Đường Hồ Chí Minh trên biển
mãi mãi là niềm tự hào
CHỦ TỊCH NƯỚC
TRƯƠNG TẤN SANG
N
hững con tàu thô sơ, nhỏ bé, chở nặng
vũ khí đã bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng
tạo, dũng cảm vượt qua mọi sóng to, gió
lớn, bão táp của biển cả, vượt qua sự ngăn chặn,
bao vây, lùng sục của lực lượng hải quân, không
quân hùng hậu với hệ thống quan sát, cảnh giới
từ xa và vũ khí hiện đại của Mỹ, ngụy để đi
đến các chiến trường. Mỗi chuyến đi là mỗi lần
quyết tử, một cuộc đấu trí căng thẳng, vừa bình
tónh mưu trí, quả cảm đánh lừa đòch để đến đích
an toàn, vừa sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy
sinh, nhiều khi phải phá hủy cả con tàu để bảo vệ
bí mật đường vận chuyển. Đòch ngăn chặn tuyến
này, bến này, ta mở ra tuyến khác, bến khác. Đòch
phát hiện ra cách thức vận chuyển này, ta tìm ra
phương thức vận chuyển khác. Hàng trăm lượt
tầu đã ra khơi, về đích; hàng ngàn tấn vũ khí, khí
tài, hàng hóa, thuốc chữa bệnh, hàng chục ngàn
cán bộ chiến sỹ đã từ hậu phương lớn được đưa
vào tiền tuyến lớn, đáp ứng kòp thời cho các chiến
trường Nam bộ, Nam Trung bộ, Khu 5, góp phần
cùng quân và dân ta đánh thắng mọi chiến lược
chiến tranh của kẻ đòch, đưa cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước vó đại của nhân dân ta đến
thắng lợi hoàn toàn.
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng Đường Hồ Chí
Minh trên biển mãi mãi là niềm tự hào của quân
đội ta, nhân dân ta, là biểu tượng sáng ngời của
chủ nghóa anh hùng cách mạng, của trí thông
minh, lòng dũng cảm, ý chí sắt đá, quyết tâm
giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước của
dân tộc ta.
Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện quyết
tâm, ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do",
khát vọng cháy bỏng dù có phải đốt cháy dãy
Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập,
tự do, thống nhất của dân tộc ta, không một khó
khăn, trở ngại nào, không một kẻ thù nào có thể
ngăn cản được. Đó cũng là biểu hiện sáng ngời
của chủ nghóa anh hùng cách mạng của nhân dân
ta, đặc biệt là của cán bộ, chiến sỹ Đoàn 759, Đoàn
125, Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng, ròng
rã 14 năm đã bền bỉ, mưu trí dũng cảm, sẵn sàng
hi sinh vì nghóa lớn. Trong đó, nhiều đồng chí
cùng với con tầu đã mãi mãi ở lại với biển cả, với
non sông đất nước, tô thắm thêm truyền thống vẻ
vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặt vòng hoa và thắp hương
tưởng niệm tại Tượng đài K15 ở Đồ Sơn, nơi con tàu đầu tiên
của đồn tàu khơng số xuất hành chở vũ khí vào chiến trường
miền Nam
Tổ quốc mãi mãi ghi công, đời đời ghi nhớ những
hy sinh cao cả của các đồng chí và biết bao đồng
bào, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự
do, thống nhất đất nước.
Đường Hồ Chí Minh trên biển còn là biểu
tượng cao đẹp của tình đoàn kết quân - dân thắm
thiết, sự phối hợp chặt chẽ, nhòp nhàng giữa những
con tàu không số với nhân dân những vùng bến,
bãi nơi có con tàu đến. Sự chở che, chăm sóc nuôi
dưỡng với tình cảm yêu thương sâu sắc của nhân
dân các đòa phương với cán bộ, chiến sỹ tàu không
số, tiếp thêm nghò lực, sức mạnh cho các chiến só
trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt…
Kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí
Minh trên biển, tự hào về những chiến công oanh
liệt, truyền thống vẻ vang của nhân dân ta, quân
đội ta, chúng ta quyết gìn giữ và phát huy mạnh
mẽ truyền thống đó trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Hào khí
của dân tộc, vận hội mới của đất nước thôi thúc
chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức,
nỗ lực phấn đấu, xây dựng thành công nước Việt
Nam xã hội chủ nghóa dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với những
công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy
sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang
sử vàng vẻ vang, hào hùng của dân tộc.
(Trích diễn văn tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày mở Đường Hồ
Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2011) do BCH Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tòch Nước, Chính phủ,
Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức).
VN HIẽậN
Trong sửở naõy
VIẽT NAM
Tp chớ xut bn 02 k/thỏng
K chớnh ra ngy 25 hng thỏng
K chuyờn Vn húa - Kinh t ra ngy 15
Giy phộp hot ng bỏo chớ s 397/GP-BVHTT;
s 41/GP-SBS
THNG 10 - 2011
To son - Tr s
52 Hng Viờn - qun Hai B Trng - H Ni
T&Fax: 04.39764693
Website: vanhien.vn
Email:
Vn phũng Ban chuyờn
S 6 - lụ 12 B Trung Yờn - Trung Hũa - H Ni
T/Fax: 04.37831962
C quan i din ti TP.HCM
288B, An Dng Vng, Qun 5, TP.HCM
T: 08.8353878
C quan i din ti min Trung v Tõy Nguyờn
Tng 5 Khỏch sn Eiffel, 117 Lờ , Nng
T: 0511. 647529
Fax: 0511. 811972
Ch nhim
GS Hong Chng
Tng biờn tp
TS Phm Vit Long
Phú Tng Biờn tp Thng trc
NB Nguyn Th Khoa
Phú Tng Biờn tp
TS Nguyn Minh San
NB Trn c Trung
Trng ban Tr s
NB Nguyn Hong Mai
Giỏm c c quan i din ti TP.HCM
NB Vừ Thnh Tõn
Th ký tũa son
NB T My Sn
NB Thu Hin
Hi ng Biờn tp
Thng tng Nguyn Nam Khỏnh, GS V Khiờu,
GS.NSND Trn Bng, GSTS Trn Vn Khờ,
GS Trng Lu, GSVS H S Vnh, NB Phm c
Lng, GSTS Thỏi Kim Lan, NSND. TS Phm Th
Thnh, NSND ng Nht Minh, TS on Th Tỡnh,
GSTS Nguyn Thuyt Phong, NVK Nguyn Th K
Trỡnh by
T My Sn
Bỡa 1:
Ch tch Quc hi Nguyn Sinh Hựng thm hi
ng bo dõn tc Jrai xó Ia Phớ, Ch Ph, Gia Lai
nh: Nhan Sỏng - TTXVN
nh: TTXVN
Ti tr phỏt hnh
Doanh nghip sỏch Thnh Ngha
TP. H Chớ Minh
In ti
Cụng ty C phn in Sao Vit, H Ni
Giỏ: 22.000
4. Ch tch Quc hi vi ng bo
Tõy Nguyờn
38. Trin vng Ca trự Din Chõu
Lấ B LIU
PHNG ANH
6. Chng trỡnh ngh thut vỡ cuc sng
40. Nh vit kch ca nhng tỡm tũi v
cỏch tõn tỏo bo
NGC ANH
10. Th Vit v nhõn cỏch Vit
NGUYN VN THNH
42. Hóy c v nh khụng bit v thỡ ó sao
NGUYN KHOA IM
12. Cng ch
Lấ I CHC
48.Trỏi tim n b khúc
V QUN PHNG
14. Kch núi Vit Nam n hin i t
truyn thng
NGUYN èNH NGHI
18. Bớ n mt nh vn H Ni
TN LINH
20. Nụng Quc Chn - gúp cho tri xanh
mt tm lũng
Y PHNG
22. Vn nh ta im lng quỏ
THANH THO
26. La Hi - Th L: cuc hnh ng trong
Xuõn v Tui tr
NHT NH
28. Mựa thu hng cm
NH NGUYN
30. cú mt i sng õm nhc tht s
hi hũa cõn xng
Lấ TH BCH HNG
52. Bn hựng ca ho hựng ca dõn tc
Lấ TN MINH
54. Nhng ngi v ca cỏc chin s on
tu khụng s
Lấ TN MINH
56. Cu chin binh on tu khụng s v
thiờn ng trờn bin
TRNG HONG
60. c sc ỏm ci ngi P Thn H
Giang
NGUYN C TH
62. Hiu qu t hi thi Tỡm hiu Lut An
ton giao thụng cho hc sinh
Lấ B LIU
64. i hi Sõn khu Th gii ITI ln th 33
Nõng cao nng lc ngh thut trỡnh din
NGUYN TH KHOA
Lấ TIN TH
ễNG NGN
66. Bc u bi tinh cho ngi ph n ca
chin tranh v hũa bỡnh
34. ng Bỡnh Thỳc Gi Th gia lũng H Ni
HOI HNG
33. Con cc õy ri
NGC ANH
37. Nh xoan
C
69. Ngi M cng thớch nghe hỏt Xm
MAI TUYT HOA
Contents
NOVEMBER - 2011
4. Chairman of the National Assembly with
fellow-citizens in Tay Nguyen
PHUONG ANH
LE BA LIEU
NGOC ANH
40.The stage player with reseaching and
renovating
6. The art program about life
10.Vietnamese
personality
poetry
and
38.Ca Trù Dien Chau performance with
prospects
Vietnamese
NGUYEN VAN THANH
42. Let ‘s paint like we do not paint!
NGUYEN KHOA DIEM
LE DAI CHUC
VU QUAN PHUONG
46. The unaffected looking at bright side and
dark side of traffic culture in the life
48. Crying woman ‘s heart
12. Coercion
14. Vietnamese play from tradition to modern
NGUYEN DINH NGHI
18. Secret of a Hanoi writer
LE THI BICH HONG
52. A magnanimous song of my country
TAN LINH
LE TAN MINH
20. Nong Quoc Chan contributes a heart to the
sky
56.The war veteran of none number train and
paradise at sea
Y PHUONG
TRUONG HOANG
THANH THAO
60. The special wedding of Pa Then people in
Ha Giang
22. My garden ‘s very silent
26. La Hoi - The Lu: A lucky encounter in “Spring
and The Young”
NGUYEN DAC THU
NHAT ANH
62. Effect of Festival of competition to study
about secure traffic law for pupils
28. The perfume of grilled rice in the autumn
NHU NGUYEN
LE BA LIEU
30.To have a music life: harmonious and
proportionate
64. Festival of World Stage ITI in the 33rd time:
To raise ability to playing art
NGUYEN THE KHOA
LE TIEN THO
DONG NGAN
66. Legion of Honor Medal for women of war
and peace
33. Here ‘s cormorant
34. Ung Binh Thuc Gia Thi in the middle of Hanoi
HOAI HUONG
NGOC ANH
69. Americian love listening to songs of a
trolling musician
Mai Tuyet Hoa
37. Miss bead-tree
DO DUC
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
Chủ tòch Quốc hội
với đồng bào
Tây Nguyên
PHƯƠNG ANH
Trung tuần tháng 10 vừa qua, Chủ tòch Quốc
hội Nguyễn Sinh Hùng đã thăm, kiểm tra tình hình
thực hiện chính sách dân tộc, chính sách xóa đói
giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng
thời tiếp xúc cử tri đồng bào dân tộc tại hai tỉnh
Đăk Lăk và Gia Lai. Chuyến công tác của Chủ tòch
Nguyễn Sinh Hùng đã để lại ấn tượng khó quên về
sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước với đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm và làm việc tại tỉnh Gia Lai
T
ại Đăk Lăk, Chủ tòch Quốc hội đã đến thăm
buôn Đung, xã Ea Khal, huyện Ea H’Leo,
nơi chủ yếu là đồng bào dân tộc Ê Đê sinh
sống. Liên tục nhiều năm gần đây, bà con buôn
Đung đã đoàn kết cùng nhau xây dựng cuộc sống,
mở rộng diện tích trồng cà phê, cao su nên cuộc
sống ngày càng ổn đònh và phát triển. Đường làng
ngõ xóm được trải nhựa, bê tông hóa hoàn toàn.
Tại nhà sinh hoạt cộng đồng buôn Đung, Chủ tòch
Nguyễn Sinh Hùng đã gặp gỡ, nói chuyện thân
mật với bà con, thăm hỏi ân cần về sản xuất và đời
sống. Từ thực tế ở buôn Đung, xã Ea Khal, Chủ
tòch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghò chính
quyền huyện EaH’leo và tỉnh Đắk Lắk rút kinh
nghiệm để nhân ra diện rộng. Trước mắt, phải
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm già làng Y Tơm Êban
ở bn Đung A
4 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
có kế hoạch cụ thể để khai thác tốt các mục tiêu,
chương trình, dự án trên đòa bàn đã có. Chủ tòch
căn dặn bà con phát huy tinh thần đoàn kết, giúp
đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ và quan tâm, động viên
con cháu cố gắng học tập để có tri thức xây dựng
cuộc sống, quê hương ngày càng ấm no, hạnh
phúc. Nhân dòp này, Chủ tòch Quốc hội Nguyễn
Sinh Hùng đã tặng ảnh Bác Hồ cho UBND xã Ea
Khal, tặng 2 chiếc tivi cho 2 buôn Đung A, Đung
B và quà cho 9 gia đình chính sách; tặng quà gia
đình già làng Y Tơm Êban ở buôn Đung A.
Tại Gia Lai, Chủ tòch Quốc hội đã thăm hỏi,
tặng quà các gia đình chính sách, hộ nghèo dân
tộc Bahnar tại xã Adơk, huyện Đăk Đoa, tiếp xúc
cử tri đồng bào dân tộc Jrai tại xã Ia Phí, huyện
Chư Păh (Gia Lai). Chủ tòch Quốc hội đã tới thăm
nơi ăn, ở của bà con, động viên đồng bào tích cực
học văn hoá, học nghề để có nhiều sự lựa chọn
nghề nghiệp, mở rộng sản xuất. Hài lòng vì bà con
Jrai xã Ia Phí đoàn kết xây dựng đời sống mới, chất
lượng cuộc sống được cải thiện, Chủ tòch Quốc hội
cho rằng, mặc dù đã có những kết quả ban đầu
nhưng Ia Phí vẫn còn nhiều hộ nghèo, trình độ
văn hoá còn thấp so với mặt bằng chung. Chủ tòch
Quốc hội đề nghò chính quyền đòa phương huyện
Chư Păh, các doanh nghiệp có sử dụng lao động
trên đòa bàn quan tâm nhiều hơn nữa đến việc đầu
tư mở trường, lớp cho nhân dân, người lao động
nâng cao trình độ, cải tiến năng suất, chất lượng
sản phẩm.
Làm việc với lãnh đạo chủ chốt hai tỉnh Đăk
Lăk và Gia Lai, Chủ tòch Quốc hội Nguyễn Sinh
Hùng nêu rõ, để phát triển, Tây Nguyên cần khai
thác tiềm năng, thế mạnh của vùng, đặc biệt là
nguồn lao động trẻ, dồi dào. Muốn làm được điều
này, biện pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường
đầu tư cho giáo dục, đào tạo tay nghề, văn hoá,
nâng cao dân trí để cải thiện chất lượng lao động.
Chủ tòch Quốc hội đánh giá cao nỗ lực của cấp
uỷ, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên nói chung
đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội cao,
xoá đói giảm nghèo có hiệu quả và giữ vững an
ninh quốc phòng.
Nhấn mạnh đến những khó khăn, trở ngại ảnh
hưởng đến công tác xóa đói giảm nghèo đối với
đồng bào dân tộc thiểu số trên đòa bàn, Chủ tòch
Nguyễn Sinh Hùng cho rằng trình độ học vấn còn
bất cập, công tác đào tạo nghề, nâng cao trình độ
cho đồng bào còn thiếu và yếu là nguyên nhân
chính cản trở việc thực hiện giải pháp thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế-xã hội trên vùng Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào
còn cao, đầu tư cơ sở hạ tầng yếu kém; đời sống
vật chất và tinh thần của đồng bào hạn chế, an
ninh trật tự còn tiềm ẩn phức tạp; tỷ lệ Đảng
viên trong đồng bào dân tộc thiểu số thấp cũng
là những vấn đề cụ thể được Chủ tòch Quốc hội
đề nghò các ban, ngành liên quan và đòa phương
phân tích, làm rõ và xây dựng giải pháp tháo gỡ.
Chủ tòch Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, Tây
Nguyên sẽ là điểm đầu tư hấp dẫn nếu có cơ chế,
chính sách tốt và quy hoạch tốt. Để phát triển
kinh tế – xã hội của vùng Tây Nguyên, lãnh đạo
các đòa phương ở đây cần phân tích, đánh giá sâu
sắc những thuận lợi, khó khăn của đòa phương,
của khu vực; thường xuyên cập nhật tình hình
để tìm ra những giải pháp phù hợp, chủ động đề
xuất với Trung ương các giải pháp chính sách để
phát huy được nội lực, đồng thời khai thác được
ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
và khu vực. Chủ tòch Nguyễn Sinh Hùng ghi nhận
các kiến nghò của tỉnh. Cùng với việc nghiên cứu,
đánh giá việc thực hiện các chính sách dân tộc
hiện hành, có thể Quốc hội sẽ ban hành một Nghò
quyết về chính sách dân tộc để thực hiện tốt hơn,
hiệu quả hơn.
Chủ tòch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tin
rằng, quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Bộ Chính trò,
khẩn trương hoàn thiện các quy hoạch phát triển
kinh tế - văn hóa - xã hội, quy hoạch đất, đẩy
mạnh công tác giáo dục đào tạo, xóa đói giảm
nghèo, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc
vươn lên làm giàu trên chính quê hương mình,
nhất đònh Đăk Lăk, Gia Lai và toàn vùng Tây
Nguyên sẽ trở thành cụm kinh tế phát triển quan
trọng của đất nước.
Chuyến vi hành của Chủ tòch Quốc hội
Nguyễn Sinh Hùng đến với Đăk Lăk, Gia Lai đã
tạo nên sự phấn khởi và niềm tin lớn trong cán
bộ chiến só và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng với thiếu nhi huyện Đắk Đoa, Gia Lai
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng với thanh niên dân tộc Ê Đê, Đăk Lăk
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tặng ảnh Bác Hồ cho xã Ea Khal
VÙN HIÏËN 5
VIÏÅT NAM
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
CHƯƠNG TRÌNH
nghệ thuật
VÌ cuộc sống
NGỌC ANH
Tối 17/10/2011, tại Nhà hát Hồng Hà (Hà Nội) đã diễn ra chương trình nghệ thuật “Văn hóa giao thông”.
Đây là chương trình nghệ thuật thứ 2 nằm trong Dự án “Đưa văn hoá giao thông vào cộng đồng qua các
phương tiện truyền thông đại chúng và các hình thức văn hóa nghệ thuật” do Uỷ ban An toàn Giao thông
Quốc gia (UBATGTQG) và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá Dân tộc phối hợp thực hiện.
Đồng chí Nguyễn Xn Phúc (trái) - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó
Thủ tướng Chính phủ và Giáo sư Hồng Chương - Tổng Giám
đốc Trung tâm NCBT&PHVHDT tại buổi biểu diễn nghệ thuật
Đ
êm diễn nghệ thuật đặc sắc “Văn hóa
giao thông” có sự hiện diện của đồng chí
Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính
trò, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tòch Ủy ban
An toàn Giao thông Quốc gia, đồng chí Phan
Diễn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trò, Thường trực
Ban Bí thư TW Đảng, đồng chí Đinh La Thăng,
Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận
tải, Phó Chủ tòch Ủy ban An toàn Giao thông
Quốc gia, đồng chí Thân Văn Thanh, Chánh Văn
phòng Ủy ban ATGTQG, cùng đông đảo các nhà
khoa học, văn nghệ só và công chúng Thủ đô.
Chưa bao giờ Nhà hát Hồng Hà chật kín như
hôm nay.
6 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Mở đầu chương trình, GS Hoàng Chương, Chủ
nhiệm Dự án văn hoá giao thông đã báo cáo cho
các vò lãnh đạo Uỷ ban An toàn giao thông quốc
gia và khán giả biết trong hai năm qua (2010 - 2011)
Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn
hoá dân tộc VN đã tổ chức các hoạt động hội thảo
về Văn hóa Giao thông tại nhiều tỉnh, thành phố,
các chương trình sáng tác và biểu diễn nghệ thuật
về Văn hóa giao thông nhằm góp phần làm cho
văn hoá giao thông thâm nhập sâu vào đời sống
cộng đồng, tạo nên ý thức tự giác chấp hành pháp
luật về trật tự an toàn giao thông, góp phần tạo
ra nếp sống văn hoá văn minh cao trong tham gia
giao thông của cộng đồng.
Đồng chí Đinh La Thăng (giữa) - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thơng Vận tải và Giáo sư Hồng Chương - Tổng
Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDT tặng hoa cho các nghệ sĩ
Chương trình nghệ thuật tối 17/10/2010 gồm
5 tiết mục ca nhạc và 3 bi hài kòch ngắn về đề tài
văn hóa giao thông. Ca khúc “Nỗi đau vấn nạn
giao thông” của nhạc só Phạm Việt Long do ca
só Hiền Anh thể hiện gây ấn tượng sâu sắc bởi
qua giai điệu da diết, nói lên được nỗi đau của
những người có người thân bò tai nạn giao thông,
kêu gọi mọi người hãy vì sự bình an của cuộc
sống mà tôn trọng luật lệ giao thông. Ca khúc
“Đèn đỏ thì dừng, đèn xanh mới đi” của PGS.TS
Nguyễn Lân Cường do bé Linh Chi (8 tuổi) thể
hiện với giọng hát trong sáng đầy sức cuốn hút
đã gửi gắm tiếng nói của trẻ thơ nhắc nhở một
cách ngộ nghónh người lớn hãy đi đúng luật lệ,
nếu không sẽ không được phiếu bé ngoan. Hai
bài hát xẩm “Văn hóa giao thông là đời” sáng
tác của Nguyễn Thế Kỷ và “Em cười văn hoá
giao thông” của Trần Tấn Ngô do hai nhạc só Mai
Tuyết Hoa và Quang Long thể hiện với những
thanh âm bổng trầm trong tiếng đàn nhò réo rắt
đã tạo được những xúc động đặc biệt đối với
khán giả.
Tiết mục hát Xẩm do nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa và Quang Long thể hiện
Tiểu phẩm “Khúc qn hành ngày ấy”
VÙN HIÏËN 7
VIÏÅT NAM
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
Chùm bi hài kòch gồm 3 vở kòch ngắn “Khúc
quân hành ngày ấy”, “Cái giá phải trả”, “Đồng
lòng mới xong” do các nghệ só Nhà hát Tuổi trẻ
trình diễn dưới sự chỉ đạo của NSND Lê Hùng
là những chuyện đời cười ra nước mắt khi con
người cố tình vi phạm luật lệ giao thông, tự gây
nên những thảm cảnh cho gia đình và bản thân
mình.
Với tiểu phẩm “Khúc quân hành ngày ấy”,
sân khấu mở ra với quang cảnh một buổi sinh
hoạt của tổ hưu trí phường. Các cụ tổ hưu bỗng
xôn xao khi bắt được một cậu “choai choai”
phóng nhanh, vượt ẩu gây ra tai nạn dẫn đến
chết người. Mọi người đã nghó ra nhiều cách để
“phạt” cậu thanh niên. Kòch tính đẩy lên cao trào
khi có người nhận ra cậu chính là con trai của
ông Chủ tòch quận. Vậy là từ thân phận tội phạm,
cậu thanh niên đã được các cụ tổ hưu quan tâm,
thăm hỏi ân cần, chu đáo, vì nếu không trụ sở
của tổ hưu sẽ bò thu hồi. Thái độ bướng bỉnh,
ương ngạnh, không biết ăn năn, hối cải của cậu
thanh niên đó chỉ được thức tỉnh khi cha mẹ cậu
Hài kịch “Cái giá phải trả”
8 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Tốp ca nam nữ “Con đường Việt Nam “
Kịch ngắn“Đồng lòng mới xong”
xuất hiện và cho biết người bò tai nạn chính là em
họ cậu. Một cử chỉ đúng mực của vò quận trưởng
được người xem đồng tình khi ông quyết đònh từ
chức vì không làm tròn trách nhiệm giáo dục con
cái mình. Và luật pháp không dung thứ người có
tội, trong sự ăn năn muộn mằn, cậu thanh niên
nọ đã phải cúi đầu nhận tội trong âm thanh của
bản hùng ca của các cụ tổ hưu. Hài kòch “Cái giá
phải trả” lại là câu chuyện đau lòng xoay quanh
nạn đinh tặc. Trong khi cô con gái trong tà áo dài
duyên dáng đọc lại bài thơ “Tiếng chổi tre” ca ngợi
những người làm đẹp cho đường phố chuẩn bò
cho cuộc thi “Người đẹp giao thông” thì chỉ vì lợi
nhuận trước mắt, ông bố đã thuê người rải đinh
dọc đường cao tốc để “găm” lốp xe của bao người
và nhận dòch vụ sửa xe lưu động với giá “cắt cổ”.
Gieo gió ắt gặt bão, người bố cũng không thể ngờ
nạn nhân của nạn “đinh tặc” do ông và đồng bọn
gây ra lại chính là cô con gái cưng vừa đạt giải
“Người đẹp giao thông” đã bò tai nạn giao thông
do đinh găm vào lốp khi đang đi xe máy về báo
tin vui cùng gia đình. Kòch ngắn “Đồng lòng mới
xong” là câu chuyện về nạn đua xe của lớp trẻ
hiện nay với những hệ lụy khôn lường là bài học
cảnh tỉnh về cách giáo dục con cái trong các gia
đình và xã hội. Sân khấu với những hình ảnh bi
hài bằng thủ pháp kết hợp ước lệ và tả thực cuộc
đua xe rợn người đã gửi thông điệp về an toàn
giao thông - văn hóa giao thông đến với tất cả
mọi người, hi vọng mọi người khi tham gia giao
thông phải có trách nhiệm với bản thân và cộng
đồng, góp phần làm giảm tỉ lệ tai nạn giao thông,
xây dựng nét đẹp của con người tham gia giao
thông và từ đó, cùng các hoạt động khác tạo nên
một xã hội tốt đẹp.
Hiện nay, sự lộn xộn, ùn tắc giao thông tại các
đô thò lớn, tai nạn giao thông có chiều hướng gia
tăng gây thiệt hại to lớn về người và của đã tạo
nên nhiều bức xúc, phản ứng mạnh mẽ trong xã
hội. Khắc phục tình trạng này, việc tuyên truyền
văn hóa giao thông trong cộng đồng thông qua các
phương tiện nghệ thuật có ý nghóa rất quan trọng.
Chương trình Nghệ thuật “Văn hóa giao thông”
đã mang tới cho khán giả những nhận thức đúng
đắn, cảm xúc sâu sắc, những tiếng cười thoải mái
mà đầy tính giáo dục về an toàn giao thông. Đây
thực sự là chương trình nghệ thuật vì cuộc sống,
rất thiết thực trong cộng đồng hôm nay.
VÙN HIÏËN 9
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
Việt
Thơ
và nhân cách Việt
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Tại Hội thảo Thơ miền Trung tổ chức tại Thanh Hóa vừa qua, nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm đã có tham luận “Lạm bàn về thơ Việt hôm nay”. VHVN xin trân trọng giới thiệu
bài tham luận rất được hoan nghênh trên với tựa đề do tòa soạn đặt.
1
. Các nhà sử học hiện đại thường coi lòch sử dân tộc là lòch sử của lòng yêu
nước và xem đó là “sợi chỉ đỏ” của hành trình dân tộc. Trong chừng mực
nhất đònh, quan niệm đó không khỏi đơn giản hóa lòch sử, đã và sẽ đẻ ra
nhiều hậu quả chưa lường được.
Đành rằng chủ nghóa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghóa to lớn trong dựng nước
và giữ nước. Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận
mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong
hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại
là nhân cách Việt. Đó là tất cả những giá trò giúp con người tồn tại như một nhân
cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt. Theo
tôi, nghóa vụ của sử học, văn hóa học, văn học là làm sáng tỏ nhân cách Việt qua
hàng ngàn năm lòch sử và văn hiến nước nhà, như chúng ta từng giải mã chủ
nghóa yêu nước dân tộc. Theo nghóa đó, có thể xem truyện Trạng Quỳnh là biểu
tượng về nhân cách Việt, hơn là tinh thần phản phong và chống ngoại xâm như ta
thường giải thích. Và “Hòch tướng só văn” của Trần Hưng Đạo là lời nhắc nhở, cổ
vũ cho nhân cách Việt của một nhà quân sự đồng thời là một nhà chính trò tài ba
đã làm bật lên sức mạnh người Việt. Chính sự kết hợp hài hòa chủ nghóa yêu nước
và nhân cách Việt ở đời Trần đã đem lại cho quân dân ta só khí có một không
hai, đầy dũng mãnh mà mưu lược, gan góc mà lạc quan, lúc hiểm nguy vẫn ung
dung bền chí. Không có thời nào nhiều tấm gương đẹp về nhân cách như thời đó.
10 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Nhớ lại những năm 30 của thế kỷ trước, ta mất tự do độc lập, đó là nỗi đau
lớn của mỗi người Việt. Tuy nhiên lật lại hàng chục tờ báo ngày đó chúng ta
không thấy người Việt có vấn đề nhân cách, đạo đức, lối sống gay gắt như bây
giờ hoặc nếu có thì cũng bò phê phán không thương tiếc. Phải chăng với nhân
cách cứng mạnh đó cộng thêm lòng yêu nước được phát động mà dân ta quật
khởi đập tan ách thực dân và bộ máy phong kiến vào năm 1945? Ngày đó, có
biết bao bậc só phu, những nhà nho yêu nước, những người cộng sản, những trí
thức lỗi lạc, những nhà văn, những nghệ só, nhà báo, nhà giáo đã làm việc hết
mình vì phẩm chất và nhân cách Việt để có một dân tộc đầy sức mạnh, “rũ bùn
đứng dậy sáng lòa”? Tôi nghó đời nào cũng vậy, giáo dục lòng yêu nước và xây
dựng nhân cách Việt là vấn đề có ý nghóa sống còn của dân tộc ta.
2. Ngày nay, nhân cách là vấn đề lớn của thời đại. Do thuận lợi của thời thế,
một người bây giờ có thể hiểu biết rất nhiều, nhưng anh ta vẫn có thể không đủ
nhân cách để làm điều tốt đẹp, nhiều khi còn làm điều xấu. Vì vậy mệnh lệnh
của thời đại là mệnh lệnh về nhân cách. Cái đập mắt mỗi người Việt Nam khi
ra đường hôm nay là những vấn đề nhân cách. Nỗi lo âu của mỗi bà mẹ là sợ
con hư. Nỗi sợ của người già là không tìm được sự cảm thông giữa các thế hệ.
Nỗi sợ của nhà giáo dục là sợ học trò nói hỗn. Những cơ sở chăm lo cho nhân
cách con người đều suy yếu, xuống cấp: trường học, sách báo, nhà hát, vườn
trẻ, các hội đoàn… Nỗi lo đè lên mọi người. Bảo vệ dân tộc trước hết là bảo vệ
con người Việt Nam trên biên giới của nhân cách và mất nhân cách. Quả thật,
những con người mạnh, một dân tộc mạnh chính là tư tưởng sâu rễ bền gốc của
Đức Trần Hưng Đạo.
3. Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách
của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách. Thơ Đường lớn không phải
vì nó là đứa con của một thời đại thònh trò, mà chính vì ở những đại diện lớn
nhất của nó đã dám viết: “Cửa son rượu thòt ôi/Ngoài đường xương chết rét”
(Đỗ Phủ). Đó là nền thi ca của những nhân cách và tài năng lớn. Đó là nền thi
ca giàu phẩm hạnh.
Tôi tin thơ hiện đại Việt Nam nhất đònh sẽ vươn tới một sự kết tinh mới, bền
vững trong sứ mệnh phát huy nhân cách Việt.
Huế, tháng 9.2011
VÙN HIÏËN 11
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
CƯỠNG
VŨ QUẦN PHƯƠNG
C
CHẾ
ái động từ kinh hãi đầy tính chất hình sự
này, bây giờ được nghe luôn, thấy luôn.
Nghe trên đài, thấy trên báo, mãi cũng
thành quen. Nhưng ngồi nghó đến thân phận con
người trong cuộc thì vẫn cứ hãi hùng. Nhà cửa
đang ở, vườn tược đang giồng giọt. Tre ấm bụi
chuối đang buồng thì có lệnh phải dọn đi. Giải
phóng mặt bằng.
- Ơ hay, giải phóng ai? Ai được giải phóng?
- Giải phóng cái mặt bằng đất đai cho nó biến
sạch nhà cửa vườn tược để cho người nước ngoài
người ta thuê, mà công nghiệp hoá mà hiện đại
hoá, chứ còn gì nữa. Hỏi vớ vẩn. Vờ vòt.
Ừ, cũng là vớ vẩn, bây giờ ai mà còn không
biết nghóa của bốn chữ giải phóng mặt bằng.
Nhưng cũng chả vớ vẩn. Cái người hỏi (bò coi là
vớ vẩn) ấy đã từng tự châm lửa đốt nhà mình, tự
phá tường đập cửa làm tiêu thổ kháng chiến hồi
chống Pháp xâm lược, tự mang bàn ghế đồ đạc
ra đường ngăn xe cơ giới giặc, hoặc lót đường
cho xe cho pháo ta đi qua các đoạn đường bò bom
Mỹ phá hoại thû nào. “Nhà tan cửa nát cùng ừ.
Đánh tan giặc Mỹ cực chừ sướng sau”. Họ đã tự
nhủ như vậy và đã làm được như vậy. Đảng kêu
gọi, Chính phủ kêu gọi hy sinh của cải, hy sinh
cả tính mạng cho những việc ích nước lợi dân.
12 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Họ đâu có từ chối. Chuyển đi căn nhà nhường
đất làm bãi pháo. Không ai mè nheo, đòi hỏi gì.
Chuyển cả làng, cả bản đi để mở một con đường,
bắc một cây cầu, hay tạo một lòng hồ thuỷ điện...
nhiều làng đã ra đi, ngậm ngùi chia biệt vónh viễn
với mảnh đất in dấu chân của ông bà cha mẹ và
kỷ niệm thơ ấu của chính mình. Buồn nhớ, nhưng
tất cả đã bảo nhau dọn đi suôn sẻ.
Nhưng giờ đây, họ dọn đi, giao lại đất, đất
được bán cho một công ty nào đó. Công ty ấy lập
thành lô thành khoảnh, xây thành nhà thành phố,
lại bán đi, lấy lãi. Lãi nhiều lắm. Những chủ nhân
thật sự của đất đai ấy (Tôi nói thật sự vì họ chính
là người dùng cả cuộc đời mình làm cho đất đai
đó phì nhiêu) bây giờ trôi giạt nơi đâu. Mất tư
liệu sản xuất, họ sống ra sao. Các ông chủ đầu
tư bất động sản kia có biết không? Họ không cần
biết. Mà sao lại bắt họ phải biết. Đây là kinh tế thò
trường. Họ trao tiền đền bù rồi thì họ được quyền
sử dụng đất. Lỗ lãi họ chòu. Ông chủ cũ nhận
tiền rồi là ông hết lý. Đấy là cái lý ráo hoảnh của
chuyện buôn bán. Cái lý ấy, nhiều lúc khắc nghiệt
lắm, nhưng đã theo thì phải chòu. Nhưng những
người chủ cũ không chòu vì trong mua bán họ đâu
có được bình đẳng. Họ bò cưỡng chế.
Thế là sinh tranh chấp. Tranh chấp giữa anh nghèo,
rất nghèo vì không còn gì để sống với những anh giàu,
mà giàu thì sang, có thể mua được cả thế lẫn lực. Nhà
nước xã hội chủ nghóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, đứng về phía ai để phân xử, phán xét?
Các đoàn điều tra về hiện tình chiếm hữu sử dụng
đất đai đang triển khai trên nhiều đòa phương cho thấy
mối mâu thuẫn trong lónh vực này thật sự sâu và rộng.
Những phóng sự điều tra qua các vụ xảy ra ở Phú Quốc,
Đồ Sơn, An Khánh, ở các nông trường quốc doanh cũ,
nhiều nơi lắm, kể cả ở Hà Nội, không xa chỗ Bác Hồ
nằm... đăng trên báo in, phát trên báo nói, báo hình
phần nào cho chúng ta thấy rõ hơn diện mạo của tình
hình đó cả mức độ lẫn quy mô.
Nguyên nhân đầu tiên là sự lạm dụng quyền lực
nhà nước, thể hiện qua hai chữ cưỡng chế. Lúc này,
người có quyền vận dụng cơ chế Xã hội chủ nghóa, lợi
ích cá thể phải tuân thủ lợi ích tập thể. Đến khi người
dân mất đất, thành thất nghiệp, thì những người có
quyền ấy lại vận dụng cơ chế thò trường, mua đứt bán
đoạn.
Việc đã đến lúc phải giải quyết vì đây là nguy cơ
lớn nhất gây mất ổn đònh xã hội. Đầu tiên xin hạn chế
tiến tới loại bỏ biện pháp cưỡng chế trong các quan hệ
dân sự. Phải thương lượng. Tất cả các quốc gia trên
thế giới đều có lúc phải làm cái việc gọi là giải phóng
mặt bằng. Họ đều thương lượng. Trong thương lượng
nhiều lúc các cơ quan công quyền, cần được việc, phải
để người dân phần lợi. Tôi có người bạn mở một hiệu
thuốc ở Paris, toà thò trưởng cần nắn dãy phố, vướng
vào căn hiệu của chò, chò ấy được đền bù với giá cao
hơn nhiều nếu đem bán căn hiệu ấy lúc bình thường.
Viết thư cho tôi, chò ấy viết: nó làm đường thì cũng
bằng tiền đóng thuế của mình, đây là lúc mình bắt nó
phải nhè ra, cũng sướng. Bà con ta không ai muốn cái
sướng được bắt bí của chò ấy. Bà con chỉ muốn công
bằng. Việc nào đi việc nấy. Phải hy sinh cho non sông
đất nước thì vui vẻ hy sinh, như đã từng làm từ mấy
chục năm trước. Nhưng là quan hệ kinh tế thò trường
thì phải theo quy luật chung. Không thể để người mua
tự đặt giá rồi bắt người ta bán. Không bán thì cưỡng
chế.
Xin những nhà lập pháp, những nhà hành pháp
đứng về phía bà con áo ngắn, những người đã theo
Đảng và Chính phủ nằm gai nếm mật gần một thế kỷ
qua để làm cách mạng dân tộc dân chủ, mà chặn đứng
lại lối hành xử có tính tước đoạt đối với quyền làm chủ
chính đáng tư liệu sản xuất của người lao động. Trước
hết bỏ biện pháp cưỡng chế trong quan hệ dân sự trao
đổi mua bán đất đai. Chỉ cưỡng chế với người phạm
tội do lấn chiếm công thổ, hoặc là phạm nhân bò toà
xử phải tòch biên gia sản, phải đền bù, phải trả nợ...
VÙN HIÏËN 13
VIÏÅT NAM
TÛÂ TRONG DI SẪN
KỊCH NÓI VIỆT NAM
ĐẾN HIỆN ĐẠI
TỪ TRUYỀN THỐNG
NSND NGUYỄN ĐÌNH NGHI
NSND Nguyễn Đình Nghi đã xa chúng ta tròn 10
năm. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà đạo
diễn được coi là nhà văn hóa lớn của sân khấu Việt
Nam thế kỷ 20 và nhân dòp ông được đề cử Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, VHVN
xin giới thiệu bài viết thể hiện một phương hướng
lớn trong sự nghiệp nghệ thuật bất hủ của ông: Việt
hóa nghệ thuật kòch nói trên cơ sở sân khấu kòch
hát truyền thống
N
gày khai sinh của sân khấu kòch Việt Nam 20.10.1921, là một ngày đáng ghi nhớ, vì sự
xuất hiện của thể loại sân khấu này không phải
là một sự kiện đơn lẻ, mà đã mở đầu cho một chuỗi sự
kiện rất trọng đại đối với lòch sử văn học nghệ thuật Việt
Nam. Tiếp theo sự xuất hiện của kòch, năm 1925 quyển
tiểu thuyết Việt Nam kiểu mới đầu tiên ra đời, và năm
1932 khẳng đònh sự thành công của “Thơ mới” trong
một cuộc đấu tranh kòch liệt chưa từng có giữa cái “mới”
và cái “cũ” trên phương diện văn hóa. Từ đây kòch, tiểu
thuyết, “thơ mới” hợp thành ba cái chân kiềng của một
nền văn học thuộc một phạm trù mới, khác hẳn nền
văn học truyền thống.
Văn học Việt Nam sau bao nhiêu thế kỷ thuộc về
một nền văn học có tính chất vùng miền (Đông Nam
Á), bằng ba thể loại mới này đã chính thức gia nhập
vào bước đi chung của văn học thế giới hiện đại. Đây là
sự thay đổi lớn lao nhất trong lòch sử văn học Việt Nam,
thay đổi căn bản về mọi mặt: quan niệm văn học nghệ
thuật, bản chất, thành phần, hệ thống thể loại, và cả
quan niệm về cái hay, cái đẹp.
Cũng từ đây trên đất nước Việt Nam song song tồn
tại hai nền sân khấu: truyền thống, mà sau này quen
gọi là KỊCH HÁT, để phân biệt với KỊCH NÓI hiện đại
theo kiểu Châu Âu.
Kòch nói đã xuất hiện ở Việt Nam với một tư thế
ngoại lai và áp đặt. Đó là một sản phẩm Pháp, truyền
vào Việt Nam do con đường kòch bản, sau khi người
14 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Pháp hiện diện ở nước này bằng vũ lực. Những thanh
niên Tây học đã tiếp nhận kòch bản Pháp từ các trường
trung học Pháp Việt mà chương trình học văn học bắt
buộc gồm chủ yếu là kòch cổ điển Pháp. Mặc dù vậy
sân khấu kòch nói vẫn hình thành nhanh chóng và phát
triển, bởi vì sự xuất hiện của nó đáp ứng một nhu cầu
nội tại sâu xa : Sân khấu là bộ mặt văn hóa của một đất
nước. Ở đó tổng hợp cả thi ca, văn học, âm nhạc, ca
múa, mỹ thuật. Trên sân khấu, đời sống tinh thần, tâm
lý, phong tục tập quán và trí tuệ của một dân tộc được
biểu hiện cụ thể, sinh động nhất vì hiện hình ngay trên
hình thể và trong tâm hồn của bản thân con người diễn
viên - đây là ưu thế tuyệt đối của nghệ thuật biểu diễn
sân khấu mà khó có nghệ thuật nào sánh được.
MỘT ĐẤT NƯỚC CÓ VĂN HÓA
KHÔNG THỂ NÀO THIẾU SÂN KHẤU
Nhưng ở đầu thế kỷ 20, sân khấu Tuồng, Chèo
truyền thống đã suy tàn, theo những biến động sâu
sắc của xã hội Việt Nam, trong tâm lý bò áp đảo về
văn hóa sau khi đã bò áp đảo về quốc sự chính trò. Mặt
khác, những luật lệ nghiêm ngặt của một nghệ thuật
đã đònh hình, được qui phạm chặt chẽ ở hình thái cách
điệu ước lệ của quá khứ, không còn đáp ứng được đòi
hỏi phải bám sát và trực tiếp thể hiện đời sống đang
biến động dữ dội đương thời. Những cố gắng sửa chữa
nhược điểm này đã mang lại ít kết quả, và những cải
tiến để “theo thời” của “Tuồng tân thời”, “Chèo văn
minh” chẳng những không thể cứu vãn đời sống sân
khấu cổ, lại càng không thể khôi phục hào quang đã tắt
của nghệ thuật truyền thống. Vẻ đẹp chân chính của
Tuồng, Chèo dần dần bò lãng quên.
CẦN PHẢI CÓ MỘT LOẠI HÌNH SÂN KHẤU KHÁC
Thể loại kòch mới ra đời đáp ứng nhu cầu ấy. Vì
vậy, tuy lúc đầu sự tiếp thu có tính chất thụ động, bò áp
đặt, nhưng đã sớm trở thành tự nguyện, chủ động, và
sân khấu kòch đã nhanh chóng tạo ra được công chúng
của nó.
Ra đời trong một hoàn cảnh như vậy, rất dễ hiểu
vì sao trong một thời gian rất dài, đặc biệt là sau khi
hình thành, sân khấu kòch luôn luôn có xu hướng thoát
ly khỏi truyền thống. Kòch do những người tri thức Việt
Nam được giáo dưỡng theo văn hóa Pháp xây dựng
theo mẫu Pháp. Họ không thể tìm thấy một chút quan
hệ nào giữa Tuồng, Chèo và Kòch - một nghệ thuật dù
còn non nớt, mới mẻ, nhưng đang tự coi và được công
chúng đô thò coi là “văn minh, hợp thời”, và hoàn toàn
khác biệt truyền thống. Tất nhiên Kòch không thể tiếp
thu gì ở sân khấu cổ truyền Việt Nam. Và trong nhiều
thế kỷ nó không thể tránh khỏi bắt chước cái mẫu Âu
châu đã sinh ra nó.
Tuy nhiên, lại cũng chính lớp trí thức văn nghệ só
ấy đã sáng lập ra nền tiểu thuyết mới, thơ mới. Dù chòu
ảnh hưởng Pháp sâu sắc khi ra đời, nhưng chỉ sau một
thời gian ngắn thơ mới đã là thơ Việt Nam chân chính,
đã sáng tạo ra những kiệt tác, đã lay động sâu sắc tâm
hồn độc giả Việt Nam không chỉ bởi nội dung mới mẻ,
nồng nhiệt, sâu sắc, mà cả về hình thức nghệ thuật rất
Việt Nam của nó.
Như một sự sắp xếp của lòch sử, Thế Lữ - người đi
đầu xây dựng nền thơ mới Việt Nam lại là một trong
những người đi đầu xây dựng nền kòch Việt Nam. Cùng
với ông, các “kòch só” đương thời nổi tiếng nhất đều là
những nghệ só Việt Nam hàng đầu. Nhưng nhân cách
nghệ só ấy không thể cam tâm với sự bắt chước. Một
điều tâm huyết luôn luôn thôi thúc họ cần phải xây
dựng một sân khấu kòch Việt Nam.
Nhưng xây dựng kòch Việt Nam như thế nào? Suốt
mấy thập kỷ, đây là một câu hỏi không có giải đáp.
Sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp, đòi hỏi một cơ
sở xã hội, những điều kiện tinh thần và vật chất, mà xã
hội thuộc đòa Việt Nam cho đến năm 1945 không đáp
ứng. Do thiếu hẳn một môi trường cần thiết, sân khấu
kòch mấy thập kỷ sau khi hình thành vẫn còn dừng lại
ở trình độ nghiệp dư do đó vẫn không thể ra khỏi giai
đoạn bắt chước.
Mặc dù hoàn cảnh không thuận lợi, Kòch nói vẫn
tồn tại. Và trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời
kỳ kháng chiến chống Pháp nó đã lớn lên thành một
phong trào quần chúng cực kỳ mạnh mẽ.
Thời gian này cũng là lúc các giá trò văn hóa truyền
thống dân tộc được đánh giá lại với một niềm tin và
lòng tự hào rất cao đối với tính cách và bản sắc Việt
Nam. Từ năm 1950 vốn văn nghệ dân tộc được khai
thác trên qui mô rộng lớn, trong đó Tuồng, Chèo được
chú ý hơn cả. Sau bao nhiêu thập kỷ bò vùi lấp, giờ
đây vẻ đẹp truyền thống hồi sinh đã hiện ra chân chất,
nhưng tinh tế, huy hoàng. Thế hệ những nghệ só thanh
niên lúc ấy bàng hoàng trước nghệ thuật giàu có rực
rỡ của kho báu truyền thống lần đầu phát hiện. Còn
với thế hệ những người làm sân khấu lớn tuổi, thì niềm
mong mỏi, ước mơ về một nền kòch Việt Nam từ đây đã
trở thành nỗi ám ảnh.
Lòch sử sân khấu Việt Nam thế kỷ 20 đã có mấy
lần tiếp xúc với nước ngoài. Lần tiếp xúc thứ nhất - với
Pháp là chủ yếu - đã đưa tới sự hình thành sân khấu
kòch. Lần tiếp xúc thứ hai, từ 1955, chủ động, có mục
đích, có đònh hướng, nhằm vào Đông Âu, tiêu biểu là
Liên Xô (cũ) với học thuyết sân khấu Stanislapski, đã
giúp sân khấu từ phong trào quần chúng rộng lớn trở
thành chuyên nghiệp.
Tuy nhiên cũng phải tính đến tình thế gò bó của kòch
Việt Nam thời kỳ này trong sự độc tôn sân khấu Liên Xô,
và sự cách biệt bởi điều kiện chiến tranh khỏi nền sân
khấu Tây Âu rộng lớn, phong phú, đầy biến động.
Thời gian này lại trùng hợp với giai đoạn cực thònh
phục hồi các vở diễn Tuồng, Chèo cổ. Những người
làm kòch có dòp chuyên chú tìm hiểu sân khấu truyền
thống cả về lý luận cả về thực tiễn. Và một sự so sánh
VÙN HIÏËN 15
VIÏÅT NAM
TÛÂ TRONG DI SẪN
hiển nhiên đã nảy sinh : bên cạnh những hình tượng
truyền thống rực rỡ, đầy sức quyến rũ như Súy Vân, Thò
Màu, lão Tạ, Hồ Nguyệt Cô…thì những hình tượng kòch
nói xuất hiện cùng thời quả thật là mờ nhạt.
Cuối những năm 60, nhiều người làm kòch Việt Nam
đã cảm thấy rất rõ rệt sự hạn hẹp gò bó dẫn tới nhàm
chán của loại kòch tả thực đơn giản mà họ vẫn theo đuổi
bấy lâu. Và mặc dù bò ngăn cách với thế giới, mặc dù
không được tìm xem, tìm học tận mắt, thì từ lâu tin tức
về một sân khấu Châu Âu đương thời rất sôi động cũng
vang vọng tới Việt Nam, gây hứng thú lớn bởi sự hướng
về tính ước lệ, tính sân khấu, tính trình diễn, bởi sự mở
rộng không gian sân khấu…, tất cả những điều này đều
rất gần gũi đặc điểm truyền thống Việt Nam và là thế
mạnh của sân khấu cổ.
Một ý tưởng hình thành: có thể học tập truyền
thống để phá vỡ thế gò bó lâu nay. Có thể tìm cách xây
dựng kòch Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm Âu châu kết
hợp với sự tiếp thu bài học truyền thống, với điều kiện
không phá vỡ đặc điểm thể loại của kòch.
Đồng thời, một mục tiêu được xác đònh: tìm về
truyền thống không phải chỉ vì truyền thống, không
phải chỉ để cho “có tính chất dân tộc”. Những vở diễn
kiểu mới phải phá vỡ được thế hạn hẹp gò bó, phải có
khả năng biểu hiện, truyền đạt mạnh mẽ hơn, phải tìm
được cách nói hơn hẳn hiện trạng sân khấu kòch lúc
này. Nếu học theo truyền thống mà thua kém học theo
nguyên mẫu Âu châu, thì sự tìm tòi là vô nghóa.
Vấn đề mà người làm kòch bắt gặp đầu tiên khi tìm
cách phá vỡ thế gò bó, là vấn đề không gian sân khấu
(và theo nó là thời gian).
Đây chính là vấn đề mấu chốt mà bất cứ sân khấu
nào cũng phải giải quyết trước hết. Bởi vì ở đây biểu lộ
một mâu thuẫn cơ bản: cuộc đời mênh mông vô hạn, mà
kích thước sàn diễn và thời gian trình diễn rất hữu hạn.
Phương Tây giải quyết vấn đề này bằng phép biên
kòch. Kòch bản phải chòu sự qui đònh của dung tích vật
chất của sàn diễn và thời gian vật lý của buổi diễn. Từ
đó có luật tam duy nhất cổ điển: dồn nén, tập trung kòch
tính và xung đột, cắt lấy những mảnh đậm đặc nhất của
cuộc đời nhân vật, đặt vào một không gian hẹp và thời
gian ngắn. Dù nói chung luật tam duy nhất với những
nguyên tắc quá chặt chẽ không mấy khi được tuân theo
đầy đủ, nhưng tinh thần của nó là sự dồn nén thì có tác
dụng rất lâu dài. Cần phải dồn nén như vậy cho vừa với
kích thước tự nhiên của sàn diễn và thời gian trình diễn,
vì cuộc đời được tái hiện ở hình thái tự nhiên.
Phương Đông có cách giải quyết khác hẳn: đã
không thể mở rộng vô hạn độ sàn diễn, thì biến đổi ý
nghóa sàn diễn. Nó không còn ý nghóa mấy chục thước
vuông, nó mang ý nghóa ước lệ, giả đònh. Từ đầu này tới
đầu kia sàn diễn có thể là gang tấc, cũng có thể là ngàn
dặm. Thời gian sân khấu tương ứng với không gian cũng
trở thành giả đònh có khả năng co giãn vô hạn.
16 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Nói tóm lại, phạm vi đời sống mà sân khấu ở hình
thái tự nhiên biểu hiện bò kích thước sàn diễn và thời
gian trình diễn qui đònh. Phạm vi ấy thường không vượt
quá mấy chục thước vuông và vài ba tiếng đồng hồ.
Đồng thời sàn diễn cũng không có khả năng biểu hiện
hoàn cảnh nào khác với hình thái tự nhiên của nó,
chẳng hạn sàn gỗ không thể miêu tả sông nước.
Sân khấu ở hình thái giả đònh không chòu sự gò bó
của sàn diễn và thời gian trình diễn. Trên sân khấu có
thể là bất cứ đòa điểm nào, thời gian câu chuyện có thể
là một đời người.
CÓ THỂ KẾT LUẬN: THỰC CHẤT SỰ KHÁC NHAU
LÀ HÌNH THÁI MIÊU TẢ
Ứng dụng những nguyên tắc cổ truyền về không
gian, thời gian sân khấu và những bài học về hình thái
giả đònh, với sự cộng tác của họa só sân khấu, nhiều
đạo diễn kòch Việt Nam bằng những sáng tạo thành
công đã chứng minh rằng: có thể biểu hiện trên sân
khấu những hoàn cảnh mà sân khấu tả thực trước
1970 không bao giờ tưởng tượng nổi. Trên cái sàn diễn
gần như trống trơn, dựa vào nghệ thuật biểu diễn của
diễn viên, có thể miêu tả một chuyến xe điện, một con
thuyền lênh đênh ngoài biển, một trận đánh trải ra trên
chiến trường rộng lớn, một đoàn hải thuyền vật lộn
với phong ba bão táp, một ca phẫu thuật… Không gian
sân khấu không còn tónh như trước mà trở thành động,
những đòa điểm rất khác nhau có thể nối tiếp nhau biến
hiện nhanh chóng mà không đòi hỏi phương tiện kỹ
thuật phức tạp.
Những tìm tòi sáng tạo về không gian sân khấu kể
trên đã được thực hiện không phải bằng cách bắt chước
những động tác mang tính cách điệu của Tuồng, Chèo.
Đi theo tinh thần của ước lệ truyền thống, nhưng không
máy móc áp dụng thủ pháp, có thể nói một tính chất giả
đònh mới đã được tạo ra: tính chất giả đònh kòch nói.
Chỉ riêng những thành tựu trên đây cũng đã làm thay
đổi diện mạo nhiều vở diễn của hai thập kỷ 70, 80, góp
phần phá vỡ tình trạng các vở diễn cứ hao hao giống
nhau những năm trước. Quan trọng hơn, những thành
công ấy đã thuyết phục, gợi ý, kích thích tác giả tìm
những cách biên kòch đa dạng, rộng mở, năng động hơn.
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà sự tìm tòi, sáng
tạo đã bắt đầu từ phương diện không gian sân khấu, dù
sự bắt đầu ấy không phải bao giờ cũng tự giác. Dường
như đây là một hiện tượng có tính qui luật. Nhớ lại:
E.Zola và Antoine khi chống lại sân khấu ước lệ của
Pháp ở thời kỳ già cỗi xưa kia cũng đã bắt đầu bằng
những cách tân về trang trí sân khấu. E.Zola đưa ra một
luận điểm nổi tiếng của sân khấu tự nhiên chủ nghóa:
ông đã thay chức năng trang trí của sân khấu ước lệ
“trang trí đòa điểm trình diễn (lieu de représentation)”
bằng chức năng “trang trí - môi trường của nhân vật
(milieu du personnage)” và đòi hỏi trang trí phải tạo ra
cảnh thật như hoàn cảnh vật chất trong đó diễn viên
sống thật cuộc đời nhân vật.
Khảo sát hiện tượng trên đây, có thể nhận ra một
điều lý thú: trong khi đấu tranh chống lại sự gò bó của
sân khấu tả thực, các đạo diễn Việt Nam cũng bắt đầu
bằng sự lật lại quan niệm của E.Zola - cũng tức là lật lại
quan niệm về các chức năng trang trí mà sân khấu tả
thực Việt Nam từng theo đuổi - để từ yêu cầu “sân khấu
là đòa điểm của hành động, là môi trường của nhân vật”
chuyển thành “sân khấu - sàn diễn - là giả đònh” theo
tinh thần sân khấu truyền thống Việt Nam.
Quan niệm về không gian sân khấu (và cùng với
nó là thời gian) là một vấn đề hết sức mấu chốt, nó
biểu lộ phương pháp tiếp cận hiện thực của người nghệ
só, cách tiếp cận khác nhau sẽ tạo ra những sân khấu
khác nhau.
Hình thái ước lệ, giả đònh cho phép mở rộng về hạn
độ không gian (và thời gian sân khấu). Nhưng không
chỉ có thế. Ưu thế lớn nhất của hình thái giả đònh là
mở rộng thế giới của nhân vật, giải thoát nhân vật khỏi
biên cảnh của thế giới hành động mà Stanislapxki đã
xác lập.
Stanislapxki là đại biểu kiệt xuất của một nghệ thuật
biểu diễn dựa trên một nền kòch bản miêu tả con người
ở hình thái tự nhiên. Sân khấu Stanislapxki miêu tả rất
sâu sắc con người trong thế giới hành động. Và cũng chỉ
miêu tả nó trong thế giới hành động. Tuy nhiên dù con
người chủ yếu là sống trong thế giới hành động, nhưng
đâu phải chỉ sống trong thế giới hành động. Còn thế
giới tư duy, thế giới mơ tưởng, thế giới ảo vọng, thế giới
tiềm thức, thậm chí cả thế giới bản năng. Hình thức giả
đònh mở đường cho sân khấu đi vào khai thác, thể hiện
cả một cõi bao la bí ẩn kỳ diệu, phi hành động, vô hình
vô ảnh, thậm chí vô thức của tâm linh, nó có khả năng
gợi mở to lớn cho tác giả kòch bản. Kòch Việt Nam khi tìm
về truyền thống chính là tìm cách tiếp thu và khai thác
ưu thế này của hình thái giả đònh. Và những thành công
đáng kể nhất trong suốt ba thập kỷ qua là kết quả của
sự ứng dụng nguyên tắc lớn này của sân khấu truyền
thống.
Một vấn đề lớn khác thuộc về nghệ thuật diễn viên:
trên sân khấu người diễn viên có hay không có khả
năng và sự cần thiết sống chân thật một nhân vật hư
cấu. Câu trả lời của Tuồng, Chèo là: có thể và cần
thiết, dù cho nhân vật được miêu tả ở hình thức giả
đònh, và trong những điều kiện sân khấu giả đònh. Sống
nhân vật không phải là độc quyền của hình thái tả thực.
Nhưng, không cực đoan như ở những trường phái Âu
châu, đây là một câu trả lời uyển chuyển . Tuồng, Chèo
chấp nhận cả hai trạng thái đối nghòch mà Âu châu gọi
bằng hòa cảm và gián cách. Diễn viên có thể nhập
thần, mà cũng có thể xuất. Có lẽ câu trả lời này đã giúp
ta giải mã điều bí ẩn kỳ diệu của ma lực sân khấu: vở
diễn là một chuỗi xen lẫn, kế tiếp nhau của thể nghiệm
và biểu hiện, nhập và xuất, tỉnh và say, ý thức và vô
thức, diễn trò và sự sống.
Từ tính uyển chuyển này, có thể nhận thấy thêm
một đặc điểm khác vô cùng quan trọng: sân khấu truyền
thống là ước lệ, cách điệu, giả đònh, nhưng không từ
chối tả thực. Đi ngựa rất cách điệu, nhưng nhân vật có
thể hộc máu thật. Tả bữa tiệc, có uống rượu, và đòi hỏi
bình rượu, chén rượu thật, nhưng không tả ăn. Lớp Thò
Màu lên chùa rất cách điệu, nhưng lớp việc làng rất
gần tả thực…Một khả năng bất ngờ được mở ra: có thể
vượt ra khỏi sự cương tỏa của “tính hệ thống”, của yêu
cầu “thống nhất phong cách” để chấp nhận trên cùng
một sàn diễn nhiều hình thái miêu tả. Không chỉ là tả
thực, cũng không chỉ là giả đònh. Đây thật là phương
trời rộng lớn cho sự tìm tòi sáng tạo phóng khoáng của
sân khấu kòch trong gần ba thập kỷ qua. Nó gợi ra đáp
án cho vấn đề nan giải : làm sao học tập truyền thống
mà không phá hủy đặc điểm thể loại của kòch. Nhiều vở
diễn kòch nói đã hòa hợp được trên cùng một sàn diễn
cả hai hình thái tả thực và giả đònh.
Người diễn viên sống chân thực, sâu sắc trong
trang trí và xử lý ước lệ của đạo diễn trở thành hiện
tượng bình thường. Đã được chứng minh: có thể ứng
dụng những nguyên tắc truyền thống mà vẫn là kòch
nói. Trong 30 năm qua, chưa thấy có sự sao chép
truyền thống, cũng chưa có vở diễn nào là sự lẫn lộn
kòch nói - kòch hát.
Thông thường sự thay đổi bộ mặt của một nền sân
khấu luôn bắt đầu từ kòch bản.
Ở Việt Nam tình hình có khác.
Cho đến cuối những năm 80, hầu hết kòch bản kòch
nói đều viết theo lối tả thực Châu Âu. Việc tiếp thu
những thôi thúc, gợi ý từ nhiều phía để nảy sinh nhu
cầu tìm đến một kiểu sân khấu kòch nói hướng về tính
giả đònh truyền thống đã xảy ra chủ yếu không ở khu
vực tác giả, mà bắt đầu ở khu vực đạo diễn. Họ không
thể chờ đợi những kòch bản kiểu mới ra đời, họ phải thử
thách ngay với những kòch bản tả thực hiện có.
Kết quả rất khả quan. Những sáng tạo của nhiều
đạo diễn theo hướng này đã tạo ra một dòng những vở
diễn kòch nói kế tiếp nhau xuất hiện, và những vở diễn
thành công nhất từ đầu thập kỷ 70 đến giữa những năm
80 đều dựa vào kòch bản tả thực. Tất nhiên, người đạo
diễn phải can thiệp vào kòch bản và làm công việc của
người biên tập.
Có đủ cơ sở để tin rằng tương lai của một sự phối
hợp hài hòa, đầy đủ, xuất phát từ những kòch bản kiểu
mới để tạo ra những vở diễn kiểu mới đang trở thành
hiện thực.
Và con đường tìm về truyền thống, tuy không phải
là duy nhất, nhưng chắc hẳn là một con đường thuận
lợi cho nỗ lực tạo ra sự phát triển cao hơn của sân khấu
kòch Việt Nam.
VÙN HIÏËN 17
VIÏÅT NAM
Ảnh: Nguyễn Đình Tốn
TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY
T
ôi đến thăm Tô Hoài nhiều lần, nhưng
chả có lần nào được ngồi riêng với tác
giả Dế mèn… Cái lần gặp ông trên phố
Đoàn Nhữ Hài, rồi mấy lần sau nữa ông đều
bận. Ngay hôm tại C3 Nghóa Đô bữa ấy khi nhà
ông đang có Phạm Xuân Nguyên và Alec, phu
quân của nhà văn trẻ Đỗ Hoàng Diệu. Ông lắm
khách. Lần nào đến với ông tôi cũng gần như
thất vọng vì bò những cuộc viếng thăm của các
đoàn khách cắt ngang.
MỘT CUỘC ĐỜI “CỎ DẠI” SANG TRỌNG
Thû nhỏ tên ông là Nguyễn Sen. Lớn
lên đi viết báo làm văn lấy bút danh Tô Hoài
là ghép sông Tô một con sông cổ chảy qua
làng Nghóa Đô với phủ Hoài Đức mà thành.
Tô Hoài đã có một tuổi trẻ lam lũ khốn khó
như bao người dân làng Nghóa Đô quê ông.
Học vừa hết tiểu học, đã phải vào đời đi làm
nhiều nghề để kiếm sống: thợ dệt, dạy học tư,
bán hàng thuê, kế toán hiệu buôn…Tô Hoài
kể: “Tôi không được như một số nhà văn nhà
thơ khác được học văn hóa cơ bản. Hầu hết
cuộc đời Tô Hoài là tự học, vừa đi học vừa đi
làm. Thủa thiếu niên chỉ học đến tiểu học rồi
đi bán giày ba ta ở Hàng Khay. Đi bán hàng
thuê, tôi chòu khó đọc, đặc biệt tự học tiếng
Pháp bằng cách mang tác phẩm của những
tác giả tôi thích như Mopatxang, Đôđê vừa
đọc vừa dòch hàng nghìn trang, nhờ đó mà
tôi có vốn tiếng Pháp tự đọc được các cuốn
sách. Rồi bước vào làng báo từ một sự tình
cờ. Tháng tháng bán giầy được sáu đồng. Tôi
muốn vào thư việân đọc sách nhưng ngặt nỗi
không có bằng Thành chung. Tôi đến báo Hà
Nội Tân văn do ông Vũ Ngọc Phan làm chủ
bút để xin giấy vào thư viện. Thấy tôi ít tuổi
mà đã là tác giả nhiều truyện như Nước lên,
Sáng giăng suông nên Vũ Ngọc Phan bảo tôi
đến nhà ông đọc sách. Ông Phan quý tôi nên
đã trả tiền nhuận bút cho các truyện in của tôi.
Bíẩ
n
một nhà văn Hà Nội
TÂN LINH
Dường như trong hơn một trăm cuốn sách của ông, Tô Hoài viết cái gì cũng hay. Sách của ông có cuốn
được dòch nhiều vào bậc nhất thế giới, được xếp hàng kỷ lục. Nhưng bây giờ, hơn 90 tuổi, ông vẫn đang hì
hục viết. Đặc biệt, ông viết về Hà Nội tự nhiên mà sâu sắc lạ lùng với Chuyện cũ Hà Nội, rồi thì “Cát bụi
chân ai”, “Mười năm”.…Cùng với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, ông là một trong những nhà
văn viết về Hà Nội nhiều nhất và hay nhất. Với tôi, cuộc đời và văn nghiệp Tô Hoài là cả một khối bí ẩn khó
cắt nghóa hết.
18 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Thời ấy thường nếu tác giả không được mời viết thì dù
bài đăng vẫn không được trả nhuận bút. Tôi được trả
mỗi truyện ngắn 5 đồng, trong khi lương tháng làm thuê
cũng chỉ được 6 đồng.Thế là tôi đi viết văn. Lúc đầu tôi
xác đònh nghề văn cũng như nghề đánh máy, nghề lao
động chân tay chứ chẳng có gì cao quý đặc biệt. Chỉ
phải cái phải khổ công rèn giũa cây bút và phải có chút
năng khiếu… Năng khiếu nhiều khi chỉ là một phần thôi,
còn vấn đề tự rèn luyện là trên hết… Lúc này Nhà xuất
bản Tân Dân muốn xuất bản một số sách cho thiếu nhi.
Ông Vũ Ngọc Phan giới thiệu tôi cho Vũ Đình Long và
ông Long “đặt hàng” tôi viết. Tôi bèn viết truyện “Con
dế mèn” chỉ độ ba mươi trang đem đưa nhà xuất bản
và không ngờ được in ngay. Ông Vũ Đình Long trả tôi
những hai mươi đồng và cổ vũ tôi: “Sách ông bán chạy
lắm, ông viết nữa đi”. Thế là tôi mừng quá và lao vào
viết tiếp “Dế mèn phiêu lưu ký” dài gấp đôi, dó nhiên số
tiền ông Long trả cũng gấp đôi. Từ năm 1940 đến 1945
tôi viết khoảng hai mươi cuốn đưa in. Có tiền nhuận
bút, tôi đi khắp nơi sang cả Lào, Cămpuchia… cóp nhặt
vốn sống và viết. Sau cách mạng tôi làm phóng viên
báo Cứu quốc. Rồi được làm tờ Cứu quốc Việt Bắc viết
tiếng Tày in ở chợ Rã cạnh núi Phia Bjoc phát hành chủ
yếu ở Cao - Bắc - Lạng. Báo ấy do tôi làm chủ nhiệm,
anh Nam Cao làm thư ký Toà soạn...”. Tô Hoài nói ông
đã lớn lên giữa cuộc đời như một ngọn “cỏ dại”, hồn
nhiên và nhiều bầm dập, cứ thế sống mà vươn lên.
Điều bí ẩn chính là Tô Hoài đã nuôi lớn tài năng bằng
chính cuộc đời cỏ dại của mình.
VÀ TRONG TRẺO VĂN CHƯƠNG
Là tác giả của một tác phẩm được coi là kiệt tác
văn học thiếu nhi là “Dế mèn phiêu lưu ký”, rồi sau đó
là một kiệt tác về cuộc sống và con người vùng núi
rừng Tây Bắc, tập “Truyện Tây Bắc”, nhưng Tô Hoài
vẫn bảo rằng tất cả những gì ông viết đều gợi mở từ
cảm hứng về một Hà Nội nhiều thăng trầm. Đến giờ, ở
tuổi 91, nhà văn đã song hành cùng mảnh đất này gần
như suốt toàn bộ thế kỷ 20 và cả 11 năm đầu của thiên
niên kỷ mới. Sau giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996,
năm 2010, ông đã được vinh danh với Giải thưởng Lớn Vì tình yêu Hà Nội do báo TT&VH phối hợp với Quỹ Bùi
Xuân Phái tổ chức, và năm 2011 này, ông được trao
danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú. Năm 1957, Hội Nhà
văn VN thành lập Tô Hoài đã là Tổng thư ký, rồi ở trong
Ban chấp hành ngót ba mươi năm trước khi về làm Chủ
tòch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội…
Phần nhiều nhà văn lớn tuổi thì viết cũ, trong khi đó
Tô Hoài càng viết càng hay, càng có cách nhìn, cách
viết mới. Làm sao mà cầm bút trong bảy chục năm mà
ngòi viết ấy không cùn đi thì thật bí ẩn. Bao nhiêu người
viết về sau nhìn lại, viết lại có khi nổi giận với quá khứ,
hay chán nản việc đời hoặc già cả mà chểnh mảng viết
lách. Tô Hoài từ trước đã chẳng thế, bây giờ dù đã qua
“cửu thập” vẫn thản nhiên viết, thản nhiên trò chuyện
với cuộc đời, lòng trong như nước…Đôi khi đem những
chuyện cũ chuyện mới nói lại cùng ông, xem thái độ
phản ứng của ông thế nào, vẫn một câu: “Chẳng đáng
gì”. Vâng! “Chẳng đáng gì”, âu là một cách nhìn cuộc
đời bao dung hay là một cách “ngộ”. Có lẽ trải nghiệm
nhiều mà nhà văn đã “ngộ” ra nhiều việc đời, lẽ đời…
Trong cõi vô thường này, có lẽ chằng có gì ghê gớm
lắm. Chẳng có gì đáng phải lớn tiếng, đáng phải ầm ó
cả. Cái thản nhiên nơi ông đã làm cho ông sống thọ,
mà viết chẳng khi nào cạn dòng cảm xúc. Phải chăng
cái lòng yêu cuộc sống, vốn nhiều biến động - đã tạo
cho ông một tâm thế bình thường, thích nghi và vì thế
không quá lý tưởng hoá cuộc đời, rồi đến lúc cuối đời
ngẫm ngợi giận hờn với đời mà bỏ bút như nhiều người.
Tô Hoài vẫn viết. Chiều chiều ông vẫn viết, vẫn cái
giọng văn hóm mà sâu… Cái tài viết hồi ký của ông có
thể nâng lên hàng bậc thầy về cách kể chuyện. Thực
quá, đến nỗi cứ ngỡ hư cấu. Thực đến trần trụi mà vẫn
làm say hồn người, gợi nhiều ngẫm ngợi về những cái
đã qua.
CHUYỆN VỀ BÀI THƠ DUY NHẤT:
BÀI CA TRÊN NÚI
Lúc tôi hỏi về bộ phim “Vợ chồng A Phủ”, hình như
Tô Hoài bừng tỉnh khi ông kể ông từng đi Tây Bắc ở lại
trên ấy năm sáu năm. Rồi lại đi Việt Bắc với cả Nguyên
Ngọc. Và Tô Hoài kể chuyện ông viết lời cho bản nhạc
phim “Bài ca trên núi” của Nguyễn Văn Thương gắn
với bộ phim “Vợ chồng A Phủ”. Dạo ấy đoàn phim đi
thực tế ở Sơn La, về nơi xuất xứ câu chuyện phim. Lần
ấy nhạc só Nguyễn Văn Thương có người nhà vào vai
phim A Phủ, nên nhận lời viết nhạc phim. Chuyến đi
Tây Bắc ấy Nguyễn Văn Thương gợi ý Tô Hoài viết lời
cho bái hát. Tô Hoài không làm thơ nhưng câu chuyện
của người Mông trên núi cứ ám ảnh ông đến khi ngồi
trên xe ông buột miệng đọc: “Đầu trời có sao chiều sao
sớm/đầu núi kia có hai người/Trời chỉ có sao sớm sao
chiều/Núi chỉ có hai người/Hai người yêu nhau… Dù đi
cùng trời/dù đi khắp núi/Trời chỉ có sao sớm sao chiều…
Hỏi rừng chiều có tiếng khèn ai đó/Khèn hát lên những
lời mong chờ/Đường đi về rừng đường đi xuống núi/
Trời chỉ có sao sớm sao chiều/Núi chỉ có hai người/Hai
người yêu nhau…”. Vâng! Không làm thơ nhưng lời bài
hát ấy với giai điệu dân ca Mông tuyệt hay. Và ca từ ấy
đã là một bài thơ tình hoàn chỉnh, một bài thơ tình tuyệt
bút. Bộ phim “Vợ chồng A Phủ” đã hơn 50 tuổi. Tô Hoài
đã có một phần đời gắn với núi cao và chính phần đời
ấy góp phần quan trọng vào chân dung một nhà văn đi
nhiều viết nhiều vào bậc nhất ở Việt Nam…
Điếu kỳ lạ và bí ẩn là cây đại thu văn chương Việt
Tô Hoài vẫn còn ăm ắp cảm xúc và còn muốn viết
nhiều nữa. Hạnh phúc của nhà văn Hà Nội này là ông
còn rất nhiều điều ấp ủ, nhất là về Hà Nội, dù số tác
phẩm với hơn 150 đầu sách, trong đó nhiều cuốn tái
bản đạt hàng kỷ lục. Ngồi bên ông, ngắm ông trong
cái ghế bành kia, tôi bật cười nhớ chuyện nhà văn Hà
Minh Đức ví Tô Hoài: “Anh như một con mèo đẹp dáng
dấp nhẹ nhàng ngồi thu mình sưởi nắng và khi cần thì
lao nhanh về phía trước hoà nhập vào giữa dòng đời…”.
VÙN HIÏËN 19
VIÏÅT NAM
TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY
NÔNG QUỐC CHẤN
Góp cho trời xanh một tấm lòng
Y PHƯƠNG
thà:
Từ trái sang, các nhà thơ: Nơng Quốc Chấn, Chế Lan Viên,
Tế Hanh, Hồng Trung Thơng.
N
ăm tôi lên mười tuổi, còn học trường làng. Qua
các anh chò học lớp trên, tôi đã biết đến tên tuổi
nhà thơ Nông Quốc Chấn. Một người con ưu tú
của dân tộc Tày Bắc Cạn với bài thơ “Tiếng ca người
Việt Bắc”. Đấy là tác phẩm văn học đầu tiên của một
nhà thơ người dân tộc thiểu số được đưa vào giảng dạy
trong nhà trường phổ thông. Bài thơ đầy tinh thần hào
sảng, viết sau ngày các dân tộc Việt Bắc được hoàn
toàn giải phóng. Những người mà một thời bò bọn ăn thòt
sống coi là “Thổ mừ”! Là “mọi rợ”! Nay họ đã được giải
phóng và làm chủ bản thân mình. Làm chủ quê hương,
đất nước. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ từng dấu phẩy
dấu chấm, và hơi thở nồng nàn của bài thơ.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 , thống
nhất Tổ quốc, lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Nông
Quốc Chấn. Lúc này ông đang là Thứ trưởng Bộ Văn
hóa kiêm Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Hà Nội,
kiêm Hiệu trưởng trường Viết văn Nguyễn Du. Ông
cũng mới biết tôi là một học viên người Tày duy nhất
của trường.
Có một hôm, trong giờ giải lao, ông ôm vai tôi. Hai
thày trò cùng đi tản bộ trên sân trường. Ông hỏi chuyện
tôi bằng tiếng Tày. Tôi kể về đời tư, về quê hương bản
quán, về các sáng tác từ trước đến nay. Ông chăm chú
lắng nghe tôi chầm chậm kể .Và ông dặn dò khuyên nhủ
rất nhiều về tình người, về lòng tự tôn dân tộc, về tiếng
nói và chữ viết, về văn hóa của người Tày Nùng... Ông
nói như đang thổi hồng ngọn lửa tình yêu dân tộc hòa
vào trong tình yêu đất nước. Tôi có cảm giác đó hơi ấm
từ ngọn nguồn quê hương miền núi phả vào người mình.
20 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Bất chợt ông hỏi:
- Y Phương có bao giờ sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ.
Tôi đỏ bừng mặt ngỡ ngàng, và ngượng. Tôi thật
- Thưa thầy, em…chưa…
Ông nhìn tôi. Một cái nhìn độ lượng của người anh
người chú. Ông lại tiếp tục kéo tôi đi quanh sân trường.
Tôi biết ông đang buồn. Một nỗi buồn sâu thẳm về vốn
văn hóa dân tộc đang tự nhiên bò mai một dần. Con em
các dân tộc thiểu số ngày nay không mấy mặn mà với
truyền thống văn hóa, với tiếng nói mẹ đẻ. Vì lý do gì?
Thế hệ chúng tôi đâu có được học tiếng Tày Nùng.
Dù là Nôm Tày cũng phải có giáo trình, có thầy dạy.
Tiếng Tày Nùng ngày nay được phiên âm từ chữ Latinh.
Hệ chữ đó đâu phải chữ viết của người Tày.
Trong mấy năm học ở trường, ngoài giờ lên lớp
của các giáo sư, các nhà khoa học hàng đầu, ông là
người trực tiếp phụ đạo, kèm cặp tôi suốt mấy năm
học. Thỉnh thoảng ông lại rủ tôi về chơi với gia đình.
Nơi vợ và các con ông đang sinh sống ( hồi ấy là khu
tập thể Kim Liên). Mỗi lần đọc các sáng tác của tôi,
ông đăm chiêu trên từng con chữ. Đâu rồi nhỉ vẻ đẹp
của tiếng nói, của nhạc điệu, của sự tinh tế của tiếng
Tày. Tại sao nay có nhiều nhà văn người Tày lại sáng
tác văn học bằng tiếng Việt? Trong các buổi xê- mi- na,
ông đều nhường cho các thầy nói về thơ tôi. Còn ông
chỉ lặng lẽ. Năm cuối cùng, cả lớp đi nhà sáng tác Đại
Lải làm tác phẩm tốt nghiệp. Thầy trò tôi có dòp cùng
ăn cùng ở gần tháng ròng.
- Lần này Y Phương nên làm tác phẩm tốt nghiệp
bằng tiếng Tày. Không ai viết thay, nói thay cho dân tộc
của mình được. Ông nói như thốt lên từ trái tim tình yêu
dân tộc vô bờ bến.
Ngày thứ nhất, đóng kín cửa, tôi ngồi lì trong phòng.
Đầu óc tôi trống rỗng. Nhìn lên trần nhà lại nhìn ra
ngoài vườn. Chỉ thấy cái thế giới này của ai chứ không
phải của mình. Đến bữa ra nhà ăn, ông lại tìm cách
ngồi chung mâm với tôi. Ông lựa miếng thòt ngon nhất,
khúc cá thơm ngon gắp vào bát tôi.
Ngày thứ hai, cửa đóng then cài. Tôi lục tìm vốn
liếng tiếng Tày Nùng mà mình có, nhưng không mảy
may cảm xúc. Tập giấy trắng kẻ ngang để trên bàn,
không có chữ nào được tôi viết lên. Tập giấy trắng như
người tình phập phồng nằm chờ đợi. Nó vừa như lạnh
lùng vừa nóng giẫy. Đến bữa, ông lại tìm tôi. Ông dúi
cho tôi quả chuối ngọt.
Ngày thứ ba…
Ngày thứ năm…
Thế rồi những dòng chữ Latinh phiên âm tiếng Tày
lần đầu tiên của tôi cũng thập thò xuất hiện. Chúng
như trai tân lần đầu tiên được gặp gái. E thẹn, nhưng
thích thú. Sợ hãi nhưng đầy hấp dẫn. Câu trước gọi
câu sau. Tôi viết liền một mạch như lên đồng như ma
ám. Chữ ngoáy tít mù không kòp nghỉ. Chữ rắc lên đen
kín cả hai tập giấy học trò. Tôi kể lại tuổi thơ của mình,
cảnh tung còn hát lượn, trai gái dẫn nhau ra chân núi
tự tình. Tôi kể về cái làng nhọc nhằn đá sỏi nơi sinh ra
tôi. Kể về các bà già ngồi không, há miệng khoe trầu.
Kể về các cậu bé trần truồng tắm suối. Con suối nhỏ
Khưa Riềng như một người bạn mùa hè. Người bạn ấy
mãi mãi không lớn lên được bao giờ. Quê hương là đứa
trẻ sống ngàn năm tuổi. Kể về ông lão chăn vòt suốt
đời chỉ nghiện mỗi kẹo lạc. Với ông, kẹo lạc còn có thể
thay thuốc uống mỗi khi trúng gió…Thế rồi biên giới có
chiến sự. Cả làng tôi kéo nhau lên núi. Họ tìm chỗ ở
cho bà già con mọn. Cánh đàn ông, thanh niên cầm
súng ra chiến hào…Tác phẩm chỉ viết trong một tuần.
Trong những ngày này tôi cố tình lảng tránh ông. Hình
như ông đoán biết. Ông thận trọng giữ gìn khoảng cách
giữa hai thày trò. Ông hiểu tôi đang “đẻ” và im lặng hồi
hộp quan sát.
Hôm tổng kết trại, có lẽ ông là người sung sướng
nhất. Bởi hầu hết những sáng tác của các học viên đều
được hoàn thành một cách chóng vánh, chỉn chu. Người
thì tiểu thuyết. Người thì tập truyện ngắn, tập thơ. Riêng
tôi “Trường ca tiếng Tày” gần một ngàn câu đã hoàn
chỉnh. Đêm lửa trại, tôi ung dung đọc cho mọi người
nghe. Cả lớp im lặng. Họ cùng thưởng thức nhạc điệu
của tiếng Tày. Tôi hưng phấn lên bổng xuống trầm.
Ngoài nhà thơ Nông Quốc Chấn, không một ai hiểu tôi
đang đọc hay hát. Khuôn mặt ông giãn nở. Cặp mắt ông
rạng rỡ nhìn tôi.
Tác phẩm tốt nghiệp của tôi về sau được hội đồng
chấm thi cho điểm khá cao. Và một điều không may
đã xảy ra với tôi. Ngay sau khi “hát” tác phẩm trường
ca tiếng Tày trên nhà sáng tác Đại Lải, tôi bò đau nhức
khắp người. Suốt đêm tôi bò sốt cao, trằn trọc mãi mà
không ngủ được. Cả ngày không một hạt cơm vào
bụng. Tự nhiên khi tôi đứng lên thì cả hai đầu gối lại
khụy xuống. Cả người tôi đổ rụp như một cây chuối bò
chặt gốc. Thấy bệnh tình của tôi ngày càng trầm trọng.
Hai chân của tôi bò liệt hoàn toàn. Nửa thân dưới không
còn cảm giác. Các bộ phận bài tiết cứ tự nhiên hoạt
động. Ông lo lắng ra mặt và đi gặp bác só trưởng khoa
Thần kinh, bác só giám trực tiếp điều trò. Ông lên thẳng
ban giám đốc bệnh viện. Lấy tư cách là nhà thơ lớn của
dân tộc, là Thứ trưởng Bộ Văn hóa, kiêm Hiệu trưởng
một trường đại học. Ông trình bày về trường hợp bệnh
tình của tôi. Và ông khẩn khoản đề nghò bệnh viện hãy
cứu bằng được bệnh nhân này. Ba tháng sau tôi được
xuất viện, nhúc nhắc đi lại được gần bình thường, và dự
kì thi tốt nghiệp như mọi người khác.
Giờ đây ông đã lên đường đi về miền cực lạc.
Không ngờ rằng bữa cơm sum họp cuối năm ở nhà
thầy lại là lần chót. Khi đó tôi cùng nhà văn Hữu Tiến
về Hà Nội công tác, có mang theo bánh khảo, mâm
trúc làm quà. Thầy gọi mọi người quây quần ngồi bên
mâm trúc. Mùi vò của thức ăn quyện cùng hương thơm
của cây trúc sào Cao Bằng, làm ông hào hứng rót rượu
sâm banh, bắt buộc ai cũng phải uống. Chưa bao giờ
tôi thấy ông vui như hôm ấy. Cả nhà ai cũng nói tiếng
Tày. Cười cũng ra tiếng Tày. Tiếng Tày như làm rung
cả hàng cây hai bên đường của dãy phố cụt Yên Bái .
Giờ đây ông đã lên đường về miền xanh thẳm.
Nhưng nụ cười hiền hậu, ánh mắt bao dung trên gương
mặt ông thì còn mãi. Còn mãi trong trí nhớ nhiều thế hệ
học trò, của anh em bè bạn. Mất đi một con người giàu
lòng nhân ái, một tài năng như ông, đau hơn đứt tay xổ
ruột. Hôm nay tôi thắp một nén nhang cho thầy, rót một
tuần trà cho thầy, xin thầy tha thứ cho người học trò
nông nổi đã nhiều lần làm thầy phiền lòng. Thắp một
nén nhang cho thầy, khói nhấc bổng dâng thơ lên trời
xanh. Góp thêm một tiếng thơ tình yêu của người Tày
Việt Bắc. Đó là nhà thơ lớn dân tộc Tày - Nông Quốc
Chấn.
Nhà thơ dân tộc Tày Y Phương tưởng nhớ đến thầy nhà thơ
Nơng Q́c Chấn. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
VÙN HIÏËN 21
VIÏÅT NAM
TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY
VƯỜN NHÀ TA
IM LẶNG QUÁ
THANH THẢO
Nhà thơ Chim Trắng
Đ
ó là một câu thơ của Chim Trắng có lẽ
được viết trước lúc anh chuẩn bò cho riêng
mình một chuyến đi xa. Tới bây giờ, tôi
vẫn có cảm giác lửng lơ thế nào, hụt hẫng thế
nào khi anh Chim Trắng mất. Bởi trong khi anh
biết trước và đã chuẩn bò rất chu đáo rất kỹ lưỡng
cho chuyến đi cuối cùng của mình, thì chúng
tôi lại không biết. Tôi vẫn nhớ, đúng ngày Rằm
tháng Bảy xá tội vong nhân, vợ chồng chò Ý Nhi
ra Quảng Ngãi, ghé nhà tôi chơi, chò Nhi cho biết
anh Chim Trắng hình như bò bệnh gan khá nặng,
nhưng hỏi thì anh không nói. Ngay sau đó, tôi gọi
điện cho Chim Trắng, anh bắt máy và nói là có
chuyện men gan cao, uống thuốc không giảm bớt.
Tôi có biết chút ít về bệnh men gan cao, nên nói
với anh là bệnh này chữa được, không đáng ngại
lắm. Tôi đâu biết, ngay lúc đó, anh giấu tôi, thực
ra anh bò bệnh gan nhưng nặng hơn rất nhiều, và
anh biết, bệnh này không chữa được. Sau khi anh
mất, tôi mới biết chuyện Chim Trắng đã từ chối
bệnh viện, từ chối chữa trò, tới mức người con dâu
của anh phải q xuống khóc xin anh hãy thương
lấy các con mà vào bệnh viện cấp cứu. Vào bệnh
viện, bác só tính trói chân tay anh để truyền máu
hay truyền thuốc gì đó, Chim Trắng đã gạt đi:
22 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
“Tôi là người tự do, đừng trói buộc tôi!”. Nói
xong, anh chìm vào cơn hôn mê cuối cùng. Cho
tới lúc mất, Chim Trắng vẫn đúng là anh, không
một ly đổi khác.
Ngày bé, thần tượng của tôi là nhân vật Ruồi
Trâu mà tôi được xem phim, và sau này lớn lên
được đọc trong tiểu thuyết cùng tên của E.Lilian
Voynich. Tính cách mạnh mẽ đến mức cực đoan,
tình yêu mãnh liệt với lý tưởng và với người con
gái tên Giêma, cuộc đời đầy sóng gió can trường
của Ruồi Trâu, và lối sống khắc kỷ kỳ lạ của nhân
vật này đã ám ảnh cả tuổi thơ tôi. Bẵng đi bao
nhiêu năm, thực ra tôi đã gần như quên thần tượng
tuổi thơ của mình, thì sau khi Chim Trắng mất, tự
nhiên tôi cứ nghó anh giống một ai đó, một nhân
vật nào đó mà tôi đã từng yêu kính. Và tôi đã nhớ
ra, nhân vật mà tôi thấy có những nét tương đồng
với Chim Trắng chính là Arthur(Ác-tơ) có biệt danh
là Ruồi Trâu.
Chim Trắng có vẻ ngoài cứng rắn hơi lạnh
lùng, nhưng tôi biết, anh là người bên trong rất
nồng nhiệt. Có một ngọn lửa nào đó luôn bùng
cháy âm thầm trong con người đặc biệt khắc kỷ
này, một người luôn quan tâm tới bạn bè tới
người khác nhưng luôn dấu mình và nhận về
mình những khoảng lặng. Dường như, có một nét
nào đó trong tiểu sử của Chim Trắng gần với tiểu
sử của Ruồi Trâu, dù không tới mức khắc nghiệt
như Ruồi Trâu, nhưng cũng đã khiến anh phải
mang trong lòng một nỗi đau suốt đời. Đọc thơ
anh, cứ thấy anh nhắc rất nhiều về bên ngoại, từ
những hàng cau quê ngoại tới những kỷ niệm về
mẹ mình, tôi đã không kòp hiểu, mà chỉ nghó là
nhà thơ thì ai cũng hướng về phía mẹ mình nhiều
hơn thôi. Sau này, được biết tên thật của anh là
Hồ Văn Ba mà họ Hồ là họ mẹ, tôi mới cảm thấy
lờ mờ một nỗi buồn nào đó mà anh không bao
giờ kể ra.
Chim Trắng là người làm thơ không muốn lặp
lại mình và có một nội lực lớn, một nội cảm đầy
và nhạy. Vì thế, anh đã đổi mới được thơ mình,
đã vượt lên chính mình, và đã thành một nhà thơ
quê Nam Bộ có những cách tân. Đó là một điều
đặc biệt. Nhưng dù đổi mới tới đâu, thì thơ Chim
Trắng vẫn hết sức tình cảm, nhạy cảm và dễ tổn
thương. Có cảm giác, khi làm thơ, anh là một đứa
trẻ đôi khi cô độc, đôi khi tủi thân, và nhiều khi
khát khao những tình cảm bình thường. Nếu với
một con người, trạng thái ấy mang lại nỗi buồn
thậm chí nỗi đau, thì trong thơ, nó lại là một điểm
mạnh. Thơ chính là số phận người làm thơ, không
thể khác.
Để viết bài này, tôi đã chép tay lại những
câu thơ Chim Trắng mà mình yêu thích trong tập
bản thảo cuối cùng của anh, dự tính sẽ đưa vào
bài viết. Nhưng rồi khi viết bài, tôi lại chợt muốn
cứ để những câu thơ anh được yên tónh trong tập
thơ, những câu thơ mà tôi cảm thấy không hề yên
tónh. Bạn đọc có thể đọc và tùy chọn những câu
thơ của Chim Trắng trong tập thơ này mà mình
thấy hợp với mình. Bởi thơ Chim Trắng không giáo
huấn ai, không dắt dẫn ai, thậm chí rất kiệm lời
khi giãi bày, thơ ấy cô đơn như con chim sẻ cuối
cùng trong bầy chim sẻ đậu nơi vườn nhà anh và
sắp vụt bay.
Nhưng tôi vẫn xin trích một câu thơ của anh:
“Tôi khai quang nỗi buồn và cái chết”, có lẽ cũng
là một trong những câu thơ cuối cùng của đời anh.
Bến Tre là quê hương Chim Trắng. Từ ngày
được cùng đi với anh về thăm quê và thăm nhà
văn già Trang Thế Hy mà tôi rất yêu q, Bến Tre
bỗng thân thiết như đó là quê hương tôi. Nhất là
khi hỏi ra, hơn 80% người Bến Tre có gốc gác từ
Quảng Ngãi, thì tôi càng hiểu hơn vì sao mình
yêu mảnh đất xứ dừa này. Trong nhiều năm, Chim
Trắng như chiếc cầu nối giữa tôi với Bến Tre và lão
nhà văn Trang Thế Hy. Vì thế, khi anh mất, một
điều khiến tôi xót xa, là từ nay biết ai dẫn cho tôi
về Bến Tre?
Nhớ lần cuối cùng được đi cùng Chim Trắng
về Bến Tre hồi đầu năm 2011, tôi đã dồn mọi lo
lắng về sức khỏe cho “cây sậy Trang Thế Hy”(chữ
của Chim Trắng). Làm sao tôi biết, ngay lúc đó,
Chim Trắng đã tự biết thời gian của mình không
còn nhiều nữa. Vậy mà anh vẫn tỏ ra hết sức bình
thản, vẫn vui cười hồn nhiên như không.
Ruồi Trâu của tôi!
“Vẫn là ta
chú ruồi sung sướng
sống xứng đáng
chết
chẳng vấn vương”
(Thơ của Arthur biệt danh Ruồi Trâu)
Quảng Ngãi 13/10/2011
Nguyễn Ngọc Tư đứng sau lưng nhà thơ Chim Trắng tại Đại hội
Nhà văn Việt Nam năm 2010 ở Hà Nội. Ảnh: Trần Hồng Nhân.
Nhà thơ Chim Trắng và em bé
VÙN HIÏËN 23
VIÏÅT NAM
TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY
Thơ
Chim Trắng
Bài ca nhỏ
Một đêm làm kẻ xa nhà
Thân yêu ơi, thân yêu đừng khóc nữa
Người chẳng còn là lá rụng ở quanh tôi.
Người chẳng còn là mùa thu trong trước mặt
Không tình yêu chẳng nước mắt làm gì!
Những ngày buồn thả chơi rong
Lắc lư võng nhớ về sông quê nhà
Nhìn chân nhớ thû đi xa
Ngửa bàn tay nhớ cành hoa ven đường
Giật mình nhớ đất đai rung
Khói nhang cho nhớ não nùng thòt da.
Một đêm làm kẻ xa nhà
Một ta rừng thức một ta nhớ tràn
Muốn làm một kẻ tha hương
Đi đâu ư? Những ngã đường đã qua
Buồn vui một góc quê nhà
Tha hương cho nhớ đâu là quê hương.
Rượu chẳng còn reo vui trong đáy cốc
Cỏ đâu còn hát nhỏ dưới chân ta
Câu thơ cũ đã phai màu bạc phếch
Người chẳng còn là đá tảng ở trong ta.
Thân yêu ơi nếu em còn khóc được
Xin một lần khóc lại cái thời xưa
Thời bom nổ trên đầu, chông đơm mặt đất
Ta hát bên ngoài, rượu múa trong ly.
Dòu dàng hoa
Dòu dàng hoa, nhỏ nhẹ hoa
Dẫu trong chốc lát cũng là lời ru
Đã ru tôi khúc biệt mù
Lời ru lời của gió vù thổi qua.
Cách nào hiểu được mình ta?
Hát ru người lại hóa ra ru mình!
Đã biển
Thôi cạn rồi
Tàu đã biển
Trắng xa khơi...
Sông không cạn
Nước vẫn đầy
Con tàu run rẫy
Khói và sóng...khơi xa.
Không có con tàu nào cả
Mắt em chưa hoang mấy phía
bên đời
Tôi vẫn hiểu
Dẫu mãi đứng nhìn một miền
trắng xóa
Không thể quên điều gì
24 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Điều ước
Đi vòng tròn
Trái đất mãi quay vòng nước mắt
Dẫu hoa bên đường xẻ đá nở lung linh
1. Tôi quay những vòng tròn chóng mặt
Mười năm, hai mươi năm, hai lăm năm
Tích tắc. Thời gian tích tắc...
Tích tắc. Tôi quay và tôi bỗng gặp
Những gì tưởng mãi chia xa
Những bông hoa quen thuộc, cánh đồng quen thuộc, hố
bom quen thuộc
Những cánh rừng kỳ bí bướm và hoa
Voi bầy - mển tát
Nụ cười chưa kòp mở ra...
Ước gì được trở về nơi cũ
Một lần thôi mãi mãi-phôi-mình.
Thôi đã lỡ một lần oa oa tiếng khóc
Cứ sống đi như mọi lẽ trên đời
Muốn óng ánh tự mình óng ánh
Đốt sợi tơ tơ chẳng hóa nên tầm.
Ừ thì sống như trái tim vẫn đập
Yêu thương là lẽ của riêng mình
Không xin hết đêm thâu không cầu lửa tắt
Cháy tan rồi rực rỡ dưới tro than.
Nói sảng
Lên núi lần này không thấy núi
Lá không rừng lá cũng thật thà xanh
Mây quấn bên tôi mà tôi nghó quẩn
Nắng đang sương khói cứ xa gần.
Hóp một chút thôi rồi gục chết
Bạn tôi thấu đáo ngã lăn cười
Ai đắp cho tôi ngàn mảnh vỡ
Từ một vì sao lạc xuống lòng tôi?
Tôi biết tôi say lỡ lời nói vậy
Sao đâu sao rụng giữa ban ngày
Còn chiếc lá kia nằm giãy giụa
Quá cực lòng lăn nhẹ xuống môi tôi.
Lên núi tập ngồi trơ như đá
Gió không hương mưa nắng không hồn
Cúi xuống ngực hôn lên từng lá biếc
Chạm phải môi mình chiếc lá khô cong.
2. Tôi quay những vòng tròn chóng mặt
Người đàn bà yêu tôi cũng bỏ tôi đi
(Lửa cháy ở phía Tây Tổ quốc.
Xếp hàng đôi, hàng ba mua gạo, bột mì...)
Quay. Tình yêu quay chóng mặt
Tiền quay chóng mặt
Phản phúc quay chóng mặt
Cơm độn cao lương-cơm gà Thượng Hải.
Rượu Whisky
Ăn mày
Ăn cắp
Còng số 8 ngày xưa, còng số 8 bây giờ
Gặp gỡ những cườm tay quen thuộc
Tôi quay - một gã say nhừ
Bước thấp, bước cao và tôi sững lại...
3. Em đừng mong tôi đốt cháy những cánh rừng
Bóp nát những cánh bướm màu rực rỡ
Mười năm, hai mươi năm, quay những vòng chóng mặt
Thách thức những câu thơ lơ láo, bên lề
Bây giờ tôi mới khóc
Khóc được rồi !
4. Câu thơ này anh viết cho em
Nín đi em nước mắt cạn rồi
Khóc làm chi cho kiệt
Lúc đau chi?
Tôi biết tôi say mà nói sảng
Ngủ một giấc rồi cứ tỉnh như không
Tôi có gì đâu mà mất cả
Dọc đường đời tôi xí được nỗi buồn trong.
VÙN HIÏËN 25
VIÏÅT NAM