Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (413.68 KB, 48 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI TẬP NHÓM
Đề tài: Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

Nhóm thực hiện :

Nhóm Thái Lan

Lớp

:

Chính sách kinh tế đối ngoại 1 (215)_3

Giảng viên

:

ThS. Nguyễn Bích Ngọc

Hà Nội, Tháng 4 năm 2016

DANH SÁCH NHÓM


1. Nguyễn Ngọc Sao Ly
2. Nguyễn Thị Diễm Hằng
3. Trần Thị Kim Anh
4. Mai Thị Thanh Hằng


5. Nguyễn Thị Quỳnh Trang
6. Phan Thị Thu
7. Lê Phương Ánh Hồng
8. Hàn Thị Hiệu
9. Phạm Thế Thiều


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÁI LAN

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Thái Lan là một quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á, phía bắc giáp Lào và
Myanma, phía đông giáp Lào và Campuchia, phía nam giáp vịnh Thái Lan và Malaysia,
phía tây giáp Myanma và biển Andaman. Lãnh hải Thái Lan phía đông nam giáp với
lãnh hải Việt Nam ở vịnhThái Lan, phía tây nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn Độ ở
biển Andaman.
Với diện tích 513.120 km² (tương đương diện tích Việt Nam cộng với Lào), Thái
Lan xếp thứ 50 trên thế giới về diện tích, rộng thứ ba tại Đông Nam Á, sau Indonesia và
Myanma.
1.2. TÀI NGUYÊN
Thái Lan thuộc khu vực giàu tài nguyên, dưới lòng đất ở đây rất giàu vonphram,
thiếc, ga tự nhiên, tantalium, chì, thạch cao, than non, fluorit.
Thái Lan có bờ biển dài, tiếp giáp với 2 đại dương (Thái Bình Dương, Ấn Độ
Dương), và nhiều sông ngòi chằng chịt, nên rất thuận lợi cho việc khai thác, đánh bắt,
nuôi trồng thủy sản.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng, mưa nhiều, nên tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển cây nông nghiệp. với 55% đất đai trồng trọt được sử dụng để trồng

lúa, đất có thể canh tác của Thái Lan có tỷ trọng lớn, 22,25% của toàn bộ khu vực sông
MêKông. Chăn nuôi cũng trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng củaThái
Lan.
Thái lan có một vị trí địa lý không những thuận lợi cho việc phát triển ngành nông
nghiệp mà ngành dịch vụ du lịch cũng phát triển không kém. Từ đầu năm 80 Thái Lan
đã chủ trương lấy “ du lịch để dựng nước”. Kết quả đã làm bùng nổ ngành du lịch, điều
3


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

đó đã nói lên rằng du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế
củaThái Lan.
1.3 .LỊCH SỬ VÀ CHÍNH TRỊ
Theo sử sáchThái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi Altai, đông bắc tỉnh Tứ
Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước. Sau đó di dần xuống vùng đất hiện nay tạo
thành Thái Lan. Tại vùng đất mới của mình người Thái đã đánh đổ các cư dân bản địa
như Môn, Wa, Khmer… đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng ngôn ngữ - văn hóa từ họ
và đặc biệt là Phật giáo Ấn Độ. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18,
giữa người Thái và người Miến Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và
kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế kỷ 18. Năm 1767, một tướng người Thái gốc
Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và dời đô về Thonburi,
bên bờ sông Chao Phraya, đối diện với Bangkok. Vua Rama I (1782) lên ngôi và
chọn Bangkok (hay "Thành phố của các thiên thần") làm kinh đô.
Năm 1997, Thái Lan trở thành tâm điểm của Khủng hoảng tài chính Đông Á.
Đồng Baht nhanh chóng sụt giá từ mức 25 baht đổi 1 đô la xuống mức 56 baht đổi 1 đô
la. Sau đó, đồng baht dần lấy lại được sức nặng của mình, đến năm 2007, tỷ giá giữa
đồng baht và đô la là 33:1

Trong lịch sử lập quốc của mình, Thái Lan từng là một nước lớn theo chủ nghĩa
Đại Thái, lấn át các quốc gia láng giềng khi có thể, nhưng tới giữa thế kỷ 19, Thái Lan
đứng trước hiểm họa xâm lăng của các nước thực dân châu Âu. Về phía tây, đế quốc
Anh đã chiếm Miến Điện, trong khi ở phía đông, Pháp đã chiếm 3 nước Việt Nam, Lào
và Campuchia. Thái Lan vô tình trở thành vùng đệm địa lý giữa 2 thế lực đứng đầu thế
giới khi đó là Anh và Pháp. Vì không muốn nổ ra xung đột với đối thủ, Anh và Pháp
quyết định trung lập hóa Thái Lan, cả 2 sẽ tự kiềm chế, không tiến quân xâm chiếm
nước này. Sau thế chiến, Thái Lan bị đối xử như một quốc gia đối địch bởi Anh và Pháp,
mặc dù Mỹ đã can thiệp để giảm nhẹ các điều khoản trừng phạt Thái Lan… Thời kỳ hậu
4


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

chiến cũng là thời kỳ Thái Lan thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ. Chính sách ngoại giao của
Thái là "ngoại giao cây sậy", tức là gió thổi về phía nào thì ngả về phía nấy, sẵn sàng
"cúi đầu, thần phục" trước kẻ khác để tránh đụng độ hoặc đem lợi về cho mình.
Nền chính trị Thái Lan từng chứng kiến 20 cuộc đảo chính hoặc nỗ lực đảo chính
của quân đội từ năm 1932 tới năm 2014. Lệnh thiết quân luật của nước này cho phép
quân đội có quyền hạn lớn trong việc ban hành lệnh cấm tụ tập, hạn chế đi lại và bắt giữ
người.
1.4 .DÂN CƯ, XÃ HỘI THÁI LAN
Dân số Thái Lan khoảng 67.448.120 người (xếp hạng 20), đông thứ 21 trên thế
giới và mật độ dân số là 132.1 người/km² (xếp hạng 88). Khoảng 75% dân số là dân tộc
Thái, 14% là người gốc Hoa và 3% là người Malay, phần còn lại là những nhóm dân tộc
thiểu số như Môn, Khmer và các bộ tộc khác. Có khoảng 2,3 triệu người nhập cư hợp
pháp và bất hợp pháp ở Thái Lan.
Với mật độ dân số khá đông và chủ yếu là thuộc thành phần có sức lao động tạo ra

nguồn lực lao động dồi dào cho các ngành nghề ở Thái Lan.
1.5 . VĂN HÓA THÁI LAN
Văn hóa Thái Lan chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng đạo Phật - tôn giáo
chính thức ở đất nước này và từ nền sản xuất phụ thuộc vào nguồn nước. Có thể thấy rõ
hai điểm trên qua các ngày lễ hội. Trong văn hóa ứng xử, người Thái tỏ rõ sự sung đạo,
tôn kính hoàng gia và trọng thứ bậc cũng như tuổi tác.
Một trong những điểm đặc trưng nhất của phong tục Thái là vái (tiếng Thái: wai),
gần giống như cách cúi chào của người Ấn (Tiếng Hindi: namaste). Cử chỉ này được sử
dụng khi gặp mặt, chia tay hoặc xác nhận, với nhiều dạng khác nhau phụ thuộc vào vị trí
xã hội của người đó, nhưng nhìn chung, thường là cử chỉ giống như đang lễ với hai tay
chắp lại và đầu cúi xuống.
5


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Chuẩn mực xã hội Thái cho rằng sờ vào đầu một ai đó là vô lễ. Cũng là mất lịch
sự khi đặt chân cao hơn đầu ai đó, đặc biệt nếu người đó có địa vị xã hội cao hơn. Đó là
bởi vì người Thái cho rằng chân là bộ phận dơ bẩn và thấp kém nhất trên cơ thể, còn đầu
là bộ phận cao nhất và đáng kính nhất. Nguyên tắc này cũng ảnh hưởng đến cách người
Thái ngồi trên sàn - chân của họ để vào trong hay ra đằng sau mà không chĩa vào người
đối diện. Chĩa vào hay chạm vào bất cứ cái gì bằng chân đều bị xem là mất lịch sự.
Ngoài ra, giẫm lên đồng bạt Thái cũng là cực kỳ vô lễ vì hình ảnh đầu của quốc
Vương có xuất hiện trên tiền xu Thái. Khi ngồi trong các ngôi đền chùa, mọi người nên
tránh chĩa chân vào các tranh ảnh, tượng đức Phật. Các miếu thờ trong nơi ở của người
Thái được xây sao cho chân không chĩa thẳng vào các biểu tượng thờ tự - ví dụ như
không đặt miếu thờ đối với giường ngủ nếu nhà quá nhỏ, không có chỗ khác để đặt
miếu.

Cởi giày dép trước khi vào nhà hay vào những nơi linh thiêng ở các đền chùa
cũng là một phong tục, và cũng không được giẫm lên bậc cửa.
1.6. LỄ HỘI
Các dịp lễ quan trọng trong văn hóa Thái gồm có Tết Năm Mới Thái hay còn gọi
là Songkran, được chính thức công nhận là vào ngày 13 đến 15 tháng 4 hàng năm. Ngày
lễ này rơi vào mùa khô, thuộc vào mùa nóng trong năm ở Thái Lan nên luôn có tục té
nước rất huyên náo. Tục té nước bắt nguồn từ nghi thức tắm tượng Phật và vẩy nước
thơm lên tay người già. Một ít bột thơm cũng được dùng trong nghi thức tắm rửa hàng
năm. Nhưng trong những thập kỷ gần đây, việc sử dụng nước được tăng cường với đủ
loại vòi, xô, súng bắn nước, ống xả nước và một lượng lớn bột.
Một lễ hội khác là Loi Krathong được tổ chức vào 12 ngày rằm theo âm lịch Thái.
Dù rằng không phải là kỳ nghỉ lễ chính thức theo quy định của Chính phủ, nó vẫn là một
mỹ tục, mà "loi" có nghĩa là "thả trôi" và "krathong" nghĩa là “một cái bè nhỏ”, theo
truyền thống được làm từ một khúc thân cây chuối, được trang trí bằng các lá chuối
6


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

được xếp gấp tỉ mỉ, hoa, nến, hương...Việc thả đèn này là biểu tượng của việc để cho
những hận thù, giận dữ và sự ô uế trôi đi để mà người ta có thể bắt đầu bước tiếp cuộc
đời họ một cách thanh sạch hơn.
1.7. KINH TẾ
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống. Bắt đầu từ năm 1960 Thái
Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến nay là kế hoạch
thứ 9. Trong thập niên 1970 Thái Lan thực hiện chính sách "hướng xuất khẩu",
ASEAN, MỸ, Nhật Bản, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành
công nghiệpvà dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò

của nông nghiệp giảm dần.
Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới. Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng
thuộc loại cao nhất thế giới từ 1985 đến 1995, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9% mỗi
năm, sức ép lên việc duy trì đồng baht tại Thái Lan tăng lên, dẫn đến cuộc khủng hoảng
tài chính năm 1997, lan rộng ra toàn khu vực Đông Á, bắt buộc chính phủ phải thả nổi
tiền tệ.
Năm 1998, Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế
là 4,2%, năm 2000 là 4,4%, phần lớn từ những mặt hàng xuất khẩu chính (tăng 20%). Sự
tăng trưởng bị rơi vàotình trạng trì trệ (tăng trưởng 1,8%) do ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế toàn cầu năm 2001, nhưng phục hồi lại vào năm sau, nhờ sự phát triển mạnh của
Trung Quốc và những chương trình khác nhau nhằm khuyến khích phát triển kinh tế
trong nước của thủ tướng Thaksin Shinawatra.
Về công nghiệp:
Tổng giá trị các sản phẩm công nghiệpchiếm 45,3% GDP và thu hút 14% lực lượng lao




động.

7


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan


GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Sản phẩm công nghiệp chính: xi măng, đường, xà phòng, thiếc, xe máy, hàng dệt, hàng
may mặc, thuốc lá, nước giải khát, quặng, linh kiện điện tử, điện dân dụng, linh kiện




máy tính và ô tô.
 Về nông nghiệp:
Tổng giá trị các sản phẩm nông nghiệp chiếm 10,8% GDP và thu hút 49% lực lượng lao



động.
Sản phẩm nông nghiệp chính: Mía, sắn, gạo, ngô, dừa, cao su, bông, thuốc á, cà phê, gia
cầm, trâu, bò, lợn. Lúa là loại cây lương thực chính được trồng tại Thái Lan, với 55%
đất đai trồng trọt được sử dụng để trồng lúa. Đất có thể canh tác được củaThái Lan cũng



chiếm tỷ lệ lớn, 27,25% của toàn bộ khu vực sông Mêkong.
Về dịch vụ - du lịch: Tổng giá trị lĩnh vực dịch vụ, du lịch chiếm 43,9% GDP và thu hút



37% lực lượng lao động.
 Về xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn hai phần ba tổng sản phẩm quốc nội (GDP ) 143,1 tỷ



USD (năm 2008).
Xuất khẩu chính là gạo Thái Lan, hàng dệt may và giày dép, sản phẩm thủy sản, cao su,
đồ trang sức, xe hơi, máy tính và các thiết bị điện. Thái Lan là nước xuất khẩu số 1 thế




giới về gạo, xuất khẩu hơn 6,5 triệu tấn gạo mỗi năm.
Các bạn hàng xuất khẩu chủ yếu: Mỹ (15%); Nhật Bản (12,6%); Trung Quốc (9%);



Singapore (6,4%); Hồng Kông (5,5%); Malaysia (5,1%).
 Về nhập khẩu: 121,9 tỷ (năm 2008).
Các mặt hàng nhập khẩu chính: Hàng công nghiệp, hoá chất, nhiên liệu, dầu nhờn,



nguyên liệu thô, thực phẩm, kim loại…
Các bạn hàng nhập khẩu chủ yếu: Nhật Bản (19,9%); Trung Quốc (10,6%); Mỹ (7,5%);
Malaysia (6,6%); Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất (5,5%); Singapore (4,4%).
Ngành công nghiệp và dịch vụ ở Thái Lan vẫn chiếm tỷ trọng cao trong nền
kinh tế. Nguồn lực lao động lại chủ yếu phân bổ ở 2 ngành nông nghiệp và dịch vụ.
Thái Lan đang là 1 nước công nghiệp mới, cơ cấu chuyển dịch lao động có xu hướng
chuyển từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và công nghiệp.

8


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

PHẦN 2: CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA THÁI LAN


2.1. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA THÁI LAN
Hoạt động xuất khẩu là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động thương
mại quốc tế. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham gia vào hệ thống phân
công lao động quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của
mình và nhờ đó có thể thu được những lợi ích to lớn cho nền kinh tế. Trong quá trình
phát triển kinh tế, Thái Lan đã có sự chuyển hướng mang tính chiến lược từ công nghiệp
hóa hướng nội - thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa theo chiến lược hướng ngoại
– hướng về xuất khẩu vào những năm 1970. Thực tế, hoạt động xuất khẩu không chỉ góp
9


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

phần thúc đẩy tăng trưởng, mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều
việc làm mới và đưa nền kinh tế Thái Lan hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc
tế.
2.1.1. Giai đoạn 1961-1972
2.1.1.1.Mô hình chính sách
Trong giai đoạn này, Thái Lan thực hiện mô hình chính sách hướng nội, công
nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, tập trung khai thác nguồn lực trong nước ít có
quan hệ với thị trường thế giới, Chính phủ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế.
Trước năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu. Nền kinh tế manh
mún được hình thành bởi phần lớn các xí nghiệp nhỏ thuộc quyền sở hữu tư nhân và một
vài công ty cỡ vừa thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Bước vào giai đoạn này, Thái Lan
mong muốn trở thành một nước công nghiệp hiện đại nhưng đồng thời lại phải đối mặt
với những khó khăn như: tài nguyên thiên nhiên không mấy phong phú, dân số tăng

nhanh, lực lượng lao động đông đảo khoảng 13.000.000 người nhưng đa số hoạt động
trong ngành nông nghiệp(82%). Chất lượng lao động không cao, số người lao động có
học vấn rất ít.
Bối cảnh thế giới, tình hình chính trị trong khu vực và trên thế giới bất ổn, đối đầu
giữa phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, nhiều nước Đông Nam Á vẫn chưa giành
được độc lập, hợp tác kinh tế giữa các quốc gia gặp nhiều khó khăn, chưa trở thành xu
hướng.
Chính vì thế, chính phủ Thái Lan đã quyết định thực hiện mô hình chính sách
hướng nội, công nghiệp hóa đất nước theo hướng thay thế nhập khẩu.
2.1.1.2. Chính sách mặt hàng

10


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Thái Lan vốn xuất phát từ một nước nông nghiệp với 55% diện tích đất đai trồng
trọt dùng để trồng lúa nên nước này tiếp tục phát huy tiềm năng này nhằm sản xuất nông
sản đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và cả xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp chế tạo bắt đầu được chú trọng để giảm dần
lượng nhập khẩu quá lớn từ nước ngoài.
2.1.1.3.Công cụ, biện pháp
Chính phủ Thái Lan đã giải quyết nguồn vốn theo ba hướng chính.


Thứ nhất, ban bố luật đầu tư để thu hút vốn đầu tư trực tiếp của tư bản tư nhân ngoại
quốc.
Thứ hai, vay nợ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.

Thứ ba, triệt để lợi dụng vị trí địa lý- chính trị của Thái Lan để thu hút vốn đầu tư của




nước ngoài.
2.1.1.4.Thành tựu


Về nông nghiệp, đã bước đầu chuyển từ phương thức độc canh sang đa dạng hóa các



sản phẩm, đặc biệt là nông sản xuất khẩu.
Về nền kinh tế quốc dân nói chung thì cơ cấu ngành đã thay đổi theo hướng tích cực.
Nông nghiệp giảm từ 60% xuống còn 30% công nghiệp tăng từ 28% đến 41% và dịch vụ
tăng từ 12% đến 29%. Thu nhập quốc dân đầu người tăng hằng năm là 7,6%; dự trữ
ngọai tệ và vàng tăng 15% mỗi năm; đồng Baht ổn định nhất thế giới trong 11 năm; tỷ lệ



lạm phát thấp 2%.
Trong giai đoạn này, Thái Lan không chỉ được Ngân hàng thế giới cho vay những khoản
tiền lớn mà còn được các tổ chức quốc tế tích cực giúp đỡ. Nhờ có nguồn vốn dồi dào,
Thái Lan đã thực hiện thành công hai kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn(19611966,1967-1972). Đây được coi là “thời kỳ vàng thứ nhất” của nền kinh tế Thái Lan.
2.1.2. Giai đoạn 1973-1997
2.1.2.1. Bối cảnh lịch sử
11



Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thái Lan trong thập niên 60. Tuy nhiên, sau 11 năm
thực hiện chiến lược đó đã có những tiêu cực và không còn phù hợp với giai đoạn này.


Thứ nhất, với hy vọng giảm bớt nhập khẩu Thái Lan đã tập trung xây dựng ngành công
nghiệp chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, trong thực tế
kim ngạch nhập khẩu không hề giảm xuống mà còn tăng lên do phải nhập nguyên liệu



cho ngành công nghiệp.
Thứ hai, chiến lược trên liên kết ở mức độ thấp với chương trình phát triển tài nguyên
thiên nhiên và kinh tế nông thôn. Do đó, nó đưa tới tình trạng tập trung công nghệ tại
Băng Cốc và vùng ngoại vi . Tình trạng đó một mặt làm mất cân bằng sinh thái, mặt
khác làm tăng tình trạng bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị do việc đa số nông



dân sống ở vùng xa xôi không được hưởng những kết quả của sự phát triển.
Thứ ba, do vốn đầu tư cho công nghiệp phải đi vay nên hàng hóa của Thái Lan sản xuất



ra có giá thành cao, thậm chí cao hơn cả hàng hóa nhập từ bên ngoài.
Thứ tư, hàng hóa sản xuất ra không được tiêu thụ một cách dễ dàng và không làm tăng

việc làm trong nước. Quan trọng hơn, chiến lược này là đã không những không làm cho
Thái Lan độc lập tự chủ về kinh tế mà còn làm cho sản xuất trong nước có nguy cơ tụt
hậu,thương mại bị đình đốn do không phát triển được thị trường,hàng húa kém cạnh
tranh do chi phí cao và không tìm được thị trường tiêu thụ.Trong khi đó các nước Hàn
Quốc,Đài Loan, Hồng Kông,Singapore với chiến lược hướng ra xuất khẩu đã thu được
những thành tựu to lớn.Điều đó đã trở thành động lực để chính phủ Thái Lan thay đổi
chính sách.
2.1.2.2. Mô hình chính sách
Nhằm khắc phục tình trạng trên, tháng 10/1972 kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
5 năm lần thứ ba được ban hành. Thái Lan chuyển đổi từ công nghiệp hóa theo hướng
thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu.

12


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Tình hình thế giới giai đoạn này đã có dấu hiệu khả quan hơn đối với Thái Lan.
Đây là giai đoạn có mức cạnh tranh quốc tế không đến nỗi gay gắt nên việc tiếp nhận
đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các nước tư bản sang Thái Lan và các nước đang
phát triển khác tương đối dễ dàng. Đây cũng là thời điểm chiến tranh lạnh giữa hai siêu
cường quốc là Liên Xô và Mỹ đang ở đỉnh cao nên viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ
và các nước phương Tây khác cho Thái Lan cũng như việc mở cửa thị trường phương
Tây cho hàng hóa Thái Lan khá rộng rãi, từ đó tạo điều kiện cho chiến lược công nghiệp
hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan phát triển thuận lợi.
Tuy nhiên giai đoạn này cũng gặp một số khó khăn, chi phí cho năng lượng tăng
cao do giá dầu mỏ thế giới tăng, nguồn thu thì giảm sút, đặc biệt sau khi Mỹ quyết định
chấm dứt các hoạt động quân sự tại Đông Dương và rút quân khỏi Việt Nam, Lào,

Campuchia(1973) và sau đó là rút một phần quân đội Mỹ ra khỏi căn cứ quân sự tại Thái
Lan(1976). Những năm trước đó, nền kinh tế Thái lan phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ. Dưới
danh nghĩa giúp đỡ Thái Lan, các nhà đầu tư của Mỹ bỏ vốn vào nền kinh tế Thái Lan
và sử dụng những lợi thế tương đối của nước này về đất đai, tài nguyên nhiệt đới, về
nhân công và thị trường.
Do mất đi những nguồn thu lớn liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương
nên công nghiệp xây cất khách sạn và dịch vụ du lịch bị đình đốn khiến cho hàng vạn
công nhân mất việc, dẫn tới đội ngũ thất nghiệp ở Thái Lan lên tới 1 triệu người vào
năm 1975. Viện trợ kinh tế Mỹ đã giảm nhiều từ sau năm 1975. Tất cả những điều trên
này đã làm thâm hụt cán cân thanh toán trở thành một trong những vấn đề quan trọng
nhất mà Thái Lan phải đương đầu.
Như vậy, việc lựa chọn con đường công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái
Lan là một lựa chọn mang tính cấp thiết khi mà chiến lược thay thế nhập khẩu đã không
còn phù hợp.
2.1.2.3.Chính sách mặt hàng
13


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Thời kỳ này Thái Lan tập trung vào công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng,
còn công nghiệp nặng phải đầu tư có chọn lọc, chủ yếu tập trung vào công nghiệp dầu
khí., trong đó đặc biệt tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên phát triển các ngành
công nghiệp xuất khẩu, lấy ngoại thương làm động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh
tế.
Bên cạnh đó kế hoạch 5 năm lần thứ 5 thực hiện trong thời kỳ này (1981-1986),
Chính phủ Thái Lan còn đặt nặng mục tiêu phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đó
như mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế.

2.1.2.4. Chính sách thị trường
Các thị trường Thái Lan xuất khẩu chính là ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, EU…
2.1.2.5. Công cụ, biện pháp




Đẩy mạnh phát triển công nghiệp
• Ưu tiên các khoản vay đối với ngành công nghiệp chế tạo định hướng xuất

khẩu.
Ban hành đạo luật đẩy mạnh xuất khẩu thông qua năm 1977. Theo đó, Thái Lan miễn
thuế thu nhập, thuế nhập khẩu, thuế kinh doanh đối với các mặt hàng nhập khẩu là máy



móc, thiết bị nguyên liệu thô.
 Phát triển nông nghiệp và nông thôn
Chính phủ đã lập Qũy phát triển nông thôn, đặc biệt tập trung vào những sản phẩm xuất



khẩu.
Xây dựng các trung tâm công nghiệp ở các vùng nông thôn hẻo lánh, xây dựng nhiều



nhà máy chế biến nông sản ở vùng nguyên liệu.
Khuyến khích chế biến nông sản xuất khẩu và những mặt hàng truyền thống mà Thái




Lan có thế mạnh.
 Công cụ chính sách hỗ trợ
Để giải quyết vấn đề bội chi ngân sách, Chính phủ Thái Lan thực hiện “chính sách tài
chính thận trọng”. Theo đó, Chính phủ chủ trương giảm chi tiêu vào việc xây dựng các

14


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

công sở mà tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng phục vụ cộng đồng dân cư, dựa vào vốn vay
trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách chứ không đi vay hoặc phát hành tiền.
• Cải cách toàn diện cơ chế và hệ thống xuất-nhập khẩu của đất nước.
• Thực hiện chính sách nhằm tiến tới tự do hóa về tài chính, thương mại và đầu


tư.
Giảm bớt hàng rào thuế quan và phi thuế quan.

2.1.2.6.Thành tựu
Với nhiều nỗ lực, nền kinh tế Thái Lan đã phát triển khá tốt trong giai đoạn này:


Nếu năm 1983 nhập siêu là 90,1 tỷ Baht thì đến năm 1986 chỉ còn 8 tỷ Baht (nếu tính




theo đồng USD thậm chí năm 1986 còn xuất siêu là 387 triệu USD).
Năm 1990, kinh tế Thái Lan coi như được phục hồi hoàn toàn; cơ cấu kinh tế đã thay



đổi; nông nghiệp chỉ còn chiếm 17% GDP; đời sống người nông dân được cải thiện.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm 1987 - 1990 là trên 10% và gần 8% thời
1991 - 1995; xuất khẩu thời kỳ này tăng bình quân 20% năm. Năm 1996, tổng giá trị
xuất khẩu của Thái Lan đã đạt khoảng 59 tỷ USD, tức gấp 9 lần so với năm 1986. Đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Thái Lan bình quân đạt 2 tỷ USD mỗi năm.
2.1.3. Giai đoạn 1997-nay
Sau cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ 7/1997, nền kinh tế Thái Lan rơi vào tình
trạng khó khăn trầm trọng: mức tăng GDP năm 1998 là -10,5%, nợ nước ngoài khoảng
87 tỷ USD, thất nghiệp gia tăng(tới tháng 3/1998 là 2,8 triệu người). Cuộc khủng hoảng
đã giúp Thái Lan nhận ra một điều rằng nếu không có một chính sách thương mại đúng
đắn với những điều chỉnh cho phù hợp với những tình hình biến đổi thì Thái Lan khó mà
duy trì được thế mạnh xuất khẩu của mình.
2.1.3.1. Mô hình chính sách
Chính phủ Thái Lan đã vạch rõ những chính sách phát triển thương mại quốc tế
sau khủng hoảng, theo đó Thái Lan triệt để tận dụng cơ hội để trở thành một trong năm
nước châu Á đóng vai trò nổi bật trên thương trường quốc tế với những yếu tố tích cực
15


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

sẵn có. Thái Lan thực hiện mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa đẩy mạnh xuất

khẩu tuy nhiên có điều chỉnh phù hợp tùy theo hoàn cảnh kinh tế toàn cầu.
2.1.3.2. Chính sách mặt hàng
Chính phủ xác định đẩy mạnh công nghiệp và dịch vụ nhưng không bỏ quên việc
phát triển bền vững tiềm năng nông nghiệp bằng cách tiếp tục nâng cao vị thế của những
mặt hàng xuất khẩu truyền thống như: dệt may, hàng nông sản, thực phẩm đông lạnh, đá
quý,...
2.1.3.3. Chính sách thị trường
Bên cạnh các đối tác truyền thống là các nước công nghiệp phát triển, Thái Lan
đặc biệt chú trọng tới thị trường các nước đang phát triển thuộc các khu vực như:
ASEAN, Trung Đông, Châu Phi, Trung Quốc…, trong đó các nước thuộc khu vực
ASEAN và Mỹ Latinh được Thái Lan đặc biệt quan tâm.
2.1.3.4. Công cụ và biện pháp.


Thứ nhất, ban hành các chính sách tác động lên hoạt động thương mại quốc tế theo
hướng thúc đẩy xuất khẩu. chính phủ Thái Lan chủ trương một mặt giảm nhập khẩu, mặt
khác tăng cường xuất khẩu dịch vụ, tìm kiếm các mặt hàng xuất khẩu mới, thị trường
mới đa dạng các mặt hàng xuất khẩu, tiếp tục tự do hóa để nâng cao sức cạnh tranh cho
hàng xuất khẩu. Các chính sách cơ bản tác động lên hoạt động thương mại quốc tế của



Thái Lan như:
Điều chỉnh định hướng xuất khẩu: Bên cạnh các đối tác truyền thống là các nước phát
triển, Thái Lan chú trọng tới các nước phát triển như: ASEAN, Trung Đông, Châu Phi,
Trung Quốc…. Để hỗ trợ xuất khẩu sang các thị trường mới Thái Lan áp dụng các biện
pháp: hỗ trợ một phần lãi xuất tiền vay trong vòng 5 năm đối với các nhà xuất khẩu sang
thị trường mới…

16



Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan


GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Điều chỉnh cơ cấu thương mại quốc tế: đề cao vai trò khu vực dịch vụ (hiện nay là 50%
GDP). 5 ngành dịch vụ ưu tiên xuất khẩu là: món ăn Thái, văn hóa phẩm, khu giải trí và



sân gôn, mỹ viện, chăm sóc sức khỏe và y tế.
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức ngoại thương: chủ trương điều chỉnh cơ cấu tổ chức, phân
định rõ chức năng, vai trò của các trung tâm và văn phòng đại diện ở nước ngoài. Các
trung tâm có nhiệm vụ là theo dõi thị trường và những vấn đề liên quan đến thương mại.
các văn phòng thương mại có nhiệm vụ triển khai các chính sách thương mại, đồng thời



báo cáo các phương án nảy sinh và vấn đề giải quyết.
Thứ hai, tăng cường tự do hóa thương mại và nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Thái Lan đẩy nhanh việc kí kết các hiệp định về
tự do hóa thương mại đa phương, và các hiệp định song phương. Chính phủ tiến hành
nhiều biện pháp giảm thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, giảm lãi suất tín dụng
để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước.
Ở cấp độ khu vực và trong khuôn khổ AFTA, Thái Lan là nước tích cực cổ vũ
cho việc đảm bảo tiến trình AFTA được thực hiện đúng hạn. Về thuế quan, Thái Lan đã
công bố giảm thuế suất đối với 542 mặt hàng công nghiệp vào giữa năm 2000 từ mức
5%-20% xuống còn 0%-10%.Về rào cản thương mại phi thuế quan, Thái Lan chỉ áp

dụng các biện pháp phi thuế quan khi cần thiết để bảo vệ lợi ích trong nước và chỉ điều
chỉnh theo các yêu cầu của WTO.
Việc hỗ trợ các ngành sản xuất thực hiện một cách có chọn lọc. Đối với ngành
xuất khẩu truyền thống như dệt may, hàng nông sản, đá quý… chính phủ tiếp tục hỗ trợ
về vốn, công nghệ cho việc đổi mới mẫu mã, chất lượng và sức cạnh tranh; giảm thuế
nhập khẩu máy móc, nguyên liệu. Thái Lan còn tăng cường xúc tiến việc tìm kiếm các
sản phẩm xuất khẩu mới bằng việc chuyển mạnh sang các ngành sản xuất sử dụng công
nghệ cao.
2.1.3.5. Thành tựu.

17


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Thái Lan đứng thứ 23 trong lĩnh vực xuất khẩu trên nền kinh tế thế giớivà là nền
kinh tế phức tạp đứng thứ 29 dựa trên mục lục Kinh Tế Phức Tạp.
Cán cân thương mại của Thái Lan có những cải thiện đáng kể trong những năm
qua. Giai đoạn tự 1991-2000, cán cân thương mại của Thái Lan luôn thâm hụt, thậm chí
năm 1996, cán cân thương mại thâm hụt hơn 90 tỷ USD. Tuy nhiên những năm gần đây
đã có những thay đổi tích cực. Thâm hụt cán cân thương mại giảm xuống. Thậm chí,
nhiều năm còn thặng dư cán cân thương mại. Trong năm 2014, đã có một thâm hụt
thương mại nhỏ ghi lại khoảng 380 triệu USD. Trong năm 2015, cán cân thương mại đã
tích cực khoảng 11,72 tỷ USD.

18



Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

(Nguồn: />
19


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

(Nguồn: />
Các thị trường lớn xuất khẩu của Thái Lan đó là ASEAN ( 55,154 triệu USD),
Trung Quốc ( 23,472 triệu USD), Mỹ ( 24,058 triệu USD)… ngoài ra còn nhiều các thị
trường khác như Nhật Bản, Hồng Kong, EU…

20


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

Biểu đồ: Xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Thái Lan

(Nguồn: />Cán cân thương mại của Thái Lan với các thị trường xuất khẩu chính đa số dương,
chỉ có cán cân thương mại với Trung Quốc và Nhật Bản thâm hụt.
2.1.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam



Thứ nhất. trong quá trình phát triển kinh tế Thái Lan luôn có chính sách ngọai giao đa
phương và mềm dẻo. Là một nước chưa bao giờ bị các nước đế quốc xâm chiếm làm
thuộc địa, Thái Lan đã sớm ký kết những hiệp định thương mại với các cường quốc như:
Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức. Và đến năm 1958, thủ tướng
21


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

đương nhiệm lúc bấy giờ là Sarit Thanarat đã đưa ra chính sách dựa vào Mỹ. Chính nhờ
quyết định này mà sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Mỹ đã đầu tư rất nhiều cả về kinh


tế lẫn chính trị vào Thái Lan.
Thứ hai, song song với việc thực hiện các chính sách, Thái Lan cũng luôn coi trọng sự
ổn định kinh tế vĩ mô như duy trì tỷ giá hối đoái ổn định, đồng Bath được cố định theo



đồng đô la Mỹ cùng với tỷ lệ lạm phát thấp (5% trong vòng nhiều năm kể từ năm 1980).
Thứ ba, chính phủ Thái Lan cũng giành phần lớn vốn viện trợ ODA và vốn vay cho phát
triển cơ sở hạ tầng. Đây là một chủ trương đúng đắn, có ý nghĩa trong dài hạn góp phần



tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện đời sống nhân dân.
Thứ tư, trong thời gian này vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển kinh tế vẫn

luôn được coi trọng. Chính phủ Thái Lan đã đề ra việc thực hiện 9 kế hoạch 5 năm, ban
hành kịp thời các bộ luật để quản lý, kiểm tra và sửa chữa mọi hoạt động trong nền kinh



tế.
Thứ năm, Chính phủ Thái Lan cũng hết sức mềm dẻo linh hoạt trong triển khai chính
sách kinh tế trong từng giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Trong
những năm 70, với mục tiêu tận dụng lợi thế giá nhân công và nguyên liệu rẻ, Thái Lan
tập trung vào sản xuất và chế biến hàng nông sản, dệt may, da giày,... Đây là các ngành
công nghiệp nhẹ, đòi hỏi ít vốn, nhiều lao động thủ công rất phù hợp với tình hình kinh
tế Thái Lan lúc bấy giờ. Còn trong những năm 80, khi lợi thế giá nhân công và nguyên
liệu không còn nữa Thái Lan lại chuyển sang đầu tư cho ngành lắp ráp đòi hỏi nhiều vốn
hơn, trình độ tay nghề cũng cao hơn. Bước sang những năm 90, những ngành chế tạo có
giá trị cao như điện tử viễn thông, máy vi tính, thiết bị điện,... lại là những ngành đóng



vai trò chủ chốt trong nền kinh tế nước này.
Thứ sáu, một bài học tiêu biểu khác mà Việt Nam có thể học hỏi của Thái Lan đó là
nước này luôn tăng cường mở cửa, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước



ngoài FDI.
Thứ bảy, Chính phủ Thái Lan luôn coi khu vực kinh tế tư nhân là động lực phát triển,
đóng góp một phần quan trọng đáng kể trong sự phát triển của nền kinh tế nhờ đó nền
kinh tế nước này có thể tận dụng được mọi nguồn lực tiềm ẩn trong nhân dân.
22



Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

2.1.5. Những thách thức của Thái Lan trong quá trình thực hiện chính sách
Để có được sự tăng trưởng, Thái Lan đã phải trả một cái giá khá đắt về môi
trường cùng với sự bành trướng của tệ nạn xã hội, sự bất bình đẳng xã hội hay khoảng
cách giàu nghèo.
Sự phát triển giữa các vùng miền có sự mất cân đổi, trong khi một số thành phố
lớn như Bangkok, ChiengMai rất sầm uất phát triển thì các tình phía nam còn hết sức lạc
hậu.
Mặt khác, do sự khó khăn trong chuyển đổi cơ cấu nên dẫn tới sự mất cân đối
trong cơ cấu kinh tế (nông nghiệp phát triển mạnh đặc biệt là lúa gạo đứng thứ 2 trên thế
giới trong khi công nghiệp nặng lại không phát triển lắm).
Ngoài ra, chất lượng giáo dục của Thái Lan vẫn còn khoảng cách khá xa so với
các nước phát triển trong vùng như Hàn Quốc, Malaysia.
2.2.CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA THÁI LAN
2.2.1.Giai đoạn trước năm 1997
2.2.1.1. Mô hình chính sách


Khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng cho sự phát triển các ngành công
nghiệp trong nước.
 Thực hiện công nghiệp hóa dẫn dắt bởi khu vực tư nhân và mở cửa đối với FDI
2.2.1.2. Nội dung chính sách



Khuyến khích các đối tác thương mại khu vực trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế (APEC) diễn đàn khu vực châu Á – Thái Bình
Dương, các cuộc họp Á – Âu, Nam Á, và khu vực sông Mekong để tự do hóa nhanh hơn

23


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

và xa hơn nữa trong bối cảnh thỏa thuận thương mại khu vực, trong niềm tin tự do hóa


sẽ hỗ trợ phục hồi kinh tế.
Ủng hộ nói chung ( "tối huệ quốc") cắt giảm thuế quan tại các thị trường xuất khẩu của
mình qua ưu đãi (Hệ thống ưu đãi tổng quát - GSP) chương trình vì một số trong những
ưu tiên được rút ra khi một quốc gia trở nên phát triển hơn hoặc sản phẩm được hưởng
ưu đãi có được một phần đủ của thị trường. Quan điểm của chính phủ Thái Lan là sự rút
lui của các sở thích cuối cùng phá vỡ xuất khẩu của Thái Lan.
 Mở ra các lĩnh vực tài chính cho đầu tư nước ngoài.
2.2.1.3.Các công cụ được sử dụng
a. Công cụ tài chính
Thứ nhất, ưu đãi về thuế:
Thái Lan có cơ quan chuyên trách về ưu đãi đầu tư là Cục Đầu tư Thái Lan (BOI)




chuyên xem xét ưu đãi cho từng dự án và phân loại dự án đầu tư theo tác động của dự án



đó đến nền kinh tế cả nước, chứ không phải chỉ một vùng miền nào đó.
Ngoài ưu đãi thuế cho ngành công nghiệp, Thái Lan còn giảm thuế cho những dự án ở
vùng sâu, vùng xa và những dự án trong khu công nghiệp. Theo đó, Bangkok và 6 tỉnh
phụ cận được gọi là Vùng 1, tiếp đến là các tỉnh Vùng 2 và 3 (càng xa Bangkok thì mức
độ ưu đãi càng lớn).
 Thứ hai, ưu đãi về đầu tư:
Nước này đã khá hào phóng cho các dự án đầu tư lớn hay đầu tư vào vùng kinh tế
khó khăn. Tuy nhiên các ưu đãi này tỏ ra kém hiệu quả do nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư
vào các vùng miền có giao thông thuận tiện, trình độ dân trí đủ để cung cấp lực lượng
lao động có tay nghề chứ không phải chỉ đầu tư để hưởng ưu đãi thuế.
b. Công cụ phi tài chính



Yếu tố pháp lý :Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách ưu đãi để cho dòng vốn
này phát huy được lợi thế. Ngay từ giai đoạn 1959-1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến
lược phát triển kinh tế thay thế hàng nhập khẩu. Quốc gia này đã có chủ trương giảm
dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến khích đầu tư tư nhân. Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã
24


Chính sách kinh tế đối ngoại của Thái Lan

GV: ThS Nguyễn Bích Ngọc

thành lập Bộ Đầu tư và đến năm 1960 đã ban hành Luật Đầu tư.Giai đoạn 1972-1996,
Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút các chuyên gia, lao động chất lượng
cao từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển



kinh tế theo hướng xuất khẩu.
Yếu tố cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng ở Thái Lan từ giai đoạn này đã được đánh giá là
phát triển hơn nhiều nước trong khu vực do họ nhận thức được tầm quan trọng của cơ sở
hạ tầng và đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triểncũng như sự quy hoạch để mang tính



thống nhất và đồng bộ.
Yếu tố lao động: Lao động ở Thái Lan qua đào tạo chiếm tỉ lệ khá lớn và trình độ ngoại
ngữ của lao động cũng khá cao. Trong những năm 1990, Thái Lan đã buộc phải thay đổi
chính sách và tăng cường chi cho giáo dục, chỉ sau khi nhận thấy rõ sự thiếu hụt nghiêm
trọng về lao động có tay nghề và điều này giúp Thái Lan tạo bước đột phá sau này khi



tạo được đội ngũ lao động mang tính cạnh tranh cao.
Yếu tố công nghệ : Thái Lan luôn theo đuổi chính sách thu hút FDI để hướng vào xuất
khẩu đồng thời tiếp thunhững thành tựu khoa học của các nước khác đầu tư vào Thái
Lan. Thái Lan cũng đã đạt được nhữngthành tựu trong lĩnh vực công nghệ và được đánh




giá là nước có nền công nghệ khá trong khu vực.
Ngoài ra:
Năm 1959, Ủy ban đầu tư thái lan đã được thành lập để quản lý các chương trình xúc
tiến đầu tư theo luật xúc tiến đầu tư của chính phủ. Năm 1960, luật đầu tư được ban




hành.
Năm 1972, chính phủ thái lan ban hành luật kinh doanh nước ngoài để khuyến khích các
nđt nước ngoài vào nước này đầu tư vào ngành công nghiệp xuất khẩu. Luật kinh doanh
nước ngoài cho phép người nước ngoài được tự do kinh doanh buôn bán các lĩnh vực,



ngành nghề không nằm trong 68 danh mục bị hạn chế và cấm đầu tư.
Để tiếp tục khuyến khích “trải thảm đỏ” cho các nđt nước ngoài đến thái lan đầu tư, làm
ăn, năm 1992, chính phủ thái lan đã ban hành luật khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên trong
thực tế triển khai luật này đã nảy sinh một số hạn chế bất cập đối với nđt nước ngoài
nhất là về chính sách thu hút vốn fdi vẫn còn “bó”.
25


×