BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRẦN THU HUYỀN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐIỆN NƯỚC LẮP MÁY HẢI PHÒNG NĂM 2015
HẢI PHÒNG - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRẦN THU HUYỀN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐIỆN NƯỚC LẮP MÁY HẢI PHÒNG NĂM 2015
NGÀNH: Quản trị kinh doanh
MÃ SỐ: D340101
CHUYÊN NGÀNH: Tài chính kế toán
MÃ SỐ: D404
Người hướng dẫn: Vũ Lê Ninh
HẢI PHÒNG - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc
đến Thầy Vũ Lê Ninh đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm luận văn
tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Bộ môn Tài chính- Ngân
hàng, Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức trong
những năm em học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học
không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời một cách tự tin.
Trong quá trình làm mặc dù đã cố gắng nhiều nhưng vì trình độ và thời
gian có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong Bộ môn về luận văn tốt nghiệp này để
nó được hoàn thiện hơn.
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Công ty Cổ phần điện nước lắp máy
Hải Phòng đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Công ty.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công ty
Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều
thành công trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Thu Huyền
4
LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của em. Những kết quả và các số
liệu trong luận văn tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty Cổ phần điện nước lắp
máy Hải Phòng, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác. Em hoàn toàn chịu
trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Hải Phòng, ngày
tháng
Tác giả
(ký tên)
5
năm 2016.
MỤC LỤC
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CP
Cổ phần
TSDH
Tài sản dài hạn
TSNH
Tài sản ngắn hạn
TSCĐ
Tài sản cố định
ROS
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu
ROA
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản
ROE
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TP
Thành phố
MTV
Một thành viên
BQL
Ban quản lý
KT
Kỹ thuật
GTGT
Giá trị gia tăng
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
NN
Nhà nước
TMCP
Thương mại cổ phần
KD
Kinh doanh
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
Tên bảng
Đánh giá chung kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng
Phân tích tình hình tài sản của công ty Cổ phần điện
nước lắp máy Hải Phòng 2014- 2015
Phân tích tình hình nguồn vốn tại công ty Cổ phần điện
nước lắp máy Hải Phòng năm 2014- 2015
Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ
phần điện nước lắp máy Hải Phòng
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của công ty Cổ phần
điện nước lắp máy Hải Phòng
Phân tích các khoản phải thu của công ty Cổ phần điện
nước lắp máy Hải Phòng năm 2014- 2015
Phân tích các khoản phải trả tại công ty Cổ phần điện
nước lắp máy Hải Phòng năm 2014- 2015
Phân tích khả năng thanh toán của công ty Cổ phần điện
nước lắp máy Hải Phòng
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu tỷ suất tài chính của
công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng
Trang
28
34
39
44
48
52
55
59
62
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
8
Trang
2.1
Cơ cấu tổ chức công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải
Phòng
9
23
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài:
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể
các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính
của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong
tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải, qua đó đề
ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.
Để doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, đạt được các mục tiêu
chiến lược đã đề ra, các nhà quản trị phải tiến hành phân tích tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính giúp cho nhà
quản trị có cái nhìn rõ nét nhất về thực trạng tài chính hiện tại của doanh nghiệp,
xác định được nguyên nhân cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến
tình hình tài chính. Trên cơ sở đó, các nhà quản trị đề xuất các biện pháp hữu
hiệu và đưa ra quyết định cần thiết để đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt nhất.
Xuất phát từ thực tiễn như vậy, là một sinh viên học ngành tài chính kế
toán, kết hợp lý luận đã nghiên cứu về tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần
điện nước lắp máy Hải Phòng, em chọn viết về đề tài “Phân tích tình hình tài
chính của Công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2.
Mục tiêu nghiên cứu:
-Nắm vững những lí luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp.
-Phân tích thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần điện nước lắp máy
Hải Phòng.
-Đề xuất một số biện pháp hoàn thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ
phần điện nước lắp máy Hải Phòng.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
10
10
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Công ty Cổ phần điện nước lắp
máy Hải Phòng tại địa chỉ số 34 đường Thiên Lôi, quận Lê Chân, thành phố Hải
Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về cơ sở lí luận và thực
trạng tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng.
4.
Nội dung nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của phân tích tình hình tài chính tại doanh
nghiệp.
Chương II: Phân tích tình hình tài chính của công ty Cổ phần điện nước
lắp máy Hải Phòng.
Chương III: Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của
công ty Cổ phần điện nước lắp máy Hải Phòng.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP
11
11
1.1.
Vấn đề cơ bản của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích hoạt động kinh tế là việc chia các hiện tượng, các quá trình và
các kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các
phương pháp phân tích ta liên hệ, so sánh, đối chiếu, tổng hợp nhằm rút ra tính
quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và
các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản
lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
1.2.1.
Ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Thông qua phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc
trưng, các thông tin về mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách
Nhà nước, với thị trường và với nội bộ doanh nghiệp, phân tích tài chính cho
thấy những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nhờ đó, những người quan tâm đến hoạt động của công ty sẽ có
các biện pháp và quyết định phù hợp.
Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra phân
tích một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh,
tình hình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Những người quản lý tài
chính khi phân tích tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức rủi ro và tác động
của nó tới doanh nghiệp mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán, khả năng
cân đối vốn, khả năng hoạt động và khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ
sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán
về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp
trong tương lai. Ngoài ra, phân tích tài chính còn cung cấp những thông tin số
liệu để kiểm tra giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành
các chính sách chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
12
12
Trước đây, việc phân tích tài chính chỉ để phục vụ cho nhu cầu của các
nhà đầu tư và các ngân hàng. Hiện nay việc phân tích tài chính được rất nhiều
đối tượng quan tâm. Tùy theo mục đích khác nhau của người sử dụng mà phân
tích tài chính sẽ có những vai trò khác nhau:
Đối với những người quản lý doanh nghiệp:
Hoạt động phân tích tài chính của những người quản lý doanh nghiệp
được gọi là phân tích tài chính nội bộ. Phân tích tài chính có ý nghĩa để dự báo
tài chính và là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra quyết định phù hợp không chỉ
trong vấn đề tài chính mà còn nhiều vấn đề khác. Phân tích tài chính nội bộ thực
sự cần thiết để xác định giá trị kinh tế, các mặt mạnh, yếu và đưa ra những quyết
định đúng đắn cho sự phát triển của một doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan:
Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích đánh giá,
kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động tài chính tiền tệ của doanh
nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không, có tuân theo pháp
luật hay không đồng thời sự giám sát này giúp cơ quan thẩm quyền có thể hoạch
định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh một cách có hiệu quả.
Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm trực tiếp đến các
giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể
phải chịu rủi ro. Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận mà doanh
nghiệp đạt được theo tính toán trên sổ sách. Thông qua sự phân tích dựa trên các
báo cáo tài chính, phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và sự phân tích diễn
biến giá cả, các nhà đầu tư sẽ đưa ra các quyết định của chính mình.
Đối với ngân hàng, các nhà cho vay tín dụng, các đối tác kinh doanh và
các tổ chức khác:
13
13
Những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ, khả
năng hợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánh
giá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với các chủ
nợ, họ quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Song quan
trọng nhất đó là cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp
đi vay.
Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Những người hưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tình
hình tài chính, bởi lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Những người đi làm việc đều có nguyện vọng được vào làm việc trong
các công ty có triển vọng với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương xứng
đáng và chỗ làm việc ổn định.
Phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính. Ngoài ra phân tích tài
chính được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: đưa ra quyết định phục vụ
nghiên cứu hay để kiểm tra giám sát chặt chẽ hơn. Hiện nay với sự phát triển lớn
mạnh của doanh nghiệp cùng quá trình cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến
lược kinh doanh cụ thể hợp lý và chính xác. Phân tích tài chính sẽ có tác dụng to
lớn trong việc thực hiện điều đó.
1.2. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Phân tích các báo cáo tài chính
Mục đích của việc lập báo cáo tài chính
Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình
hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của
doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai.
Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc đề ra quyết định
về quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh
nghiệp của chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại,
-
tương lai của doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính.
14
14
-
1.2.1.1.
Hệ thống báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm:
Bảng cân đối kế toán:
mẫu số B01-DN
Kết quả hoạt động kinh doanh:
mẫu số B01-DN
Lưu chuyển tiền tệ:
mẫu số 03-DN
Thuyết minh báo cáo tài chính:
mẫu số 09-DN
Phân tích bảng cân đối kế toán
Khái niệm bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định (cuối ngày, cuối quý, cuối năm).
Cơ cấu của bảng cân đối kế toán
Tài sản
Mã số
Thuyết minh
Số cuối năm
Số đầu năm
Phần tài sản: gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ trị giá tài sản hiện có tại
một thời điểm. Trị giá tài sản hiện có của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và các loại tài sản đi thuê được sử dụng
lâu dài, trị giá các khoản nhận ký quỹ, ký cược…
Căn cứ vào tính chu chuyển của tài sản, Bảng cân đối kế toán chia thành
hai loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Phần nguồn vốn: gồm các chỉ tiêu phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện
có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Nguồn vốn cũng được chia thành
2 loại nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
Cơ sở để lập bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và chi tiết, căn cứ vào số dư các tài khoản
phản ánh vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán kỳ trước
Phương pháp lập bảng cân đối kế toán
Sử dụng mẫu biểu theo quy định của bộ tài chính
Số đầu năm lấy từ số cuối kỳ báo cáo năm trước
15
15
Số cuối kì phần tài sản lấy số dư Nợ cuối kỳ các tài khoản tương ứng. Một
số khoản mục nằm trong phần tài sản nhưng quy luật vận động của chúng có thể
không hoàn toàn giống với các tài khoản khác. Điều đó gây ra hiện tượng số dư
tài khoản phản ánh khoản mục tài sản đó có thể nằm bên Có, trái ngược với các
tài khoản tài sản khác. Với những khoản mục đó (trên tài khoản có số dư có) ta
phải đưa vào bảng cân đối dưới hình thức dấu âm mà thông thường được viết
trong ngoặc đơn. Những khoản mục này bao gồm: hao mòn tài sản cố định, các
khoản trích lập dự phòng.
Số cuối kỳ phần nguồn vốn lấy số dư Có cuối kỳ các tài khoản tương ứng.
Đối với các khoản nguồn vốn vận động trái quy luật, khi thì có số dư Có, khi thì
có số dư Nợ trên tài khoản phản ánh chúng. Khi một tài khoản nào đó có số dư
Nợ thì giá trị đó đưa vào bảng cân đối kế toán dưới dạng số âm và được ghi
trong ngoặc đơn. Những khoản này thường là: lợi nhuận chưa chia, chênh lệch
đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.
Phân tích cơ cấu của tài sản và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản:
Phân tích cơ cấu tài sản là việc so sánh tổng hợp số vốn cuối kỳ với đầu
năm, ngoài ra ta còn phải xem xét từng khoản vốn của doanh nghiệp chiếm
trong tổng số để thấy được mức độ đảm bảo của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu tài sản bằng cách lập bảng phân tích tình hình phân bổ
vốn, trong đó lấy từng khoản vốn chia cho tổng số tài sản để biết được tỷ trọng
của từng loại vốn chiếm trong tổng số vốn là cao hay thấp. Tùy theo từng loại
hình kinh doanh để chúng ta xem xét. Nếu là doanh nghiệp sản xuất phải có
lượng dự trữ về nguyên liệu đầy đủ để đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nếu là
doanh nghiệp thương mại thì phải có lượng hàng đầy đủ cung cấp cho nhu cầu
tiêu thụ kỳ tới…
Phân tích cơ cấu nguồn vốn
16
16
Ngoài việc phân tích tình hình phân bổ vốn, các chủ doanh nghiệp, kế
toán trưởng và các nhà đầu tư, các đối tượng quan tâm khác cần phân tích cơ cấu
nguồn vốn nhằm đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh
nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó
khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn và từng loại nguồn
vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ. Đối chiếu giữa cuối kỳ và đầu kỳ của từng loại
nguồn vốn, qua đó đánh giá xu hướng thay đổi của nguồn vốn.
1.2.1.2.
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh, trước hết tiến hành đánh giá chung
báo cáo kết quả kinh doanh, sau đó đi sâu xem xét chỉ tiêu lợi nhuận gộp về bán
hàng và cung cấp dịch vụ.
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tổng hợp, phản ánh tình hình và
kết cấu hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời cũng như tình hình thực hiện
trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước.
Kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phần này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau
một kỳ hoạt động ( lãi hay lỗ), các chỉ tiêu này liên quan đến doanh thu, chi phí
của hoạt động kinh doanh thông thường và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập,
chi phí của hoạt động tài chính và các nghiệp vụ bất thường. Xác định kết quả
kinh doanh của từng hoạt động cũng như toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Tất cả các chỉ tiêu được trình bày theo mẫu sau:
Chỉ tiêu
Mã số
Thuyết minh
Năm nay
Năm trước
Cơ sở số liệu để lập
Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh kỳ trước
Căn cứ vào sổ kế toán: số phát sinh tài khoản từ 5 đến 9
17
17
Phương pháp lập
Các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được
lập theo mẫu quy định thống nhất của Bộ tài chính.
1.2.1.3.
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Bản chất và ý nghĩa
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc
hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người sử dụng có thể đánh giá được khả
năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh
toán của doanh nghiệp và dự đoán lượng tiền tiếp theo.
Kết cấu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần phản ánh dòng tiền vào của doanh
nghiệp và từ doanh nghiệp ra thêm 3 hoạt động chủ yếu:
Hoạt động kinh doanh: là hoạt động chủ yếu gắn với chức năng của doanh
nghiệp bao gồm các dòng thu và chi liên quan đến hoạt động kinh doanh trong
kỳ hạch toán của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư: bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc mua sắm và
bán tài sản cố định dài hạn.
Hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động liên quan đến vốn chủ sở hữu
(vốn- quỹ) ở doanh nghiệp.
Cơ sở dữ liệu để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảng cân đôi kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Các tài liệu khác có liên quan đến tiền ở doanh nghiệp như: sổ theo dõi
thu, chi tiền.
Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
18
18
Phương pháp trực tiếp: nhằm xác định trực tiếp dòng thu, chi một cách
riêng biệt từ dòng tiền phát sinh của hoạt động sản xuất kinh doanh, sau đó lấy
tổng dòng thu trừ đi tổng dòng chi ta được dòng tiền thuần
Phương pháp gián tiếp: không cung cấp thông tin trực tiếp của từng dòng
tiền riêng biệt của hoạt động kinh doanh, mà bắt đầu từ thu nhập thuần rồi điều
chỉnh các khoản thực chi hoặc thực thu để xác định dòng tiền lưu chuyển từ hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Hai phương pháp trên được lập chỉ khác nhau ở hoạt động sản xuất kinh
doanh còn hoạt động đầu tư và tài chính thì giống nhau.
Thuyết minh báo cáo tài chính
Bản chất và ý nghĩa: Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp
thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ
sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính
của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể
trình bày rõ ràng và chi tiết được.
1.2.2. Phân tích chỉ tiêu tài chính đặc trưng
Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu thường được phân
thành 4 nhóm chính:
•
Tỷ số về khả năng thanh toán: đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá
khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
•
Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu tài chính: nhóm chỉ tiêu này phản
ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của
doanh nghiệp.
•
Tỷ số về khả năng hoạt động: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng
tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp.
•
Tỷ số về khả năng sinh lợi: nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất- kinh
doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp.
19
19
1.2.2.1.
Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng= Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản lưu động được tài trợ từ nguồn vốn cơ
bản, lâu dài mà không đòi hỏi phải chi trả trong thời gian ngắn, vốn lưu động
ròng càng lớn phản ánh khả năng chi trả đối với nợ ngắn hạn càng cao khi đến
hạn trả. Đây cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá điều
kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp. Do vậy, sự phát triển của không
ít doanh nghiệp còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng.
Tỷ số thanh toán hiện hành
“Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn
dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và dự trữ; còn nợ ngắn hạn thường bao
gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác… Cả
tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định- tới một năm. Tỷ số
khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của
doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được
trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương
đương với thời hạn của các khoản nợ đó.”(Giáo trình Tài chính doanh nghiệp,
TS. Lưu Thị Hương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010, trang 33)
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:
“Là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay
vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao
gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ (tồn kho)
là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ
nhất nếu được bán. Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng
hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn
20
20
kho) và được xác định bằng cách lấy tài sản lưu động trừ phần dự trữ (tồn kho)
chia cho nợ ngắn hạn.”(Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, TS. Lưu Thị Hương,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010, trang 35)
Tài sản lưu động – Dự trữ
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh =
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Tiền
Nợ ngắn hạn
Ngoài hệ số khả năng thanh toán nhanh, để đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán tức thời =
một cách khắt khe hơn nữa, ta sử dụng hệ số khả năng thanh toán tức thời. Hệ số
này cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh
toán cho một đồng nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợi
nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng. So
sánh giữa nguồn để trả lãi vay và lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta thấy doanh
nghiệp đã sẵn sàng trả tiền đi vay đến mức độ nào. Hệ số này được xác định như
sau:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này cho biết số vốn mà doanh nghiệp đi vay được sử dụng như thế
Hệ số thanh toán lãi vay =
nào, đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu và có đủ bù đắp tiền lãi vay hay
không.
1.2.2.2.
Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được
đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng
21
21
vẫn đạt được doanh số cao. Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công
thức:
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay hàng tồn kho =
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho
(Quy ước: 1năm= 360 ngày, 1 quý= 90 ngày)
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển
hàng tồn kho càng nhanh, hàng tồn kho tham gia vào luân chuyển được nhiều
vòng hơn và ngược lại. Sự luân chuyển hàng tồn kho càng nhanh thì sẽ giúp
doanh nghiệp có thể giảm bớt được vốn dự trữ nhưng vẫn đảm bảo vốn cho nhu
cầu sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tốt hơn và ngược lại.
Vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc
thanh toán các khoản phải thu… Khi khách hàng thanh toán tất cả các khoản hóa
đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng.
Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt,
vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu (không phải
cấp tín dụng cho khách).
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền trng bình phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi được các
khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung
bình càng nhỏ và ngược lại.
360 ngày
Số vòng quay khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
22
22
Số vòng quay các khoản phải thu càng lớn và kỳ thu tiền bình quân càng
nhỏ thể hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ
nhanh, hạn chế bớt vốn bị chiếm dụng để đưa vào hoạt động sản xuất kinh
doanh và doanh nghiệp được thuận lợi hơn về nguồn tiền trong thanh toán và
ngược lại.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Doanh thu thuần
Vốn cố đinh bình quân
Hiệu suất càng cao thì doanh nghiệp sử dụng vốn cố định càng hiệu quả,
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
ngược lại hiệu suất càng thấp thì doanh nghiệp sử dụng vốn cố định không hiệu
quả.
Vòng quay tổng vốn
Vòng quay toàn bộ vốn phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ
quay được bao nhiêu vòng.
Doanh thu thuần
Vốn sản xuất bình quân
Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của
Vòng quay tổng vốn =
doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh
nghiệp đã đầu tư. Vòng quay càng lớn hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
1.2.2.3.
Phân tích nhóm hệ số phản ánh cơ cấu tài chính
Hệ số nợ
Hệ số nợ phản ánh một đồng vốn hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có
mấy đồng vốn đi vay, hay chính là phản ánh mức độ phụ thuộc tài chính của
doanh nghiệp.
Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ =
23
23
Các chủ nợ rất ưa thích hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp thì món nợ
của họ càng được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp bị phá
sản. Khi hệ số nợ cao có nghĩa là chủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một phần vốn
nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do chủ nợ gánh chịu.
Và như vậy, chứng tỏ khả năng độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp là
kém.
Hệ số tự tài trợ
Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vốn chủ sở hữu vào tài sản dài hạn là
bao nhiêu. Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản dài hạn chủ yếu
được đầu tư bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tuy nghiên chỉ tiêu này quá
cao cũng là không tốt vì khi đó, do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử
dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi nên hiệu quả kinh doanh không cao.
Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư =
TSDH
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư phản ánh tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm trong tổng số
tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp. Tỷ suất này cao hay thấp
là phụ thuộc chủ yếu vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn
với ngành công nghiệp thăm dò và khai thác dầu khí hay ngành luyện kim thì tỷ
suất này tương đối lớn trong khi đó, ở ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tỷ
suất này thấp hơn rất nhiều.
1.2.2.4.
Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu (ROS)
ROS =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
24
× 100 (%)
24
Tỷ suất này thể hiện trong một trăm đồng doanh thu mà doanh nghiệp thu
được trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này nói chung càng cao
càng tốt. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh cụ thể của
doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA)
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
× 100 (%)
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lợi trên
mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Sức sinh lời của tổng tài sản càng lớn thì
hiệu quả sử dụng tài sản càng cao và ngược lại
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các chủ nhân
của doanh nghiệp đó. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu
để đánh giá mục tiêu đó và cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào kinh
doanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận sau thuế.
ROE =
1.3.
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
× 100 (%)
Phương pháp phân tích tài chính
1.3.1. Phương pháp truyền thống
“Được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số.
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân
tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Đây
là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được
bổ sung và hoàn thiện. Bởi lẽ, thứ nhất: nguồn thông tin kế toán và tài chính
được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành những tỷ
lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một
nhóm doanh nghiệp; thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy
dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; thứ ba, phương
25
25