Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Tài liệu giáo trình sơn ô tô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (20.6 MB, 88 trang )

Chương 1

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT
Sau khi học xong chương này các học sinh có khả năng:
1. Giải thích được mục đích của việc chuẩn bò bề mặt.
2. Phân biệt được các phương pháp chuẩn bò bề mặt.
3. Xác đònh được các vật liệu dùng trong chuẩn bò bề mặt.
4. Phân tích được tác hại của sơn đối với sức khỏe và các biện pháp an toàn trong phân
xưởng sơn.
5. Giải thích được các bước trong qui trình xử lý ban đầu.
6. Giải thích được các bước trong qui trình bả matít.
7. Giải thích được các bước trong qui trình sơn lót bề mặt.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

1


I.

MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT

1. Mục đích của sự chuẩn bò bề mặt
Chuẩn bò bề mặt là một thuật ngữ chung được dùng để mô tả các hoạt động bao gồm phục hồi
hư hỏng hoặc sửa chữa các tấm vỏ xe để tạo ra một mặt nền cơ bản phù hợp cho lớp sơn trên
(sơn màu).
Mục đích chính của sự chuẩn bò bề mặt như sau:

Bảo vệ kim loại nền

Chống gỉ và rỗ bề mặt kim loại.



Cải thiện tính bám dính

Tăng tính bám dính giữa các lớp.

Phục hồi hình dạng

Phục hồi hình dạng ban đầu bằng
cách làm phẳng các vết lõm và
vết xước.

Làm kín các bề mặt

Tránh hấp thụ vật liệu sơn được
dùng khi phun lớp sơn màu.

Mục đích chính của sự
chuẩn bò bề mặt

2. Các phương pháp chuẩn bò bề mặt
Phương pháp chuẩn bò bề mặt có các qui trình dưới đây:

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

2


TẤM VỎ THÂN XE BỊ HƯ HỎNG

Lõm nặng


Lõm nhẹ

Sửa chữa tấm vỏ
thân xe

Mài bóc lớp sơn và mài vát
mép sơn giáp mối
(Tính bám dính)

Phun sơn lót
(Chống gỉ và tạo tính bám dính)

Phun sơn lót bề mặt
(Điền đầy các vết lõm.
Tránh hấp thụ sơn.
Tạo tính bám dính)

Mài lớp sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và
phục hồi hình dạng)

Bả matít
(Trát đầy vết lõm)

Bôi kheo làm kín thân xe
(Chống nước vào)

Mài ma tít
(Phục hồi hình dạng)


Tiến hành sơn màu

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

3


TẤM VỎ XE ĐƯC THAY THẾ
Mài bề mặt
(Tạo bám dính)

Phun sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và làm kín)
Mài lớp sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và
phục hồi hình dạng)

Bôi keo làm kín thân xe
(Chống nước vào)

Tiến hành sơn màu

II. CÁC VẬT LIỆU CHUẨN BỊ BỀ MẶT

Sơn lót

Chống gỉ. Tạo bám dính.

Ma tít


Điền đầy các chỗ lõm sâu. Tạo bám dính.

Sơn lót bề mặt

Tạo bề mặt bằng phẳng. Tránh hấp thụ sơn.
Tạo bám dính.

Các vật liệu
chuẩn bò bề mặt

1. Sơn lót
Sơn lót có các tính chất sau:


Chống gỉ.



Tăng tính bám dính giữa kim loại nền (tấm thép) với các lớp tiếp theo.



Thông thường, sơn lót được phun một lớp rất mỏng và không cần mài.

Sau đây là các loại sơn lót sẵn có:

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

4



Sơn rửa

SƠN LÓT

 Sơn rửa còn gọi là sơn axit, có thành phần chính là
nhựa vinyl butyric và chất màu crôm kẽm chống gỉ,
được bổ sung thêm chất đóng rắn làm bằng axit
phôtphoric.
 Sơn lót được sơn trực tiếp lên kim loại nền nhằm cải
thiện tính chống gỉ của bề mặt kim loại và tính bám
dính của lớp tiếp theo.
 Có hai loại: một thành phần và hai thành phần. Tuy
nhiên loại hai thành phần có đặc tính chống gỉ và bám
dính tốt hơn.

Sơn lót l acquer
(sơn dầu)

 Được làm từ nhựa nitrô cenlulô và ankin.
 Sơn lót lacquer khô nhanh và dễ sử dụng, mặc dù dặc
tính chống gỉ và bám dính không tốt bằng loại hai
thành phần.

Sơn lót Urêthan

 Được làm từ nhựa ankin.
 Sơn lót Urêthan là loại sơn hai thành phần và dùng chất
pôlisôxilát làm chất đóng rắn.

 Nó có đặc tính chống gỉ và bám dính cao.

Sơn lót Epoxy

 Làm bằng nhựa Epoxy.
 Đây là loại sơn hai thành phần và dùng amin làm chất
đóng rắn.
 Nó có đặc tính chống gỉ và bám dính cao.

2. Matít
Matít là vật liệu trát vào lớp dưới cùng để điền đầy các vết lỏm sâu và tạo ra bề mặt bằng
phẳng. Có các loại matit khác nhau được sử dụng tuỳ thuộc vào chiều sâu của vết lõm và vật
liệu được áp dụng. Thông thường, dao bả matít được dùng để trát lớp dày và điền đầy vết lõm,
sau đó làm phẳng bằng cách mài.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

5


Ma tít poliexte

Ma tít

Ma tít Epoxy

Ma tít lacquer
3. Sơn lót bề mặt

 Làm bằng nhựa poliexte không bảo hoà.

 Là loại ma tít hai thành phần mà dùng chất peroxit
hữu cơ làm chất đóng rắn, tuỳ theo việc áp dụng.
 Có các chất độn, matít này có thể được sử dụng để
tạo ra các lớp dày và dễ mài nhưng có nhượt điểm
tạo ra bề mặt xù xì.
 Làm bằng nhựa epoxy.
 Là loại matít hai thành phần mà dùng amin làm chất
đóng rắn.
 Có tính chống gỉ vượt trội và tính bám dính tuyệt
vời của nó đối với các vật liệu nền khác nhau.
 Thường được sử dụng để sửa chữa các chi tiết nhựa.
 Là một loại matít một thành phần làm bằng
nitrocenlulo và một nhựa ankin hay nhựa acrylic.
 Chủ yếu được dùng để sửa vết xước, rỗ hay vết lõm
nhẹ còn lại sau khi phun sơn lót bề mặt.

Lớp sơn lót bề mặt là lớp thứ hai được phun trên lớp sơn lót, matít vá các tính chất khác và nó có
tính chất sau:




Điền đầy các vết lõm nhẹ hay vết xước giấy.
Trách hấp thụ sơn màu.
Tránh bám dính giữa lớp dưới và lớp sơn màu.

Khi sử dụng kết hợp với sơn lót đã nói ở trang trước, sau đây là các hướng dẫn từ các nhà sản
xuất sơn tương ứng của nó.
Là một thành phần làm bằng nhựa nitro cenlulô,
nhựa ankin hay nhựa acrylic được sử dụng rộng rãi

Sơn lót bề mặt
vì nó dễ dùng và do tính khô nhanh. Tuy nhiên, đặc
tính bao phủ của vật liệu này thấp hơn các sơn lót
lacquer
bề mặt khác.

Sơn lót bề mặt
Sơn lót bề mặt

urêthan

Sơn lót bề mặt
Amin ankin
Phản ứng nhiệt

Làm bằng nhựa polyexte, acrylic và ankin, nó là
loại hai thành phần và dùng polyizôcinát làm chất
đóng rắn. Mặt dù đặc tính bao phủ tốt hơn, nó khô
chậm và cần phải làm khô cưỡng bức với nhiệt độ
sấp xỉ 60o C. Nhìn chung chúng ta hiểu rằng sơn lót
bề mặt có đặc tính khô nhanh hơn thì đặc tính bao
phủ của nó kém hơn.
Đây là loại sơn lót bề mặt một thành phần làm từ
nhựa melamin và ankin, nó được sử dụng làm sơn
lót trước khi sơn lại những thành phần đã sấy khô
hoàn toàn. Cần nung ở nhiệt độ 90- 120, nhưng có
đặc tính bao phủ giống như sơn xe mới.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM


6


III. AN TOÀN LAO ĐỘNG
1. Vấn đề sức khỏe và an toàn trong phân xưởng sơn
Những tiêu chuẩn cao về sự giữ vệ sinh nhà xưởng là nền tảng của việc xây dựng và giữ gìn một
môi trường làm việc an toàn. Vì vậy, nghiêm chỉnh chú ý đến việc giữ gìn vệ sinh chung của
phân xưởng sơn là điều rất quan trọng.
2. Dọn dẹp nhà xưởng










Giữ trống lối đi trong xưởng. Chất thải và rác cần được dọn khỏi khu vực làm việc và nhà
kho ít nhất mỗi ngày một lần.
Xác đònh tất cả các đồ đựng, thùng chứa. Đừng bao giờ để dung môi và sơn vào các thùng
chứa khác có nhãn không đúng với sản phẩm. Điều này cần được đặc biệt chú ý.
Chỉ dùng dụng cụ và thiết bò phù hợp. Phải chắc chắn đúng được giữ gìn đúng cách và được
bảo dưỡng trong tình trạng tốt.
Không hút thuốc, ăn uống hoặc trữ thức ăn, nước uống trong xưởng sơn.
Luôn giữ gìn vệ sinh cá nhân đúng cách.
Rửa tay trước khi ăn, hút thuốc hoặc đi vệ sinh.
Thay đồ trước khi về nhà.
Không cất giữ quần áo lao động chung với quần áo khác.

Chắc chắn tất cả các lối ra điều trống và có đánh dấu.

3. Nguy cơ cháy nổ
Làm sao để tránh cháy nổ ?










Cấm mọi nguồn lửa.
Cấm hút thuốc. Cần gắn đủ bảng “Cấm Hút Thuốc“ trong xưởng sơn.
Tránh mọi việc có thể làm phát sinh tia lửa.
Không được hàn hoặc mài trong khu vực sơn.
Dùng các mô-tơ và công tắt có thiết kế chống nổ (để tránh tia lửa điện phát sinh).
Tránh các va chạm làm phát sinh tia lửa.
Thùng chứa dung môi và dụng cụ điện phải được nối đất.
Không để dung môi bốt hơi.
Phải chắc chắn khu vực tồn trữ và làm việc phải được thông báo thật tốt.

Tuy nhiên để phòng nguy cơ cháy nổ, cần chuẩn bò đủ các loại bình chữa cháy thích hợp:






Nên để chúng ở những nơi có thể dể dàng lấy được khi cần. Mỗi khu vực làm việc nên có ít
nhất hai bình.
Kiểm tra bình chữa cháy hàng năm để chắc chắn chúng còn làm việc. Việc kiểm tra thường
xuyên phải do một cơ sở chuyên môn hoặc nhà cung cấp bình tiến hành.
Đánh dấu rõ ràng vò trí các bình chữa cháy.
Tổ chức huấn luyện chữa cháy ít nhất mỗi năm một lần. Phải chắc chắn mọi nhân viên điều
được hướng dẩn đầy đủ về quy trình chống cháy.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

7






Thông báo rõ những số điện thoại cần thiết trong trường hợp cháy: PCCC, bệnh viện, xe cứu
thương, bác só, chính quyền đòa phương, công ty cấp nước. Các thiết bò báo cháy tự động cũng
rất hữu dụng, giúp ta phản ứng nhanh hơn khi có cháy.
Nên lập kết hoạch hợp tác hành động với PCCC đòa phương, có cả việc xác đònh các sản
phẩm đang sử dụng để có biện pháp phù hợp.

4. Nguy hiểm đối với sức khỏe





Các khu vực phải được thông gió đúng mức. Sự tập trung của bụi và các khí độc hại dưới

mức tiêu chuẩn (OELs). Trong điều kiện làm việc bình thường và giữ gìn vệ sinh tốt, chỉ cần
một hệ thống thông gió có thể thay đổi toàn bộ không khí nơi làm việc khoảng 05 lần/ giờ là
đủ để giữ mức độ tập trung thấp hơn tiêu chuẩn OELs.
Phải mặc đồ bảo hộ cá nhân
Để tránh hít phải khí độc tập trung ở những nơi không thể giữ dưới mức OELs, cần:
- Dùng khẩu trang chống bụi trước khi đánh nhám, đặc biệt khi đánh nhám những sản phẩm
có chứa cromua kẽm.
- Khi tẩy dầu mỡ nên dùng mặt nạ phòng độc.

Cẩn thận:






Kiểm tra độ kín khít của mặt nạ phòng độc. Những người có râu hoặc ria dài có thể không
mang được mặt nạ này. Kiểm tra thời hạn sử dụng của lọc. Thông thường, lọc cần được thay
thế sau 30 giờ sử dụng. Khi phun sơn nên dùng mặt nạ có ống hơi. Những người làm việc
xung quanh cũng phải được bảo vệ như vậy. Toàn bộ những sản phẩm có chứa isocyanate
phải được phun trong những phòng sơn thiết kế thích hợp hoặc trong một khu vực riêng có
thông gió tốt để tránh bụi sơn lan ra những khu vực kế cận.
Không khí cung cấp cho mặt nạ có ống hơi cần được kiểm soát chặt chẽ về lưu lượng và phải
không có dầu mở và những chất bẩn khác. Nên thường xuyên bảo trì máy, kiểm tra lọc dầu
và bầu lắng nước.
Để tránh tiếp xúc với da và mắt, đặc biệt với chất ăn món và kích thích, nên:
- Dùng kính bảo hộ hoặc tấm che mặt.
- Giày bảo hộ.
- Nên dùng 3 loại găng tay như sau:
 Găng tay chống dung môi.

 Găng tay vinyl chống hơi và bụi.
 Găng tay da loại bền chắc, để tránh mũi nhọn kim loại.

Người làm việc phải luôn nghiêm túc giữ vệ sinh, thường xuyên rửa tay (nhất là cuối ngày
làm việc). Trang bò bảo hộ cá nhân cần cất giữ đúng cách ở nơi sạch sẽ. Mặt nạ phòng độc cần
cất giữ trong túi kín. Cần kiểm tra lổ thủng trên găng tay củ trước khi dùng lại. Và đừng quên:
không mang, trữ, làm thức ăn hay hút thuốc trong khu vực làm việc và tồn trữ sơn.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

8


5. Dụng cụ bảo hộ lao động
 Kính bảo hộ
Kính bảo hộ bảo vệ mắt khỏi bò sơn, chất pha sơn cũng như matít
hay các hạt kim loại khi mài bắn vào mắt.
 Mặt nạ chống độc


Mặt nạ chống hạt độc

Hình 1.1 Kính bảo hộ

Mặt nạ chống hạt độc được sử dụng những nơi làm việc có hạt khí độc, như trong khi mài matít.
Có hai loại mặt nạ chống độc. Loại đơn giản dùng một lần và loại có lọc có thể thay thế. Bất cứ
loại nào khi dùng cũng chú ý giời hạn thời gian sử dụng của nó.

Hình 1.2 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có lọc)



Hình1.3 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại dùng một lần)

Mặt nạ chống hơi độc

Mặt nạ chống hơi độc là loại thiết bò để bảo vệ khí hữu cơ (không khí trộn lẫn với hơi của dung
môi hữu cơ) khỏi bò hít vào phổi qua miệng hay mũi. Có hai loại, loại có đường ống dẩn khí và
một loại có lọc.
Loại có đường ống dẫn khí cung cấp khí sạch trong lành vào mặt nạ qua ống dẫn khí.
Loại có lọc, được trang bò một bầu lọc than hoạt tính lọc để hấp thụ khí hữu cơ.

Hình 1.4 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có đường ống dẫn khí)

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

Hình 1.5 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có lọc)

9


Đối với loại có lọc, có thể giới hạn đối với khả năng lọc của bấu lọc để có thể hấp thụ các chất
độc. Nếu hấp thụ đã được bảo hoà thì lọc sẽ để khói độc xuyên qua. Thới gian từ điểm lọc còn
mới đến khi bảo hoà được gọi là “Thời gian xuyên thủng”. Thời gian xuyên thủng của bầu lọc
than hoạt tính được thay đổi theo mật độ khói. Điều quan trọng khi sử dụng mặt nạ chống độc là
thay thế bầu lọc của nó trước khi đến hạn thời gian xuyên thủng. Chú ý rằng vì không khí có độ
ẩm, nên khả năng hầp thụ của bầu lọc bắt đầu thài hoá ngay khi mở bầu lọc ra. Mỗi loại bầu lọc

được thiết kế cho mỗi loại khí nhất đònh. Trong việc sửa chữa ôtô, chắc chắn phải được dùng
loại được thiết kế cho dung môi hữu cơ.
Có một số mặt nạ chống độc khác được làm bắng vải mỏng và có các bon đã hoạt hoá, nhưng
không được dùng thay cho mặt nạ chống hơi độc.

Hình 1.6 Khẩu trang chống độc

 Quần áo và mũ của thợ sơn:
Hơn nữa để bảo vệ cơ thể của thợ sơn khỏi bò sơn phun
vào, ngoài ra nó còn giảm thiểu những ảnh hưởng của bụi.
Có một số quần áo bảo hộ được làm từ vật liệu chống tónh
điện.
Hình 1.7 Quần áo và mũ của thợ sơn

 Găng tay
Găng tay bảo vệ tay của bạn khi dùng máy mài hay khi vận
chuyển các chi tiết thân xe.

Hình 1.8 Găng tay

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

10


 Găng tay cao su
Găng tay này dùng để chống thấm các dung dòch hữu cơ vào da khi
sơn. Ngoài ra găng tay cao su còn được dùng khi bôi keo làm kín.

Hình 1.9 Găng tay cao su


 Giày bảo hộ (giày chống tónh điện)
Giày bảo hộ có các tấm kim loại bọc các ngón và bàn chân. Còn
có một số giày bảo hộ có đặt điểm chống tónh điện.

Hình 1.10 Giày bảo hộ
6. Cách sử dụng dụng cụ bảo hộ
 Chuẩn bò bề mặt

Kính bảo hộ
Quần áo bảo hộ
Găng tay
Giày bảo hộ
Hình 1.11 Dụng cụ bảo hộ khi chuẩn bò bề mặt
 Tiến hành pha sơn hay chuẩn bò bề mặt (bả matít, làm sạch mở) điều chỉnh màu

Kính bảo hộ
Mặt nạ chống độc loại có lọc
Quần áo bảo hộ
Găng tay cao su
Giày bảo hộ

Hình 1.12 Dụng cụ bảo hộ khi pha sơn, điều chỉnh màu
KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

11


 Che bề mặt


Quần áo bảo hộ
Giày bảo hộ

Hình 1.13 Dụng cụ bảo hộ khi che bề mặt

 Phun sơn
Mặt nạ chống độc có ống dẫn khí (loại trùm kín đầu)
Quần áo bảo hộ cho thợ sơn
Găng tay cao su
Giày bảo hộ (giày chống tónh điện)

Hình 1.14 Dụng cụ bảo hộ khi phun sơn

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

12


IV. QUI TRÌNH CHUẨN BỊ BỀ MẶT
1. Xử lý ban đầu
Bảng dưới đây chỉ ra quy trình thực hiện trước khi bả matít, khi xử lý ban đầu một tấm bò hỏng

1. Xác đònh sơn

5. Mài vát mép sơn giáp mối

2. Đánh giá phạm vi hư hỏng

6. Làm sạch bụi và làm sạch
mỡ


3. Sửa chữa vết lõm trên bề
mặt kim loại nền

7. Sơn lót

4. Mài bóc lớp sơn

8. Quy trình bả matít

2. Xác đònh sơn
Xác đònh sơn trên bề mặt cần sơn là cần thiết trong quá trình sửa chữa. Nếu lớp sơn không xác
đònh đúng, nó có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi sơn màu. Ví dụ, nếu tấm mà bạn đang
sửa chữa có lòch sử trước đây dùng loại sơn lacquer, chất pha sơn chứa trong sơn lót bề mặt hoặc
lớp sơn màu có thể thấm vào lớp sơn lackơ đã sơn trước đó. Điều này làm cho bề mặt được sơn
bò phồng rộp. Để tránh vấn đề trên khỏi xảy ra, loại sơn phải được xác đònh đúng ngay ở thời
điểm xử lý ban đầu.
Phương pháp và điều kiện xác đònh:
Nói chung, khi nhúng giẻ vào chất pha sơn lacquer và cọ vào bề mặt sơn lại. Nếu sơn không
dính lên vải thì đó là loại sơn eruthan, nếu sơn bò dính lên vải thì đó là loại sơn lacquer. Mặc dù
eruthan và sơn khô thông thường không chòu ảnh hưởng của dung môi, chúng có thề loang màu
ra một vài loại sơn hay phai màu, nếu lớp sơn không được xử lý đúng hay nếu lớp sơn đã bò biến
chất.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

13


Hình 1.15 Phương pháp xác đònh sơn


3. Đánh giá phạm vi hư hỏng
Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách nhìn bằng mắt hay sờ vào bề mặt. Sau đó lập kế hoạch
các bước cần thiết để sửa chữa hư hỏng.
(1) Đánh giá bằng cách nhìn bằng mắt
Kiểm tra sự phản chiếu của đèn nê ông lên bề mặt
để đánh giá phạm vi hư hỏng hoặc kích thướt của
các vùng bò ảnh hưởng. Điều quan trọng là kiểm tra
toàn bộ khu vực hư hỏng ở giai đoạn này. Điều này
là vì rất khó đánh giá chính xác hư hỏng một lần bề
mặt kim loại khi bề mặt sơn có thể bò ảnh hưởng.
Thậm chí một biến dạng rất nhỏ có thể quan sát
được bằng cách di chuyển đầu của bạn một ít tại
thời điểm quan sát tấm.

Hình 1.16 Đánh giá phạm vi hư hỏng
bằng cách nhìn bằng mắt

(2) Đánh giá bằng cách sờ vào bề mặt
Đeo găng tay vào (tốt nhất là loại bằng cốt tông) và sờ vào bề mặt hư hỏng theo tất cả các
hướng, không được ấn vào. Đều này được làm bằng cách tập trung cảm giác lên bàn tay của
bạn. Để có thể tìm ra một cách chính xác những vùng không đồng điều của khu vực ảnh hưởng.
Sự di chuyển bàn tay phải rộng ra bao gồm cả khu vực không bò hư hỏng, không nên chỉ sờ vào
vùng hư hỏng. Tương tự, một số khu vực hư hỏng dễ cảm nhận hơn bằng cách di chuyển bàn tay
theo một phương.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

14



Hình 1.17 Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách sờ vào bề mặt
(3) Đánh giá bằng cách dùng thước thẳng
Đặt thước thẳng lên vùng không bò hư hỏng phía đối diện của thân xe và kiểm tra khe hở giữa
bề mặt và thước thẳng. Sau đó, đặt thước lên bề mặt hư hỏng và đánh giá sự khác nhau giữa các
khe hở của bề mặt hư hỏng và không bò hư hỏng.

Hình 1.18 Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách dùng thước thẳng
4. Sửa chữa những chỗ lồi ra trên bề mặt tấm
Nếu tìm ra một phần của bề mặt cao hơn bề
mặt bình thường khi đánh giá hư hỏng, dùng
đột hay búa nhọn gõ phẳng vùng nhô lên,
hay làm lỏm hơn bề mặt bình thường một
chút.
Chú ý:
Nếu đập lực quá mạnh thì làm bề mặt
hư hỏng rộng hơn hay biến dạng toàn
bộ tấm.
Hình 1.19 Sửa chữa những chỗ lồi ra trên bề mặt tấm
KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

15


5. Mài bóc lớp sơn
Mỗi khi vùng hư hỏng đã bò va chạm, rất có thể sự bám dính giữa lớp sơn và bề mặt kim loại bò
ảnh hưởng. Vì vậy, cần phải mài bớt lớp sơn để tránh lớp sơn bò bong ra sau này.
Mài bóc lớp sơn ra khỏi vùng hư hỏng dùng loại giấy ráp
có độ ráp # 60 đến # 80 gắn lên máy mài tác động đơn.


Lưu ý:
Đặt máy mài như chỉ ra ở hình vẽ để mài lớp sơn.

Hình 1.20 Mài bóc lớp sơn

Hình 1.21 Chú ý khi mài bóc lớp sơn

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

16


6. Mài vát mép sơn giáp mối
Lớp sơn được mài có mép dày (có bậc). Để làm cho mép sơn rộng và nhẵn, có thể mài mép sơn
để tạo ra hơi dốc một chút bằng quy trình được mô tả dưới đây, được gọi là mài mép sơn giáp
mối. Nếu không làm điều này thì đường ranh giới sẽ xuất hiện sau khi phun lớp sơn màu.

Hình 1.22 Mài vát mép sơn giáp mối
Chú ý:
Nếu có một đường gân bên cạnh, dán băng dính lên nó
để tránh nó khỏi bò hỏng và ngăn cho khu vực sửa chữa
lan rộng ra không cần thiết trong quá trình mài vát mép
sơn giáp nối.

Hình 1.23 Chú ý khi mài vát mép

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

17



7. Làm sạch bụi và mở
(1) Làm sạch bụi
Dùng súng thổi bụi để thổi khí nén lên trên bề mặt để
làm sạch bụi và hạt mài ra khỏi bề mặt.

Hình 1.24 Làm sạch bụi

(2) Làm sạch mỡ

Nhúng giẻ vào chất làm tan mỡ và đặt nó lên bề mặt để làm ướt bề mặt. Khi dầu còn lại loang
trên bề mặt, lau nó bằng giẻ khô và sạch. Nếu còn bất cứ một ít dầu trên bề mặt kim loại, thì
sau này sẽ làm sơn rộp và bong ra.

Hình 1.25 Làm sạch mỡ bám trên bề mặt
8. Phun sơn lót
Phun sơn lót lên diện tích bề mặt kim loại lộ ra để ngăn cho nó khỏi bò gỉ và cải thiện độ bám
dính. Nhìn chung, người ta dùng loại sơn lót hai thành phần, mặc dầu sẵn có cả loại một và hai
thành phần. Vì có một số loại sơn lót không có tính bám dính tốt với matít, nên theo sự hướng
dẫn của nhà sản xuất sơn đề áp dụng đúng.

Hình 1.26 Phun sơn lót
KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

18


Qui trình bả matít
Thông thường người ta áp dụng quy trình bả matít dưới đây


Quy trình xử lý ban đầu

4. Làm khô matít pôliexte

1. Kiểm tra lượng matít
pôliexte cần dùng

5. Mài matít pôliexte

2. Trộn matít pôliexte

6. Mài các vết xước giấy

3. Bả matít pôliexte

Bề mặt kém

Không đủ matít

9.

Bề mặt
tốt
Quy trình phun sơn lót bề
mặt

a. Kiểm tra lượng matít poliexte cần dùng
Xác đònh xem cần bao nhiêu lượng matít poliexte được dùng, đánh giá lại phạm vi hư hỏng,
nhưng ở thời điểm này không sờ lên bề mặt, vì vậy không được để lại bất cứ một vệt dầu nào
trên bề mặt cần bả matít.


KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

19


b. Trộn matít poltyexte
(b1) Lấy matít ra
* Thường các chất thành phần của matít là
dung môi, nhựa và chất màu tách rời độc lập
trong hộp. Vì matít không thể sử dụng ở trạng thái
tách rời, nó phải được trộn đều trước khi lấy ra
khỏi hộp, áp dụng tương tự đối với chất đóng rắn.
Bóp ép tuýp thật đều sao cho các chất thành phần
trộn đều trước khi sử dụng.
Chú ý:
 Đậy nắp matít ngay sau khi sử dụng
ngăn cho dung môi khỏi bay hơi.
 Nếu dung môi đã bay hơi hết và matít
đặc lại, đổ thêm dung môi vào trong
hộp.
Hình 1.27 Cách trộn đều matít và chất đống rắn

* Bôi lượng matít cần thiết lên tấm
trộn. Sau đó bổ sung lượng chất đóng rắn
vừa đủ dựa trên tỷ lệ trộn tiêu chuẩn.
Đừng lấy quá nhiều matít ra một lần, thậm
chí nếu bạn cần bả matít trên diện tích lớn.
Lúc đầu, chỉ lấy đủ lượng matít bằng quả
trứng, sau đó bổ sung thêm nếu cần.

Hình 1.28 Cách lấy matít và chất đóng rắùn lên tấm trộn
(b2) Trộn Matít
Dùng dao trộn, khi trộn cẩn thận trong động tác gạt, sao cho không có khí vào trong matít.

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

20


Hình 1.29 Cách trộn matít

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

21


c. Bả matít polixete
(c1) Cách cầm dao bả
Không có cách đặt biệt nào để cầm dao bả, hình minh hoạ dưới đây chỉ ra một cách hiệu quả để
điều khiển dao bả cho người thuận tay phải.

Hình 1.30 Cách cầm dao bả

(c2) Bả matít
Không bả nhiều matít ngay một lần. Dựa
vào vò trí và hình dạng của vùng cần bả, tốt
nhất là bả matít qua một vài lần.
1. Ở lần đầu, giữ dao bả gần như vuông
góc và miết matít ép vào bề mặt làm việc
để bả lớp matít mỏng và đảm bảo rằng matit

điền vào lỗ rỗ và thậm chí các vết xước nhỏ
nhất để tăng độ bám dính.
2. Lần thứ hai và thứ ba, nghiêng dao
bả một góc khoảng 35 đến 45o và bả lượng
matít nhiều hơn mức cần thiết một ít. Mở
rộng dần dần diện tích bả matít sau mỗi lần
bả. Nên bả quanh các mép một lớp mỏng
hơn, để dao hơi nghiên một chút để không
tạo ra lớp dày ở mép.
3. Lần bả cuối cùng, giữ dao bả gần như
áp sát xuống bề mặt làm việc và làm phẳng
bề mặt.
Hình 1.31 Cách bả ma tít

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

22


(c3) Bả matít trên mặt phẳng
a. Bả một lớp mỏng matít lên toàn bộ diện
tích cần thiết.

Hình 1.32 Bả một lớp mỏng lên toàn bộ diện tích

b. Để giảm thiểu công sức trong quá trình mài
giai đoạn tiếp theo, hãy bả lớp matít thứ hai
không được tạo ra mép dày. Nếu dao bả ở vò
trí như hình vẽ bên trái, tác dụng lực lên đỉnh
của dao bằng ngón tay trỏ của bạn đểâ tạo ra

lớp matít mỏng ở trên đỉnh.

Hình 1.33 Bả lớp thứ hai

c. Bả matít trong phần tiếp theo, phủ chồng
lên phần bả thứ nhất một ít trong bước 2. Để
bả một lớp mỏng ngay khi bắt đầu đi qua, tỳ
nhẹ dao và miết dao sát vào mặt làm việc.
Sau đó, thôi tác dụng lực và trượt dao ngay
cùng thời điểm. Tiếp theo, tỳ nhẹ lên dao bả
để tạo ra một lớp mỏng ở cuối đường bả.
Hình 1.34 Độ chồng mí giữa các lượt bả

d. Lặp lại bước 3 ở trên cho đến khi phủ hết
toàn bộ vùng cần bả.

Hình 1.35 Hình dạng sau khi bả xong

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

23


Lưu ý:

Hình1.36 Chú ý khi bả matít
d. Sấy khô matít polyexte
Matít đã bả đang ướt sẽ nóng lên thông qua nhiệt
phản ứng trong nó. Vì vậy, thúc đẩy được phản ứng
làm khô. Nhìn chung, có thề mài matít được sau khi

bả matít từ 20 đến 30 phút. Phản ứng bên trong matít
sẽ chậm đi ở nhiệt độ thấp hay độ ẩm cao, cần một
thời gian dài hơn để làm khô matít. Để tăng nhanh
quá trình làm khô matít, phải cần nhiệt bổ sung, vì
vậy phải dùng máy sấy hay đèn sấy hồng ngoại.
Hình 1.37 Sấy matít
KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

24


Chú ý:
 Nếu dùng đèn sấy hay máy sấy để nung nóng
và sấy khô matít, chú ý phải giữ nhiệt độ bề mặt
matít dưới 50oc để ngăn cho matít khỏi bong ra hay
nứt. Nếu bề mặt quá nóng không thể sờ được, thì khi
đó nhiệt đô đã quá cao.

 Nhiệt độ ở vùng matít mỏng có xu hướng giữ
nhiệt tương đối thấp hơn sao vối vùng matít dày.
Nhiệt độ thấp này sẽ làm kìm hãm phản ứng sấy của
vùng mỏng. Vì vậy, phải luôn luôn kiểm tra các phần
matít mỏng để xác đònh điều kiện sấy khô của matít.
Hình 1.38 Chú ý khi sấy matít
e. Mài matít pôliexte
Sau khi phản ứng làm khô của matít xảy ra hoàn toàn, các chỗ không cần thiết được mài bỏ
bằng máy mài hay dụng cụ mài tay. Mặc dù, người ta vẫn có thề dùng loại máy mài tác dụng
kép, nhưng trong phần này chỉ miêu tả máy mài có tác dụng quỹ đạo, là loại dùng phổ biến để
mài matít.
a. Gắn giấy ráp có độ ráp # 80 vào máy mài và mài toàn bộ diện tích bằng cách di chuyển từ

sau ra trước, từ bên này sang bên khác và tất cả các hướng theo đường chéo.

Chú ý:
 Tiến hành mài ngay sau khi phản ứng
làm khô xảy ra hoàn toàn và nhiệt độ của nó
hạ xuống bằng nhiệt độ trong phòng. Nếu
matít được mài trước khi chưa nguội hoàn
toàn, sẽ gây ra cong bề mặt.
 Để tránh việc tạo ra rãnh sâu quanh khu
vực sơn, chỉ mài những vùng có bả matít
(thực hiện theo bước 2)
 Không mài hầu hết toàn bộ bề mặt một
lït, mà phải kiểm tra bề mặt bằng cách sờ
hay dùng thước thẳng trước khi tiến hành.
 Không nên tập trung chỉ mài điểm lồi,
làm hình dạng xung quang sẽ bò biến dạng.
Vì vậy, cách mài tốt nhất là sau khi đã mài
một vài lượt thì mài toàn bộ bề mặt một lần.
Hình 1.39 Cách mài matít bằng máy mài

KS. Nguyễn Văn Hoài Hận – ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM

25


×