BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------ ------
NGÔ THỊ QUỲNH TRANG
GIÁO DỤC CẢM XÚC CHO TRẺ MẪU GIÁO
4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2015
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới luôn tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật tuần
hoàn không ngừng nghỉ; con người chính là một trong những nhân tố
trong thế giới luôn vận động ấy. Con người tồn tại và phát triển không chỉ
bằng cơ thể mà trong con người còn tồn tại đời sống tinh thần vô cùng
phong phú vì chúng ta sống trong xã hội, có mối quan hệ giữa người với
người đa dạng: đối với người này thì yêu thương, đối với người kia thì
ghét bỏ, đối với người nọ thì giận hờn... Thái độ tình cảm đó bao giờ
cũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng những cử chỉ, lời nói khiến người
ngoài có thể nhận ra khi giao tiếp và để lại những rung động tích cực hay
tiêu cực cho cả đôi bên.
Khi trẻ bước vào lứa tuổi mẫu giáo, nhiều cha mẹ than phiền
những vấn đề liên quan đến cảm xúc của trẻ như bướng bỉnh, nhút nhát,
kém hòa đồng. Những vấn đề này ảnh hưởng lớn đến khả năng giao tiếp
xã hội và sự xuất hiện nhiều hành vi sai lệch của trẻ. Vì vậy, làm sao để
trẻ biết làm chủ cảm xúc, tinh tế nhận ra cảm xúc của người khác để kịp
thời điều chỉnh hành vi và thái độ của bản thân là điều vô cùng cần thiết.
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều học thuyết về cảm xúc, nhưng có
một nhận xét chung cho tất cả các thuyết về cảm xúc đó là một sự kết hợp
của kích thích, sự thể hiện của khuôn mặt, hành vi, các sự kiện của môi
trường, và sự diễn dịch của nhận thức. Những thay đổi ở bất kỳ nhân tố
nào trong số đó có thể sẽ thay đổi cảm xúc được trải nghiệm.
Sự hình thành cảm xúc là một điều kiện tất yếu của sự phát triển
con người như là một nhân cách. Cảm xúc có nhiều loại: cảm xúc đạo
đức, cảm xúc thẩm mỹ, cảm xúc trí tuệ... Một đặc trưng của cảm xúc là
có tính đối cực: yêu và ghét, ưa thích và không ưa thích, xúc động và
dửng dưng... Cảm xúc như là sự rung động về một mặt nhất định của con
2
người đối với các hiện tượng nào đó của hiện thực. Cảm xúc có đặc điểm
là mang tính chất chủ quan.
Cảm xúc là cơ sở hình thành tình cảm, tình cảm là cốt lõi nhân
cách con người. Chúng ta thường nói phẩm chất đạo đức là mặt quan
trọng nếu không muốn nói là nền tảng của nhân cách. Trong thời đại công
nghệ thông tin, tri thức, nhiều công cụ, kỹ thuật... do con người sáng tạo
ra mang những chức năng “trí tuệ nhân tạo”, nhưng các công cụ, kỹ thuật
này không có cảm xúc (không biết vui, buồn, tức giận, sợ hãi...) như con
người. Do vậy, suy cho đến cùng, giáo dục để hình thành cảm xúc, tình
cảm cho trẻ chính là xây dựng nền tảng của đạo đức, xây dựng nhân cách
con người. Nếu không GDCX ngay từ thời thơ ấu thì quan hệ giao tiếp xã
hội chỉ còn là lí trí, trí tuệ, lạnh lùng mà thiếu đi cái nhân bản, lòng nhân
ái, tính người.
Ở trường MN việc GDCX được tiến hành dưới nhiều hình thức
khác nhau và lồng ghép trong tất cả các hoạt động của trẻ như: hoạt động
học tập, hoạt động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày. Trong đó hoạt động
KPMTXQ có nhiều cơ hội tốt hơn để GDCX cho trẻ. Trường MN là
trường học quan trọng giúp trẻ hình thành những cảm xúc tích cực. Giáo
dục trẻ phát triển những cảm xúc thông qua hoạt động KPMTXQ ở
trường MN góp phần giáo dục trẻ phát triển toàn diện về tình cảm, thẩm
mỹ, hình thành nhân cách con người.
Hiện nay việc GDCX cho trẻ đã được quan tâm hơn, tuy nhiên số
lượng trẻ/ lớp đông, giáo viên khó khăn hơn trong việc quan tâm chăm
sóc từng trẻ, một số giáo viên chưa biết cách tạo cảm xúc cho trẻ trong
các hoạt động, câu hỏi giáo viên đưa ra thường là câu hỏi đóng. Trẻ ít
được bày tỏ ý kiến, cảm xúc của mình. Hoạt động trong lớp học thường
tĩnh nhiều hơn động…
3
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục cảm xúc cho
trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số biện pháp
GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm giúp
trẻ tích lũy cảm xúc và hình thành tình cảm tích cực. Từ đó, làm cơ sở để
xây dựng mối quan hệ tốt đẹp của trẻ với mọi người và MTXQ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi ở trường MN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạt động KPMTXQ.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu phối hợp sử dụng các biện pháp kích thích trẻ tích cực thực
hành, trải nghiệm cảm xúc trong quá trình KPMTXQ một cách nhẹ
nhàng, thoải mái và hợp lý thì cảm xúc tích cực của trẻ sẽ được tích lũy
tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “GDCX cho trẻ MG 4
– 5 tuổi qua hoạt động KPMTXQ”.
5.2. Đề xuất một số biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạt
động KPMTXQ.
5.3. Thực nghiệm các biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạt
động KPMTXQ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vi
nghiên cứu ở một số vấn đề sau:
4
- Nghiên cứu một số biểu hiện cảm xúc thường gặp ở trẻ như: vui,
buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi cũng như cách thể hiện, nhận biết và
điều khiển nó.
- Nghiên cứu một số biện pháp GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua
hoạt động KPMTXQ.
- Nghiên cứu và TN trên trẻ MG 4 - 5 tuổi ở một số trường MN
thuộc tỉnh Nam Định.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài và sử dụng các
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để
làm rõ vấn đề GDCX cho trẻ MG 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động
KPMTXQ.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các biểu hiện cảm xúc của trẻ trong quá trình hoạt động
và hoạt động GDCX cho trẻ của giáo viên MN để làm rõ mức độ hình
thành cảm xúc của trẻ MG 4 - 5 tuổi, cách thức tổ chức GDCX cho trẻ 4 5 tuổi ở trường MN.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên để tìm hiểu nhận thức, kinh nghiệm, khó
khăn của giáo viên trong việc GDCX tích cực cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua
hoạt động KPMTXQ.
Đàm thoại với trẻ để tìm hiểu nhận thức, đặc điểm, khả năng, nhu
cầu, hứng thú của trẻ trong hoạt động, sinh hoạt, trong quan hệ với bản
thân và mọi người xung quanh.
7.2.3. Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểu nhận
thức của giáo viên về nội dung, hình thức, biện pháp và cách thức tổ chức
5
quá trình GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ. Đồng
thời tìm hiểu những hạn chế trong việc thực hiện quá trình giáo dục này ở
trường MN.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Áp dụng các biện pháp đã đề xuất trong việc GDCX cho trẻ 4 - 5
tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và
hiệu quả của các biện pháp đã đề ra tại một số trường MN trên địa bàn
thành phố Nam Định.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Nhằm thu thập, xử lý các số liệu trong quá trình nghiên cứu và
tổng kết, thống kê số liệu điều tra thực trạng.
8. Những đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành cảm xúc cho trẻ 4 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ.
- Làm rõ thực trạng việc GDCX cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường MN.
- Đề xuất một số biện pháp GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt
động KPMTXQ.
9. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung và kiến nghị sư phạm, Tài liệu
tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Một số biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi thông
qua hoạt động KPMTXQ.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
GIÁO DỤC CẢM XÚC CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về cảm xúc.
Trước tiên phải kể đến nghiên cứu của các nhà thần kinh học, sinh lý học
như Delgado, Ximônôp, Đeglin... Trong đó, hai tác giả là Delgado và
Ximonop đã nghiên cứu về não và các cảm xúc, còn tác giả Đeglin đã chỉ
ra vai trò khác nhau trong những cảm xúc tích cực và tiêu cực của các
vùng ưu thế và cận ưu thế của các bán cầu não. Đây là những đóng góp
quan trọng để phát triển ngành tâm lí học giáo dục. Các kết luận này giúp
chúng ta hiểu về tâm lí chung của con người và tâm lí riêng của tuổi mẫu
giáo. Ta thấy rằng cảm xúc ảnh hưởng lớn tới sự phát triển não bộ của trẻ
nhỏ, càng nhỏ ảnh hưởng của cảm xúc lại càng quan trọng. Nhưng có hai
nguồn cảm xúc: tích cực và tiêu cực. Nó sẽ gây ra các hành động, tư duy
hoàn toàn khác nhau ở con người.
Các nhà phân tâm học, điển hình là Freud đã xem xét khái niệm
cảm xúc, động cơ của cảm xúc. Ông làm rõ nó qua các thuật ngữ đam mê,
kết hợp tư duy và xúc động. Kế tục ông là Rado, Schachtel. Còn một số
tác giả hiện nay của phân tâm học như Holt, Schaier đã sử dụng những
khái niệm cảm xúc. Đặc biệt là Dahl đã xây dựng lý luận phân tâm như là
một lý luận giải thích các cảm xúc với tư cách là những động cơ nền tảng
của các quan hệ lẫn nhau giữa con người. Rõ ràng, nghiên cứu về thế giới
cảm xúc của con người rất thú vị, nó tạo nên nhiều trường phái song phân
tâm học gần gũi, biện chứng hơn. Các nhà khoa học mà bắt đầu tiên
phong là Freud đã đi sâu vào tiềm thức của con người, phát hiện ra vai trò
7
lớn của cảm xúc và cao hơn là nguyên nhân dẫn tới cảm xúc ấy. Thuyết
tính dục của Freud bị nghi hoặc một thời gian dài song rồi người ta cũng
phải công nhận nó khi có quá nhiều bằng chứng chứng minh điều đó.
Freud và các nhà khoa học đã nhận thấy rõ vai trò giới tính trong thể hiện
cảm xúc. Có khi cảm xúc còn đến từ tiềm thức xa xôi. Tuy nhiên, các
công trình trên rõ ràng có thiên lệch trong việc ưu ái hết cho các hành vi
xúc cảm tự nhiên. Với các ông, tình cảm là cái gốc quan trọng quyết định
tất cả mối quan hệ giữa người với người.
Nghiên cứu mới đây của các nhà tâm lý học thực hành và tâm thần
học đã chứng minh một cách rõ ràng hiệu quả của liệu pháp tâm lý với
một mức độ đáng kể phụ thuộc vào năng lực của người thầy thuốc tâm
thần ghi nhận được những biểu hiện phi ngôn ngữ của các cảm xúc
(Ekman, Friesen). Trong tác phẩm của hai tác giả này đã nêu lên yêu cầu
dạy các bác sĩ tâm thần “đọc” những biểu hiện cảm xúc. Còn tác giả
Singer đã đối chiếu các xúc động phân hóa với sự tưởng tượng và với trò
chơi tưởng tượng, ông đề xướng một phương pháp rất lý thú để nghiên
cứu sự biểu hiện cảm xúc của trẻ em trước tuổi học, ông và các cộng sự
đã xây dựng phương pháp đo thiên hướng về trò chơi, nội dung và những
cảm xúc khác nhau liên quan đến trò chơi tự phát và tưởng tượng, họ đã
xem xét những tưởng tượng và trò chơi tưởng tượng trong mối quan hệ
với những cảm xúc như hứng thú, vui mừng, căm giận, khổ đau, khiếp sợ,
xấu hổ.
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của các nhà tâm lý học xã hội (Ekman,
Mehrabian, Fxline, Argyle) đã nghiên cứu về sự biểu hiện cảm xúc và
những giao lưu phi ngôn ngữ, những giao lưu thường bao gồm cả giao
lưu cảm xúc. Đặc biệt nhóm nghiên cứu Ekman, Freisen và Tomkins đã
xây dựng phương pháp phân tích chi tiết sự biểu hiện của vẻ mặt [3].
Nghiên cứu này đi vào một nội dung ít người để ý. Cảm xúc đôi khi
không thể hiện ở lời nói mà còn là nét mặt, ánh mắt, cử chỉ,… Nghiên
8
cứu ấy giúp chúng ta hiểu thêm một phương tiện tạo nên cảm xúc, từ đó
ta có thể áp dụng trong việc dạy dỗ, giao tiếp với trẻ. Trẻ nhỏ sẽ thích một
nụ cười hiền dịu hơn một câu nói khen ngợi song với khuôn mặt vô hồn.
Tác giả Carroll E.Izard đã cho ra đời cuốn sách rất có ý nghĩa về
cảm xúc, đó là cuốn “Những cảm xúc của người” [3]. Ông đã chỉ ra cảm
xúc nền tảng là một hiện tượng phức tạp bao gồm yếu tố sinh lý thần
kinh, yếu tố vận động biểu cảm nét mặt và sự thể nghiệm chủ quan. Ông
cùng các tác giả khác đã chia phản ứng hành vi cảm xúc thành 10 cảm
xúc nền tảng, đồng thời ông còn chứng minh vai trò đặc biệt của các tiếp
xúc cảm xúc trong lứa tuổi thơ ấu về mặt phát triển lĩnh vực cảm xúc
cũng như toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ.
Bên cạnh đó, còn có tác giả Iacovson, Rubinstein đã nghiên cứu về
cảm xúc, tình cảm của con người và biện pháp GDCX của học sinh trong
cuốn “Giáo dục và phát triển tình cảm” [23] và “Đời sống tình cảm của
học sinh” [22]. Tác giả Daniel Goleman - nhà tâm lý kiêm nhà báo Mỹ trong cuốn “Trí tuệ cảm xúc – Làm thế nào để biến những cảm xúc của
mình thành trí tuệ”. Trong cuốn sách “Hãy lắng nghe và hiểu con bạn”
[1], tác giả Adele Faber – Elaine Mazlish đã chỉ rõ cảm xúc là gì và sự
cần thiết phải GDCX cho trẻ nhỏ trong nhà trường với những nội dung cụ
thể. Các tác giả đã chỉ rõ cảm xúc có ý nghĩa không kém trí tuệ của con
người, vì vậy giáo dục phải được trau dồi từ tuổi ấu thơ và nó cũng cần
thiết như giáo dục trí tuệ. Các công trình nghiên cứu này đã gần hơn với
việc giáo dục trẻ song chưa đi sâu vào trẻ MN. Tuy vậy, nó có nội dung
đáng quan tâm là việc GDCX cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trước đây hầu như khái niệm cảm xúc, tình cảm chỉ được các nhà
tâm lý học Việt Nam đề cập đến trong các giáo trình tâm lý học đại
cương mà việc đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này còn rất hạn chế.
Những năm gần đây, người ta đã quan tâm đến cảm xúc tình cảm, trí tuệ
9
cảm xúc của con người, họ đã nhận thấy được vị trí quan trọng của cảm
xúc đối với cuộc sống và hoạt động của con người.
Tác giả Phạm Thị Thanh nghiên cứu về cảm xúc trong luận án
“Ảnh hưởng của cảm xúc đến trí nhớ của học sinh trung học cơ sở”, tác
giả Dương Thị Hoàng Yến trong luận án “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên
tiểu học Hà Nội”, luận văn “Tìm hiểu ảnh hưởng của trạng thái cảm xúc
ở sinh viên đến chất lượng ghi nhớ của họ” của tác giả Vương Thị Kim
Oanh cũng đã đề cập đến một số khái niệm cảm xúc, tình cảm và vai trò
của cảm xúc đối với hoạt động của con người, đặc biệt học sinh. Các tác
giả khẳng định cảm xúc cũng là một loại trí tuệ, nó có ảnh hưởng lớn tới
trí nhớ. Càng có cảm xúc sâu về bài học, học sinh càng nhớ lâu và càng
yêu thích bài. Bên cạnh đó, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị
Dung “Bước đầu tìm hiểu trí tuệ cảm xúc và thử đo đạc loại trí tuệ này
của giáo viên tiểu học” cũng đã ít nhiều nói lên bản chất, nguồn gốc và
một số loại cảm xúc của con người. Tác giả đi vào từng loại trí tuệ cảm
xúc, chỉ ra cách xác định cảm xúc của giáo viên. Với những đề xuất “đo
lường” mà tác giả đề ra, ta khá bất ngờ khi thấy rằng giáo viên lâu năm
hay học sinh giỏi chưa chắc đã có trí tuệ cảm xúc tốt. Nhưng may thay,
loại trí tuệ này có thể rèn luyện được. Tóm lại, các luận văn trên đã tạo
nên phần cơ sở lí luận vững chắc về cảm xúc của học sinh, tuy nhiên nó
vẫn chưa đi vào cảm xúc của trẻ MG.
Ngày nay trong xu thế hội nhập với thế giới và trong khu vực, các
nhà nghiên cứu về tâm lý – giáo dục trẻ em đã quan tâm nhiều hơn đến
cảm xúc, tình cảm và GDCX tình cảm của trẻ em lứa tuổi MN.
Tác giả Ngô Công Hoàn là người đã đi nghiên cứu sâu về vấn đề
cảm xúc. Trong đề tài “Những biểu hiện cảm xúc và những biện pháp
giáo dục cảm xúc cho trẻ từ 1 – 3 tuổi” [8], tác giả đã chỉ ra các biểu hiện
cảm xúc của trẻ và xây dựng một số biện pháp GDCX cho trẻ ở gia đình.
Bên cạnh đó, trong các tài liệu biên soạn của mình tác giả cũng đều đề
10
cập đến vấn đề GDCX cho trẻ: Giáo trình “Tâm lý học và giáo dục học” –
Sách bồi dưỡng giáo viên, hay cuốn “Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị
đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non” [7]...
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn sách “Tâm lý học lứa tuổi
mầm non” [28] và “Tâm lý học trẻ em – tập 2” [29] cũng đã chỉ ra vai trò
của cảm xúc, tình cảm, các biểu hiện cảm xúc, tình cảm của trẻ mẫu giáo.
Đặc biệt, tác giả cũng bước đầu chỉ ra rằng trong hoạt động vui chơi, trẻ
bộc lộ tình cảm chân thực nhất. Hoạt động vui chơi là một hình thức
KPMTXQ của trẻ, tuy vậy còn nhiều hình thức khác nữa: làm việc, giao
tiếp,…
Gần đây nhất, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (Trung
tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non)
đã biên soạn tài liệu tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm – xã hội cho trẻ
mầm non theo hướng tích hợp. Trong đó, hướng dẫn giáo viên tổ chức
giáo dục tình cảm xã hội cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau. Tôi thấy
đây là cuốn sách hữu ích nhất cho quá trình giảng dạy của tôi và cho đề
tài luận văn này. Cuốn sách được viết súc tích song đa dạng về biện pháp.
Trong đó, phải kể tới biện pháp giáo dục trẻ qua việc KPMTXQ. Sách đề
cao hoạt động trải nghiệm của trẻ. Trẻ càng trải nghiệm nhiều, càng nhớ
lâu và thông minh. Trải nghiệm ấy phong phú vô cùng. Đó là hoạt động
tham quan dã ngoại; tự mình trồng, chăm sóc cây; thử các thứ mới lạ
hoặc đơn giản là giao tiếp với người lạ,…
Tóm lại, các tài liệu trên đều chỉ ra được vai trò của cảm xúc, coi nó
là một loại trí tuệ. Nhiều tài liệu Việt Nam chỉ được cảm xúc của lứa tuổi
mẫu giáo và cách giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc ấy. Tuy nhiên, nội dung
GDCX của trẻ qua khám phá môi trường chưa được đi sâu. Tôi mong với
luận văn này, vấn đề ấy sẽ được làm rõ phần nào.
1.2. Cảm xúc và việc giáo dục cảm xúc cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
1.2.1. Khái niệm “Cảm xúc” và “Giáo dục cảm xúc”
11
1.2.1.1. Khái niệm “Cảm xúc”
Cảm xúc là cơ sở hình thành các loại tình cảm của con người. Cảm
xúc của con người từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
với nhiều cách giải thích khác nhau. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu,
cách định nghĩa khác nhau về cảm xúc:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên – 1977) “Cảm
xúc” là rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó.
Từ điển tâm lí (Nguyễn Khắc Viện chủ biên – 1991) “Cảm xúc” là
phản ứng rung chuyển của con người trước một kích thích vật chất hoặc
một sự việc gồm hai mặt:
- Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh,
toát mồ hôi hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa.
- Phản ứng tâm lí qua những thái độ lời nói, hành vi và cảm giác dễ
chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát chủ thể kiềm chế
khó khăn.
Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét
gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích.
Carroll E.Izard định nghĩa cảm xúc: đó là một hiện tượng phức tạp
bao gồm những yếu tố sinh lý thần kinh, những yếu tố vận động biểu cảm
và sự thể nghiệm chủ quan. Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố này trong
quá trình bên trong cá nhân tạo nên cảm xúc như là một hiện tượng tiến
hóa – phát sinh sinh vật, ở con người sự biểu hiện và sự thể nghiệm cảm
xúc mang tính chất bẩm sinh, có tính văn hóa chung và phổ biến [3].
Các nhà tâm lý học Nga có hai cách quan niệm về cảm xúc:
Quan niệm thứ nhất: cho rằng cảm xúc có liên quan đến nhu cầu
của con người.
Trước hết phải kể đến tư tưởng của K.K Platônôp, ông định nghĩa:
cảm xúc hay tình cảm, đó là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữa
con người đối với các đối tượng và hiện tượng của hiện thực được qui
12
định bởi sự phù hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng và hiện tượng
đối với nhu cầu của con người [12].
Rubinstein cho rằng: “Cảm xúc là một khía cạnh đặc biệt của sự
trải nghiệm những hành vi cũng như của sự chế biến thông tin và đặc biệt
là liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu” [33].
Ximonov định nghĩa: “Cảm xúc như là sự tác động qua lại giữa
nhu cầu và khả năng đạt được mục tiêu”.
Như vậy các quan điểm trên đều cho rằng cảm xúc của con người
có liên quan đến nhu cầu. Ở mỗi thời điểm khác nhau, nhu cầu đối với
mỗi một sự vật hiện tượng và ý nghĩa của chúng cũng khác nhau. Hơn
nữa, những sự vật khách quan tác động vào cơ thể mỗi con người, đem lại
cho họ sự thỏa mãn hay không thỏa mãn một hay một số nhu cầu, thì sẽ
tạo ra những rung cảm khác nhau ở họ.
Quan niệm thứ hai: cho rằng cảm xúc, tình cảm của con người
thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới xung quanh.
Tác giả P.M Iacovson định nghĩa: “Cảm xúc tình cảm là những
rung động trong đó biểu thị thái độ của con người đối với người khác, đối
với những sự vật hiện tượng xung quanh, đối với cái mà họ nhận biết và
hành động. Và ông cho rằng toàn bộ cảm xúc tình cảm của con người về
thực chất là toàn bộ thái độ của con người đối với thế giới và trước tiên là
đối với những người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân [22]. P.M Iacovson cũng cho rằng: “Cảm xúc hoặc tình cảm, đó
là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữa con người với các đối
tượng và hiện tượng của hiện thực, được qui định bởi sự phù hợp hay
không phù hợp giữa các đối tượng đó với nhu cầu con người” [22].
Rubinstein cũng cho rằng: “Toàn bộ thế giới cảm xúc, tình cảm của
con người, về thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới và trước
tiên là đối với người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân” [33].
13
Hiện nay trong tâm lý học, khi nói đến cảm xúc, người ta thường
gắn nó với khái niệm tình cảm. Cảm xúc – tình cảm là những hiện tượng
tâm lý có liên quan mật thiết, không tách rời nhau.
Theo hướng nghiên cứu này, ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang
Uẩn trong cuốn Tâm lý học đại cương cũng định nghĩa: tình cảm là
những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật,
hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ [31]. Hay trong
một số giáo trình tâm lý học của Việt Nam đã viết: Cảm xúc là những
rung cảm của cá nhân đối với các sự vật hiện tượng, hoàn cảnh có liên
quan đến nhu cầu của con người.
Tác giả Ngô Công Hoàn – Nguyễn Thị Mai Hà định nghĩa: “Tình
cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ” [10].
Trong tâm lý học hiện nay, khi nói đến cảm xúc người ta thường
gắn liền với khái niệm tình cảm. Cảm xúc – tình cảm là những hiện tượng
tâm lý có liên quan mật thiết không thể tách rời nhau.
Tóm lại, khi bàn về khái niệm cảm xúc các nhà tâm lý học đều nhất
trí rằng:
- Cảm xúc phản ánh ý nghĩa của mỗi quan hệ giữa sự vật hiện
tượng với nhu cầu của con người.
- Cảm xúc bao gồm quá trình sinh lý thần kinh và quá trình tâm lý
của cá thể.
- Các cơ chế thần kinh cơ của bộ mặt thực hiện những biểu hiện
cảm xúc.
- Cảm xúc người rất phong phú, mang bản chất xã hội.
- Cảm xúc là phương thức thích nghi của con người với môi
trường.
Từ những quan điểm về cảm xúc ở trên, có thể hiểu cảm xúc như
sau:
14
Cảm xúc là những rung động biểu thị thái độ của cá nhân đối với
thế giới khách quan và đối với bản thân, có liên quan đến nhu cầu và
động cơ của họ, đồng thời nó mang tính chủ quan, độc đáo của mỗi
người.
1.2.1.2. Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
a) Khái niệm “Giáo dục”
Trong giáo trình “Giáo dục học” của hai tác giả Hà Thế Ngữ và
Đặng Vũ Hoạt, khái niệm “Giáo dục” được định nghĩa theo hai cách,
nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thành
nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua
các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo
dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài
người. [18,20]
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình giáo dục
theo nghĩa rộng – là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ tình
cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi và thói
quen cư xử đúng đắn trong xã hội [18,22].
Chức năng của quá trình giáo dục chỉ được thực hiện trên cơ sở
vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi, vừa lĩnh hội hệ thống
kiến thức và các giá trị, vừa thí nghiệm những kinh nghiệm tri thức của
bản thân.
b) Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
Trên cơ sở phân tích hai khái niệm “Giáo dục” và “Cảm xúc”,
chúng tôi xác định khái niệm “GDCX” như sau:
GDCX là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà
giáo dục nhằm hình thành những rung động tích cực biểu thị thái độ của
người được giáo dục đối với thế giới xung quanh và bản thân có liên
15
quan đến nhu cầu, động cơ và mang tính khách quan, độc đáo của mỗi
người.
1.2.1.3. Khái niệm “Biện pháp giáo dục cảm xúc” cho trẻ
Biện pháp là cách thức tác động cụ thể của giáo viên trong các tình
huống giáo dục cụ thể.
Biện pháp GDCX là cách thức tác động có mục đích, có kế hoạch
của nhà giáo dục lên trẻ nhằm tạo ra những rung động tích cực biểu thị
thái độ của trẻ đối với bản thân và thế giới xung quanh có liên quan đến
nhu cầu, động cơ của trẻ, đồng thời thể hiện tính khách quan độc đáo của
chúng.
Để có được những rung động tích cực của trẻ, giáo viên không chỉ
tác động đến nhận thức, tình cảm mà phải đến hành vi của chúng.
1.2.2. Phân loại cảm xúc
1.2.2.1 Các loại cảm xúc phổ biến
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau về các loại cảm xúc của con
người. Những căn cứ để xác định cảm xúc nền tảng đó là:
- Cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước ở bên trong.
- Những phức hợp biểu cảm bằng nét mặt đặc trưng hay là những
phức cảm biểu hiện thần kinh cơ.
- Sự thể nghiệm chủ quan khác biệt hay chất lượng hiện tượng bên
ngoài.
- Căn cứ vào chuẩn mực xã hội có tính ước lệ cho các cộng đồng
dân cư, cộng đồng xã hội và toàn nhân loại.
Các nhà khoa học DarWin (1872), Ekman, Friesen, Ellsworth
(1972), Izard (1971), Tomkin (1962) đã chia phản ứng hành vi cảm xúc
thành 11 loại cảm xúc nền tảng, đó là: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc
nhiên, đau khổ, đau xót, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi.
16
Tác giả Adele Faber lại cho rằng có 8 loại cảm xúc: giận dữ, buồn,
sợ, vui, yêu, ngạc nhiên, kinh tởm, hổ thẹn và mỗi loại cảm xúc có những
sắc thái khác nhau về mức độ và về những khía cạnh đặc thù.
Ở phương Đông, các nhà triết học lại phân chia thành 7 loại cảm
xúc cơ bản của con người: vui mừng, tức giận, buồn rầu, sợ hãi, yêu
thương, căm ghét, ham muốn (thất tình) [6].
Tác giả Daniel Goleman thì chia thành 8 loại cảm xúc mà chúng ta
thường quan sát thấy trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người
đó là:
(1) Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, sùng
kính, hâm mộ, si mê, say đắm.
(2) Khoái: sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, rất hạnh phúc,
khoái trá, hoan hỉ, tự hào, khoái cảm, nhục dục, rung lên (vì vui), mê ly,
hài lòng, sảng khoái, ngông, ngây ngất.
(3) Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc.
(4) Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt,
hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch, tột cùng là thù hằn và bạo lực
bệnh lý.
(5) Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, cô đơn, ủ rũ, thất vọng
và trầm cảm sâu.
(6) Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu rụng
rời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trở
thành bệnh lý là chứng sợ và chứng hoảng hốt.
(7) Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phát
ngấy.
(8) Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối
tiếc.
Trong đề tài nghiên cứu này, dựa trên cơ sở lý luận của các nhà
khoa học, các học thuyết về cảm xúc, chúng tôi giả định cho rằng trẻ MG
17
4 – 5 tuổi có thể nhận biết và thể hiện được hầu hết các loại cảm xúc của
con người. Tuy nhiên có những cảm xúc khó nhận diện và khó mô tả.
Hơn nữa, thời gian nghiên cứu có hạn và không có các phương tiện kỹ
thuật nghiên cứu những chức năng hoạt động của các vùng, miền trên vỏ
não, hệ thần kinh tự chủ và giao cảm, các tổ chức cơ thể tham gia vào quá
trình biểu hiện của tất cả các cảm xúc, nên trong đề tài này chúng tôi chỉ
tiến hành nghiên cứu 5 loại cảm xúc cơ bản mà trẻ dễ nhận biết và có thể
mô tả được hoặc có thể chụp ảnh được thông qua hoạt động khám phá
môi trường xung quanh, đó là: vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi.
Biểu hiện của 5 cảm xúc cơ bản ấy trên trẻ có thể khái quát như sau:
Vui: Các cơ mặt dãn nở, mặt mày rạng rỡ, cơ mắt kéo ra, mắt long
lanh hướng về đối tượng giao tiếp, môi miệng kéo dài bật thành tiếng
cười. Chân tay cử động có xu hướng muốn ôm lấy, cầm lấy đối tượng gây
ra cảm xúc. Hành vi ngôn ngữ đầy diễn cảm qua giọng điệu và cách phát
âm “Mẹ, mẹ...” trong tình huống cả ngày mới gặp mẹ một lần (trẻ 18
tháng tuổi).
Buồn: Năng lượng cơ thể sụt giảm, không còn tha thiết đến sự việc,
chán nản, mệt mỏi. Sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể chậm lại, dễ
bị tổn thương. Nếu bệnh trầm cảm dễ u sầu buồn bã, ít nói, mặt mày ủ rũ,
mi mắt cụp xuống.
Ngạc nhiên: Trước những kích thích mới lạ, hấp dẫn, phản xạ định
hướng hoạt động tích cực. Các quá trình sinh lý thần kinh được kích
thích, hoạt hóa hoạt động tim mạch, nội tiết. Mắt mở to, há mồm, nhăn
trán, lông mày dướn cao, chân tay ngừng cử động, mắt nhìn chằm chằm
vào đối tượng kích thích, tập trung chú ý với cường độ mạnh, dễ dàng có
hành động thích hợp, hành vi ngôn ngữ thường hét lên “A!” hoặc im lặng
theo dõi đối tượng kích thích, xúc cảm thường xảy ra thời gian ngắn.
Tức giận: Máu dồn lên mặt, mắt long lanh rực sáng, môi bặm lại,
mím chặt như gắng kiềm chế, dồn sức mạnh vào động tác tay, chân, đập
18
phá. Lượng các chất nội tiết tăng đặc biệt là ađrênalin, la hét, kêu toáng
lên hoặc bập miệng lại không nói, tay chân cử động, bàn tay nắm chặt
xông vào đánh bạn, đẩy bạn ngã...
Sợ hãi: Mắt mở to, mồm như mếu, cơ mặt nhăn nhúm, máu dồn về
các cơ bắp điều khiển các động tác chạy trốn, mặt tái đi. Chú ý, tập trung
cao sẵn sàng hành động chạy và đi vội vã, giọng nói run rẩy và lo sợ, đổ
mồ hôi, toát mồ hôi...
Theo xu hướng hiện nay, dựa vào ảnh hưởng của cảm xúc đối với
hoạt động của con người, dựa vào tính chất và tác dụng của cảm xúc đối
với đời sống, hoạt động, các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chia cảm
xúc thành hai loại: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực để dễ dàng định
hướng giáo dục.
1.2.2.2. Phân biệt cảm xúc tích cực và tiêu cực
a) Cảm xúc tích cực
Về hiện tượng bên ngoài, cảm xúc tích cực có những đặc điểm bẩm
sinh, những đặc điểm này có khuynh hướng tăng cường cảm giác an toàn,
duy trì và kích thích con người hướng tới nó. Chúng tác động lẫn nhau,
cũng như sự tìm hiểu các tình huống và các mối quan hệ, liên hệ giữa cá
nhân trở nên dễ dàng. Cảm xúc tích cực làm tăng nghị lực, lòng tự tin, sự
lạc quan, tin tưởng, góp phần xây dựng, củng cố ý chí, thôi thúc hoạt
động. Trong cuộc sống, những cảm xúc tích cực sẽ thôi thúc con người
hoạt động, đem lại sức khỏe thể chất và tâm lý con người.
Có người đã nói “Nụ cười là viên ngọc vô giá”, hay “Tiếng cười
vui vẻ không chỉ có lợi cho sức khỏe, mà nó còn có thể giúp đạt được
hiệu quả giao tiếp mà lời nói khó có thể đạt được”, dân gian Việt Nam
cũng nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Những cảm xúc tích
cực làm cho con người có sức làm việc tốt hơn, sức sáng tạo mạnh mẽ
hơn, năng suất lao động cao hơn. Đồng thời còn giúp con người nhanh
nhẹn, linh hoạt hơn trong giải quyết công việc kể cả lao động trí óc hay
19
tay chân. Đặc biệt là cảm xúc tích cực sẽ làm cho mối quan hệ giữa con
người tốt lên. Khi có cảm xúc tích cực, con người trở nên hảo tâm hơn,
giàu lòng vị tha, nhân ái, quan tâm đến nhau và sống chân thành hơn.
b) Cảm xúc tiêu cực
Ngược lại với cảm xúc tích cực, những cảm xúc tiêu cực sẽ làm
hạn chế, cản trở mọi hoạt động, làm cho con người trở thành yếu đuối, tự
ti, bi quan, chán nản, thiếu sáng suốt dẫn đến mọi hành động đều diễn ra
một cách thụ động, bất lực. Cảm xúc tiêu cực sẽ dẫn đến những cơn tức
giận, nỗi sợ hãi và sự khổ tâm. Chúng có ảnh hưởng rất xấu đến các cơ
quan, tổ chức của cơ thể con người và còn gây ra những hậu quả tồi tệ
như: làm giảm sức làm việc của con người, làm mất khả năng linh hoạt
trong hoạt động, thường sự sợ hãi mà nhịp điệu sinh lý biến đổi, sức khỏe
giảm sút. Cảm xúc tiêu cực còn làm rối loạn các quá trình tâm lý của con
người. Khi buồn rầu, chúng ta cảm thấy sự lĩnh hội kém đi, sự hứng thú
với thế giới xung quanh cũng kém đi. Khi có tâm trạng u buồn thì chúng
ta nhìn thấy mọi cảnh vật xung quanh đường như cũng đều u ám, tẻ nhạt,
mọi cử chỉ, hành vi trở nên sai lệch nhiều hơn, thiếu đi sự nhiệt tình, nhã
nhặn, lịch thiệp mà ngược lại sẽ tỏ ra một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, hời
hợt, thô bạo, khắt khe, khó tính...
Từ đó ta thấy rằng cảm xúc có vai trò rất quan trọng đối với đời
sống và sinh hoạt của cá nhân mỗi con người, nó góp phần vào việc hình
thành, phát triển nhân cách con người khi trưởng thành.
1.2.3. Phương tiện thể hiện cảm xúc
Sự biểu đạt cảm xúc được biểu hiện rất phức tạp, tinh tế, vậy làm
thế nào để nhận diện các loại cảm xúc của con người. Có các phương tiện
thể hiện cảm xúc sau:
1.2.3.1. Phương tiện phi ngôn ngữ
Cảm xúc là hiện tượng tâm lý được biểu hiện qua phản ứng hành vi
của con người. Phản ứng hành vi cảm xúc được thể hiện ở nhiều góc độ
20
rất khác nhau và hết sức tinh tế, khó nhận biết nếu không có vốn sống
kinh nghiệm trong giao tiếp, hợp tác, không có những hiểu biết về chúng.
Những thông tin, tín hiệu trên nét mặt truyền cảm mạnh tới đối tượng
giao tiếp. Nó mang tính xã hội, theo nghiên cứu của Wolf thì tuần thứ ba,
trẻ đã bắt đầu đáp lại cái nhìn chăm chú đối với người nhìn nó.
Nhiều nghiên cứu của Stifter và Fox (1986), của Ngô Công Hoàn
(2004) và Lê Thị Luận (2007) đã cho thấy trẻ em lứa tuổi MN đã có thể
nhận diện được các cảm xúc vui, buồn, tức giận trên khuôn mặt, gương
mặt biểu cảm ở những người xung quanh gần gũi như cô giáo, cha me.
Gương mặt biểu cảm phần nào giúp chúng ta nhận diện thuận lợi và chính
xác các nội dung tâm lý. Hai nhà tâm lý học Boucher và E.Kman (1975)
đã cắt khuôn mặt người của một bức ảnh ra thành ba phần: phần từ chân
mày lên trán, phần mắt, phần miệng. Các hình ảnh này được đưa ra cho
mọi người dự đoán xem các loại cảm xúc nào được thể hiện (ngạc nhiên,
giận dữ, sợ hãi, kinh tởm, buồn bã và hạnh phúc). Các nhà nghiên cứu các
phần khác nhau của khuôn mặt thể hiện cảm xúc khác nhau. Ví dụ: mắt là
bộ phận quan trọng nhất thể hiện nỗi buồn, còn miệng thể hiện niềm hạnh
phúc và sự khinh bỉ, trán có tầm quan trọng thể hiện sự ngạc nhiên. Sự
phối hợp cả ba phần thể hiện sự giận dữ một cách rõ ràng.
Tomkins và Mc Cater (1964) đã phát hiện mỗi loại cảm xúc có một
sự thể hiện đặc trưng trên khuôn mặt.
Loại cảm xúc
Thích thú – kích động
Thể hiện trên khuôn mặt
Lông mày thấp xuống, mắt chăm chú, nhìn
Khoái trá – vui mừng
và lắng nghe
Mỉm cười, môi mở rộng lên trên và ra
Ngạc nhiên – giật mình
Buồn – đau đớn
ngoài, mắt hớn hở (những nếp nhăn tròn)
Lông mày dướn lên, chớp mắt
Khóc, lông mày cong, miệng trễ xuống,
Sợ hãi – kinh khiếp
thổn thức theo nhịp
Mắt mở không chớp, gương mặt xanh xám,
21
Xấu hổ - bẽ mặt
Khinh rẻ - ghê tởm
Giận dữ - thịnh nộ
tóc dựng đứng...
Mắt nhìn xuống, đầu thẳng, có thể hơi cúi.
Cưới nhạo, môi trên dướn lên
Cau mày, nghiến răng, mắt nhíu lại, khuôn
mặt đỏ bừng
Phản ứng hành vi qua vận động của đầu, cổ thường mang tính khái
quát hơn, ví dụ: đồng ý thì gật đầu, không đồng ý thì lắc đầu.
Phản ứng qua vận động của tay, toàn thân, chân và các tư thế cũng
tham gia vào quá trình biểu cảm thông tin, tín hiệu cho đối tượng giao
tiếp nhận biết thái độ của cá nhân tại thời điểm tiếp xúc.
1.2.3.2. Phương tiện ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ khá phức tạp biểu lộ không chỉ các loại cảm xúc
cơ bản của con người mà nó còn phản ánh các sắc thái của từng loại cảm
xúc.
Lúc đầu khi mới sinh, trẻ truyền tín hiệu cho người thân là các âm
thanh như khóc, hét lên để thông tin cho họ về trạng thái sinh lý của mình
là dễ chịu hay khó chịu. Dần dần khi trẻ đã lớn hơn (từ 1 đến 2 tuổi) thì
ngôn ngữ được hình thành, trẻ nói được một số âm, từ, câu đơn giản. Khi
trẻ bước sang tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển mạnh mẽ. Lúc
này, giọng điệu âm thanh ngôn ngữ của trẻ đã ở mức độ to – nhỏ khác
nhau, đồng thời ngữ điệu âm thanh ngôn ngữ cũng có cường độ cao –
thấp rõ ràng. Trẻ sử dụng chúng để thông tin, truyền tín hiệu các trạng
thái cảm xúc cơ bản của mình như sợ hãi, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên,
thích thú...
Mức độ ngôn ngữ từ, câu thể hiện sự phức tạp những biểu hiện
cảm xúc. Thông qua giọng điệu, cách phát âm đã thể hiện không chỉ các
cảm xúc cơ bản mà còn thể hiện được một số sắc thái cơ bản của từng
loại cảm xúc. Ví dụ: khi vui vẻ, trẻ có thể nói giọng nói nhẹ nhàng, vui
tươi hay khi tức giận trẻ nói rất to, giọng đanh lại.
22
Mức độ ngôn ngữ tình huống hoàn cảnh: giọng điệu, cách phát âm,
tốc độ lời nói, thanh điệu cao thấp, giọng nặng nhẹ, ngắn dài thể hiện phù
hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Mức độ ngôn ngữ mạch lạc: sự biểu cảm không những mang yếu tố
chủ quan mà còn mang tính khách quan, chuẩn mực xã hội của phản ứng
hành vi cảm xúc được hình thành. Tùy thuộc vào sự giáo dục của gia đình
và môi trường xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của nhóm và
cộng đồng xã hội mà tín hiệu ngôn ngữ đã thực sự trở thành công cụ biểu
cảm quan trọng của con người.
Ngoài ra, các nhà sinh lý học còn nghiên cứu tầng sâu của những
biểu hiện cảm xúc. Đó là sự hoạt hóa của trương lực cơ bắp, các tổ chức
cơ thể như tim mạch, hệ nội tiết, hệ thần kinh và não. Chúng thể hiện
đồng thời với phản ứng hành vi trên nét mặt, tay, chân, tư thế và biểu
hiện qua giọng điệu, cách phát âm... của hành vi ngôn ngữ.
Sự phân chia các phương tiện biểu cảm trên mang tính tương đối,
bởi lẽ mỗi phản ứng hành vi cảm xúc thể hiện sự phối hợp đan xen, phức
tạp xảy ra nhanh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người, đến
nỗi phương pháp chụp ảnh cũng khó nhận biết một cách chính xác.
1.2.4. Đặc điểm cảm xúc của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
Tác giả Wallon chủ yếu nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong sự
phát triển ban đầu của con người, có giá trị ưu tiên về chức năng. Những
phản ứng mà ông gọi tên cảm xúc âm điệu là những dấu hiệu đầu tiên của
sự phát triển tâm lý, là bước phát triển trung gian giữa trình độ sinh lý,
những phản ứng có tính phản xạ và trình độ tâm lý cho phép trẻ thích ứng
dần với thế giới bên ngoài, từ đó đứa trẻ nhận được sự an ủi, chăm sóc,
làm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của nó.
Độ tuổi MG 4 – 5 tuổi thì đời sống cảm xúc, tình cảm của trẻ có
bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú lại vừa sâu sắc hơn so với lứa
tuổi khác, mà nổi bật lên trên đó là tính đồng cảm và tính dễ cảm xúc.
23
Đặc điểm nổi bật là:
a) Cảm xúc của trẻ không ổn định, dễ dao động, mang tính chất
tình huống, hoàn cảnh. Mặc dù những cảm xúc cơ bản của trẻ 4 - 5 tuổi
đã hình thành và đang dần đi đến ổn định, nhưng thường dễ dao động, dễ
thay đổi, trẻ đang khóc lại cười ngay hoặc đang thích cái này lại chuyển
sang thích cái khác vì cảm xúc của trẻ bị quá trình thần kinh hưng phấn
chi phối, dễ bị kích động cùng với vốn sống kinh nghiệm của trẻ còn hạn
chế. Hơn nữa, trẻ xuất hiện nhu cầu mà có thể được thỏa mãn hoặc chưa
được thỏa mãn. Cảm xúc của trẻ 4 - 5 tuổi thường gắn với tình huống,
hoàn cảnh cụ thể. Khi gặp những tình huống, hoàn cảnh khác nhau thì trẻ
sẽ có những biểu hiện cảm xúc khác nhau. Những rung cảm do hoàn cảnh
gây ra chiếm một vai trò quan trọng trong phạm vi cảm xúc của trẻ, do ấn
tượng cụ thể, thường là ngẫu nhiên gắn liền với sự xuất hiện bất ngờ của
người, sự vật nào đó gây ra. Trẻ có phản ứng cảm xúc đối với những gì
mới lạ mà ở mức độ nào đó làm cho nó phải sửng sốt thích thú hoặc chán
ghét, sợ hãi hoặc vui mừng.
b) Sự biệt hóa
Cảm xúc của trẻ ở giai đoạn này đã thể hiện sự biệt hóa rõ ràng
hơn lứa tuổi trước. Nó được phân biệt, phân định bằng những biểu hiện ra
bên ngoài với thái độ cụ thể, rõ ràng, tương ứng với những tác động của
đối tượng liên quan tới việc thỏa mãn nhu cầu và động cơ khác nhau của
trẻ.
Ví dụ: nếu được cô giáo khen ngoan vì khi bạn ngã đã biết giúp đỡ
nâng bạn dậy thì trẻ sẽ có thái độ vui vẻ (cảm xúc tích cực xuất hiện).
Ngược lại, khi bị các bạn trêu chọc và không chơi cùng thì trẻ tỏ thái độ
rất buồn (cảm xúc tiêu cực xuất hiện)... Có thể thấy, trẻ thực sự vui mừng
khi bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực sự đau
buồn khi bị người lớn, bạn bè ghét bỏ.
c) Các sắc thái
24
Ở độ tuổi MG 4 – 5 tuổi, quan hệ của trẻ với những người xung
quanh được mở rộng, tình cảm của trẻ cũng phát triển về nhiều phía,
phạm vi những sự vật, hiện tượng mà trẻ quan tâm trở nên phức tạp và
phong phú hơn, không chỉ là những con người, đồ vật và sự vật riêng lẻ
mà còn là những qui tắc hành vi ứng xử
Ở giai đoạn này, trẻ đã phát triển khá rõ các sắc thái cảm xúc,
chính xác hơn với các tình huống, hoàn cảnh cụ thể. Đặc biệt trẻ phản
ứng cảm xúc qua lời nói, sự vận động, điệu bộ và hành vi của mình, sắc
thái cảm xúc của trẻ thay đổi dần theo giọng điệu âm thanh và nội dung
câu chuyện. Những lời đánh giá, khuyến khích, động viên, ngăn cấm,
trách phạt của người lớn đối với trẻ giai đoạn này cũng làm cho sắc thái
cảm xúc của trẻ thay đổi.
Mối quan hệ của trẻ với người thân, cô giáo, bạn bè, em nhỏ là nội
dung quan trọng trong đời sống cảm xúc, tình cảm của trẻ. Nhu cầu được
tiếp xúc với mọi người, được âu yếm, được chăm sóc để có thể chia sẻ,
bộc lộ những ấn tượng ngạc nhiên, nhu cầu được đánh giá..., tất cả những
cái đó gây cho trẻ những cảm xúc khác nhau như vui mừng, ngạc nhiên,
giận dỗi, buồn phiền, hổ thẹn, ghen tị, xấu hổ...
Cảm xúc, tình cảm của trẻ không chỉ biểu lộ đối với con người mà
còn cả với động vật, cỏ cây, đồ chơi, đồ vật và các hiện tượng trong thiên
nhiên. Trẻ thường nhìn sự vật bằng con mắt “nhân cách hóa”, gán cho
chúng những sắc thái cảm xúc của con người, trẻ xót thương cho những
cành cây bị gẫy, tức giận vì một cơn mưa đã ngăn cản cuộc đi chơi của
nó.
Như vậy, có thể khẳng định rằng trẻ 4 – 5 tuổi đã thể hiện tất cả các
sắc thái cảm xúc của con người, trẻ nắm được hình thức thể hiện sắc thái
cảm xúc tình cảm một cách tế nhị bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu
bộ, cử chỉ, ngữ điệu của giọng nói... Vì thế, những lời khen ngợi, động
25