàng của khách hàng bao gồm các yếu tố sau:
+ Yếu tố tâm lý học bao gồm: Nhu cầu, tính cách, quan điểm, lối sống.
Nguyễn Văn Hải

16

Luận văn thạc sỹ QTKD


+ Yếu tố về kinh tế học: Nhu cầu có khả năng chi trả, sự thuận tiện, tính hiệu quả,
khả năng đáp ứng và chất lượng sản phẩm.
+ Các yếu tố về Marketing – Mix bao gồm: Sản phẩm, giá, xúc tiến và phân phối.
+ Yếu tố văn hóa bao gồm: Cá nhân, nhóm tham khảo, gia đình, tầng lớp xã hội, văn

hóa dân tộc, văn hóa nhóm.
+ Yếu tố về nhân khẩu học: Mật độ dân số, vị trí địa lý, phân bố tuổi, phân bố thu
nhập và giáo dục
+ Môi trường tác động: Hoàn cảnh mua hàng, chức năng mua sắm, nhóm xã hội và
hình mẫu tác động.
- Phân tích thị trường mục tiêu
Phân tích thị trường mục tiêu nhằm đánh giá tình hình kinh doanh trên thị
trường mục tiêu. Lên kế hoạch tiếp theo xem có lấy thị trường này làm thị trường
mục tiêu nữa hay không. Để phân tích thị trường mục tiêu cần phải biết rõ được các
thông tin như: Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp mình là gì?. Các số liệu cụ thể
về doanh thu trên thị trường đó.
1.2.2. Phân tích thị trường theo khu vực địa lý
Phân tích thị trường theo khu vực địa lý là phân tích tình hình kinh doanh dựa
theo những số liệu, những thống kê về doanh số, khách hàng đã được phân theo
từng khu vực địa lý cụ thể như phường, xã, quận, huyện, tỉnh… Đánh giá xem nơi
nào có tiềm năng hơn để nhắm vào các thị trường như vậy.
1.2.3. Phân tích thị trường theo thu nhập
Mỗi doanh nghiệp khu tung ra thị trường sản phẩm mới đều có đánh giá xem
sản phẩm mình sẽ nhắm vào những người tiêu dung của mình có thu nhập nằm trong
khoảng nào. Trong một xã hội thị mức thu nhập của con người đều có mức khác
nhau. Những người có mức thu nhập cao yêu cầu về sản phẩm càng cao, những
người thu nhập trung bình hoặc thấp thì yêu cầu của họ về sản phẩm thường ít hơn.
1.2.4. Phân tích thị trường theo độ tuổi
Những sản phẩm được thiết kế theo phân khúc độ tuổi sử dụng nên thị trường
cũng phân chia theo độ tuổi sử dụng. Mỗi độ tuổi nhu cầu về sử dụng nội thất là
khác nhau, phân tích thị trường theo độ tuổi là việc phân chia khách hàng theo các
mức tuổi khác nhau và dựa trên doanh thu theo từng mức tuổi đó để đánh giá hiệu
Nguyễn Văn Hải

17


Luận văn thạc sỹ QTKD


quả kinh tế. Đồng thời phân tích tâm lý khác hàng theo từng mức tuổi để có đánh giá
chính xác tiềm năng của thị trường của từng mức tuổi
1.2.5. Phân tích thị trường theo thị hiếu của khách hàng
Khách hàng lựa chọn sản phẩm theo sở thích, theo xu hướng thẩm mỹ của xã
hội. Nhiều khách hàng lựa chọn sản phẩm thiên về hướng công năng của sản phẩm
nhưng cũng có nhiều khách quan trọng thẩm mỹ hơn.
1.2.6. Phân tích cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp
Môi trường vi mô gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối
với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất
kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản: Đối thủ cạnh tranh trong ngành, người mua, nhà
cung cấp, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và sản phẩm thay thế (hình 1.1).
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành thường gồm các nội dung chủ
yếu: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành, và hàng rào lối ra. Cơ cấu
cạnh tranh ngành thường dựa vào số liệu khả năng phân phối sản phẩm của doanh
nghiệp trong ngành. Tình trạng cầu của một ngành là yếu tố quyết định về cường đồ
cạnh tranh trong nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ
hội lớn để mở rộng hoạt động, ngược lại cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để
các doanh nghiệp giữ được thị phần chiếm lĩnh.
Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của M. Porter

Đối thủ tiềm ẩn

Nhà cung ứng

Doanh nghiệp và
đối thủ hiện tại


Khách hàng

Sản phẩm thay
thế
- Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh
trong một ngành kinh doanh, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ gia nhập ngành.
Nguyễn Văn Hải

18

Luận văn thạc sỹ QTKD


Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại, mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc
nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn phụ thuôc phần lớn hàng rào lối vào.
- Cạnh tranh của các sản phẩm thay thế: là sự ảnh hưởng của các sản phẩm có
thể cùng công năng sử dụng nhưng được sản xuất từ những vật liệu khác hay
phương pháp khác. Các đối thủ cạnh tranh này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động
phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
- Quyền lực nhà cung cấp: Doanh nghiệp hoạt động cần các yếu tố đầu vào do các
nhà cung cấp bán. Mỗi thời kỳ lợi thế trong mua bán thuộc về ai, căn cứ vào số
lượng người tham gia mua bán trên thị trường này. Ngoài yếu tố số lượng doanh
nghiệp tham gia mua bán, tùy theo yếu tố đầu vào cụ thể, doanh nghiệp cần nghiên
cứu những đặc điểm liên quan khác như chất lượng, giá cả, công nghệ...
- Khách hàng: Khách hàng là đối tượng các doanh nghiệp quan tâm, phục vụ, khai
thác, là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp người mua có thể được
xem như đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hay có nhu cầu chất
lượng cao hay dịch vụ tốt hơn. Ngược lại, vị trí của người mua thấp sẽ mang đến
cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá, lợi nhuận nhiều hơn. Doanh nghiệp cần

phân tích khách hàng trên cơ sở biến động nhu cầu, nhu cầu tiềm năng, phân đoạn
thị trường mới,.. Từ đó, các định những cơ hội và thách thức ảnh hưởng tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.7. Phân tích thị trường quốc tế
Phân tích thị trường quốc tế là tìm hiểu nghiên cứu những diễn biến của thị
trường quốc tế, những diến biến đó có ảnh hưởng đến thị trường trong nước hay
không. Tìm các giải pháp nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp.
Dựa trên các kênh thông tin đáng tin cậy của trong và ngoài nước.
1.2.

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

1.2.1. Khái niệm phát triển thị trường
Phát triển thị trường là mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu,
lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Đưa hàng hoá hiện có của mình vào
các thị trường mới để tăng lượng tiêu thụ. Để đạt được mục đích này thì ngoài thị
trường truyền thống mà doanh nghiệp đang chiếm lĩnh, doanh nghiệp cần mở rộng
Nguyễn Văn Hải

19

Luận văn thạc sỹ QTKD


thêm, xâm nhập vào những đoạn thị trường khác hoặc cải tiến sản phẩm, thay đổi
chính sách giá cả… để thu hút thêm khách hàng trên thị trường mục tiêu.
1.2.2. Những cơ hội thuận lợi của thị trường
Nhà kinh doanh lạc quan nhìn đâu cũng thấy có các cơ hội thuận lợi. Nhưng
nhà kinh doanh giỏi, nhà tiếp thị có kinh nghiệm, nhà chiến lược phải biết đánh giá
và chọn lựa những cơ hội nào phù hợp với mục tiêu và các nguồn lực của doanh

nghiệp. Nói khác đi, cần phải biết phối hợp các cơ hội với các tiềm năng hay nguồn
lực của doanh nghiệp và các mục tiêu.
Có 4 dạng cơ hội chủ yếu: Thâm nhập sâu hơn vào thị trường, phát triển thị
trường, phát triển sản phẩm, đa dạng hóa. (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1. Bốn cơ hội thuận lợi của thị trường
Thị trường hiện tại

Sản phẩm hiện tại
Sản phẩm mới
Thâm nhập sâu hơn vào Phát triển sản phẩm

thị trường
Thị trường mới
Mở rộng thị trường
- Thâm nhập sâu hơn vào thị trường

Chiếm lĩnh thị trường

Người quản lý sản xuất sản phẩm của công ty cần suy nghĩ về vấn đề liệu sản
phẩm chủ yếu của mình, có thể thâm nhập sâu hơn nữa vào thị trường được không,
tức là tăng khối lượng hàng bán cho nhóm khách hàng mục tiêu hiện có mà không
cần thay đổi gì cho bản thân hàng hóa. Nói cách khác công ty sẽ tiếp tục kinh doanh
bằng những thứ hàng hóa hiện có trên những thị trường cũ. Trong trường hợp này có
thể thử một vài cách, chẳng hạn như hạ giá sản phẩm, tăng chi phí quảng cáo, sửa lại
nội dung quảng cáo, phân phối sản phẩm cho một số lượng lớn của hàng, đảm bảo
trưng bày thứ hàng này ở vị trí dễ đập vào mắt hơn của cửa hàng . v. v… Về thực
chất người quản lý sản xuất sản phẩm muốn thu hút những người quen tiêu dùng các
loại sản phẩm thuộc nhãn hiệu khác về phía mình, đồng thời không dễ mất đi một
khách hàng nào hiện có của mình.
- Mở rộng thị trường

Công tác phát triển, mở rộng thị trường là tổng hợp các cách thức, biện pháp của
doanh nghiệp để đưa khối lượng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường đạt mức tối đa.
Phát triển thị trường có thể thực hiện bằng mở rộng theo sản phẩm, mở rộng theo địa
lý hay mở rộng theo khách hàng.
Nguyễn Văn Hải

20

Luận văn thạc sỹ QTKD


Mở rộng theo sản phẩm tức là đưa thêm nhiều dạng sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ nhằm thoả mãn nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó tối đa việc tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường. Doanh nghiệp sẽ xác định lĩnh vực hoạt động, nhóm hàng
hoặc một sản phẩm mà doanh nghiệp có lợi thế nhất để tập trung nguồn lực vào sản
xuất kinh doanh.
Có hai hướng là có thể mở rộng sản phẩm mới hoàn toàn theo công năng, giá trị
sử dụng. Theo đuổi mục đích này doanh nghiệp phải đầu tư chi phí lớn về máy móc,
thiết bị, nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm ra thị trường…Hoặc hướng thứ
hai mà doanh nghiệp có thể theo đuổi là cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản
phẩm hiện có. Doanh nghiệp sẽ có các thay đổi về chất lượng, kiểu dáng, kích
thước, bao bì, nhãn hiệu,… tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình.
Mở rộng theo địa lý tức là mở rộng địa bàn hoạt động của doanh nghiệp bằng hệ
thống các đại lý, cửa hàng, quầy hàng, điểm bán…. Mở rộng địa lý có thể thực hiện
tại khu vực đang hoạt động của doanh nghiệp, hoặc xâm nhập vào nhưng khu vực
mới, thị trường.
Mở rộng theo khách hàng từ những khách hàng truyền thống , khách hàng mới,
khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp xác định. Doanh nghiệp tiến hành phân chia
khách hàng theo nhóm tuổi, giới tính, thu nhập, thị hiếu… Nghiên cứu nhu cầu,
mong muốn của từng nhóm đối tượng và dựa vào khả năng của mình để có chiến

lược cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Mở rộng thêm đối tượng phục vụ dựa vào
hành vi tiêu thụ, phạm vi địa lý và căn cứ vào mối quan hệ khách hàng, doanh
nghiệp.
- Phát triển sản phẩm
Nhà quản lý sản xuất sản phẩm suy nghĩ liệu có thể chào những mặt hàng
mới cho các khách hàng hiện có trên các thị trường hiện có không. Có thể chào sản
phẩm hoặc là với cách đóng gói mới, hoặc là với chất lượng mới hay bổ sung thêm
những thành phần mới hoặc trong bao bì mới. Tất cả những cách đó là những
phương án cải tiến hàng hóa có thể vận dụng. Ngoài ra công ty có thể tung ra thị
trường một hai loại sản phẩm với các nhãn hiệu hoàn toàn mới cho những nhóm
người tiêu dùng khác nhau. Công ty có thể nghiên cứu cả những mặt hàng khác nữa,
Nguyễn Văn Hải

21

Luận văn thạc sỹ QTKD


mà khách hàng hiện có có thể muốn mua. Đó là những quan điểm chiến lược về
nghiên cứu hàng hóa
- Chiếm lĩnh thị trường
Công ty có thể có rất nhiều khả năng chiếm lĩnh thị trường bằng cách chào
những mặt hàng mới trên những thị trường mới. Công ty cũng có thể mở ra hay mua
những cơ sở sản xuất hoàn toàn không liên quan gì đến danh mục hàng hóa hay thị
trường hiện có của mình. Một số công ty ra sức tìm kiếm những ngành sản xuất hấp
dẫn nhất theo quan điểm của mình, mới xuất hiện.
1.3.

SẢN PHẨM NỘI THẤT
Từ xa xưa, con người đã biết đã biết tạo ra những sản phẩm phục vụ sinh hoạt


hàng ngày trong gia đình như bàn, ghế, giường, tủ…. và hiện tại những sản phẩm đó
không thể thiếu trong đời sống của con người. Ngày nay, theo xu thế phát triển của
xã hội, mức sống của con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu cần có một
không gian sống tiên nghi hiện đại được quan tâm nhiều hơn. Đáp ứng những nhu
cầu đó thì đồ nội thất cũng được thiết kế, sản xuất sao cho sử dụng thuận tiện nhất
và cũng là một sản phẩm trang trí trong nhà. Từ đó ta có khái niệm như sau: Đồ nội
thất là những sản phẩm bên trong căn nhà để sử dụng và trang trí giúp cho không
gian trong nhà thêm tiện dùng và mang tính mỹ thuật cao.
Thiết kế nội thất là quá trình sáng tạo nghệ thuật, từ việc lên ý tưởng và biến
ý tưởng đó thành không gian nội thất hiện thực. Ngày nay, tại các thành phố lớn
không gian sinh hoạt ngày càng bị thu hẹp, do vậy cần phải có sự góp sức của nhà
thiết kế nội thất để thiết kế ra các sản phẩm tốn ít diện tích nhưng vẫn phải đảm bảo
công năng sử dụng, nhưng vẫn mang tính mỹ thuật cao.
1.3.1. Phân loại nội thất
Có các cách phân loại sau:
- Phân loại theo loại sản phẩm
Theo cách phân loại này, đồ nội thất có rất nhiều loại như: Giường, tủ, bàn,
ghế, sofa, kệ tivi…. Và các sản phẩm trang trí khác.
+ Giường: được bố trí trong phòng ngủ, là sản phẩm không thể thiếu trong gia đình.
Là sản phẩm sử dụng để nằm ngủ, nằm thư giãn.. Tùy theo độ tuổi sử dụng, theo sở
thích từng người mà giường được thiết kế với kích thước, chất liệu, màu sắc, kết cấu
Nguyễn Văn Hải

22

Luận văn thạc sỹ QTKD


khác nhau. ví dụ: Giường trẻ em thì được thiết kế thấp và nhỏ hơn, được sơn các

màu sắc sặc sỡ tạo sự thu hút đối với trẻ em. Mẫu mã giường rất phong phú, từ
phong cách cổ điển cho đến hiện đại tùy theo yêu cầu. Hiện nay, giường được làm
chủ yếu từ gỗ kết hợp với các vật liệu khác để tăng thêm tính thẩm mỹ cho sản
phẩm.
+ Ghế, sofa: là hai sản phẩm mang cùng công năng để ngồi, nhưng sofa còn có thể
sử dùng để nằm thư giãn. Ghế, sofa được sản xuất từ các loại vật liệu như: gỗ, inox,
da..
+ Tủ: là đồ dùng để đựng mọi vật, có hình khối chữ nhật, thường được làm bằng gỗ,
hoặc kim loại, có cánh cửa và mỗi cánh cửa hay có khóa để giữ an toàn. Có nhiều
loại tủ như tủ thờ, tủ quần áo, tủ đựng hàng, tủ đựng tài liệu, tủ đựng đồ dùng…
+ Bàn: là một loại đồ nội thất, với cấu tạo của nó là một mặt phẳng nằm ngang (gọi
là mặt bàn) có tác dụng dùng để nâng đỡ cho những vật dụng hay vật thể mà người
dùng muốn đặt lên mặt bàn đó.Việc đặt các vật dụng lên mặt bàn có thể vì lý do
trang trí, làm đẹp; hoặc dùng mặt bàn làm điểm tựa nhằm thực hiện một số thao tác
cần thiết (viết, vẽ,...); hay đơn giản là dùng mặt bàn làm nơi chứa đồ. Vì vậy mặt
bàn luôn phải được giữ trong trạng thái cân bằng; để đơn giản hóa cấu trúc thì việc
chống đỡ mặt bàn thường được thực thi bởi các cột hay các giá đỡ được gọi là "chân
bàn".
Ngoài ra còn rất nhiều các sản phẩm khác như: kệ tivi, giá sách và các đồ vật
trang trí khác như tranh treo, lọ hoa…Trang trí cho không gian nội thất thêm sinh
động và đẹp mắt.
- Phân loại theo chất liệu dùng để sản xuất
Có rất nhiêu loại vật liệu dùng để sản xuất đồ nội thất như: gỗ, da, vài, kính,
kim loại… hiện tại vật liệu để sản xuất rất phong phú và đa dạng để đẩy nhanh quá
trình sản xuất, nhưng vẫn mang tính mỹ thuật cao
+ Gỗ: là loại chất liệu trung tính, là một tặng phẩm của thiên nhiên để con người
khai thác. Con người đã biết sử dụng gỗ để sản xuất ra những dụng cụ để phục vụ
sinh hoạt trong đời sống. Tại việt nam, với khí hậu nhiệt đới gió mùa thì việc lựa
chọn vật liệu gỗ để sản xuất đồ nội thất là vô cùng sáng suốt. Nhưng rừng càng ngày
càng bị thu hẹp nên việc sử dụng gỗ tự nhiên để sản xuất rất khó khăn để kiếm

Nguyễn Văn Hải

23

Luận văn thạc sỹ QTKD


nguồn nguyên vật liệu lâu dài. Do vậy hiện nay có các loại vật liệu được sản xuất từ
gỗ tái chế, gỗ không sử dụng trực tiếp được, các vật liệu mới nhưng mang đặc tính
của gỗ.
+ Da: Được sử dụng chủ yếu để sản xuất sofa, kết hợp với khung gỗ hoặc kim loại
và một số chất liệu khác như bọt biển, lông thú… Da được lấy chủ yếu từ da bò có
tính đàn hồi cao và ít khuyết điểm. Nước Anh là nơi cung cấp lượng da bò lớn nhất
thế giới nhưng nước Ý là nơi có công nghệ thuộc da tốt nhất trên thế giới.
+ Các vật liệu khác: được sử dụng ít hơn như: kim loại, nhựa, vài …..Chủ yếu được
kết hợp với 2 loại vật liệu trên để tạo ra sản phẩm.
- Phân loại theo cách bố trí đồ nội thất
Đồ nội thất phòng ngủ, Đồ nội thất phòng khách, Đồ nội thất phòng làm việc,
Đồ nội thất phòng ăn và bếp…
- Phân loại theo các không gian nội thất
Đồ nội thất gia đình, Đồ nội thất văn phòng – trường học, Đồ nội thất nhà
hàng khách sạn, Đồ nội thất bệnh viện…
- Đặc điểm của thị trường nội thất nội địa
+ Thị trường đồ nội thất phân bố không đều
Thị trường đồ nội thất tập trung vào các thành phố lớn đặc biệt là: TP Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh.
+ Thị trường nội thất thường nóng vào dịp cuối năm
Thời điểm cuối năm âm lịch rơi vào khoảng tháng 11 cho đến tháng 1 dương
lịch vì đây là thời điểm khách hàng có nhu cầu mua sắm, sửa sang lại căn nhà và đặc
biệt muốn mang lại cho ngôi nhà một không gian mới mẻ để đón tết.

+ Thị trường đồ nội thất cạnh tranh khốc liệt
Thị trường nội thất có từ lâu đời, nhưng xã hội phát triển đời sống xã hội
được nâng cao con người quan tâm đến sự tiện nghi, hiện đại trong đời sống sinh
hoạt của mình. Do vậy thị trường càng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự
gia tăng về nhu cầu sử dụng thì sự phát triển về cung lớn tạo nên sự cạnh tranh ngày
càng khốc liệt.
+ Thị trường đồ nội thất nội địa sân chơi cho những thương hiệu ngoại
Nguyễn Văn Hải

24

Luận văn thạc sỹ QTKD


Do công nghệ, trình độ sản xuất và khả năng nắm bắt xu hướng thiết kế còn
nhiều hạn chế nên các sản phẩm nội thất cao cấp được sản xuất ra tại Việt Nam chất
lượng, thẩm mỹ không cao, ít được người tiêu dùng ưa chuộng. Từ đó, các sản phẩm
nội thất cao cấp nhập ngoại chiếm gần như toàn bộ thị phần đồ nội thất cao cấp nội
địa. Bên cạnh đó, bán đồ nội thất nhập khẩu có lợi nhuận nhiều và quay vòng vốn
nhanh hơn là tổ chức xưởng sản xuất hay chờ đợi những công ty trong nước
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều các hãng đồ nội thất cao cấp của các
nước có ngành công nghiệp nội thất trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam như: Ikea,
Nieri, Calia…Các hãng nội thất nổi tiếng này được các doanh nghiệp Việt Nam
nhập khẩu hoặc tham gia trực tiếp vào thị trường Việt Nam và bán lẻ trên thị trường
nội địa.
+ Sản phẩm đa dạng, phong phú
Nội thất là sản phẩm gắn bó mật thiết với con người trong sinh hoạt ngày nên
hình dáng và kích thước, mẫu mã được thiết kế và sản xuất ra đều dựa trên mục đích
sử dụng và sở thích của con người, do đó sản phẩm rất phong phú. Từ đó trên thị
trường xuất hiện rất nhiều loại sản phẩm mà các công ty chọn làm sản phẩm chủ lực

của mình.
+ Công nghệ có ảnh hưởng lớn tới cạnh tranh trên thị trường
Các sản phẩm nội thất nhập khẩu thường được sản xuất bằng công nghệ hiện
đại nên chất lượng sản phẩm cao, làm cho các doanh nghiệp nội địa không thể cạnh
tranh trên chính thị trường truyền thống của mình.
+ Thị trường đồ nội thất rất nhạy cảm
Khi tình hình kinh tế, chính tri, xã hội có sự biến động thì thị trường nội thất
cũng biến động theo. Nhất là thị trường bất động sản có ảnh hưởng trực tiếp và
mạnh mẽ nhất đến thị trường đồ nội thất.
1.3.2. Xu hướng phát triển của thị trường nội thất nội địa
- Thị trường đồ nội thất nội địa vẫn là thị trường thu hút những thương hiệu
ngoại nhập
Những thương hiệu ngoại đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường đồ nội thất nội
địa và đã có vị trí trên thị trường nên để duy trì và phát triển thị phần trong thời gian
Nguyễn Văn Hải

25

Luận văn thạc sỹ QTKD


×