TÔ THỊ KIM ĐỊNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------***--------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
THEO LUẬT BHXH NĂM 2014
TÔ THỊ KIM ĐỊNH
2013 - 2015
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------***--------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
THEO LUẬT BHXH NĂM 2014
TÔ THỊ KIM ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Sau đại học – Viện Đại học mở Hà Nội.
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau đại học – Viện Đại học mở Hà
Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin trân trọng cám ơn.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tô Thị Kim Định
LỜI CẢM ƠN
Em Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện đại học mở Hà Nội
nói chung và các thầy cô giáo khoa Pháp luật Kinh tế nói riêng đã tận tình chỉ bảo
cho em những kiến thức quý giá trong suốt hai năm học qua và nhất là trong giai
đoạn làm luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo, TS. Nguyễn Hiền
Phương vì sự tận tình giúp đỡ và truyền đạt cho em những kinh nghiệm trong suốt
quá trình làm luận văn thạc sĩ.
Luận văn chắc chắn sẽ có sẽ có những kiến thức thiếu sót cả về nội dung và
hình thức, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để luận văn được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn./.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ... 7
1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội ......................................................................... 7
1.1.1. Định nghĩa Bảo hiểm xã hội .................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm Bảo hiểm xã hội ..................................................................... 8
1.2. Định nghĩa và đặc điểm của Bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................ 9
1.3. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc ........................................ 12
1.4. Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc............................................................. 16
1.4.1. Điều kiện hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................. 16
1.4.2. Các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 17
1.5. Quỹ BHXH bắt buộc ................................................................................ 20
1.5.1. Khái niệm và nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc ............ 20
1.5.2. Sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội .............................................................. 22
1.6. Tổ chức, quản lý Bảo hiểm xã hội ............................................................ 25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC THEO
LUẬT BHXH NĂM 2014 .................................................................................... 30
2.1. Sơ lược sự ra đời và một số điểm mới cơ bản trong quy định Luật
BHXH năm 2014 ............................................................................................. 30
2.2. Thực trạng quy định các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc .................... 33
2.2.1. Chế độ ốm đau .................................................................................... 33
2.2.2. Chế độ thai sản .................................................................................... 40
2.2.3. Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ...................................... 48
2.2.4. Chế độ hưu trí...................................................................................... 53
2.2.5. Chế độ tử tuất ...................................................................................... 63
2.3. Một số nhận xét chung ............................................................................. 67
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY
ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC THEO LUẬT BHXH NĂM 2014 ..... 70
3.1. Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật BHXH năm 2014 ...... 70
3.2. Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH 2014 . 71
3.3. Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin .............. 73
3.4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo .................................... 73
3.5. Xử lý vi phạm............................................................................................ 76
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ASXH
An sinh xã hội
BHXH
Bảo hiểm xã hội
DSPHSK
Dưỡng sức phục hồi sức khỏe
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bảo hiểm xã hội là sự cần thiết khách quan và là tất yếu, phản ánh nhu cầu
khách quan của đời sống xã hội hiện đại. “Cuộc sống không có bảo hiểm thì chẳng
khác nào trèo lên chiếc thang chỉ có một chân” – Một câu phương ngôn của người
Đức. Ở Việt Nam sau khi giành được độc lập, Chính Phủ đã quan tâm đến thực hiện
BHXH. Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số
29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân. Ngày 20 tháng 5 năm 1950 Hồ Chủ
Tịch ký 2 Sắc lệnh là 76, 77 quy định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên chức. Thời kỳ này bảo hiểm xã hội còn
hạn chế nhưng đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách
bảo hiểm xã hội. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, trong hệ thống bảo hiểm xã hội
đã có 6 chế độ, có nhiều đãi ngộ đối với quân nhân. Giai đoạn từ 1975 đến 1995,
Bảo hiểm xã hội được thực hiện thống nhất trong cả nước. Có nhiều lần sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với nền kinh tế xã hội. Giai đoạn từ 1995 đến nay, Bảo hiểm xã
hội đã mở rộng đối tượng, thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước do
sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước,
thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ và giải quyết các chế độ trợ cấp.
Luật BHXH năm 2006 ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc
tạo cơ sở pháp lý để nâng cáo hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, bổ sung
các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi của nên kinh tế theo cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người
lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế. Sau 7 năm thực hiện, Luật Bảo
hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đi vào cuộc sống, đã làm cho nhận
thức của người lao động, người sử dụng lao động và xã hội về bảo hiểm xã hội đã có
những chuyển biến tích cực. Luật Bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện để mọi người lao
động đều có thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội. Đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội tăng: Năm 2006 mới có 6,7 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì
1
đến hết năm 2013 đã có hơn 10,89 triệu người (tăng 1,6 lần) (Trích nguồn BHXH
Việt Nam). Năm 2008 là năm đầu tiên triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện có 6.110
người tham gia, đến hết năm 2013 đã có 173.584 người tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện. Đồng thời các chế độ bảo hiểm xã hội được thiết kế phù hợp hơn, bảo đảm
tốt hơn nguyên tắc đóng - hưởng, đã góp phần ổn định đời sống của người lao động
trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động. Hơn thế nữa việc giải quyết chi trả
các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động đã bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đúng
quy định của pháp luật hơn; quản lý chặt chẽ các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm
xã hội hàng tháng; hình thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội ngày càng
được cải tiến, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội
khi thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thực hiện Luật BHXH vẫn còn
có những khó khăn nhất định. Đó là một bộ phận người dân vẫn chưa thực sự hiểu
rõ về chính sách BHXH. Tình trạng nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội xảy ra
còn khá phổ biến, đặc biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm trên 70% tổng số nợ), làm ảnh hưởng đến
nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội và quyền lợi của người lao động. Một số quy định
trong pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành còn chưa phù hợp, như quy định về
điều kiện hưởng lương hưu, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ chưa tạo sự bình
đẳng và tạo điều kiện để lao động nữ có thể tiếp tục làm việc và nâng cao mức thu
nhập. Quy định cho phép người lao động có dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội
nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần chưa phù hợp với mục tiêu của bảo hiểm xã
hội là nhằm bảo đảm cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động. Quy định
về tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ tính hưởng bảo hiểm
xã hội còn có sự khác biệt giữa khu vực hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp nhà
nước, lực lượng vũ trang và các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Quy định về trợ cấp
tuất hàng tháng và một lần hiện nay còn có sự chênh lệch lớn, một số trường hợp
thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng bị thiệt thòi hơn rất nhiều so với việc
hưởng trợ cấp tuất một lần. Việc kiểm tra, giám sát các cơ quan chức năng chưa
được thường xuyên.
2
Một vấn đề đáng quan tâm chính là đối tượng trực tiếp hưởng lợi ích từ chính
sách của BHXH chưa nhận thức đầy đủ về luật BHXH, thậm chí có những đối
tượng còn chưa được biết đến chính sách BHXH. Thực tế cho thấy có những nhận
thức và suy nghĩ chưa đúng về BHXH, như: xem tổ chức BHXH như doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh, coi hình thức BHXH là một hình thức kinh doanh đồng tiền.
Một bộ phận người lao động (đặc biệt là lao động tự do) chưa hiểu rõ về những
quyền lợi và trách nhiệm của người lao động, thấm chí họ còn chưa từng biết đến
BHXH. Chính bởi công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức chưa được chu đáo,
chưa đạt hiệu quả. Sự thiếu hiểu biết cũng như những suy nghĩ lệch lạc ấy gây trở
ngại không nhỏ trong việc thực hiện mục tiêu tăng nhanh diện bao phủ BHXH, trở
thành nỗi khốn khổ cho người dân khi làm các thủ tục bảo hiểm xã hội, khiến
BHXH trở thành “cửa ải” đối với người dân.
Bảo hiểm xã hội luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống An sinh xã hội.
Chính sách BHXH đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao
động thủ hưởng các chế độ BHXH, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất
nước. Trong thời điểm hiện nay, việc mở rộng đối tượng tham gia và tăng cường
tính bền vững của hệ thống BHXH có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực
hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Chính vì vậy những bất cập của Luật
BHXH năm 2006 đang đặt ra nhu cấu khách quan về việc sửa đổi pháp luật BHXH
cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Vì vậy
Luật BHXH năm 2014 ra đời. Luật BHXH mới là một bước tiến lo cho người lao
động ổn định lâu dài. Nhưng khi chuẩn bị lấy ý kiến và triển khai hướng dẫn thì gặp
phải sự không đồng thuận của người lao động. Lần đầu tiên trong lịch sự lập pháp
có một đạo luật được kiến nghị sửa đổi khi chưa có hiệu lực thi hành. Đây là một
tiền lệ chưa từng xảy ra. Cũng chính vì những lý do đó, với mong muốn làm rõ hơn,
sâu sắc hơn trách nhiệm và quyền lợi của người lao động theo luật BHXH 2014, tác
giả đã chọn đề tài “Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Luật BHXH năm
2014”, làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học luật của mình.
3
2. Tổng quan nghiên cứu:
Trong thời gian vừa qua có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các
luận văn, bài báo, tạp chí viết về vấn đề BHXH, cụ thể như:
- Đề tài:“Thực trạng vấn đề BHXH nước ta giai đoạn 2010 - 2013”, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, tác giả Đặng Quốc Huy, Trường Đại học Lao
động - Xã hội.
- Đề tài “Hoàn thiện về pháp luật BHXH ở Việt Nam”, năm 2006, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
- Ts. Đỗ Ngân Bình “Những điểm mới về chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
của người lao động”, Tạp chí luật học, Số 10/2007.
- Ts. Nguyễn Hiền Phương “Về các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật
bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Luật học, Số 6/2008.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Hoàn thiện phương thức quản lý, chi trả chế
độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN cho người tham gia BHXH” năm 1998, chủ
nhiệm, TS Dương Xuân Triệu, BHXHVN.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật BHXH – Thực trạng và kiến nghị hoàn
thiện”, chủ nhiệm đề tài – nguyên phó Trưởng ban thực hiện chính sách BHXH
Nguyễn Hùng Cường, đã được BHXH Việt nam tổ chức nghiệm thu vào sáng
24/6/2015
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “ Thực trạng và giải pháp tháo gỡ khó khăn
nhằm giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài trong lĩnh vực
BHXH, BHYT”, chủ nhiệm đề tài – Trưởng ban kiểm tra BHXH Việt Nam Nguyễn
Minh Anh, đã được BHXH Việt nam tổ chức nghiệm thu vào chiều 25/6/2015
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu tổng quan về BHXH và các chế độ
BHXH bắt buộc, các nội dung như: đối tượng áp dụng, mức đóng BHXH bắt buộc,
điều kiện hưởng, quỹ BHXH bắt buộc, tổ chức, quản lý...
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về BHXH bắt buộc, đồng thời
so sách với quy định pháp luật cũ để chỉ ra những điểm mới. Trên cơ sở phân tích,
đánh giá thực tiễn, đưa ra những nhận xét và đánh giá về tính khả thi của Luật
BHXH 2014.
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng vào
thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Các chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm
2014. Đó là các chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế
độ thai sản, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là: đối
tượng áp dụng BHXH bắt buộc, mức đóng BHXH bắt buộc, điều kiện hưởng các
chế độ; Nguồn hình hành và sử dụng quỹ BHXH bắt buộc, tổ chức và quản lý
BHXH bắt buộc.
Phạm vị nghiên cứu: vấn đề lý luận về BHXH và các quy định pháp luật về
chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2014. Ở một số nội dung cần thiết
trong luận văn, tác giả có so sánh với tiêu chuẩn của tổ chức lao động quốc tế ILO
và pháp luật của một số quốc gia về vấn đề an sinh xã hôi nói chung và chính sách
BHXH bắt buộc nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về BHXH bắt buộc.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật về các chế độ BHXH bắt buộc như
đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng, mức đóng. Trên cơ sở đó đưa ra những bình
luận, đánh giá khách quan về quy định pháp luật hiện hành.
- Khái quát thực tiễn thực hiện chế độ BHXH bắt buộc ở Việt Nam trong bối
cảnh trước và sau khi luật BHXH có hiệu lực.
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định
của Nhà nước về chế độ BHXH bắt buộc theo Luật 2014.
7. Nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo luận văn gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề chung về BHXH bắt buộc
Chương 2: Thực trạng quy định chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH
năm 2014
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về
chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2014.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC
1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
1.1.1. Định nghĩa Bảo hiểm xã hội
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm xã hội (BHXH), tùy theo góc
độ nghiên cứu, cách tiếp cận.
Theo Bách khoa toàn thư thì: BHXH là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù
đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung
từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an
sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi
nước. (Trích nguồn: vi.wikipedia.org/wiki/Bảo_hiểm_xã_hội)
Theo tổ chức lao động thế giới (ILO) thì: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối
với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp cộng đồng để đối phó
với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra
bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và
trợ cấp cho các gia đình đông con. (Trích Công ước 102 - Công ước về an toàn xã
hội, năm 1952)
Theo luật BHXH, Điều 3, khoản 1, thì: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết,
trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Nhìn một cách tổng quát có thể hiểu bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp những rủi ro làm
giảm hoặc mất đi khả năng thu nhập từ lao động hoặc mất việc làm thông qua việc
7
hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH,
nhằm đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp
phần bảo đảm an toàn xã hội.
1.1.2. Đặc điểm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Bảo hiểm xã hội là một
hình thức bảo hiểm có tầm quan trọng đối với một quốc gia, BHXH có những đặc
điểm như sau:
- Mục tiêu hoạt động của BHXH là nhằm thực hiện chính sách xã hội của
nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong
gia đình họ. Vì vậy, mục đích hoạt động của BHXH là hoạt động phi lợi nhuận,
hoạt động vì quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng.
- Phương thức hoạt động của BHXH mang tính cộng đồng - lấy số đông bù
số ít, nghĩa là dùng tiền đóng góp của số đông người tham gia bảo hiểm để bù đắp,
chia sẻ cho một số ít người gặp những biến cố rủi ro gây tổn thất. Phạm vi hoạt
động của BHXH liên quan trực tiếp đến người lao động và những thành viên trong
gia đình của họ và chỉ diễn ra trong từng quốc gia.
- Số tiền đóng, mức đóng, tỷ lệ đóng BHXH dựa hoàn toàn vào thu nhập từ
tiền lương, tiền công của người lao động. Bảo hiểm xã hội thực hiện các quy định
theo chính sách xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ để đảm bảo sự phát triển
kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia.
- Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động. Nghĩa là khi
tham gia đóng BHXH thì người lao động được bảo hiểm cho đến lúc chết. Trong
quá trình làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được
trợ cấp thai sản khi sinh con, người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ
được hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp hưu trí sẽ được
chi trả khi người lao động không còn làm việc nữa; và khi chết, người lao động sẽ
được hưởng chế độ tử tuất, được hưởng tiền chôn cất.
8
Rủi ro trong quá trình lao động, rủi ro sau quá trình lao động khiến thu
nhập của người lao động bị ảnh hưởng. Không phải là rủi ro ốm đau, rủi ro tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, cũng không phải khi thai sản, hưu trí hay tử tuất, một
loại rủi ro khác cũng khiến người lao động bị mất khoản thu nhập. Đó là rủi ro khi
bị mất việc. Đó là lý do bảo hiểm thất nghiệp ra đời. Bảo hiểm thất nghiệp
(BHTN) là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời
cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội
cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách
xã hội rất quan trọng, là một bộ phận của BHXH, đã được quy định trong luật
BHXH năm 2006. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện của BHTN rất khác so với
BHXH do tính chất đặc thù riêng của BHTN. Đối tượng tác động của BHTN là
người lao động, nhưng không phải tất cả người lao động, mà là người lao động
làm công ăn lương trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
cơ sở sự nghiệp. Thất nghiệp là thước đo của thị trường lao động, phản ánh sự
thay đổi của thị trường lao động. Vì vậy, ở nước ta hiện nay, từ ngày 01/01/2015,
chế độ BHTN sẽ thực hiện theo quy định của Luật Việc làm 2013, thay cho quy
định của Luật BHXH.
Khác với mục đích phi lợi nhuận của BHXH thì có một loại hình bảo hiểm
khác hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Đó là Bảo hiểm thương mại (BHTM).
Phương thức hoạt động của BHTM giống như BHXH đều mang tính “cộng đồng –
lấy số đông bù số ít”. Nhưng phạm vi hoạt động của BHTM rộng hơn, không chỉ
diễn ra trong một quốc gia mà trải rộng xuyên quốc gia, có mặt ở tất cả các lĩnh vực
của đời sống kinh tế - xã hội.
1.2. Định nghĩa và đặc điểm của Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thực hiện bảo hiểm trên thực tế có hai hình thức tham gia. Đó là hình thức
bắt buộc và hình thức tự nguyện. Tương tự như vậy, từ góc độ thực hiện chế độ trên
thế giới có chế độ BHXH bắt buộc và chế độ BHXH tự nguyện. Bảo hiểm xã hội
bắt buộc (BHXHBB) thường quy định cụ thể về phạm vi áp dụng, đối tượng rơi vào
9
phạm vi áp dụng đó không có quyền lựa chọn việc tham gia hay không tham gia bảo
hiểm mà được xác định như một nghĩa vụ, trách nhiệm của người tham gia. Nếu
người tham gia vi phạm sẽ phải chịu cả chế tài. Trái lại, bảo hiểm xã hội tự nguyện
(BHXHTN) lại tạo điều kiện mở khi phụ thuộc vào ý trí của chủ thể tham gia. Theo
đó người lao động có thể tham gia hoặc không tham gia nhưng đều phải tuân thủ
những quy định chung của Nhà nước về BHXH.
Theo khoản 2, Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì Bảo hiểm xã hội bắt buộc là
loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử
dụng lao động phải tham gia.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một loại hình của BHXH, do đó ngoài những
đặc điểm chung về BHXH thì BHXH bắt buộc có những đặc điểm riêng sau:
- Đối tượng tham gia chủ yếu là người lao động có quan hệ lao động. Quan
hệ giao động hiểu một cách đơn giản là quan hệ giữa người thuê lao động và người
được thuê lao động. Quan hệ này nảy sinh một cách tự nhiên trong hoạt động kinh
tế, đặc biệt trong kinh tế thị trường thì mối quan hệ càng trở lên rõ và năng động.
Tham gia BHXH là bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động.
- Mức đóng BHXH bắt buộc là cố định đối với người lao động và người sử
dụng lao động. Bảo hiểm xã hội bắt buộc ấn định về mức đóng và mức hưởng
chung. Người lao động không có quyền lựa chọn mức đóng, không có quyền
thương lượng hay thỏa thuận mức đóng. Mức đóng BHXHBB ấn định trên phạm vi
toàn quốc. Mức đóng BHXH hàng tháng được tính theo mức tiền lương, tiền công
ghi trong hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc và theo tỷ lệ quy định của Nhà
nước. (Điều 90, Luật BHXH 2014). Tỷ lệ đóng BHXHBB được chia xẻ cho hai bên
người lao động và người sử dụng lao động. Thông thường người sử dụng lao động
gánh vác nhiều hơn so với người lao động. Từ 1/2014, người lao động đóng 8% và
người sử dụng lao động đóng 18% trên tiền lương tháng.
- Bảo hiểm xã hội được thực hiện với các chế độ cơ bản bao quát tới những
rủi ro trong quá trình lao động, ngoài và sau quá trình lao động. Bảo hiểm xã hội bắt
10
buộc thực hiện 5 chế độ, bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn
lao động và bệnh nghệ nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. Các chế độ trong quá
trình lao động được xác định cơ bản như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp. Một số quốc gia còn xác định một số trợ cấp và chăm sóc sức khỏe. Ví
dụ ở Đức có chế độ chăm sóc y tế, chế độ trợ cấp mất người nuôi đưỡng. Sau quá
trình lao động gồm các chế độ như hưu trí, tử tuất. Hưu trí và tử tuất là chế độ bảo
hiểm cơ bản được tổ chức lao động quốc tế ILO đề xuất cho các quốc gia khi xây
dựng hệ thống BHXH của nước mình. Các chế độ này đảm bảo bù đắp hoặc thay
thế một phần thu nhập của người lao động khi không may họ gặp các sự kiện rủi ro
xảy ra trong quá trình lao động và sau quá trình lao động.
Trong hệ thống bảo hiểm xã hội, còn một loại hình BHXH nữa ngoài BHXH
bắt buộc. Đó là bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN). Bảo hiểm xã hội tự nguyện
là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức
đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách
hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
Do vậy, BHXHTN có những điểm khác so với BHXH bắt buộc, đó là:
- Đối tượng tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên
và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Trường hợp nam đủ 60 tuổi và
nữ đủ 55 tuổi đã có đủ 15 năm đóng BHXH trở lên nếu có nhu cầu tham gia
BHXHTN thì được đóng tiếp cho đến khi đóng đủ 20 năm BHXH để được hưởng
chế độ hưu trí hàng tháng. Như vậy, đối tượng tham gia BHXHTN hẹp hơn đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc.
- Mức đóng BHXH hàng tháng bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXHTN nhân
với mức thu nhập tháng của người tham gia BHXHTN lựa chọn. Căn cứ để đóng
BHXHTN là thu nhập của người tham gia nên mức đóng và phương thức đóng
không cố định, mà do người tham gia lựa chọn đóng cho phù hợp với thu nhập của
mình. Còn mức đóng của BHXH thì cố định theo mức tiền lương, tiền công trong
11
HĐLĐ, HĐLV. Riêng BHXHTN, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng để
người tham gia được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
- Cũng chính bởi những đặc điểm riêng của BHXHTN mà người tham gia
loại hình BHXH này được hưởng 2 chế độ BHXH là: chế độ hưu trí và chế độ tử
tuất. So với loại hình BHXH bắt buộc thì loại hình BHXHTN thực hiện ít chế độ
hơn, nhưng phần nào đảm bảo được cuộc sống của người tham gia, đảm bảo ổn
định an sinh xã hội.
1.3. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Theo Luật BHXH năm 2014 người lao động là công dân Việt Nam thuộc
đối tượng tham gia BHXH bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng
lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao
động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật
của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng (Theo Khoản b, điều 2, luật BHXH năm 2014). Tại hội thảo về triển
khai thi hành luật BHXH tổ chức mới đây, bà Đỗ Thị Xuân Phương, Phó Tổng
Giám đốc BHXH Việt Nam, cho rằng việc đạt mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 25
triệu người tham gia BHXH bắt buộc và gần 3 triệu người tham gia BHXH tự
nguyện là “cực kỳ khó khăn”. Vì hiện tại không có cơ quan nào là đầu mối để quản
lý, nắm chắc số đơn vị cũng như số lao động thuộc diện tham gia BHXH nên việc
phát triển đối tượng tham gia BHXH gặp nhiều vướng mắc. Tính đến hết năm 2014,
cả nước có trên 16 triệu người có quan hệ lao động từ 3 tháng trở lên nhưng chỉ có
khoảng 11,5 triệu người tham gia BHXH bắt buộc. Trong khi đó, luật BHXH năm
2014 lại mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đến người lao động
có hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng. Nhưng hiện tại việc
xác định nhóm đối tượng có quan hệ lao động thuộc trường hợp này là rất khó khắn.
12
Vì thế khó khăn lại càng khó khăn hơn. Thêm vào đó việc đóng BHXH cho đối
tượng lao động thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng là khó khả thi. Theo ý kiến của
đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình), tại kỳ họp quốc hội khóa XIII năm
2014 cho rằng: “Nếu chúng ta chỉ quy định hợp đồng từ 1 đến 3 tháng mới đóng
bảo hiểm thì không khả thi vì từ lúc lập danh sách, làm thủ tục rồi tìm cơ quan bảo
hiểm đã hết thời gian rồi. Nhưng bản chất của vấn đề này là luật ta lại quy định hợp
đồng trên 3 tháng thì mới đóng bảo hiểm, nên các cơ quan sử dụng lao động hoặc
cơ quan Nhà nước lại lách luật là chỉ ký hợp đồng có 3 tháng. Chính vì thế trong
quy định lần này chúng ta nên có là hợp đồng lao động từ 1 đến 3 tháng, sau khi
chấm dứt hợp đồng và hợp đồng tiếp thì phải tham gia đóng bảo hiểm, như thế mới
thực thi khi luật ban hành và đi vào cuộc sống. Có thể từ tháng 1 đến tháng 3 không
đóng bảo hiểm vì đây là thời gian thử việc giữa người sử dụng lao động và người
lao động nhưng tiếp đó chúng ta phải quy định đóng bảo hiểm để tránh lách luật,
như luật cũ hiện nay là chưa hợp lý"
+ Cán bộ, công chức, viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong
tổ chức cơ yếu;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm
công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân
dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được
hưởng sinh hoạt phí;
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng
tiền lương;
13
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn (Theo khoản i,
điều 2, luật BHXH 2014). Việc mở rộng đối tượng này là điểm đối mới rất đáng
được ghi nhận. Thực tế cho thấy những người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã đảm nhiệm rất nhiều các công việc khác nhau, như tiếp nhận hồ sơ, làm văn bản,
báo cáo…cho đến tham gia giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trên địa bàn. Cấp xã là
nơi trực tiếp triển khai chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Qua thực tiễn có thể khẳng định được rằng, trong việc đảm bảo trật tự, thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có sự đóng góp không nhỏ của những
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Đa số những người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã đã có thời gian làm việc tương đối ổn định ở cấp xã và đều có
mong muốn tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hơn nữa mức phụ cấp với đối
tượng này là quá thấp, mà lại không được hỗ trợ tham gia BHXH bắt buộc thì khó
có thể động viên sự toàn tâm, toàn ý với công việc. Đây là một trong những bất cập
về hệ thống chính sách, dẫn đến việc bố trí, đào tạo cán bộ còn gặp nhiều khó khăn,
không thu hút được những người trẻ có trình độ, năng lực về công tác và gắn bó lâu
dài với vị trí hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Nếu được tham gia BHXH bắt
buộc cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sẽ góp phần thu hút được những người trẻ,
có năng lực về công tác và gắn bó với cấp xã và đồng thời cũng góp phần mở rộng
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, làm tăng nguồn thu ổn định trong quỹ BHXH
+ Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy
phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy
định của Chính phủ. - Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt
Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
theo quy định của Chính phủ (Theo khoản 2, điều 2 luật BHXH 2014). Hiện nay,
người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài được điều chỉnh bởi pháp luật
BHXH của nước sở tại. Điều đó có nghĩa là, người lao động có thể sẽ phải tham gia
BHXH 2 lần. Trường hợp, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng
14
sẽ phải tham gia BHXH 2 lần. Vì vậy với quy định áp dụng bảo hiểm xã hội bắt
buộc đối với tất cả những người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
lao động và người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cũng
sẽ tạo tiền đề cho việc thúc đẩy, triển khai các Hiệp định song phương về bảo hiểm
xã hội giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Hiệp định khi được ký kết sẽ mang lại
lợi ích, đảm bảo quyền lợi cho công dân của mỗi quốc gia tham gia Hiệp định, tránh
được việc thực hiện song trùng BH. Trong khi đó, người lao động lại được tính liên
tục về thời gian đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời có cơ hội được nhận trợ cấp bảo
hiểm xã hội ở quốc gia mà họ sinh sống (mức trợ cấp được xác định trên cơ sở số
thời gian làm việc và đóng góp ở mỗi quốc gia). Từ đó, tạo cơ hội thuận lợi cho họ
trong quá trình dịch chuyển lao động, cũng như trong tham gia và thụ hưởng các
chế độ bảo hiểm xã hội. Việc bổ sung đối tượng này là phù hợp với quá trình phát
triển thị trường lao động. Hiện nay, một số nước trong khu vực ASEAN (Thái Lan,
Philipines, Indonesia) đã có quy định hợp tác quốc tế về BHXH, một số nước như
Đức, Canada, Hàn Quốc đã đề nghị Việt Nam ký kết Hiệp định hợp tác song
phương về lĩnh vực BHXH nhằm tạo điều kiện cho người lao động 02 nước được
tham gia BHXH khi sang làm việc ở nước kia.
- Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:
+ Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ
quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác,
tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Như vậy, Luật BHXH 2014 đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc,
để dần hoàn thiện mục tiêu mà trong Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/06/2012,
Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính
sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của
15
Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020 đều đặt ra mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020 có
khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội”. Việc mở rộng hơn nữa
đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc là phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển
thị trường lao động, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ hướng tới mục tiêu bảo phủ toàn
bộ NLĐ tham gia. Tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện, thời
điểm áp dụng đối với 3 nhóm đối tượng này bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng 1
năm 2018. Đây được cho là các quy định có tính thận trọng và phù hợp trong điều
kiện số lượng của nhóm lao động này khá lớn trên thị trường.
1.4. Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
người lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa
về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể.
Theo kiến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), BHXH bao gồm một hệ thống
gồm 9 chế độ, song tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước và tùy vào từng
thời kỳ mà mỗi nước chọn cho mình những chế độ phù hợp. Hiện nay nước ta có 5
chế độ BHXH bắt buộc, đó là: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao
động và bệnh nghệ nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất.
1.4.1. Điều kiện hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn cứ vào một loạt những cơ sở như:
sinh học, kinh tế - xã hội, điều kiện và môi trường lao động... Và khi hưởng chế độ
BHXH bắt buộc thì cần có những điều kiện sau:
- Khi xảy ra các sự kiện rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Mỗi sự kiện rủi ro xảy ra tương ứng với từng chế
độ BHXH bắt buộc được hưởng. Tuỳ vào mức độ rủi ro và tính chất của rủi ro mà
người lao động sẽ có mức hưởng tương ứng theo quy định của từng chế độ BHXH
bắt buộc.
16
- Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc. Thời gian tham gia BHXH
bắt buộc theo quy định của từng chế độ sẽ có những mức hưởng phù hợp để đảm
bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ không may
gặp các rủi ro làm gián đoạn thu nhập, nhằm ổn định cuộc sống cho người lao động
cũng như những người thân của họ.
- Mức suy giảm khả năng lao động khi gặp các rủi ro được bảo hiểm.
- Rủi ro xảy ra trong quá trình lao động (với chế độ ốm đau, chế độ thai sản,
chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp), rủi ro xảy ra sau quá trình lao động
(với chế độ hưu trí, chế độ tử tuất).
1.4.2. Các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.4.2.1. Chế độ ốm đau
Ốm đau là rủi ro thường xảy ra nhất đối với người lao động. Khi gặp các sự
cố về ốm đau, bệnh tật nhưng không phải do tính chất của công việc gây ra, làm mất
khả năng làm việc dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập một khoảng thời gian. Điều đó
sẽ làm gián đoạn cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Để giúp người tham
gia BHXH nhanh chóng ổn định cuộc sống, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã
hội là lý do chế độ ốm đau ra đời.
Đây là chế độ BHXH ngắn hạn. Chi trả cho người lao động trong quá trình
làm việc gặp phải rủi ro ốm đau, họ được hưởng trợ cấp tạm thời trong thời gian
tạm nghỉ và sẽ trở lại làm việc. Chính vì trợ cấp trong thời gian ngắn nên càng phải
đảm bảo công tác chi trả đúng, đủ, kịp thời để người lao động nhanh chóng ổn định
cuộc sống, yên tâm và tin tưởng hơn vào chính sách BHXH của Nhà nước.
1.4.2.2. Chế độ thai sản
Giới nữ Việt Nam có hơn 45 triệu người, chiếm trên 50% dân số cả nước và
hơn 47% lực lượng lao động xã hội. Phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng đã đang
và sẽ tham gia trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Thực tế
chứng minh phụ nữ Việt Nam đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng
17
giải phóng dân tộc. Bên cạnh việc làm công tác xã hội, người phụ nữ còn phải đảm
đương công việc của gia đình với chiên chức làm vợ, làm mẹ. Vì thế chế độ thai sản
là một trong số những chế độ BHXH được triển khai ngay từ khi BHXH có hiệu
lực. Chế độ thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chế độ BHXH. Chế độ thai
sản giúp bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho lao động nữ bị mất do không
làm việc vì thai nghén, sinh để và nuôi con; giúp người lao động yên tâm, nhanh
chóng phục hồi sức khỏe để tái hòa nhập vào quá trình lao động. Ngoài ra, chế độ
này còn có mục đích góp phần thực hiện bình đẳng đối với tất cả lao động nữ trong
lực lượng lao động và bình đẳng về giới giữa lao động nam và lao động nữ. Điều
quan trọng mà chế độ thai sản mang lại nữa là bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em,
giúp lao động nữ thực hiện tốt quyền làm mẹ. Đây là một chế độ BHXH ngắn hạn.
1.4.2.3. Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Những rủi ro mà người lao động thường gặp phải trong hoạt động sản xuất
kinh doanh đó là: bị thương, bị nhiễm độc, bị bỏng... dẫn đến tình trạng người lao
động bị suy giảm khả năng lao động, bị tàn phế hoặc bị chết. Nguyên nhân gây ra
tai nạn có thể do lỗi của người lao động, lỗi của người sử dụng lao động hoặc xảy ra
trong quá trình người lao động làm việc. Do tính phức tạp của tai nạn lao động vì nó
liên quan đến vấn đề bồi thường. Theo quy định của Luật BHXH thì tai nạn lao
động được hiểu là: tai nạn gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể
người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền vời việc
thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có những ngành nghề được gọi là độc
hại, đó là: hóa chất, luyện gang thép, khai thác khoáng sản,... người lao động
thường xuyên phải tiếp xúc với các hóa chất độc hại nên rất dễ nhiễm các chất độc
hại như chì, phóng xạ...dẫn đến người lao động bị nhiễm các bệnh do chính những
yếu tố độc hại này gây ra. Đó gọi là bệnh nghề nghiệp. Vậy bệnh nghề nghiệp là:
bệnh phát sinh do điều kiện lao động có yếu tố độc hại của nghề nghiệp tác động
đối với người lao động. Có 3 nhóm bệnh nghề nghiệp: bệnh do yếu tố vật lý; bệnh
18