Phần I : Lời mở đầu
Lịch sử việt nam đã từng ghi dấu những mốc son chói lọi về một thời kì giữ
nước chống giặc ngoại xâm anh hùng của dân tộc ta.với quyết tâm và lòng dũng
cảm chúng ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trấn động toàn cầu và để 28
năm sau lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử thế giới nói riêng đã chứng kiến một
Điện Biên Phủ trên không. Lòng dũng cảm của con người Việt Nam đã chiến thắng
những chiếc thần cơ hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ_ Máy bay B52. Góp phần
không nhỏ làm nên chiến thắng ấy là lực lượng Không Quân Việt Nam. Đến khi
nước nhà thống nhất chúng ta lại khiến cả thế giới ngỡ ngàng vì có một nhân vật
làm nên một hành trình kì diệu_đi vòng quanh trái đất. Đó là anh hùng Nguyễn
Tuân. Ngày nay khi mà đất nước hòa bình lực lượng Không quân đảm nhận việc
gìn giữ bầu trời Việt Nam đó là một nhiệm vụ vinh quang cao cả mà Đảng và Nhà
nước giao cho
Là một sinh viên ngành kĩ thuật bản thân em nói chung và các bạn sinh viên nói
riêng việc tìm hiểu lịch sử Không quân là một điều cần thiết để chúng ta tìm về qua
khứ hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc. Em xin chân thành cảm ơn Khoa
Giáo Dục Quốc Phòng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp em trong việc
tìm hiểu đề tài này.
Phần II: Nội dung
Không quân
1 Khái niệm và sự phân loại
Các máy bay F-16A, F-15C, F-15E của Không quân Hoa Kỳ trong chiến dịch Bão
táp sa mạc
Không quân là một quân chủng trong quân đội nhiều nước, được trang bị máy bay
các loại để tác chiến trên không, đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước, làm nhiệm
vụ trinh sát, đổ bộ đường không, vận tải đường không và các nhiệm vụ khác.
Không quân có khả năng độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác.
Theo chức năng nhiệm vụ, có không quân: tiêm kích, tiêm kích-ném bom, ném
bom, cường kích, trinh sát, vận tải...
Trong quân đội một số nước, không quân chia thành:
•
•
•
•
Không quân chiến lược
Không quân chiến thuật
Không quân mặt trận (không quân quân khu)
Không quân hải quân và thường được tổ chức thành quân chủng.
Nhiều lực lượng không quân trên thế giới còn bao gồm binh chủng hàng không vũ
trụ quân sự, tên lửa liên lục địa và thiết bị thông tin. Một số lực lượng không quan
có thể bao gồm các khí tài bảo vệ bầu trời khác như pháo phòng không, tên lửa đất
đối không hay các hệ thống tên lửa đánh chặn, cảnh báo và các hệ thống phòng vệ
khác.
Phần lớn các quốc gia có lực lượng không quân độc lập - quân chủng không quân
- tương đương với lục quân và hải quân. Tuy vậy điều này không ngăn cản lục quân
và hải quân xây dựng thành phần tác chiến trên không của riêng để hỗ trợ hoạt
động. Ví dụ tiêu biểu là quân đội Mỹ, lực lượng hải quân có bộ phận không quân rất
mạnh mà căn cứ chủ yếu là các tàu sân bay; lực lượng lục quân phát triển thành
phần trực thăng thành phương tiện di chuyển và chiến đấu hiệu quả. Với quân đội
Canada, không quân điều hành tất cả các máy bay quân sự, kể các khi các máy bay
thuộc phiên chế các đơn vị lục quânch sử ra đời của không quân
2 Lịch sử ra đời của không quân
Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới là hàng không quân sự của lục quân
Pháp thành lập năm 1910, lực lượng này sau đó trở thành quân chủng không quân.
Khinh khí cầu, phát triển từ thế kỷ 19 đáng kể là ở Pháp và Mỹ, không thực sự gọi
là không quân. Trong Thế chiến thứ nhất, Đức, Ý, Pháp và Anh có lực lượng không
quân đáng kể gồm máy bay chiến đấu (tiêm kích) và máy bay oanh tạc (oanh tạc
cơ).
Lực lượng không quân độc lập đầu tiên trên thế giới là Không quân Hoàng gia Anh
(Royal Air Force – RAF). Ngày 1 tháng 4 năm 1918, lực lượng này ra đời với sự
hợp nhất của Lực lượng hàng không của Hải quân Hoàng gia Anh và các quân đoàn
máy bay của Quân đội Hoàng gia Anh. RAF sử dụng quân phục có mầu sáng hơn
quân phục xanh da trời của Hải quân Hoàng gia và có hệ thống cấp bậc khác nhiều
lục quân và hải quân.
Sau Thế chiến thứ nhất, Đức bị cấm phát triển không quân theo quy định của Hiệp
ước Versailles. Năm 1935, Đức phá bỏ quy định này, thành lập lực lượng không
quân (Luftwaffe). Không quân Ý (Regia Aeronautica) trở thành lực lượng độc lập
năm 1923, trong khi mãi đến giữa thập niên 1930 Pháp mới có quân chủng không
quân tách biệt khỏi lục quân. Không quân Xô viết gần như vô danh mãi đến 1924,
còn các quân đoàn không quân Hoa Kỳ chỉ giành được tự chủ một phần khi quân
chủng không quân ra đời năm 1941, vài tháng trước sự kiện Trân Châu Cảng.
Không quân Hoa Kỳ trở thành quân chủng độc lập năm 1947.
Trong thập niên 1930, không quân bắt đầu được sử dụng vào các hoạt động ném
bom chiến lược phá hoại cơ sở hạ tầng của đối thủ, đi đầu là Nhật và Đức tiến hành
ở Trung Quốc và trong nội chiến Tây Ban Nha. Trong Thế chiến thứ hai, vai trò của
máy bay ném bom được hoàn thiện. Các cuộc đột kích không quân bằng hàng ngàn
oanh tạc cơ cùng lúc không phải là hiếm. Sự phát triển máy bay tiêm kích thực hiện
phi vụ bất kể ngày hay đêm là nhằm ngăn chặn những oanh tạc cơ kể trên. Một
trong những sự kiện cuối cùng trong Thế chiến thứ hai là pháo đài bay B-29 của Mỹ
thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật
Bản vào tháng 8 năm 1945.
Cùng với sự ra đời của Chiến tranh Lạnh, cả Không quân Hoa Kỳ và sau đó là
Không quân Xô viết xây dựng lực lượng máy bay ném bom chiến lược có khả năng
mang bom hạt nhân. Một số kỹ thuật hiện đại được phát triển và sử dụng rộng rãi
trong thời gian này là tiếp dầu trên không, động cơ phản lực, tên lửa và máy bay
trực thăng.
Trung Quốc, ban đầu với sự giúp đỡ của Liên Xô, đã hình thành một lực lượng
không quân đồ sộ độc lập với lục quân. Hoa Kỳ và Liên Xô cung cấp rất nhiều máy
bay cho các nước trong hệ thống ảnh hưởng của họ.
Trong thập niên 1960, Canada, khác với xu hướng chung, sáp nhập quân chủng
không quân vào lục quân và hải quân, hình thành lực lượng chung là Quân đội
Canada (Canadian Armed Forces) với đồng phục chung màu xanh lá cây. Đây là
trường hợp hãn hữu và gần đây lực lượng không quân (cũng như hải quân) của
Canada đã quay lại với các biểu hiện riêng.
Lực lượng không quân Việt Nam là một thành phần của quân chủng phòng khôngkhông quân ngày 24 tháng 1 năm 1959. Năm 1977, lực lượng này trở thành quân
chủng độc lập - Không quân Nhân dân Việt Nam đến năm 1999 thì quay trở lại
Quân chủng phòng không-không quân.
Không quân Nhân dân Việt Nam
1 Lịch sử ra đời
I Khái quát chung
Không Quân Nhân Dân Việt Nam
Quân kỳ Quân đội Nhân dân Việt nam và cờ của Không
quân Nhân dân Việt Nam
Hoạt động
1959 -
Quốc gia
Việt Nam
Quy mô
30,000 người
387 máy bay
Lễ kỷ niệm
3 tháng 4 - ngày Không quân
tiêm kích đánh thắng trận đầu
(1965)
Trận/cuộc chiến
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Chiến tranh biên giới phía Bắc
Huy hiệu
Phù hiệu
Không quân
Tấn công
Bảo vệ
Su-22, Mi-24
Su-30, Su-27, MiG-21
Tuần tra
Ka-27, Ka-25
Do thám
M-400, An-30
Huấn luyện
Yak-52, L-39
Vận tải
An-38, M-28, An-24, UH-1,
Mi-8, Mi-17
Không quân Nhân dân Việt Nam là một binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam,
trực thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân-Bộ Quốc phòng, chiến đấu với trang bị
là máy bay chuyên dụng. Bảo tàng Không quân trực thuộc Cục Chính trị Quân chủng
Phòng không-Không quân, đặt tại 86 đường Trường Chinh, Hà Nội. Ngày thành lập: 3
tháng 4 năm 1985.
Trung tướng Hoa Kỳ Daniel P. Leaf và phái đoàn của ông thăm các chỉ huy Không quân
Nhân dân Việt Nam tháng 5/2007
• Ngày 9 tháng 3 năm 1949: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội
nhân dân Việt Nam ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc
Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1951 giải thể ban này, nhập vào lực lượng pháo binh
và phòng không
•
•
•
•
•
•
•
Ngày 3 tháng 3 năm 1955: Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 15/QĐA thành lập
Ban nghiên cứu Sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng. Ngày này được lấy
làm ngày thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam.
Ngày 24 tháng 1 năm 1959: Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ban hành Quyết định
số 319/QĐ thành lập Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu trên cơ sở tổ
chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu Sân bay và Cục Hàng không dân dụng
Việt Nam.
Ngày 1 tháng 5 năm 1959, tại sân bay Gia Lâm, trung đoàn không quân vận tải
đầu tiên, trung đoàn 919 ra đời. (nay là Đoàn bay 919 của Hàng không Việt Nam)
Ngày 22 tháng 10 năm 1963: Cục Không quân sáp nhập với Bộ Tư lệnh Phòng
không thành Quân chủng Phòng không-Không quân. Lực lượng không quân lúc
đó chỉ có 1 trung đoàn vận tải 919 và trung đoàn 910 (trường huấn luyện).
Tháng 3 năm 1967: thành lập Bộ Tư lệnh Không quân
Ngày 16 tháng 5 năm 1977: thành lập Quân chủng Không quân. Quân chủng
Không quân gồm các binh chủng Không quân tiêm kích, Không quân tiêm kíchbom, Không quân vận tải, Không quân trinh sát,... và tồn tại đến năm 1999.
Từ ngày 3 tháng 3 năm 1999: trở lại là một thành phần (gồm một số binh chủng)
trong Quân chủng Phòng không-Không quân.
II Sự hình thành máy bay tiềm kích đầu tiên
Đoàn không quân "Sao Đỏ", đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng
trong trận Điện Biên Phủ trên không
Ngay từ tháng 3 năm 1956, các đoàn cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu sân bay được
cử đi nước ngoài học tập. Đoàn học lái máy bay tiêm kích có 50 người, do Phạm Dưng
làm trưởng đoàn (sau này Đào Đình Luyện thay) được cử sang học tập tại Trung Quốc.
Lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam đầu tiên được thành lập là Trung đoàn không
quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung
đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó.
Trung đoàn này được huấn luyện trên cao nguyên Vân Quý - Trung Quốc. Ngày 3 tháng
2 năm 1964, lễ thành lập Trung đoàn không quân đầu tiên được tổ chức tại Mông Tự, tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc. Ban đầu Trung đoàn có 32 chiếc máy bay chiến đấu kiểu MiG17, 4 chiếc máy bay kiểu MiG-15, số phi công có 70 người, được đào tạo ở Trung Quốc
trở về nước cùng với số máy bay MiG-17A được viện trợ. Từ tháng 4 năm 1965 chuyển
sang máy bay MiG-21.
Ngày 4 tháng 8 năm 1965, Trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 là Trung đoàn 923,
mật danh Đoàn Yên Thế, được thành lập, gồm 2 đại đội 17 phi công MiG-17, do Nguyễn
Phúc Trạch làm Trung đoàn trưởng, Nguyễn Ngọc Phiếu làm Chính ủy. Không quân Việt
Nam được trang bị thêm một số máy bay MiG-17F có bộ phận tăng lực. Đến cuối năm
1965, Không quân Việt Nam có thêm một số máy bay MiG-21 do Liên Xô viện trợ, tuy
nhiên, mãi đến tháng 3 năm 1966, số máy bay này mới về đến Việt Nam. Từ năm 1979
Trung đoàn 923 trang bị máy bay tiêm kích-bom Su-22.
Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn không quân Thăng Long (phiên hiệu là Sư đoàn
371) tức Bộ tư lệnh không quân được thành lập, gồm các trung đoàn 921, 923, 919 và
đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đến tháng 3 năm 1972, trung đoàn không quân tiêm kích thứ 3 thành lập, trung đoàn 927,
mật danh Đoàn Lam Sơn.
Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam cũng có một số trường hợp đặc biệt hi hữu. Ngày 7
tháng 11 năm 1973, Hồ Duy Hùng, vốn là một Thiếu úy phi công trực thăng vũ trang của
Việt Nam Cộng hòa bị sa thải, thực chất là một điệp viên được cài vào Không lực Việt
Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay trực thăng vũ trang UH-1A tại Đà Lạt và
hạ cánh tại Dầu Tiếng, thuộc vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam.
Đúng 17 tháng sau, ngày 8 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thành Trung, cũng là một một
điệp viên được cài vào Không lực Việt Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay
phản lực chiến đấu F-5E, ném bom vào dinh Độc Lập và sau đó hạ cánh tại sân bay dã
chiến tại Phước Long..
III Những tổn thất và vinh quang
Chiếc máy bay tiêm kích MIG 17 mang số hiệu 2011 mà Ngô Đức Mai đã lái hôm
12/5/1967 và bắn hạ máy bay của Norman Cagadixo.
Trước một đối phương chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng lẫn chất lượng, với hàng
ngàn máy bay và hàng trăm phi công có trên 1.000 giờ bay trên nhiều lọai máy bay khác
nhau, Không quân Việt Nam vào lúc cao điểm cũng không có quá 200 máy bay MiG17/19/21 với chưa đến 100 phi công với số giờ bay ít ỏi, thì những tổn thất của phía Việt
Nam là rất khó chịu đựng. Họ đã cố gắng cải thiện vấn đề này bằng nhiều biện pháp tổng
hợp từ tinh thần đến chiến thuật đánh nhằm hạn chế tổn thất đến mức tối thiểu. Tuy
nhiên, các phi công Mỹ cũng không phải là những kẻ bất tài.
Phía Mỹ công bố trong thời gian từ 1965 đến 1973, họ đã có 194 phi công, trong đó có
143 là phi công F-4, đã bắn hạ MiG. Một tài liệu khác của Hải quân Mỹ công bố, trong
suốt thời gian từ ngày 7 tháng 6 năm 1965 đến 12 tháng 1 năm 1973, các phi công Hải
quân Mỹ đã hạ 60 chiếc MiG. Đặc biệt với chiến dịch Bolo vào năm 1967 và chiến dịch
TopGun vào năm 1972 của người Mỹ đã làm không quân Việt Nam thiệt hại đến mức
khủng khiếp, nhất là trên số lượng phi công ít ỏi của họ.
Riêng ngày 2 tháng 1 năm 1967, chiến dịch Bolo nhằm gài bẫy các MiG Việt Nam được
thực hiện. Trong ngày này, có 6 MiG cất cánh, thì 5 chiếc bị bắn rơi tại chỗ, 4 phi công
phải nhảy dù (trong đó có 3 người về sau trở thành hạng "Ách" là Nguyễn Đăng Kỉnh,
Nguyễn Văn Cốc, Nguyễn Hồng Nhị) và một phi công thiệt mạng, phía Mỹ không mất
máy bay nào. Trong hai ngày sau, riêng đoàn 921 mất thêm 3 chiếc nữa. Trong vòng 3
ngày, Việt Nam tổn thất 9 máy bay trong tổng số 16 máy bay tham gia chuẩn bị chiến
đấu. Hoặc trong ngày 10 tháng 5 năm 1972, các phi công Mỹ tốt nghiệp chương trình
huấn luyện TopGun đã bắn hạ gần 10 chiếc MiG-17/19. Phía Việt Nam cũng thừa nhận
thiệt hại trong vòng 3 ngày liên tiếp, họ mất gần 10 phi công giỏi.
Máy bay tiêm kích MIG 17 này đã được Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ngày 19/4/1972
và ném bom trúng tàu khu trục Hibi đang thực hiện nhiệm vụ pháo kích Đồng Hới.
Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam còn bị tổn thất bởi chính những người đồng đội
Phòng không của mình. Do số lượng máy bay Việt Nam rất ít, ngay trong không chiến,
giữa đông đảo các máy bay của đối phương, các MiG cũng rất dễ bị lạc đạn trong lưới lửa
phòng không Việt Nam. Ngoài ra, do ít thông tin, những người lính phòng không còn bắn
nhầm trong nhiều trường hợp đáng tiếc. Ngoài trường hợp 3 máy bay MiG bị rơi, được
cho là bị đạn cao xạ bắn nhầm ngày 4 tháng 4 năm 1965, tài liệu phía Việt Nam ghi nhận
một trường hợp 2 MiG bị bắn rơi bở tên lửa Việt Nam làm 1 phi công chết, 1 bị thương
nặng. Ngoài ra, sự yếu kém do thiếu kinh nghiệm cũng làm phía Việt Nam mất nhiều phi
công trẻ và máy bay, có lúc làm cho lực lượng không quân Việt Nam gần như tê liệt.
Tuy nhiên, các phi công Việt Nam đã thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của họ trong cả
hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối phương. Trong suốt các cuộc
không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có 16 phi công
đạt đẳng cấp "Ách" (tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), trong đó người
cao nhất là phi công MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công
huyền thoại khác là Nguyễn Văn Bảy, phi công MiG-17, cũng đã bắn hạ 7 máy bay Mỹ.
Trong khi đó, chỉ có 3 nhóm phi công Mỹ đạt đẳng cấp "Ách" (đều là F-4) và người cao
nhất là Hoa tiêu, Đại úy Không quân Chuck E. DeBellevue đã bắn hạ được 6 máy bay.
Hai tổ lái còn lại là tổ lái của Ritchie Richard (phi công) và Feinstein Jeffrey S. (hoa tiêu)
của Không quân và tổ lái Cunningham Randolph (phi công) và Driscoll William (hoa
tiêu) của Hải quân, đều hạ 5 chiếc.
MiG-21 F94 số 5020 của Đoàn 927 Không quân Nhân dân Việt Nam đã được nhiều anh
hùng lục lượng vũ trang Việt Nam lái trong thời gian Chiến tranh Việt Nam.
Các phi công Mỹ còn lưu truyền về một phi công MiG-17 được họ gọi bằng biệt hiệu Đại
tá Toon (hay Tomb) với số lần bắn hạ đối phương là 13 lần, về sau bị một "Ách" của Hải
quân Hoa Kỳ là Đại úy Randy "Duke" Cunningham bắn rơi. Một số người cho rằng đây
là phi công Đinh Tôn, tuy nhiên Đinh Tôn lại lái chiếc MiG-21 và không được xếp vào
nhóm "Ách". Trên thực tế, phía Việt Nam không đưa các phi công có cấp bậc Thiếu tá trở
lên để tham gia không chiến. Sau này, Đại tá Toon được xác nhận là một nhân vật tưởng
tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm.
Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, Đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi
công giỏi của Việt Nam, giống như những "nghệ sỹ sôlô" ném bom đơn độc ban đêm
trong Thế chiến thứ hai được gọi là "máy giặt Charlie" vậy.
2 Lực lượng không quân Việt Nam hiện nay
Hầu hết các máy bay của Không quân nhân dân Việt Nam được cung cấp bởi Liên Xô, và
một phần được để lại từ Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa
Lực lượng máy bay hiện nay( con số ước lượng ):
I Máy bay phản lực chiến đấu :
•
•
Nga/ 4 Sukhoi Su-30 "Flanker"
Nga 12 Sukhoi Su-27 Flanker
•
•
Liên Xô 150 Mikoyan-Gurevich MiG-21 Fishbed, 100 chiếc đã được nâng
cấp phiên bản MiG-21 Bis
Liên Xô 80 Sukhoi Su-22 Fitter-C
II Trực thăng
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Liên Xô 30 Mi-8 Hip Trực thăng vận tải
Liên Xô 24Mi-17 Hip-H Trực thăng vận tải
Nga Mi-171Sh Trực thăng chiến đấu và vận tải
Nga Mi-172 Trực thăng vận tải
Liên Xô 3 Kamov Ka-25 Hormone
Liên Xô Ka-27 Helix ASW helicopter
Liên Xô 26 Mil Mi-24 Hind-A Trực thăng chiến đấu
Pháp 6 SA-330J Puma Trực thăng dân sự từ Bộ Quốc phòng
Pháp 7 Aérospatiale Super Puma trực thăng vận tải AS-332L2
III Vận tải
•
•
•
•
•
Liên Xô Antonov An-30 Clank Máy bay vận tải/ trinh sát
Liên Xô 12 Antonov An-26 Curl Vận tải
Liên Xô/
Ukraina Antonov An-24 Coke Vận tải
Liên XôAntonov An-38 - Phiên bản mở rộng của An-28
Ba Lan 2 PZL M-28 Skytruck - Phiên bản mở rộng với tầm bay cao
IV Máy bay tự sản xuất
Việt Nam HL-1, HL-2, VNS-41 thủy phi cơ, được
nghiên cứu từ tháng 6-2003
Việt Nam M-400 UAV Máy bay trinh sát không người lái , tự sản xuất từ
Thông tin thêm
Một vài trực thăng loại UH-1 Huey, máy bay chiến đấu phản lực F-5, A-37 đã được bán
đấu giá vào năm 1998 và hiện đang thuộc quyền sở hữu của một vào doanh nghiệp và cá
nhân thuộc Hoa Kỳ, Úc, New Zealand và Châu Âu.
Năm 1996, Không quân nhân dân Việt Nam đã đàm phán mua 2 phi đội máy bay
Dassault Mirage 2000 từ Pháp nhưng bị ngăn cản vì lệnh cấm vận quân sự của Hoa Kỳ
với Việt Nam
Các trường không quân ở Nha Trang và Sơn Tây là hai nơi đào tạo phi công cho không
quân hiện nay.
3 Một số trận không chiến tiêu biểu
Chiến công đầu tiên của Không quân Việt Nam do Trung đoàn không quân vận tải 919
lập. Đêm 15 tháng 2 năm 1965, chiếc máy bay T28 (thu được do một phi công phản
chiến hạ cánh xuống san bay Bạch Mai) do Nguyễn Văn Ba làm lái chính, Lê Tiến Phước
làm lái phụ bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay C123 của Mỹ gần biên giới Việt-Lào.
Nguyễn Văn Ba đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 8
năm 1995.
Trận không chiến đầu tiên của MiG-17 là vào ngày 3 tháng 4 năm 1965, tại trận đánh bảo
vệ cầu Đò Lèn, Thanh Hóa với phi đội 4 chiếc MiG-17 đã tấn công vào đội hình máy bay
A4D và F8 mang bom của Hải quân Hoa Kỳ. Hai chiếc F-8 Crusaders đã bị bắn trúng
nhưng không rơi tại chỗ mà cố chạy được ra biển. Ba chiếc MiG-17 về hạ cách an toàn,
một chiếc của phi đội trưởng Phạm Ngọc Lan hết dầu phải hạ cánh xuống bãi sông
Đuống.
Trận đánh tiếp theo diễn ra ngay hôm sau với 3 phi đội cất cách, trong đó có 2 phi đội
nghi binh và bảo vệ, một phi đội công kích thẳng vào tốp F-105 mang bom tấn công cầu
Hàm Rồng, Thanh Hóa do Thiếu tá Frank Bennett làm dẫn đầu. Phía Mỹ có 2 chiếc F105 bị MiG-17 bắn trúng. Chiếc do Đại úy James Magnusson lái rơi trên đường thoát ra
biển, chiếc do Thiếu tá Frank Bennett rơi khi hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Đà Nẵng.
Cả hai phi công đều chết. Phía Không quân Việt Nam mất 3 chiếc MiG. Một chiếc do Lê
Minh Huân lái rơi gần bờ biển Sầm Sơn, gần xác chiếc F-105 do chính anh bắn hạ. Hai
chiếc còn lại, do Phạm Giấy và Trần Nguyên Năm lái, bị rơi ở gần khu vực cầu Hàm
Rồng. Cả 3 chiếc đều không có ghi nhận nào bị bắn rơi từ phía Mỹ, có khả năng bị chính
súng phòng không của Việt Nam bắn rơi. Một chiếc duy nhất còn lại, do phi đội trưởng
Trần Hanh lái và cũng là chiếc đã bắn hạ Thiếu tá Frank Bennett, hết dầu và hỏng la bàn
nên phải hạ cánh xuống lòng một con suối cạn thuộc bản Ké Tằm, huyện Quỳ Châu, tỉnh
Nghệ An.
Chiến công đầu tiên của MiG-21 là bắn rơi máy bay do thám không ngưòi lái Ryan
Firebee của phi công Nguyễn Hồng Nhị vào ngày 4 tháng 3 năm 1966.
Không quân Việt Nam ghi nhận có 3 trường hợp MiG-21 tấn công pháo đài bay B-52 và
họ tự hào là lực lượng không quân duy nhất trên thế giới tấn công trực tiếp được loại máy
bay này thời bấy giờ. Trường hợp đầu tiên do phi công Vũ Đình Rạng bắn trúng B-52
ngày 20 tháng 11 năm 1971. Chiếc B-52 bị hư hỏng nặng, phải hạ cánh khẩn cấp xuống
sân bay Nakhom-Phanom, Thái Lan. Trường hợp thứ hai được phía Việt Nam ghi nhận là
do Phạm Tuân bắn rơi tại chỗ vào ngày 27 tháng 12 năm 1972. Trường hợp thứ ba diễn ra
ngay vào ngày hôm sau, 28 tháng 12 năm 1972, được ghi nhận do phi công Vũ Xuân
Thiều sau khi đã bắn tên lửa mà không hạ được B-52, đã lao máy bay vào cảm tử (chỗ
này chưa thống nhất, có sách báo viết rằng do bắn B-52 ở cự ly quá gần nên máy bay của
Vũ Xuân Thiều cũng bị "vạ lây").
Trận không chiến cuối cùng giữa Không quân Việt Nam và Không quân Mỹ diễn ra vào
ngày 27 tháng 12 năm 1972. Phía Việt Nam công bố, chiếc máy bay MiG-21 do phi công
Trần Việt điều khiển đã bắn hạ 3 chiếc F-4. Phía Mỹ chỉ công nhận rơi 2 chiếc. Tuy
nhiên, đây cũng là hiệu suất rất cao, vì MiG-21 chỉ mang theo được 4 quả tên lửa
Phn III: Kt lun
Qua 2 đợt học môn giáo dục quốc phòng , với bản thân mình là một sinh viên
Đại Học Bách Khoa Hà Nội em cảm thấy đợc vấn đề đặt ra hiện nay là của nền
quốc phòng toàn dân của chúng ta là cần phải hiện đại hóa, tăng khả năng chiến
đấu của các vũ khí chiến đấu, tổ hợp Radar phòng không, pháo phòng không,
tên lửa Đặc biệt là việc khai thác sử dụng, cải tiến và nâng cao tính năng kỹ
chiến thuật, hệ thống điều khiển, khả năng tác chiến trên không của các phơng
tiện đờng khôngtrong khi những thiết bị vũ khí còn lạc hậu so với sự phát triển
của nền quân sự của thế giới. Chính vì vậy việc nâng cao trình độ khoa học công
nghệ, trau dồi tri thức của bản thân là vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Cũng
chính vì lý do chiến tranh hiện nay là chiến tranh công nghệ cao với những vũ khí
thông minh, vũ khí trang bị công nghệ cao vũ khí trang bị co xu h ớng nhẹ
hơn nhng đợc điều khiển chính xác hơn , tầm bắn xa hơn , tốc độ nhanh hơn
Công năng của hệ thông chỉ huy , điều khiển, thông tin, tình báo và đối kháng
điện tử ngày càng một nâng cao. Một khía cạnh nào đó cũng liên quan đến chính
ngành mình học do đó với việc là một sinh viên của một trờng khoa học công
nghệ lớn - trờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội thì việc nâng cao cơ sở kiến thức
ngành lại cực kì quan trọng để từ đó có thể áp dụng từ những kiến thức mình học
vào trong các ngành kinh tế quốc dân cũng nh trong lĩnh vực quân sự.
Mục Lục
PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN II NỘI DUNG
KHÔNG QUÂN
1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ PHÂN LOẠI
2 LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA KHÔNG QUÂN
KHÔNG QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM
1 LỊCH SỬ RA ĐỜI
I KHÁI QUÁT CHUNG
II SỰ HÌNH THÀNH MÁY BAY TIỀM KÍCH ĐẦU TIÊN
III NHỮNG TỔN THẤT VA VINH QUANG
2 LỰC LƯỢNG KHÔNG QUÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
I MÁY BAY PHẢN LỰC CHIẾN ĐẤU
II TRỰC THĂNG
III VẬN TẢI
IV MÁY BAY TỰ SẢN XUẤT
3 MỘT SỐ TRẬN KHÔNG CHIẾN TIÊU BIỂU
PHẦN III KẾT LUẬN