Tải bản đầy đủ (.doc) (169 trang)

Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hoá (Từ bình diện ngôn ngữ văn hóa )

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (754.5 KB, 169 trang )

i

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ...................................................................................v
MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................3
4. Các phương pháp nghiên cứu...............................................................................4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án..............................................................6
7. Bố cục của luận án...............................................................................................6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI.......7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.......................................................................7
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp.................................8
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển...................................10
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa.............11
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài................................................................................12
1.2.1. Những vấn đề chung về từ ngữ nghề nghiệp.............................................12
1.2.2. Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ ngữ khác.......................18
1.3. Văn hóa và mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa..................................................26
1.3.1. Khái niệm văn hóa.....................................................................................26
1.3.2. Mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa ..............................................................28
1.4. Định danh và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của định danh............................30
1.4.1. Khái niệm định danh..................................................................................30
1.4.2. Cơ chế định danh.......................................................................................31
1.4.3. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của định danh............................................31
1.5. Cấu tạo và phương thức cấu tạo từ, ngữ.........................................................34
1.5.1. Quan niệm về từ và các kiểu cấu tạo từ.....................................................34
1.5.2. Quan niệm về ngữ và các kiểu cấu tạo ngữ...............................................38


1.6. Khái quát chung về địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nghề biển và kết quả thu thập,
phân loại từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa..............................................................39
1.6.1. Khái quát chung về địa bàn tỉnh Thanh Hóa ............................................39
1.6.2. Khái quát chung về nghề biển Thanh Hóa ................................................40


ii
1.6.3. Kết quả thu thập và phân loại....................................................................41
1.7. Tiểu kết chương 1...........................................................................................43
Chương 2
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ
CHỈ CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA....................................44
2.1. Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp chỉ công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa
...............................................................................................................................44
2.1.1. Các loại từ ngữ nghề biển chỉ công cụ, phương tiện xét về cấu tạo .........44
2.1.2. Mô hình cấu tạo từ chỉ công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa......50
2.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện - xét
về nguồn gốc .........................................................................................................59
2.2.1. Từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện có nguồn gốc thuần Việt.......................60
2.2.2. Từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện có nguồn gốc vay mượn.......................60
2.3. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện xét từ
phương diện định danh..........................................................................................62
2.3.1. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện
nghề biển ở Thanh Hóa - xét về tính có lý do..........................................62
2.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện
nghề biển ở Thanh Hóa - xét về cách thức biểu thị của tên gọi...............64
2.4. Một số nét đặc trưng văn hóa xứ Thanh qua định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ,
phương tiện nghề biển ..........................................................................................72
2.4.1. Lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện nghề biển phản ánh tư duy tri nhận
của cư dân biển Thanh Hóa .....................................................................73

2.4.2. Cấu tạo lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện nghề biển thể hiện đặc điểm
lựa chọn định danh của cư dân biển Thanh Hóa......................................75
2.4.3. Lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện phản ánh ngư trường khai thác
truyền thống của cư dân biển Thanh Hóa................................................77
2.5. Tiểu kết chương 2...........................................................................................78
Chương 3
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ
CHỈ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA....................................80
3.1. Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp chỉ quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa
...............................................................................................................................80
3.1.1. Các loại từ ngữ nghề biển chỉ quy trình hoạt động, xét về cấu tạo............80


iii
3.1.2. Mô hình cấu tạo từ chỉ quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa........85
3.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ quy trình hoạt động - xét về
nguồn gốc...............................................................................................................93
3.2.1. Từ ngữ chỉ quy trình hoạt động có nguồn gốc thuần Việt.........................94
3.2.2. Từ ngữ chỉ quy trình hoạt động có nguồn gốc vay mượn..........................94
3.3. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ quy trình hoạt động xét từ
phương diện định danh..........................................................................................96
3.3.1. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ quy trình hoạt động nghề
biển ở Thanh Hóa - xét về tính có lý do ..................................................96
3.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ quy trình hoạt động - xét
về cách thức biểu thị của tên gọi..............................................................99
3.4. Một số nét đặc trưng văn hóa xứ Thanh biểu hiện qua lớp từ chỉ quy trình
hoạt động nghề biển ............................................................................................104
3.4.1. Đặc trưng văn hóa xứ Thanh biểu hiện qua cấu tạo tên gọi lớp từ chỉ quy
trình hoạt động nghề biển.......................................................................104
3.4.2. Đặc trưng văn hóa xứ Thanh biểu hiện qua phương thức định danh của lớp

từ chỉ quy trình hoạt động nghề biển......................................................106
3.4.3. Đặc trưng văn hóa xứ Thanh biểu hiện qua thơ ca dân gian phản ánh hoạt
động nghề biển.......................................................................................108
3.5. Tiểu kết chương 3.........................................................................................110
Chương 4
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ
CHỈ SẢN PHẨM NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA............................................................112
4.1. Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp chỉ sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa..............112
4.1.1. Các loại từ ngữ nghề biển chỉ sản phẩm xét về cấu tạo ..........................112
4.1.2. Mô hình cấu tạo từ chỉ sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa......................117
4.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ sản phẩm - xét về nguồn gốc
.............................................................................................................................126
4.2.1. Từ ngữ chỉ sản phẩm có nguồn gốc thuần Việt........................................126
4.2.2. Từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển có nguồn gốc vay mượn.......................127
4.3. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ sản phẩm, xét từ phương
diện định danh......................................................................................................129


iv
4.3.1. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển ở
Thanh Hóa- xét về tính có lý do ............................................................129
4.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của lớp từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển ở
Thanh Hóa - xét về cách thức biểu thị của tên gọi.................................130
4.4. Một số nét văn hóa biển xứ Thanh qua lớp từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển.138
4.4.1. Cách thức lựa chọn đặc trưng để định danh lớp từ ngữ nghề “cá” và có
liên quan đến nghề cá.............................................................................138
4.4.2. Tên gọi “cá” và liên quan đến nghề cá biểu trưng cho tâm hồn và tính cách
của cư dân biển xứ Thanh .....................................................................142
4.5. Tiểu kết chương 4.........................................................................................146
KẾT LUẬN........................................................................................................................148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN............................................................................................152
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................153

PHỤ LỤC


v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng:
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa.............................................41
Bảng 1.2. Bảng tổng hợp vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa
(xét nội dung phản ánh).......................................................................................................42
Bảng 2.1a. Số lượng/tỷ lệ % nhóm từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện
xét theo tổng thể các nghề....................................................................................................45
Bảng 2.1b. Số lượng/tỷ lệ % nhóm từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện,
xét theo từng nghề ..............................................................................................................45
Bảng 2.2a. Từ ghép chỉ công cụ, phương tiện, xét theo tổng thể các nghề..........................48
Bảng 2.2b. Từ ghép chỉ công cụ, phương tiện, xét theo từng nghề.....................................48
Bảng 2.3. Tổng hợp nguồn gốc định danh từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện.......................61
Bảng 2.4. Tổng hợp cơ sở lựa chọn định danh của từ ngữ chỉ công cụ,
phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa....................................................................................71
Bảng 2.5. Số lượng xét về mô hình cấu tạo các bậc định danh
của từ ghép chính phụ chỉ công cụ, phương tiện ở Thanh Hóa ...........................................76
Bảng 3.1a. Số lượng/tỷ lệ % nhóm từ ngữ chỉ quy trình hoạt động,
xét theo tổng thể các nghề ...................................................................................................80
Bảng 3.1.b. Số lượng/tỷ lệ % nhóm từ ngữ chỉ quy trình hoạt động,
xét theo từng nghề................................................................................................................81
Bảng 3.2a. Từ ghép chỉ quy trình hoạt động, xét theo tổng thể các nghề............................83

Bảng 3.2b. Từ ghép chỉ quy trình hoạt động, xét theo từng nghề........................................83
Biểu đồ 3.1.a. Nguồn gốc từ ngữ chỉ quy trình hoạt động,
xét tổng thể các nghề............................................................................................................94
Biểu đồ 3.1.b. Nguồn gốc từ ngữ chỉ quy trình hoạt động,
xét từng nghề........................................................................................................................95
Bảng 3.3. Cơ sở lựa chọn định danh từ ngữ chỉ quy trình hoạt động nghề biển...............102
Bảng 4.1.a. Số lượng và tỷ lệ % cấu tạo các nhóm từ ngữ chỉ sản,
xét trên tổng thể các nghề...................................................................................................113
Bảng 4.1.b. Số lượng và tỷ lệ % cấu tạo các nhóm từ ngữ chỉ sản phẩm,
xét trên từng nghề...............................................................................................................113
Bảng 4.2a. Từ ghép chỉ sản phẩm, xét theo tổng thể các nghề..........................................116
Bảng 4.2.b. Từ ghép chỉ sản phẩm, xét theo từng nghề....................................................116
Bảng 4.3. Tổng hợp nguồn gốc từ ngữ chỉ sản phẩm, xét theo từng nghề.........................127
Bảng 4.4. Tổng hợp cơ sở lựa chọn định danh từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển................136


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sự phát triển của ngôn ngữ diễn ra liên tục và không đồng đều giữa các
vùng miền, tầng lớp dân cư, các ngành nghề trong xã hội tạo nên sự phong phú và
đa dạng vốn từ của một dân tộc. Những biểu hiện khác biệt đó đã được phản ánh
vào ngôn ngữ. Điều này dẫn đến một hệ quả là, bên cạnh ngôn ngữ toàn dân dùng
chung cho toàn xã hội sẽ xuất hiện những biến thể ngôn ngữ, trong đó có hệ thống
vốn từ ngữ của những người làm nghề gắn với một nghề sản xuất - từ ngữ nghề
nghiệp. Do đó, nghiên cứu từ nghề nghiệp là một sự cần thiết bởi nó góp phần làm
rõ bức tranh đa dạng của ngôn ngữ dân tộc.
1.2. Từ ngữ nghề nghiệp là một bộ phận của từ vựng ngôn ngữ dân tộc xét trên
phương diện tính chất xã hội - nghề nghiệp. Từ nghề nghiệp là công cụ, phương tiện

hành nghề và giao tiếp đồng thời là phương tiện phản ánh văn hóa của cư dân làm
nghề. Hiện nay, nhiều làng nghề truyền thống đang dần bị mai một hoặc thay đổi bởi
xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lớp từ của các nghề truyền thống cũng có nguy
cơ biến mất. Cho nên, thu thập vốn từ nghề nghiệp truyền thống và nghiên cứu chúng
về mặt ngôn ngữ - văn hóa không chỉ cần thiết mà còn cấp bách. Mặt khác, cho tới nay,
các công trình nghiên cứu về từ nghề nghiệp chưa có nhiều; từ ngữ của nhiều nghề và
một số vấn đề cụ thể về lý luận như xác định, phân loại từ nghề nghiệp, mối quan hệ
giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ khác (từ địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ, tiếng
lóng...) cũng cần được tiếp tục đẩy mạnh. Đặc biệt, việc nghiên cứu từ nghề nghiệp
trên bình diện ngôn ngữ - văn hóa là có nhiều ý nghĩa nhưng công trình đi theo
hướng nghiên cứu này cũng còn ít. Đây là khía cạnh về lý luận và thực tiễn cần
được quan tâm nghiên cứu.
1.3. Thanh Hóa là một tỉnh đất rộng, người đông, là vùng đất địa linh nhân
kiệt, có lịch sử lâu đời. Vùng biển Thanh Hoá có chiều dài 102 km, chiếm khoảng
1/31 chiều dài bờ biển chung cả nước (102km/3260km). Đây là vùng bờ biển bãi
ngang với 5 cửa sông lớn (Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch


2
Bạng). Quá trình khai thác biển của người Việt cổ ở Thanh Hóa cũng tương đối sớm,
cách nay khoảng 6000- 7000 năm và có nhiều đặc điểm, dấu ấn văn hóa biển đặc sắc.
Tìm hiểu sắc thái văn hóa biển, nhận thức về nghề biển cho tới nay mới chủ yếu đề
cập trong các công trình nghiên cứu ở phương diện văn hóa dân gian, dân tộc học,
nhân học văn hóa hay khảo cổ học. Việc nghiên cứu văn hóa biển xứ Thanh từ
phương diện ngôn ngữ ít được quan tâm nghiên cứu. Do vậy, nghiên cứu từ ngữ nghề
biển không chỉ cho thấy giá trị về mặt ngôn ngữ (cấu tạo, ngữ nghĩa, định danh) mà
còn tìm hiểu văn hóa biển của địa phương, góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc.
Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ và là một trong hai cái nôi của người
Mường - Việt cổ (cùng với Mường Hòa Bình). Sự tồn tại của một phần vốn từ Việt
Mường trong tiếng Việt chủ yếu lưu lại ở một số vùng ở phương ngữ Bắc Trung Bộ,

trong đó có vùng đất Thanh Hóa. Nghiên cứu từ ngữ nghể biển có thể phần nào gợi
mở quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa thông qua ngôn ngữ.
Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá, cho đến nay, chưa được thu thập cũng như
chưa có công trình khoa học nào đề cập đến một cách đầy đủ, hệ thống đặc biệt từ
bình diện ngôn ngữ - văn hóa. Với những lý do và ý nghĩa như trên, chúng tôi chọn
nghiên cứu: “Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hoá (Từ bình diện ngôn
ngữ - văn hóa)” làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Luận án hướng tới các mục đích sau:
- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá mà cụ thể là lớp từ chỉ
công cụ, phương tiện, quy trình hoạt động và sản phẩm nhằm làm rõ đặc trưng ngôn
ngữ - văn hoá thể hiện trên các phương diện cấu tạo, nguồn gốc, ngữ nghĩa, định
danh. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những sắc thái tư duy văn hóa, nhận thức về
nghề biển, góp phần bảo tồn ngôn ngữ - văn hoá dân tộc.
- Luận án thống kê, thu thập vốn từ ngữ nghề nghiệp, là tư liệu giúp ích cho
những ai quan tâm nghiên cứu Thanh Hóa nói chung, từ nghề nghiệp, bình diện
ngôn ngữ - văn hóa của từ nghề nghiệp nói riêng.


3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có các nhiệm vụ chính sau:
- Điều tra, điền dã, thu thập vốn từ ngữ nghề biển ở địa bàn Thanh Hóa của 3
nghề: nghề cá, nghề làm mắm và nghề sản xuất muối.
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, từ ngữ nghề
nghiệp nghề biển, từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa và cơ sở lý luận làm nền
tảng triển khai nội dung luận án.
- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện qua cấu tạo,
nguồn gốc, định danh, ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề nghiệp chỉ công cụ, phương

tiện nghề biển ở Thanh Hóa.
- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện qua cấu tạo,
nguồn gốc, định danh, ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề nghiệp chỉ quy trình hoạt
động nghề biển ở Thanh Hóa.
- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện qua cấu tạo,
nguồn gốc, định danh, ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề nghiệp chỉ sản phẩm nghề
biển ở Thanh Hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án lựa chọn 1587/1942 đơn vị từ ngữ nghề biển được thu thập xét về
nội dung phản ánh của 3 nghề: nghề cá (dùng theo nghĩa rộng, chỉ hoạt động khai
thác và đánh bắt hải sản nói chung), nghề làm mắm và nghề sản xuất muối. Cụ thể:
- Lớp từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện (543 đơn vị).
- Lớp từ ngữ chỉ quy trình hoạt động (239 đơn vị)
- Lớp từ ngữ chỉ sản phẩm (805 đơn vị).
3.2. Phạm vi và tư liệu nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề biển và những vấn đề có liên quan về văn
hóa được phản ánh qua từ ngữ trên địa bàn vùng biển Thanh Hóa.
- Tư liệu khảo sát là từ ngữ nghề biển thu thập được từ điền dã thực địa tại các
làng làm nghề biển truyền thống; thu thập từ các tài liệu khác, nhất là các sáng tác dân
gian viết về nghề biển ở Thanh Hóa.


4
- Để thu thập tư liệu, chúng tôi lựa chọn các làng, xã làm nghề lâu đời có số
lượng và tỷ lệ dân cư làm nghề cao; ngoài ra chúng tôi cũng chú ý điều tra theo hai
loại làng nghề là vùng bãi ngang và vùng cửa sông.
4. Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp và thủ pháp
nghiên cứu sau:

4.1. Phương pháp điều tra điền dã
Chúng tôi tiến hành điều tra, điền dã thực địa tại các địa phương làng, xã có
nghề biển (gồm nghề cá, làm mắm và sản xuất muối) của 6 huyện và thị xã là: Tĩnh
Gia, Quảng Xương, Thị xã Sầm Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc và Nga Sơn. Trong quá
trình điều tra, điền dã, chúng tôi sử dụng kết hợp các thủ pháp phỏng vấn, đặt câu
hỏi cho các ngư dân, người làm nghề cao tuổi có nhiều năm trong nghề. Ngoài ra, tư
liệu còn được khai thác từ nguồn văn học dân gian, sách báo viết về địa phương…
Từ ngữ thu thập được chúng tôi sắp xếp theo hệ thống, chú giải nghĩa chi tiết; trước
khi nghiên cứu còn được kiểm tra, thẩm định lại bởi các chủ nhân làm nghề biển.
Tư liệu còn được bổ sung, có tính chất minh họa bằng một số hình ảnh do chúng tôi
chụp đối với các hoạt động, sản phẩm phổ biến của nghề biển hiện nay. Đối với một
số công cụ, phương tiện, hoạt động nghề biển truyền thống mang đặc trưng của
Thanh Hoá trước kia, nay không còn được dùng thì chúng tôi kí hoạ thông qua lời
kể của ngư dân. Điền dã được chúng tôi chú trọng, xem là phương pháp quan trọng
nhất để có nguồn tư liệu phục vụ cho luận án.
4.2. Phương pháp thống kê
Trên cơ sở phương pháp điều tra, điền dã, chúng tôi thống kê, thu thập và xử
lý số liệu hệ thống vốn từ ngữ nghề biển của ba nghề: nghề cá, nghề làm mắm và
sản xuất muối. Đây là hệ thống vốn từ ngữ mà ngư dân Thanh Hoá dùng để giao
tiếp, hành nghề. Các kết quả thống kê được tổng hợp dưới các bảng biểu, biểu đồ để
làm cứ liệu cho việc phân tích, đánh giá các nội dung của luận án.
4.3. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp phân tích - tổng hợp được chúng tôi dùng để miêu tả, phân
tích từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá trên ba phương diện chính: cấu tạo, ngữ nghĩa,


5
định danh. Trên cơ sở phân tích, miêu tả, tổng hợp đó, chúng tôi khái quát, rút ra
những nhận xét, đánh giá cho mỗi nội dung; chỉ ra đặc trưng khái quát về văn hoá
biển xứ Thanh thể hiện qua từ ngữ nghề nghiệp.

4.4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm nhận thức của người làm nghề, gắn liền với
đặc điểm môi trường địa lý tự nhiên, văn hoá xã hội của từng vùng. Do vậy, nghiên
cứu từ nghề nghiệp không chỉ tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ mà còn từ nhiều
phương diện khác như văn hoá học, lịch sử, xã hội,…Cho nên, để làm rõ đặc trưng
từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên
ngành mà trọng tâm là cách tiếp cận ngôn ngữ - văn hoá học.
4.5. Thủ pháp mô hình hóa
Trên cơ sở những những phân tích, luận giải các vấn đề liên quan đến luận
án, chúng tôi khái quát từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá thành những mô hình như:
mô hình cấu tạo từ (dựa trên tính chất, quan hệ giữa yếu tố tạo từ, có tính chất
phương ngữ - toàn dân, độc lập – không độc lập, các thành tố trực tiếp); mô hình
định danh (dựa trên dấu hiệu đặc trưng của đối tượng được lựa chọn định danh).
4.6. Thủ pháp so sánh
Để làm nổi rõ những vấn đề, nội dung nghiên cứu của luận án, chúng tôi có
sự so sánh từ ngữ nghề biển Thanh Hóa với các vốn từ có liên quan như, với từ toàn
dân, từ địa phương, tiếng lóng và đặc biệt là với thuật ngữ và từ nghề nghiệp nghề
gốm nhằm làm rõ tính chất, đặc trưng vừa chung, vừa riêng của từ ngữ nghề biển ở
Thanh Hoá.
5. Đóng góp của luận án
- Luận án đã thu thập, thống kê được một số lượng vốn từ ngữ nghề biển khá
lớn ở vùng biển Thanh Hóa. Đây là vốn tư liệu ngôn ngữ quan trọng mà chỉ có thể
có được chủ yếu thông qua điều tra điền dã từ thực địa.
- Nghiên cứu từ nghề biển từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa, luận án đã không
những làm rõ giá trị về mặt ngôn ngữ mà còn góp phần chỉ ra những đặc trưng về tư
duy, nhận thức, sắc thái văn hóa địa phương xứ Thanh qua từ nghề nghiệp.


6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận án đã miêu tả cặn kẽ, chi tiết và trình bày những đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của ba lớp từ ngữ được khảo sát: lớp từ chỉ công cụ, phương tiện; lớp từ chỉ
hoạt động và lớp từ chỉ sản phẩm. Đồng thời, luận án cung cấp danh mục từ ngữ
dưới dạng phụ lục bao gồm danh mục từ ngữ của ba lớp từ ngữ trên và danh mục từ
ngữ chỉ: hiện tượng tự nhiên; tổ chức, cá nhân; ngư trường đánh bắt; thời vụ;
nguyên vật liệu; đơn vị đo lường. Đây là những tư liệu hữu ích cho những công
trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực nghiên cứu từ nghề nghiệp nói chung, từ
nghề biển nói riêng.
- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp theo hướng mới, đó là từ bình diện
ngôn ngữ - văn hóa chứ không phải thuần túy từ bình diện ngôn ngữ theo hướng cấu
trúc như trước nay vẫn được nghiên cứu. Những kết quả nghiên cứu của luận án góp
phần thúc đẩy tích cực phát triển chuyên ngành Từ vựng học tiếng Việt.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở tư liệu được thống kê, miêu tả, phân tích, luận án góp phần gìn
giữ, bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống về nghề biển xứ Thanh thông qua vốn từ
nghề nghiệp.
- Luận án cung cấp hệ thống vốn từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh

Hóa, trong đó có những từ ngữ biểu thị nghề hiện nay không tồn tại, góp phần làm
phong phú kho từ vựng tiếng Việt.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, phần Nội dung của luận án gồm
các chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.
Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ công cụ, phương
tiện nghề biển ở Thanh Hóa.
Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ quy trình hoạt động
nghề biển ở Thanh Hóa.
Chương 4: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ sản phẩm nghề
biển ở Thanh Hóa.



7

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA ĐỀ TÀI
Xã hội luôn tồn tại những khác biệt bởi sự xuất hiện các tầng lớp, giai cấp,
ngành nghề khác nhau và chúng đều được phản ánh vào ngôn ngữ. Những khác biệt
đó càng thể hiện rõ và phức tạp thêm khi có sự chuyên biệt hóa, chuyên môn hóa
trong sản xuất và phân công lao động. Đây là cơ sở xã hội để tạo ra một lớp từ ngữ
gắn bó chặt chẽ với một ngành nghề sản xuất nhất định. Mặt khác, trong sự phát
triển của xã hội, con người ngày càng nhận thức sâu hơn, biết nhiều hơn, tìm ra cái
mới và đòi hỏi phải được gọi tên, đặt tên. Do đó, những người làm nghề trong quá
trình lao động luôn phải bổ sung những lớp từ ngữ nghề nghiệp, từ ngữ chuyên môn
để phục vụ cho việc giao tiếp trong nghề. Nói cách khác, “sự chuyên môn hóa các
ngành được phản ánh trong ngôn ngữ không phải là sự khác biệt về ngữ pháp và các
tiếng giai cấp mà là sự tạo ra những từ ngữ chuyên môn, những từ ngữ này chủ yếu
chỉ có những người làm nghề nghiệp đó mới hiểu được” [130, tr.2].
Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp chung, phổ quát cho toàn cộng
đồng xã hội, không bị lệ thuộc bởi ranh giới địa lý và địa vị xã hội. Nó được hình
thành, gắn chặt với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội và là “một sản phẩm của
lịch sử” [39, tr.212]. Quá trình thống nhất dân tộc cũng là quá trình thống nhất ngôn
ngữ. Tuy nhiên, trong một dân tộc vẫn tồn tại những vùng địa lý, cư trú, tầng lớp xã
hội khác nhau. Ngôn ngữ dân tộc bên cạnh những lớp từ dùng chung cho toàn xã
hội thì vẫn có những khác biệt ở từng vùng miền, từng ngành nghề, trong đó, có
một lớp từ ngữ của những người làm nghề - từ ngữ nghề nghiệp.
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu
và những vấn đề có tính chất lý thuyết liên quan đến từ ngữ nghề nghiệp nói chung,
từ ngữ nghề biển Thanh Hóa nói riêng làm định hướng nghiên cứu cho luận án.

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm giao tiếp của những người làm trong nghề.
Nó vừa mang giá trị về mặt ngôn ngữ học, vừa mang giá trị về mặt lịch sử, văn hóa.


8
Nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước quan tâm.
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp
Các nhà nghiên cứu nước ngoài, tiêu biểu là các nhà nghiên cứu Xô viết:
L.A. Kapanađze và A.V. Superanskaja trong khi bàn đến thuật ngữ, hệ thống thuật
ngữ, các tác giả đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp, đặc biệt là việc gọi tên các đối
tượng [Dẫn theo 130]. Tuy nhiên, các tác giả chưa bàn sâu đến lớp từ của những
người làm nghề ở các phương diện định danh, ngữ nghĩa mà chỉ đề cập đến tên gọi
các đối tượng một cách khái quát.
V.D. Bonđaletop - nhà ngôn ngữ học Xô viết đã phân loại các biến thể lời
nói, trong có tiếng nghề nghiệp. Theo tác giả, “tiếng nghề nghiệp thật sự (đúng hơn
là những hệ thống từ vựng), ví dụ như “tiếng” của người đánh cá, những người đi
săn, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, người làm len, thợ đóng dày, và cả những người
làm các ngành nghề khác” [Dẫn theo 130, tr.2]. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông mới
chỉ dừng lại ở những quan niệm khái quát, nêu ra những hiện tượng ngôn ngữ đơn
lẻ của những người làm nghề, mà chưa nghiên cứu cụ thể từ ngữ nghề nghiệp trên
các phương diện cấu tạo, hay định danh, ngữ nghĩa.
IU.V.Rozdextvenxki khi đề cập đến vấn đề “giáo dục ngôn ngữ nghề
nghiệp” tuy không bàn sâu đến từ ngữ nghề nghiệp nhưng tác giả cũng đã chỉ ra lớp
từ “được cá nhân học theo loại hình công việc”. Theo ông, từ điển bách khoa là một
trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp, “trong việc lựa chọn và giải
thích vốn từ vựng nghề nghiệp” [66, tr.369].
Ở Việt Nam, từ nghề nghiệp đã được các nhà Việt ngữ học đề cập đến trong
các giáo trình ngôn ngữ học từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Nguyễn Văn Tu

trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại [115] là một trong những nhà ngôn ngữ học
đầu tiên của Việt Nam trong khi trình bày hệ thống vốn từ tiếng Việt hiện đại đã đề
cập đến lớp từ thuộc về nhóm người làm nghề - từ nghề nghiệp. Tuy nhiên, ông cũng
mới chỉ dừng lại ở việc nêu khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể vào từng nghề.
Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [24] cũng đã có những


9
những nghiên cứu nhất định về từ nghề nghiệp nhưng tác giả cũng chỉ mới đưa ra
khái niệm làm nền tảng cho nghiên cứu. Về sau này, các tác giả như Hoàng Thị Châu
trong Phương ngữ học tiếng Việt [27], Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng
Việt [43], nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [29] cũng đã đề cập đến từ nghề nghiệp và phân
biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác (thuật ngữ, tiếng lóng, từ địa phương).
Đặc điểm chung của các công trình trên là các nhà nghiên cứu xem từ ngữ
nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị công cụ, sản phẩm lao động, quá trình sản
xuất của một nghề nào đó trong xã hội. Những từ ngữ này, nếu không là người trong
nghề sẽ khó hiểu, thậm chí có những từ ngữ nghề nghiệp mà người ngoài nghề
không thể hiểu. Do tính chất của giáo trình, các tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ
khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa từ ngữ nghề
nghiệp với từ địa phương, thuật ngữ, tiếng lóng. Các nhà nghiên cứu cũng chưa có
điều kiện để nghiên cứu sâu từ ngữ nghề nghiệp ở phương diện cấu tạo, đặc điểm về
định danh, ngữ nghĩa từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp từng nghề cụ
thể trong từng địa phương đã được nhiều tác giả quan tâm. Đó là các bài viết:
Nguyễn Văn An [1], Hoàng Trọng Canh [19], Lê Viết Chung [28], Phạm Hùng
Việt [132]. Ngoài ra, còn có một số các luận văn của các tác giả: Ngôn Thị Bích
[12], Trần Thị Ngọc Hoa [54], Phan Thị Tố Huyền [60], Phạm Bá Tân [92], Bùi
Thị Lệ Thu [107],...
Các bài viết và các luận văn được công bố trên đã bước đầu nghiên cứu từ

ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, định danh; khảo sát một số lượng
đáng kể từ ngữ của từng nghề; phân tích mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ
địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đó chỉ ở
phạm vi hẹp, chủ yếu là làng nghề truyền thống của một địa phương hoặc do tính
chất của công trình, các tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích về vấn đề định
danh, ngữ nghĩa; chưa nghiên cứu từ ngữ nghiệp từ phương diện ngôn ngữ - văn
hóa một cách quy mô có hệ thống.


10
Trong số các tư liệu nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học
cấp viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [130] do
tác giả Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm đề tài là đáng chú ý. Nhóm tác giả đã
có những nghiên cứu khá toàn diện về tiếng nghề nghiệp, khu biệt với những
loại từ cùng thuộc phương ngữ xã hội, chỉ ra mô hình cấu tạo, trường từ vựngngữ nghĩa, nguồn gốc các đơn vị định danh và thống kê được 861 đơn vị từ ngữ
nghề gốm Bát Tràng. Tuy nhiên, công trình lại chưa đi sâu nghiên cứu ở phương
diệ n định danh - một nhân tố quan trọng cho thấy những nét văn hóa làng nghề
được phản ánh vào ngôn ngữ.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển
Nghiên cứu về từ ngữ nghề biển hiện nay tiêu biểu có hai công trình khoa
học cấp bộ và cấp nhà nước do tác giả Hoàng Trọng Canh làm chủ nhiệm đề tài.
Đó là công trình Từ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh (bước đầu khảo sát
lớp từ nghề cá, nước nắm, muối [17] và công trình Nghiên cứu từ ngữ - văn hóa
nghề biển Thanh - Nghệ Tĩnh (tác giả luận án này là một thành viên) [22]. Hai
công trình trên đã đề cập một cách hệ thống, chi tiết từ ngữ nghề biển. Trên cơ sở
đối sánh giữa từ nghề nghiệp với từ địa phương và từ toàn dân, tác giả đã phân
tích mô hình cấu tạo, phương thức định danh, đặc trưng ngữ nghĩa, một số nét văn
hóa biển và thống kê được 3270 đơn vị từ ngữ nghề biển vùng Thanh - Nghệ Tĩnh.
Việc nghiên cứu từ ngữ nghề biển đã được đề cập đến trong các bài viết cụ
thể ở những địa phương có nghề biển. Đó là các bài viết của các tác giả: Nguyễn

Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh [10], Hoàng Trọng Canh [16], [18], [21], Phạm Tất
Thắng [95]. Ngoài ra, một số luận văn cũng đã bước đầu nghiên cứu cụ thể về từ
ngữ nghề biển của các tác giả như: Lương Vĩnh An [2], Nguyễn Thị Quỳnh Trang
[127]. Các bài viết hoặc các luận văn đã có những đóng góp nhất định: thu thập
một số lượng đáng kể vốn từ nghề biển; chỉ ra mô hình cấu tạo, phương thức định
danh; sắc thái văn hóa biển qua vốn từ. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chỉ ở
phạm vi nhỏ hẹp và chưa đi sâu nghiên cứu từ nghề nghiệp từ phương diện ngôn
ngữ - văn hóa.


11
Nghiên cứu về từ nghề nghiệp, không chỉ các nhà ngôn ngữ học mà các nhà
văn hóa học cũng quan tâm. Tiêu biểu là tác giả Phan Thị Yến Tuyết trong sách
chuyên khảo Đời sống xã hội - kinh tế của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ
[122]. Tác giả đã trình bày những vấn đề đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cư
dân vùng biển của 9 tỉnh Nam Bộ, trong đó, có đề cập đến các phương tiện đánh bắt
và hoạt động khai thác thủy hải sản; hoạt động nghề sản xuất muối. Đặc biệt, tác giả
cũng đã có thống kê danh mục từ ngữ về nghề biển ở vùng biển Nam Bộ. Tuy
nhiên, do tính chất của công trình nghiên cứu thiên về văn hóa dân gian, tác giả mới
thống kê số lượng rất ít từ ngữ nghề biển và chưa nghiên cứu về mảng từ ngữ nghề
biển ở phương diện ngôn ngữ như: cấu tạo, định danh hay ngữ nghĩa.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa
Trong các tài liệu nghiên cứu liên quan đến nghề biển và từ ngữ nghề biển ở
Thanh Hóa, người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là học giả người Pháp Ch.
Robequain vào năm 1929 trong cuốn Le Thanh Hoa [90]. Ông đã trình bày một
cách cụ thể, chi tiết về vùng đất Thanh Hóa, trong đó có nghề biển. Tác giả đã chỉ ra
các công cụ, phương tiện; cách thức đánh bắt, khai thác và sản phầm của nghề biển
truyền thống xứ Thanh như nghề đánh cá, làm mắm và sản xuất muối. Tuy nhiên,
kết quả nghiên cứu đó chỉ đơn thuần nghiêng về lịch sử văn hóa mà ít đề cập đến
phương diện ngôn ngữ - văn hóa của từ nghề nghiệp.

Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa cũng ít nhiều được đề cập đến trong các công
trình về địa chí Thanh Hóa, văn học dân gian Thanh Hóa như: Địa chí văn hóa
Hoàng Hóa [41], Địa chí Hậu Lộc [61], Địa chí huyện Tĩnh Gia [62], Địa chí huyện
Nga Sơn [63], Địa chí văn hóa huyện Quảng Xương [87], Văn học dân gian các dân
tộc ở Thanh Hóa [81], Tục ngữ dân ca, ca dao, vè Thanh Hóa [128]… Các bài viết
nghiên cứu về các nghề làm muối, làm mắm, đánh bắt cá truyền thống của một số
tác giả như: Viên Ngọc Lưu [79], [80], Phạm Thị Quy [89], Hoàng Minh Tường
[124], [126],…Các công trình nghiên cứu, các bài viết đó chủ yếu đề cập đến một
vài nét khái quát về nghề biển ở Thanh Hóa; một số tên gọi công cụ, phương tiện;
tên gọi một số loại cá; tri thức, kinh nghiệm dân gian nghề biển ở các địa phương;


12
các phương thức, cách khai thác, đánh bắt chứ chưa nghiên cứu ở phương diện cấu
tạo, ngữ nghĩa, định danh của từ ngữ nghề nghiệp.
Nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa dưới góc độ ngôn ngữ học
thì hiện nay mới có tác giả Nguyễn Thị Duyên trong luận văn Thạc sỹ Ngữ văn
Khảo sát từ chỉ nghề biển ở Hậu Lộc - Thanh Hóa [32]. Đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu về từ nghề biển ở Thanh Hóa từ phương diện ngôn ngữ học nhưng mới
chỉ bước đầu khảo sát ở một huyện của Thanh Hóa. Tác giả cũng mới miêu tả khái
quát vấn đề cấu tạo, định danh và cũng chưa phản ánh hết đặc trưng về nghề biển
của cư dân biển Thanh Hóa cũng như thống kê được một số lượng vốn từ ngữ
nghề biển rất hạn chế.
Từ những kết quả của các công trình đã được trình bày, vấn đề nghiên cứu từ
ngữ nghề nghiệp nói chung, từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa nói riêng,
cho tới nay chưa có công trình nào được công bố thu thập, nghiên cứu vốn từ này
một cách đầy đủ, hệ thống trên tổng thể các bình diện của ngôn ngữ. Một số tác giả
có đề cập đến lĩnh vực từ nghề cá, nghề gốm, nghề rèn, nghề nông, nghề dệt thổ
cẩm...nhưng chỉ dừng lại ở khía cạnh khái quát; quan niệm cũng chưa hoàn toàn
thống nhất hoặc do tính chất từng công trình mà các tác giả chưa nghiên cứu đầy đủ,

toàn diện, đặc biệt từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa.
Như vậy, nghiên cứu Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa (từ bình
diện ngôn ngữ - văn hóa) là đề tài mới, chưa có ai đi sâu nghiên cứu. Do đó,
chúng tôi lựa chọn đề tài này làm đề tài luận án tiến sĩ là phù hợp và cần thiết.
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1. Những vấn đề chung về từ ngữ nghề nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm từ ngữ nghề nghiệp
Như đã biết, lao động là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp “con
người cá nhân” thành “con người xã hội”. Để tồn tại, phát triển và đáp ứng nhu cầu
cuộc sống, con người phải mưu sinh, lao động, tìm nghề, lựa chọn nghề và học
nghề. Đây là cơ sở xã hội để hình thành nên một lớp từ ngữ của những người làm
nghề riêng biệt phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy. Lớp từ ngữ đó cũng tạo
nên dấu ấn nghề nghiệp - từ ngữ nghề nghiệp.


13
Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp (hay tiếng nghề nghiệp, từ vựng nghề
nghiệp) nói chung, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp nói riêng đã được các tác giả
trong nước và nước ngoài quan tâm.
a. Quan niệm từ ngữ nghề nghiệp của các tác giả nước ngoài
L.A. Kapanađze khi bàn về những khái niệm "thuật ngữ" và "hệ thống thuật
ngữ" cũng đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp và cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp
thường vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng "so sánh" [Dẫn theo 130, tr.6].
A.V. Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp đã quan niệm: Tên gọi
kiểu này (tên gọi dài dòng được thừa nhận do yêu cầu tính hệ thống của việc miêu
tả khoa học - khi đi vào phạm vi từ vựng thông thường không tránh khỏi bị rút gọn
đi) "vốn sinh ra từ trong phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu
tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ nghề nghiệp" [130, tr.6]. Ông diễn giải
thêm: “Để việc bán hàng được thuận lợi, các mặt hàng phải có tên gọi đặc biệt của
mình...nhiệm vụ chủ yếu đề ra cho các từ này là biểu đạt các hàng hoá với tất cả các

thuộc tính vật chất của nó. Nhờ điều đó mà, hoặc dù là những sự vật muôn màu
muôn vẻ (...) và dường như trong chúng lại có tính duyên dáng, đầy tính biểu cảm"
(nhất là vào những thời điểm sáng tạo ra chúng. [Về sau này], những sắc thái biểu
cảm sẽ nhanh chóng mất đi, chỉ còn gắn với tính vật chất của hàng hoá - và tuỳ
thuộc vào tính vật chất ấy mà có sự đánh giá lại” [Dẫn theo 130, tr.6].
Như vậy, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi bàn đến thuật ngữ hay danh
pháp thì cũng đã phần nào nhận ra một lớp từ ngữ do một tầng lớp người làm
nghề trong xã hội tạo ra để phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy - từ ngữ
nghề nghiệp.
b. Quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp của các nhà ngôn ngữ học trong nước
Cùng thuộc phạm trù phương ngữ xã hội, nhưng nếu các lớp từ khác như:
tiếng lóng, tiếng địa phương, thuật ngữ, biệt ngữ,...ít nhiều có trong các cuốn từ
điển tiếng Việt thì từ ngữ nghề nghiệp lại không thấy được định nghĩa trong các
cuốn từ điển đó. Từ ngữ nghề nghiệp chỉ được đề cập trong Từ điển giải thích thuật
ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý (chủ biên) [135].


14
Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp, chúng ta có thể bắt gặp trong các công trình
nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học như: Lưu Văn Lăng (1960), Nguyễn Văn Tu
(1968), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Như Ý (1996), Nguyễn Văn Khang (2001),
Hoàng Thị Châu (2004), Nguyễn Thiện Giáp (2010),… Nhìn chung, có hai quan
điểm khác nhau.
- Quan điểm thứ nhất, chú trọng đến tính đặc trưng của từ ngữ nghề nghiệp,
nhóm tác giả Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ cho
rằng: từ ngữ nghề nghiệp là “các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người
thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [135,tr.389].
Trên cơ sở phân biệt từ nghề nghiệp với thuật ngữ, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “những
từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên
môn chứ không phải dùng để viết. Từ nghề nghiệp cũng khác thuật ngữ ở chỗ chúng

gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa” [115, tr.126].
- Quan điểm thứ hai, các nhà nghiên cứu xem từ nghề nghiệp ở phạm vi rộng
hơn và cụ thể hơn. Đó là các quan niệm của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức
Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [29], Đỗ
Hữu Châu trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [24], Nguyễn Thiện Giáp trong Từ
vựng học tiếng Việt [43] và Nguyễn Văn Khang trong Tiếng lóng Việt Nam [70].
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến xem “Từ
nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong
phạm vi của những người cùng làm một nghề nào đó” [29, tr.223]. Theo đó, lớp từ
nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như nghề làm giấy,
làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới… Nhưng hoạt động của các
từ nghề nghiệp lại không đồng đều, có từ sử dụng hạn chế trong phạm vi một nghề,
nhưng có những từ ngữ đi vào vốn từ vựng chung, được dùng phổ biến trong xã hội.
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng
được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản
xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc,
ngành văn thư v.v…)” [24, tr.253]. Trong nội dung khái niệm mà Đỗ Hữu Châu đã
trình bày, từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được dùng rộng rãi trong xã hội như


15
cày, bừa, cuốc, cào (nghề nông), đục, cưa, bào,… (nghề mộc) bởi đây là những từ
chỉ công cụ của nghề.
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị
những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong
xã hội. Những từ ngữ này thường được người trong ngành nghề đó biết và sử dụng.
Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ nghề nghiệp
nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng…” [43, tr.265].
Nguyễn Văn Khang gọi từ nghề nghiệp là tiếng nghề nghiệp và xem nó thuộc
phương ngữ xã hội. Tác giả cho rằng: “nghề nghiệp là cơ sở để tạo ra những hệ

thống từ ngữ nghề nghiệp riêng và cùng với đó là hình thành một phong cách ngôn
ngữ có dấu ấn nghề nghiệp” [70, tr.24].
Như vậy, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp ở các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước tuy ít nhiều có những sự khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều xem từ
ngữ nghề nghiệp là những đơn vị từ vựng biểu đạt phương tiện, công cụ, hoạt động,
sản phẩm…được sử dụng phổ biến trong phạm vi một ngành nghề nhất định.
c. Quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp được sử dụng trong luận án
Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm do những người làm nghề tạo ra, dùng để
giao tiếp trong nghề. Với những nghề thủ công truyền thống mà phạm vi hoạt động
hẹp như nghề rèn, nghề gốm, nghề mộc, nghề sơn mài, nghề giấy, nghề thuốc…thì
tính chất nghề nghiệp thể hiện qua từ rất rõ, do phạm vi hoạt động của nghề chỉ một
làng, xã. Khả năng hoạt động của chúng rất hạn chế, biệt lập trong phạm vi hoạt
động của nghề. Lớp từ này thường chỉ những người trong nghề hiểu và sử dụng;
người ngoài nghề ít dùng hoặc khó hiểu. Tuy nhiên, ngay cả những nghề phổ biến
thì vẫn có những lớp từ mang đặc trưng của người làm nghề, trong vùng địa phương
nhất định. Ví dụ: sẻo, rẻo, đòi, đồm, rạo, tóm, lưới bốc, lưới rẻo, lưới rênh, te reo,
thuyền hung tròn,… (nghề đánh cá); bàn chà, bàn chụi, long chà… (nghề làm
mắm); bầu diệc, chạt lọc, xêu, giát,… (nghề sản xuất muối). Đây cũng là những từ
nghề nghiệp nếu xét theo tính chất xã hội của tầng lớp người dùng, nhưng nếu xét
theo phương ngữ địa lý thì các từ này đồng thời cũng là từ địa phương, được người
Thanh Hóa quen dùng.


16
Mức độ biệt lập hay hạn chế về phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp cũng
còn tùy thuộc vào mức độ phổ biến và phạm vi hoạt động của từng nghề. Với những
nghề phổ biến ở phạm vi địa lý rộng lớn như nghề biển bên cạnh những lớp từ mang
đặc trưng riêng, biệt lập như đã dẫn ra ở trên thì có rất nhiều những từ đã trở nên
phổ biến trong xã hội. Ví dụ: cá trích, cá thu, cá bạc má, mắm tôm, mắm chượp, bè
luồng, bè xốp, lưới cước, lưới gai, thuyền câu, thuyền thúng,…Với những lớp từ

này, người trong nghề lẫn ngoài nghề dễ hiểu và sử dụng.
Trong tiến trình lịch sử xã hội, sự giao lưu, tiếp xúc giữa các quốc gia, vùng
miền là tất yếu. Sự giao lưu tiếp xúc ấy diễn ra trên nhiều bình diện, trong đó có
ngôn ngữ. Nhiều từ địa phương đã được sử dụng rộng rãi và trở thành vốn từ toàn
dân. Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Mặc
dù, đây là nghề truyền thống lâu đời nhưng xã hội ngày càng phát triển, sự giao lưu
giữa các ngành nghề, tầng lớp xã hội diễn ra liên tục đòi hỏi phải có vốn từ chung
phục vụ cho nhu cầu giao tiếp. Với xu thế đó, một số lượng không nhỏ các từ ngữ
nghề biển ở Thanh Hóa, và có thể ở vùng khác đã được “toàn dân hóa”, trở thành
vốn từ toàn dân. Ví dụ: cá heo, cá nục, cá cơm, cá lẹp, mực, cua, ốc, thuyền, bè,
lưới, phao… ;mắm hôi, mắm thính, nước mắm cốt, pha chế, ướp…; muối chiêm,
muối mùa, muối xám…Khi vốn từ nghề nghiệp được dùng trong vốn từ toàn dân thì
phạm vi sử dụng trở nên phổ biến rộng rãi.
Như vậy, qua các quan niệm và một vài luận giải ở trên, chúng tôi nhận thấy
rằng từ ngữ nghề nghiệp có hai đặc điểm. Một là, từ ngữ nghề nghiệp phản ánh
công cụ, hoạt động, sản phẩm…của một nghề. Hai là, từ ngữ nghề nghiệp có phạm
vi sử dụng hạn chế trong nghề, trong từng địa phương. Điều này đã được tác giả Đỗ
Hữu Châu đưa ra trong công trình nghiên cứu của mình. Theo nội dung khái niệm
của Đỗ Hữu Châu thì từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được sử dụng rộng rãi
trong xã hội, được mọi người hiểu và sử dụng, như: cày, bừa, cuốc, cào… (nghề
nông), thuyền, lưới, câu (nghề cá),…đục, cưa, bào… (nghề mộc). Xét về nội dung
phản ánh, đây là những từ chỉ công cụ, phương tiện để phục vụ cho hoạt động sản
xuất và hành nghề. Do quá trình giao lưu, tiếp xúc giữa các vùng địa lý dân cư, giữa


17
các nhóm người làm nghề mà những từ như trên đã trở nên phổ biến trong toàn dân
sử dụng. Nhưng, xét về mặt lịch đại, chúng vốn có nguồn gốc từ nghề nghiệp.
Vấn đề đặt ra ở đây là xác định phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp. Từ nào
chỉ dùng trong phạm vi những người hành nghề với nhau. Rõ ràng, điều này rất khó

cho người thu thập vốn từ nghề nghiệp. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, xuất
phát từ phương diện nội dung phản ánh, chúng tôi đưa ra cách hiểu về từ ngữ nghề
nghiệp như sau:
1) Những đơn vị từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện, quá trình hoạt động, sản
phẩm…được tạo ra của nghề, được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người
cùng làm nghề nào đó. Nhiều từ ngữ đã quen thuộc với người ngoài nghề, tính chất
thông dụng, đã được toàn dân hóa và trở thành từ toàn dân.
2) Những từ ngữ mà người trong nghề dùng để chỉ những công cụ, hoạt
động, sản phẩm…của nghề nhưng người ngoài nghề cũng dùng quen thuộc trong
một vùng phương ngữ. Xét theo phương ngữ địa lí, các từ ngữ này đồng thời cũng
là từ địa phương.
3) Những từ ngữ mà người trong nghề dùng phổ biến để chỉ những công cụ,
hoạt động, sản phẩm…của nghề mà thường người ngoài nghề ít dùng hoặc không
hiểu. Lớp từ ngữ này thường có phạm vi sử dụng trong một không gian địa lí hạn
chế, gắn với từng thổ ngữ nhất định.
Từ quan niệm như vậy, vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa mà chúng tôi thu
thập là vốn từ ngữ ngư dân Thanh Hóa dùng chỉ công cụ, hoạt động, sản phẩm…của
nghề. Dĩ nhiên, vốn từ ngữ này không phải hoàn toàn chỉ riêng người Thanh Hóa
dùng mà các cư dân ở vùng biển khác cũng dùng. Thậm chí có những từ ngữ không
chỉ được dùng trong nghề biển mà còn sử dụng trong nghề khác. Ví dụ: đài radiô,
vôlăng, định vị, xe cút kít…
1.2.1.2. Vị trí của từ nghề nghiệp trong từ vựng một ngôn ngữ
Hệ thống từ vựng vô cùng phong phú, đa dạng xét trên các phương diện, góc
độ nhìn nhận như: phạm vi sử dụng, nguồn gốc hoặc phong cách...Trên cơ sở đó, vị
trí của từ ngữ nghề nghiệp trong từ vựng của một ngôn ngữ được xác định không
giống nhau.


18
Căn cứ vào phạm vi sử dụng, Nguyễn Thiện Giáp đã phân chia vốn từ vựng

thành "từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ” [ 43,
tr.255]. Tác giả khẳng định: “từ ngữ nghề nghiệp cũng là lớp từ vựng được dùng
hạn chế về mặt xã hội” [43, tr.265].
Nhóm tác giả Vũ Đức Nghiệu, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến cũng
xếp từ nghề nghiệp thuộc "phương ngữ xã hội". Theo đó, “Trừ những từ ngữ
thuộc các lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt lãnh thổ (từ địa phương) hoặc về
mặt “phương ngữ xã hội” (thuật ngữ, tiếng lóng, từ nghề nghiệp), số còn lại được
gọi là lớp từ vựng chung hoặc từ vựng toàn dân” [29, tr.226]. Cũng xếp từ nghề
nghiệp vào "phương ngữ xã hội", tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng: "Còn có
thể gọi là phương ngữ xã hội những trường hợp như tiếng lóng, biệt ngữ, tiếng
nghề nghiệp được sử dụng trong phạm vi hẹp ở một nhóm hay một tập đoàn
người nhất định" [70, tr.117].
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) đã phân chia
lớp từ vựng tiếng Việt thành hệ thống bao gồm: từ vựng nghề nghiệp và thuật ngữ
khoa học, biệt ngữ (bao gồm cả tiếng lóng), hệ thống từ vựng địa phương, hệ thống
Hán Việt và các từ vay mượn. Theo đó, từ nghề nghiệp được xếp cùng một hệ thống
với thuật ngữ khoa học.
Tuy có những quan điểm, cách nhìn nhận có phần khác nhau nhưng nhìn
chung, các nhà ngôn ngữ học đều khẳng định rằng, từ ngữ nghề nghiệp là lớp từ
ngữ của những người làm nghề, được sử dụng hạn chế về mặt xã hội (thuộc phương
ngữ xã hội) và thuộc phong cách nói (chủ yếu được dùng trong giao tiếp). Do vậy,
từ ngữ nghề nghiệp cùng với những lớp từ khác góp phần làm phong phú kho từ
vựng ngôn ngữ dân tộc.
1.2.2. Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ ngữ khác
Hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ có nhiều lớp từ ngữ khác nhau. Mỗi lớp
từ ngữ đều có những đặc trưng riêng phân biệt nó với các lớp từ ngữ khác. Để hiểu
về từ nghề nghiệp một cách rõ ràng hơn, chúng tôi thiết nghĩ cần phải đặt nó trong
mối quan hệ với các lớp từ ngữ khác của hệ thống ngôn ngữ (từ toàn dân, từ địa
phương, thuật ngữ, tiếng lóng).



19
a. Từ nghề nghiệp và từ toàn dân
Về khái niệm từ toàn dân, Nguyễn Thiện Giáp đưa ra định nghĩa: "Từ vựng
toàn dân là những “từ toàn dân hiểu và sử dụng. Nó là vốn từ chung cho tất cả những
người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau.
Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ.
Có thể nói từ vựng toàn dân là hạt nhân từ vựng, làm cơ sở cho sự thống nhất, không
có nó, ngôn ngữ không thể có được và do đó không thể có sự trao đổi giao tiếp giữa
mọi người" [43, tr.255- 256].
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến quan
niệm: "Ngay tên gọi của lớp từ này cũng ngụ ý rằng nó gồm những từ ngữ mà toàn
dân, mọi người, mọi nơi, mọi lúc đều có thể sử dụng một cách rộng rãi" [29, tr.226].
Nhóm tác giả Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc
Lệ chỉ rõ: "từ được sử dụng hàng ngày, chung cho mọi người trong một dân tộc,
một quốc gia, còn gọi là từ toàn dân. Các từ thường dùng thuộc từ vựng tích cực"
[135, tr.397].
Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Đại bộ phận các từ chỉ những sự kiện, sự vật cơ
bản phổ biến là những từ thống nhất đối với cả nước. Ngoài ra, còn có sự chuyên
dùng ở địa phương hay một số từ nào đó trong một nhóm đồng nghĩa chung cho cả
tiếng Việt...Những từ thống nhất và những từ đồng nghĩa được chuyên dùng như
trên hợp thành từ vựng toàn dân của tiếng Việt" [24, tr.244-245].
Trên cơ sở quan niệm về từ toàn dân của một số nhà ngôn ngữ học, chúng tôi
cho rằng, từ toàn dân là những từ mà mọi người đều hiểu và sử dụng. Nói cách
khác, đó là lớp từ cơ bản, vốn từ chung của quốc gia dân tộc.
Với những quan niệm như trên, chúng tôi nhận thấy, giữa từ nghề nghiệp và
từ toàn dân có sự khác biệt rất rõ. Về phạm vi sử dụng, từ nghề nghiệp có tính chất
sử dụng phạm vi hẹp, thậm chí trong một làng, một xã, trong khi từ toàn dân có tính
chất phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội. Xét về đối tượng người dùng, từ nghề
nghiệp được sử dụng hạn chế trong một lớp đối tượng, những người cùng làm một

ngành nghề nhất định; trong khi, từ toàn dân lại được mọi người trong xã hội dùng.


20
Xét về nội dung phản ánh, từ nghề nghiệp chỉ bao quanh những vấn đề liên quan
đến nghề nghiệp đó (phương tiện, công cụ, hoạt động, sản phẩm, đối tượng của
nghề, nguyên liệu, hiện tượng…); còn từ toàn dân lại biểu đạt mọi nội dung có
trong hiện thực cuộc sống. Xét về phong cách sử dụng, từ nghề nghiệp chủ yếu
thuộc về phong cách nói, hội thoại, khẩu ngữ; từ toàn dân đa dạng các phong cách
như phong cách viết, phong cách khoa học. Xét về vai trò đối với hệ thống ngôn
ngữ dân tộc, từ nghề nghiệp khó có thể đóng vai trò làm nền tảng, là cơ sở để thống
nhất từ vựng và thống nhất ngôn ngữ dân tộc như từ toàn dân vì từ nghề nghiệp bị
hạn chế về phạm vi sử dụng và người dùng.
b. Từ nghề nghiệp và từ địa phương
Hiện nay, các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau về từ địa
phương. Nguyễn Văn Tu quan niệm: "Từ địa phương không ở trong ngôn ngữ
văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định. Chúng mang sắc thái địa
phương. Người của địa phương này không hiểu những từ của địa phương kia”
[115, tr.129].
Nhóm tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng,
Đặng Ngọc Lệ xem từ địa phương là "từ của một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ
dân tộc nào đó và chỉ phổ biến trong phạm vi vùng lãnh thổ của địa phương đó"
[135, tr.339].
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến định
nghĩa: “Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ
dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó, thì được gọi là từ
địa phương” [29, tr.221].
Xem từ địa phương là một bộ phận của ngôn ngữ nói, Nguyễn Thiện Giáp
xem: "Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương.
Nói chung, từ địa phương là bộ phận của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó

của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học" [43, tr.257].
Trong khi đó, Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Những đơn vị từ vựng địa phương là
những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau


×