GS Hoàng Tụy
được thế giới tôn vinh
T
ổ chức toán học quốc tế Tối ưu toàn
cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS
Hoàng Tụy. Giải thưởng mang tên nhà toán
học lừng danh Constantin Caratheodory
người Hy Lạp (1873 - 1950) do Đại hội Quốc
tế Tối ưu Toàn cục đề xướng nhằm đặc biệt
vinh danh những cống hiến xuất sắc, độc
đáo, ý nghóa, có chiều sâu, có ảnh hưởng lớn.
đã qua thử thách thời gian của các nhà toán
học. Giải thưởng được trao tặng hai năm một
lần. GS Hoàng Tụy là người đầu tiên trên thế
giới được nhận giải thưởng vinh dự này.
Từ hơn 30 năm nay, GS Hoàng Tụy đã nổi
tiếng trong thế giới toán với tư cách là người
sáng lập ra lý thuyết “Tối ưu toàn cục”. Ông
là tác giả của gần 150 công trình khoa học
về nhiều lónh vực khác nhau của Toán học
như: Hàm thực, Quy hoạch toán học, Tối ưu
toàn cục, Lý thuyết điểm bất động, Đònh lý
Minimax... Cuốn chuyên khảo gồm phần lớn
những thành tựu nghiên cứu của GS. Hoàng
Tụy và học trò của ông mang tên "Global
Optimization-Deterministic Approaches" (Tối
ưu toàn cục - tiếp cận tất đònh) được Springer
(Nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới) in
lại ba lần từ năm 1990 đến năm 1996, được
coi là cuốn “Kinh thánh” dành cho các nhà
toán học trong lónh vực Tối ưu toàn cục.
Những năm 1980, GS. Hoàng Tụy đề xuất
và xây dựng Lý thuyết tối ưu DC (hiệu hai
hàm lồi) và mới gần đây, năm 2000, ông lại
đề xuất và xây dựng Lý thuyết tối ưu đơn
điệu. Năm 1997, ông cùng với H. Konno
(Nhật Bản) và Phan Thiên Thạch, là đồng tác
giả cuốn chuyên khảo "Optimization on Low
Rank Nonconvex Structures" (Tối ưu hóa trên
những cấu trúc không lồi thấp hạng), do Nhà
xuất bản Kluwer in. Năm 1998, ông lại cho
ra cuốn chuyên khảo "Convex Analysis and
Global Optimization" (Giải tích lồi và Tối ưu
toàn cục), cũng do Nhà xuất bản Kluwer in,
rồi được Springer in lại. Trong nước, ông đã
chỉnh lý và in lại lần thứ 5 cuốn giáo trình
GS Hồng Tụy
"Hàm thực và Giải tích hàm" (Giải tích hiện
đại) đã được sử dụng rộng rãi để giảng dạy
cho sinh viên ngành Toán từ 1959 đến nay.
Năm 1997, Viện Công nghệ Linkưping
(Thụy Điển) đã tổ chức một hội thảo quốc
tế với chủ đề "Tìm tối ưu từ đòa phương đến
toàn cục", để tôn vinh Giáo sư Hoàng Tụy,
"người đã có công trình tiên phong trong
lónh vực tối ưu toàn cục và quy hoạch toán
học tổng quát" và nhân dòp Giáo sư tròn 70
tuổi.
Năm 2007, một hội nghò quốc tế về "Quy
hoạch không lồi" đã được tổ chức ở Rouen,
Pháp để ghi nhận những đóng góp tiên
phong của GS Hoàng Tụy cho lónh vực này
nói riêng và cho ngành Tối ưu Toàn cục nói
chung nhân dòp ông tròn 80 tuổi.
Ngoài những thành tựu xuất sắc về toán
học, GS Hoàng Tụy còn nổi tiếng với những
đề xuất tâm huyết, mạnh mẽ, kiên trì, được
nhiều người đồng tình về cải cách giáo dục
phổ thông và đại học ở nước ta.
GS Hoàng Tụy được trao Giải thưởng Hồ
Chí Minh đợt I năm 1996, giải thưởng Phan
Châu Trinh năm 2010.
Nhân dòp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đã gửi lẵng hoa chúc mừng GS Hoàng
Tụy. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
cũng đã tới tận gia đình chúc mừng GS
Hoàng Tụy…
PHƯƠNG ANH (tổng hợp)
Vùn Hiïën
Trongsöënaây
viïåt Nam
Tạp chí xuất bản 02 kỳ/tháng
Kỳ chính ra ngày 25 hàng tháng
Kỳ chuyên đề Văn hóa - Kinh tế ra ngày 15
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT;
số 41/GP-SĐBS
Tháng 9 - 2011
Contents
september - 2011
Toà soạn - Trị sự
52 Hương Viên - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
ĐT&Fax: 04.39764693
Website: vanhien.vn
Email:
Văn phòng Ban chuyên đề
Số 6 - lô 12 B Trung Yên - Trung Hòa - Hà Nội
ĐT/Fax: 04.37831962
Cơ quan đại diện tại TP.HCM
288B, An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM
ĐT: 08.8353878
Cơ quan đại diện tại miền Trung và Tây Nguyên
Tầng 5 Khách sạn Eiffel, 117 Lê Độ, Đà Nẵng
ĐT: 0511. 647529
Fax: 0511. 811972
Chủ nhiệm
GS Hoàng Chương
Tổng biên tập
TS Phạm Việt Long
Phó Tổng Biên tập Thường trực
NB Nguyễn Thế Khoa
Phó Tổng Biên tập
TS Nguyễn Minh San
NB Trần Đức Trung
Trưởng ban Trị sự
NB Nguyễn Hoàng Mai
Giám đốc cơ quan đại diện tại TP.HCM
NB Võ Thành Tân
Thư ký tòa soạn
NB Từ My Sơn
NB Thu Hiền
4. Khi các bộ trưởng thể hiện ý chí vì dân
34. Cảm thức thời gian trong thơ Chế Lan Viên
Nguyễn Thế Khoa
6. Để hào khí Tây Sơn mãi tỏa sáng
Võ Như Ngọc
38. Người làm phim cần biết “sợ” điện ảnh
Lê Hữu Lộc
8. Anh Năm Công với nghệ thuật Tuồng
Võ sĩ thừa
Nguyễn Anh Tuấn
44. Những bất cập của nghệ thuật Cải
lương trên đất Bắc
11. Tộc có phả như nước có sử
Ngọc Anh
Lê Đại Cang
12. Đôi điều bàn thêm về bài thơ Nam
quốc sơn hà
46. Phạm Việt Long với “Giã từ”
Ma Văn Kháng
48. Phan Thanh Liêm và khát vọng rối
Ngô Ngọc Liễn
Ngọc Anh
14. Bình Định trong quá trình tìm đường
xuất dương cứu nước của Nguyễn Tất Thành
50. Tự vấn và thức tỉnh cùng Đỗ Kim Cuông
Lê Kim Toàn
16. Sự cống hiến của một vương tôn cho sự
nghiệp văn hóa dân tộc
GS Hoàng Chương
20. Câu hò sông Hương và cụ Ưng Bình
Trần Văn Khê
22. Tôn kính một sự chuyển hóa nghệ thuật
Lê Chức
25. Tuồng “Lộ Địch”
Nguyễn Khắc Phê
Nguyễn Phương Thảo
56. Sông Thương kỷ niệm
Nhật Giang
58. Với Thày
đỗ đức
60. Nghĩa thương làng Phụng Sơn
Mịch Quang
64. Văn hóa giao thông cần hướng tới đối
tượng trọng tâm là giới trẻ
Ưng Bình Thúc Giạ Thị
nguyễn quang long
66. An toàn giao thông ở Tokyo Nhật Bản:
Đôi điều rút ra cho các đô thị Việt Nam
Bìa 1:
Vịnh Hạ Long
Ảnh: TTXVN
Tài trợ phát hành
Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa
TP. Hồ Chí Minh
In tại
Công ty Cổ phần in Sao Việt, Hà Nội
Giá: 22.000đ
Vũ Xuân
68. Triển lãm kỷ niệm 100 năm sinh nhà
báo Wilfred Burchett
Ngọc Anh
34. Feelings of time in Che Lan Vien ‘s poetry
Nguyen The Khoa
6. To spirit of Tay Son period shining forever
Le Huu Loc
8. Mr Nam Cong and Classic drama art
Vo Sy Thua
11. People have family annals as countries have
history
Vo Nhu Ngoc
38. Film producer need fear movies
Nguyen Anh Tuan
44. Inadequacies of reformed theatre in the
North
Ngoc Anh
46. Pham Viet Long with “Say goodbye”
Le Dai cang
Ma Van Khang
12. Talk more something about the poem “The
Southest country”
48. Phan Thanh Liem and ambition of water
puppetry
Ngo Ngoc Lien
14. Binh Dinh in the times of Nguyen Tat Thanh
finding to go abroad
52. Lý Nhã Kỳ - Đại sứ du lịch Việt Nam
Hội đồng Biên tập
28. Người con gái tri âm tri kỷ của thi tiên
Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, GS Vũ Khiêu, Ưng Bình Thúc Giạ Thị
GS.NSND Trần Bảng, GSTS Trần Văn Khê,
Nguyễn Thế Khoa
GS Trường Lưu, GSVS Hồ Sĩ Vịnh, NB Phạm Đức
32. Cau
Lượng, GSTS Thái Kim Lan, NSND. TS Phạm Thị
Thành, NSND Đặng Nhật Minh, TS Đoàn Thị Tình,
Huỳnh Kim Bửu
GSTS Nguyễn Thuyết Phong, NVK Nguyễn Thế Kỷ
Trình bày
Từ My Sơn
4. Ministers show will of people
Ngoc Anh
50. To be introspective and disabused with Do
Kim Cuong
Le Kim Toan
Nguyen Khac Phe
16. Dedication of an aristocracy to national
culture
52. Ly Nha Ky - the ambassador of Vietnam
tourist
Hoang Chuong
20. The songs of singing out in Huong river and
Mr Ung Binh
Tran Van Khe
22. Respecting to transform art People’s artist
Nguyen Phuong Thao
56. Memories with Thuong river
Nhat Giang
64. Traffic culture need select to the young important object
le chuc
Nguyen Quang Long
Ung Binh Thuc Gia Thi
66. Safe traffic in Tokyo Japan: Something is
taken out to cities in Vietnam
25. Classical drama in Lo Dich
28. Divine poet Ung Binh Thuc Gia Thi ‘s heartto-heart daughter
Nguyen The Khoa
32. The areca tree
Vu Xuan
68. The exhibition of 100 anniversary of the
journalist Burchett ‘s birth
Ngoc Anh
Huynh Kim Buu
Khi các Bộ trưởng
thỂ hiỆn Ý chÍ vÌ dân
NGUYỄN THẾ KHOa
Bộ trưởng Bộ Tài chính
Vương Đình Huệ
C
“
húng tôi điều hành giá
xăng dầu không chỉ vì 11
doanh nghiệp đầu mối mà
vì hơn 80 triệu dân…”, lời nói và
hành động của Bộ trưởng Tài chính
Vương Đình Huệ trong việc quản lý
giá xăng dầu đã được người dân cả
nước cảm phục và chia sẻ sâu sắc.
Quyết tâm xây dựng một Chính
phủ “thực sự là công bộc của dân,
việc gì có lợi cho dân thì phải hết
sức làm, việc gì có hại cho dân thì
phải hết sức tránh” do Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đề ra trong phát
biểu nhận chức trên thực tế đã
biến thành hành động trách nhiệm,
dũng cảm, quyết liệt của một số
thành viên Chính phủ.
Ý thức tai họa lớn của nền kinh
tế đất nước là lãi xuất tín dụng quá
cao, Thống đốc Ngân hàng Nhà
4
Vùn
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Nguyễn văn bình
Bộ trưởng Bộ GTVT
Đinh la thăng
nước Nguyễn Văn Bình cam kết
khi nhận chức: Sẽ đưa lãi suất về
17-19% trong vòng hai tháng kể
từ ngày nhậm chức. Trong lòch sử,
chưa có vò Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước nào dám đưa ra một cam
kết như vậy. Nhưng không hề nói
suông, để thực hiện cam kết đầy
trách nhiệm đó, vò tân Thống đốc
đã đưa ra một loạt chính sách,
biện pháp mạnh tay đối với những
cá nhân và tổ chức vi phạm chính
sách lãi xuất. Kết quả là hai tháng
sau ngày nhậm chức, lãi suất cho
vay đã bắt đầu hạ. Với những gì đã
làm, Thống đốc Nguyễn Văn Bình
đưa ra một thông điệp: lợi ích của
ngành ngân hàng do ông quản lý
không thể đặt cao hơn lợi ích của
nền kinh tế, của nhà nước và nhân
dân.
Khi nhận chức, tân Bộ trưởng
Giao thông Vận tải Đinh La Thăng
tuyên bố ông muốn được toàn quyền
với tư cách tư lệnh ngành và sẵn
sàng chòu trách nhiệm về chủ trương
và hành động của mình. Ông không
ngần ngại khẳng đònh: “Chỉ khi đất
nước có đủ điều kiện mới làm đường
sắt cao tốc” còn hiện tại “sẽ ưu tiên
đầu tư đường bộ cao tốc Bắc Nam,
nâng cấp đường sắt hiện có, cân đối
phát triển đường quốc lo, tỉnh lộ, giao
thông nông thôn”. Ông khẳng đònh:
“Tất cả mọi chính sách xuất phát từ
đông đảo người dân chứ không phải
một bộ phận người dân... Cuối cùng
làm gì thì làm vẫn đảm báo lợi ích,
thuận lợi cho số đông người dân”.
Mục tiêu ích nước lợi dân của Bộ
trưởng Đinh La Thăng được người
dân theo dõi với nhiều trân trọng.
Hiểu rõ cơn bão giá đang tàn
phá đất nước, làm xói mòn niềm
tin của nhân dân, khi ngồi vào
chiếc ghế “nóng” Bộ trưởng Bộ Tài
chính, Bộ trưởng Vương Đình Huệ
đã nói “Ưu tiên số một” của ông
là “kiểm soát giá” nhất là giá các
mặt hàng nhạy cảm như điện, xăng
dầu, lương thực, thuốc chữa bệnh...
Ông cho rằng Bộ Tài chính và cá
nhân ông hoàn toàn tán thành việc
quản lý giá theo cơ chế thò trường.
Tuy vậy, cơ chế thò trường phải
gắn liền với các vấn đề an sinh xã
hội, hỗ trợ người nghèo. Bộ trưởng
Vương Đình Huệ nhấn mạnh: về
điều hành giá cả, nhất là với điện,
xăng dầu, cần phải dựa trên yếu
tố công khai minh bạch chi phí giá
thành và làm rõ thực chất việc lỗ
lãi của Tổng Công ty Xăng dầu và
Tập đoàn Điện lực VN. Là chuyên
gia từng hoạt động hàng chục năm
trong lónh vực kiểm toán, Bộ trưởng
Vương Đình Huệ hiểu tường tận
thực trạng tài chính doanh nghiệp
của các “ông lớn” này. Bởi vậy, ông
khẳng đònh: Với cách điều hành
giá hiện nay, thực chất không hề
có chuyệân các doanh nghiệp xăng
dầu lỗ như họ không ngớt kêu ca,
bởi trong bất cứ tình huống nào,
các doanh nghiệp này luôn được
đảm bảo lợi nhuận đònh mức.
Chính vì thế, ta có thể hiểu vì
sao Bộ trưởng Vương Đình Huệ lại
bình tónh và kiên đònh đến thế tại
hội thảo:“Điều hành giá xăng dầu
theo cơ chế thò trường” vừa qua,
khi đại diện ba doanh nghiệp xăng
dầu lớn nhất và một số cán bộ Bộ
Công thương, Bộ chủ quản của các
doanh nghiệp này, ra rả kêu lỗ, lên
án quyết đònh cho giảm giá xăng
của Bộ Tài chính vừa qua, đòi tăng
giá lại và lớn tiếng đe dọa về một
sự đổ vỡ hệ thống, gây mất an ninh
năng lượng cho đất nước. Ông nêu
ra mâu thuẫn kỳ quái (mà thực chất
rất có thể là một sự gian dối) khi
Petrolimex một mặt kêu “lỗ trường
kỳ” với các cơ quan quản lý nhà
nước, một mặt khai lãi hàng nghìn
tỷ đồng khi lên sàn chứng khoán,
vạch rõ những điều chưa minh
bạch trong hạch toán lỗ lãi của
doanh nghiệâp khổng lồ này. Ông
nhận trách nhiệm cá nhân về quyết
đònh cho giảm giá xăng 500 đồng/
lít ngày 26-8 và cho biết: tính đến
ngày đó, Petrolimex ngoài khoản
lãi đònh mức 300 đồng/lít, theo số
liệu hải quan, còn dôi ra một khoản
lãi 780 đồng/lít. Với thái độ hết
sức sòng phẳng, Bộ trưởng Vương
Đình Huệ kết luận dứt khoát: “Do
thò phần của Petrolimex, Saigon
Petro và PVOil đủ 90% nên không
thể để doanh nghiệp tự đònh giá mà
phải có kiểm soát. Nếu cách điều
hành giá gây thiệt hại cho doanh
nghiệp, chúng tôi chòu trách nhiệm
và bồi thường. Nếu doanh nghiệp
nào không làm được nhiệm vụ thì
rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu lỗ
quá có thể xin giải thể để nhà nước
lập tổng công ty khác. Nhà nước
không dọa ai nhưng cũng không ai
dọa được nhà nước…Chúng tôi điều
hành giá xăng dầu không chỉ vì 11
doanh nghiệp đầu mối mà vì hơn
80 triệu dân…".
Cuộc đột kích đầy dũng khí,
công tâm và trí tuệ của Bộ trưởng
Vương Đình Huệ vào trận đồ bát quái
giá xăng dầu, một lónh vực được coi
là rất tù mù, thiếu minh bạch, dễ bò
một nhóm lợi ích (liên kết các quan
chức và doanh nghiệp) trục lợi gây
thiệt hại khôn lường cho nhà nước và
người dân, đã như một làn gió mát
làm dòu phần nào sức nóng thiêu đốt
của cơn bão giá đang làm nghiêng
ngả đất nước và cuộc sống nhân
dân.
Hành động của Thống đốc
Nguyễn Văn Bình, của Bộ trưởng
Đinh La Thăng và nhất là của Bộ
trưởng Vương Đình Huệ cho thấy
không ít thành viên Chính phủ
quyết không để lời tuyên thệ nhận
chức của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng về một Chính phủ “thực sự vì
nước vì dân” chỉ là một khẩu hiệu
suông. Họ đang hành động cho lời
tuyên thệ thiêng liêng ấy được thực
thi trong cuộc sống. Đã bắt đầu có
những cuộc đột kích không khoan
nhượng vào sự thống trò ngang
ngược nhưng khá tinh vi, bền vững
của các lợi ích cá nhân, lợi ích
nhóm không chính đáng. Những
cuộc đột kích đang dấy lên hy vọng
sẽ có một cuộc tổng công kích vào
các lợi ích đen tối này trên toàn mặt
trận kinh tế để bảo vệ lợi ích chính
đáng của đất nước và nhân dân.
Hôm qua, báo điện tử Dân Việt
đăng một bài viết xúc động về người
mẹ của Bộ trưởng Vương Đình Huệ.
Người mẹ 90 tuổi ở làng chài Xuân
Lộc, Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An
ấy, từng một thời nghèo cực phải mót
bo bo, cào nghiêu, mò cua bắt ốc,
nhặt cá rơi, một mình nuôi cả 8 con
ăn học đến nơi đến chốn (chồng bà
bò thương và mất trong kháng chiến
chống Mỹ). Trong 8 đứa con của bà,
đứa thứ hai, Vương Đình Ngọc, đã
nhập ngũ và hy sinh ở chiến trường
miền Nam năm 1973, và đứa thứ tư,
Vương Đình Huệ, nay là Bộ trưởng
Tài chính. Được hỏi bà mong chờ gì
ở Bộ trưởng Vương Đình Huệ, người
mẹ xứ Nghệ này nói mỗi khi ông
Huệ về thăm nhà bà thường dặn
ông: “Đã làm “đầy tớ” của dân thì
phải làm cho hết lòng. Yêu lấy dân
thì dân sẽ yêu lại”.
Vâng, với đứa con đã thành
một “quan lớn” cỡ “nhất phẩm triều
đình”, người mẹ nghèo này không
hề nghó tới chuyện giờ đã được
coi là đương nhiên “một người làm
quan, cả họ được nhờ”, bà chỉ mong
ông hết lòng làm tròn phận sự một
đầy tớ của dân, biết yêu dân để
được dân yêu lại. Trong lời căn dặn
của người mẹ, ta nghe được lời dặn
của Bác Hồ, của Đảng…
Chúng ta mong ông Vương
Đình Huệ, ông Nguyễn Văn Bình,
ông Đinh La Thăng cùng các thành
viên khác của Chính phủ sẽ kiên
tâm dũng cảm chấp nhận mọi
thách thức khó khăn, mọi cái giá
phải trả để phấn đấu thực hiện trọn
vẹn những lời căn dặn sâu nặng
tình dân nghóa nước ấy…
Vùn Hiïën 5
viïåt Nam
Để hào khí
Tây Sơn
mãi mãi toả sáng
L HỮu Lc
Chủ tòch UBND tỉnh Bình Đònh
Chiều ngày 13 tháng 9 năm 2011, tại chùa Kim
Sơn, Hà Nội, lễ khánh thành nhà bia tưởng niệm
nghóa quân Tây Sơn đã được tổ chức long trọng.
Đến dự có đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ
Chính trò, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban
Tuyên giáo Trung ương, Phó Thủ tướng Nguyễn
Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình
Huệ, Bộ trưởng Thông tin truyền thông Nguyễn
Bắc Son, Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du
lòch Huỳnh Vónh Ái, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào
tạo Bùi Văn Ga, nhiều Ủy viên Trung ương Đảng,
tướng lónh Quân đội Nhân dân VN, Phó Chủ tòch
kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Lòch sử Dương
Trung Quốc, GS Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm
Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá Dân tộc
VN, Chủ tòch HĐQT Ngân Hàng Đầu tư và Phát
triển VN (BIDV) Trần Bắc Hà. Phía lãnh đạo tỉnh
Bình Đònh có các đồng chí Nguyễn Văn Thiện,
UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tòch UBND tỉnh
Lê Hữu Lộc, Nguyễn Văn Hải, Uỷ viên dự khuyết
TƯ Đảng, Bí thư huyện uỷ Hoài Ân, nhà viết kòch
Văn Trọng Hùng, Giám đốc Sở VHTTDL cùng
nhiều cán bộ cao cấp người Bình Đònh đã nghỉ
hưu và hàng trăm cán bộ BIDV, nhà nghiên cứu,
phóng viên báo chí. Dưới đây là bài phát biểu
của Chủ tòch UBND tỉnh Bình Đònh Lê Hữu Lộc
tại buổi lễ.
T
rước hết xin thay mặt Tỉnh uỷ, UBND tỉnh
Bình Đònh tôi xin gửi đến quý vò đại biểu ở
Trung ương và Hà Nội, quý sư thầy, tăng
ni chùa Kim Sơn lời chúc sức khoẻ, an lạc và hạnh
phúc.
Từ ý tưởng tôn vinh nghóa só Tây Sơn đã anh
dũng hy sinh trong trận chiến lòch sử đại thắng
quân Thanh xâm lược mùa xuân năm Kỷ Dậu
(1789), được tăng ni chùa Kim Sơn và nhân dân
Hà Nội hương khói hàng trăm năm nay, được sự
nhất trí của Bộ Văn hoá, Thể thao Du lòch và Uỷ
ban Nhân dân thành phố Hà Nội, với sự khởi tâm
6
Vùn
Lễ khánh thành nhà bia tưởng niệm nghĩa qn Tây Sơn
tại Chùa Kim Sơn, Hà Nội
công đức giúp đỡ, tài trợ về kinh phí của ông
Trần Bắc Hà, Chủ tòch HĐQT Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, cùng các doanh nhân và
sự đóng góp của UBND tỉnh Bình Đònh, công trình
trùng tu tôn tạo Nhà bia tưởng niệm các nghóa
só Tây Sơn tại chùa Kim Sơn được khởi công xây
dựng. Đến nay công trình đã hoàn thành, đảm
bảo các yêu cầu đề ra. Đặc biệt với tâm huyết và
tài hoa của mình, Giáo sư Anh hùng Lao động
Vũ Khiêu đã viết lên một áng văn bi hùng lòch
sử giàu chất nhân văn, khắc vào bia đá lưu niệm
nghìn năm, trường tồn cùng non nước.
Hôm nay đọc những dòng văn bia này, chúng
ta không khỏi tự hào về quê hương đất nước, tự
hào về cuộc khởi nghóa nông dân Tây Sơn quật
khởi hào hùng. Phong trào Tây Sơn với sự tham
gia của hàng vạn nghóa quân từ Nam chí Bắc đã
lập nên những chiến công hiển hách trong lòch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc, đập tan ý đồ
xâm lược của các thế lực ngoại bang, thể hiện ý chí
độc lập tự chủ của dân tộc ta được hun đúc qua
mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đặc biệt,
chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút và chiến thắng
Ngọc Hồi - Đống Đa là những trận chiến chống
ngoại xâm nổi tiếng nhất trong lòch sử Việt Nam:
Rạch Gầm - Xoài Mút, ba trăm thuyền vùi xác
bọn Chiêu Tăng
Khương Thượng, Đống Đa, hai chín vạn tan
hồn quân Só Nghò
Chúng ta không khỏi xúc động trước những
hy sinh mất mát của các nghóa binh Tây Sơn và
xương máu và linh hồn họ vẫn còn nằm lại trong
ngôi chùa Kim Sơn, được chùa cung kính, lập đàn
chay để tưởng niệm vào mùng 5 tháng giêng âm
lòch hàng năm, thể hiện tấm lòng từ bi, tưởng nhớ
tri ân của nhà chùa, của người dân Thăng Long Hà Nội với các nghóa binh Tây Sơn đã trung dũng
hy sinh vì độc lập chủ quyền dân tộc:
Tình cố quận dẫu theo về Bình Đònh
Mảnh hình hài đành gửi lại Thăng Long
Từng trải năm qua tháng lại,
chùa Kim Sơn khói toả sương bay
Dù cho vật đổi sao dời,
lòng Hà Nội trọn tình vẹn nghóa.
Hôm nay, chúng tôi từ quê hương Bình Đònh
được sự giúp đỡ của các tổ chức, doanh nhân đã
xây dựng Nhà bia ghi nhớ chiến công và sự hy
sinh của các anh hùng nghóa só Tây Sơn, nhằm thể
hiện tấm lòng tưởng nhớ tri ân của người dân
Bình Đònh đối với các nghóa só Tây Sơn ở mọi
miền đất nước nói chung và những người con quê
hương Bình Đònh nói riêng, đó cũng là tấm lòng
thành kính và tri ân của hậu nhân đối với công
sức, máu xương của các bậc tiền nhân để lưu danh
muôn thû.
Dựng nơi thờ, để mãi mãi khói hương thơm
Dựng bia đá, để đời đời con cháu biết
Và để cho:
Công lao kia rực sáng giữa sơn hà
Khí phách ấy soi cao cùng nhật nguyệt!
Có được công trình nhà bia tưởng niệm nghóa
quân Tây Sơn khang trang tôn nghiêm bề thế hôm
nay, chúng tôi xin bày tỏ lòng tri ân và cảm ơn sự
ủng hộ quý báu của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam cùng các doanh nhân đã có nghóa
cử cao đẹp đối với các bậc tiền nhân, cảm ơn Bộ
Văn hoá, Thể thao và Du lòch, UBND thành phố
Hà Nội đã quan tâm chỉ đạo, cảm ơn GS Anh
hùng Lao động Vũ Khiêu đã dày công viết lên
những dòng văn bia bất hủ, cảm ơn lãnh đạo các
cơ quan, đơn vò ở Trung ương đã quan tâm, tập
trung mọi nỗ lực hoàn thành công trình đúng tiến
độ đề ra, cảm ơn ni sư Thích Đàm Tiên và quý
tăng ni Chùa Kim Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ
để công trình sớm hoàn thành.
Trong thời gian tới, rất mong các cơ quan chức
năng tiếp tục giữ gìn và phát huy Nhà bia tưởng
niệm cũng như di tích chùa Kim Sơn trở thành
một điểm tham quan du lòch, nơi công chúng đến
chiêm bái, bày tỏ lòng thành kính thiêng liêng
đối với các bậc tiền nhân nghóa só Tây Sơn, tích
cực bảo tồn và phát huy những giá trò lòch sử và
văn hoá sâu sắc của di tích, phục vụ nhu cầu tâm
linh, sinh hoạt văn hoá của nhân dân. Qua đó làm
cho hào khí Tây Sơn mãi mãi toả sáng và tiếp sức
cho lớp lớp hậu thế vững bước đi lên, đóng góp
tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
nước nhà…
Chùa Kim Sơn, Hà Nội
Vùn Hiïën 7
viïåt Nam
Anh
Năm Công
VỚI NGHỆ THUẬT TUỒNG
Đồng chí Võ Chí Cơng
D
NSND VÕ SĨ THỪa (kể) - tRƯƠNG HONG (ghi)
ưới mái trường khu căn cứ đòa, tiếng
trống, tiếng kèn, tiếng nhò, tiếng ắc-cocde-ông, ghi-ta… cùng vang lên giữa núi
rừng Trường Sơn âm u từ khi chúng tôi đặt chân
trên mảnh đất này. Căn cứ của khu V bỗng trở
nên sôi động. Cán bộ và chiến só náo nức chờ xem
văn công. Một hôm, anh Phi phó ban tuyên huấn
đến thăm chúng tôi và báo tin: “Tối mai anh Võ
Chí Công sẽ đến thăm đoàn”. Chúng tôi cảm thấy
rất vui vì sắp được gặp người lãnh đạo nổi tiếng
của miền Trung và cũng là người rất yêu thích
nghệ thuật Tuồng.
Đúng 2 giờ chiều ngày hôm ấy, chúng tôi bắt
đầu hành quân đến 11 giờ khuya là tới đòa điểm
biểu diễn, đây cũng là nơi đồng chí bí thư khu uỷ
sẽ đến thăm và xem đoàn biểu diễn. Anh Năm
Công vừa thấy chúng tôi đã ôm hôn từng người,
nhất là các cô nữ được anh Năm ngắm nghía
lâu hơn và dành cho những lời hỏi han rất thân
tình. Chúng tôi thấy anh Năm Công da xanh xao,
vàng võ, người gầy, trên đôi mắt anh nước mắt
chảy dài xuống đôi gò má nhăn nheo. Chúng tôi
thương anh quá nên tất cả đều xúc động và khóc.
Anh Năm lau nước mắt rồi cười và hỏi: “các cô,
Ngày 30/10/1989, khi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí Võ Chí Cơng thăm huyện Phước Sơn (Quảng Nam).
Ơng được mọi người vẫn gọi với biệt danh thân mật là anh Năm.
8 Vùn Hiïën
viïåt Nam
các chú vào đây chắc là gian khổ lắm phải không?
Có ai đau ốm không? Phải dùng thuốc phòng, coi
chừng sốt rét rừng đấy!.
Dưới bóng cây rừng mùi trà Mai Hạt toả
hương thơm phức (trà Mai Hạt là loại ngon nổi
tiếng ở Đà Nẵng) hoà trong mùi thuốc lá Sông
Cầu, càng làm cho không khí thêm ấm nồng.
Đồng chí Văn Phụng Hoàng đứng lên báo
cáo với anh Năm Công về cuộc hành quân 76
ngày đêm của chúng tôi và chủ trương của Bộ
Văn hoá về việc xây dựng đoàn văn công giải
phóng miền Trung. Sau nghe báo cáo của đồng
chí trưởng đoàn, anh Năm Công nói: “Tôi biết
Bộ Văn hoá cũng bóp bụng để các đồng chí vào
đây vì ưu tiên cho miền Nam vì thống nhất đất
nước là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu. Tôi biết
các đồng chí vào đây là những hạt nhân, những
tài năng quý giá của đất nước. Các đồng chí an
tâm, khu uỷ đã giao cho Ban tuyên huấn chăm lo,
tạo mọi điều kiện thuận lợi, giảm bớt khó khăn
để đoàn ta hoàn thành nhiệm vụ. Bà con Khu V
ta được xem một buổi biểu diễn của Đoàn chắc là
thích lắm. Tuyên huấn, giáo dục tuyên truyền cả
tháng, hiệu quả chưa chắc đã bằng xem các đồng
chí biểu diễn một đêm…
Cuộc gặp gỡ chưa đầy 20 phút, bỗng nhiên
tôi thấy mặt mày anh Năm tái nhợt. Người bảo
vệ vội mang chiếc áo đại cán choàng qua người
anh. Vậy mà anh vẫn run lên vì cơn sốt ập đến.
Chúng tôi mời anh vào lán nằm. Anh đi trong
bước chân lảo đảo và khuất dần trong lán. Anh
nằm trên sạp nứa, các đồng chí cận vệ đắp hai, ba
lớp chăn cho anh mà anh vẫn run làm rung rinh
cả sạp nứa. Tôi hỏi ra mới biết sốt rét rừng lúc
lên cơn là vậy đó. Đồng chí trung đội trưởng bảo
vệ nói với chúng tôi: “Trước đây một tháng, anh
Năm bò sốt rét, uống thuốc đã khỏi, vừa rồi anh
phải vượt cả ngày núi đèo đến thăm Đoàn, vất
quá nên cơn sốt lại tái diễn”. Nghe nói, chúng tôi
ai cũng xúc động và suy nghó: Chỉ có những người
lãnh đạo của Đảng, những học trò của Bác Hồ
mới yêu nghệ thuật dân tộc, mới quý trọng nghệ
só như vậy. Chúng tôi lại càng lo cho sức khoẻ của
mình, mặc dù ai cũng đã xác đònh rằng, vào chiến
trường là trên bom, dưới đạn, muỗi rừng, vắt lá
tấn công, sốt rét rừng là điều tất nhiên phải chấp
nhận. Chúng tôi lại lo, không biết tối nay anh
Năm Công có thể xem mình diễn được không?
Nếu anh không xem được thì thật là buồn. Để có
được đêm diễn hôm nay, chúng tôi đã đổ biết bao
mồ hôi nước mắt cũng như anh Năm Công đã vất
vả biết chừng nào mới có mặt ở đây. Chưa bao
Đồng chí Võ Chí Cơng tiếp Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm
Đà Nẵng sau giải phóng, 29/3/1975
giờ chúng tôi lại sống những phút hết sức xúc
động, lại lo âu và ngạc nhiên ngoài tưởng tượng
như những giờ phút gặp anh Năm Công ở giữa
chiến trường.
Không biết anh Năm ra lệnh từ bao giờ mà
một bữa tiệc đủ món: thòt heo, thòt trâu, xôi, thòt
gà… bày ra trên những chiếc đóa bằng lá rừng,
nước xáo thì đựng trong ăng gô. Các món ăn còn
bốc hơi nghi ngút, toả mùi thơm ngào ngạt. Một
đồng chí trong ban tuyên huấn giọng vui vẻ tuyên
bố.
Hôm nay anh Năm chiêu đãi văn công. Qua
cơn sốt anh Năm sẽ dùng sau. Bây giờ anh Năm
bảo chúng ta vào tiệc trước. Anh Năm dặn các
đồng chí phải ăn thật nhiều cho có sức để tối diễn
thật hay.
Tất cả mọi người vào tiệc, một bữa tiệc giữa
rừng Tây Nguyên âm u mà hùng vó, một bữa tiệc
đặc biệt mà có lẽ cả đời tôi chưa được thấy bao
giờ! Các món ăn ở đây chỉ nấu bằng muối trắng
mà sao ngon đến kỳ lạ. Chúng tôi ăn mãi mà
không biết chán, vì đã bốn tháng qua, đâu có thấy
miếng thòt, nắm xôi nào! Có lẽ vì sự thèm thuồng,
thiếu thốn trong cơ thể, sự khát khao của khẩu vò
nên càng thấy ngon.
Bữa tiệc kết thúc, kim đồng hồ chỉ 7 giờ tối.
Đồng chí bảo vệ đến thông báo với chúng tôi:
Anh Năm khoẻ lại rồi, anh sắp dùng cơm và đúng
Vùn Hiïën 9
viïåt Nam
8 giờ anh ra xem biểu diễn. Có niềm vui nào bằng
ở giữa chiến trường mà được ăn ngon và được
diễn báo cáo với người lãnh đạo cao nhất của toàn
miền. Chúng tôi nhanh chóng bố trí sân khấu, hoá
trang phục trang. Sau một giờ là đâu vào đấy.
Đây là đêm diễn đầu tiên: sân khấu là một
khoảng đất bằng có thảm cỏ xanh. Ánh sáng là
hai ngọn đèn măng sông được bọc kín chỉ phát
ra một luồng ánh sáng vừa đủ rọi vào sân khấu
rộng 4 mét vuông vì sợ máy bay đòch phát hiện
mục tiêu. Trên sân khấu có phủ lên một tấm vải
màu lá cây để hạn chế âm thanh và ánh sáng phát
ra. Trống phải đánh nhỏ, kèn thổi phải ghì loa
xuống đất. Hình thức biểu diễn này, nhiều anh chò
em trong đoàn hơi bỡ ngỡ. Riêng tôi thì đã quen,
vì thời chống Pháp đã từng diễn kiểu này. Đêm
hôm đó diễn ba trích đoạn dài, tôi đóng các vai
Trần Bình Trọng, Lê Lợi và ông già Thương. Cứ
qua một trích đoạn Tuồng là xen vào tiết mục Bài
chòi và ca múa. Cái cảm hứng của người nghệ só
trong đêm nay là cảm hứng lạ lùng, nó chân thật
đến mức kỳ lạ. Dường như tất cả tài năng, sức lực
và tình cảm của người diễn viên đều dồn cho vai
diễn và đều truyền tới anh Năm Công và những
khán giả đặc biệt ở đây.
Trong vai Trần Bình Trọng đứng trước tên Thoát
Hoan, tôi hát câu hát khách: Núi hận vỡ chưa xong
(dân tộc ta đã từ ngàn đời xưa) biết giết giặc, quyết
không hàng giặc.
Bể thù mong lấp cạn (nay bay bắt được tao, dù
tao có chết đi nữa là) quyết đem tính mạng báo ơn
dân”. Anh Năm Công chăm chú xem, đôi tay anh
vò chiếc áo khoác đặt trước ngực, hai chân xếp
bằng dưới đất. Anh vỗ tay và tất cả mọi người
cùng vỗ tay theo anh như pháo nổ.
Khi đóng vai Lê Lợi, lớp Lê Lai liều mình đi
cứu chúa, tôi hát câu nam ai:
Đ/c Võ Chí Cơng (người đứng đầu, bên trái) ở Khu V, 1959
10
Vùn
“Giọt máu đào tươi màu trung nghóa (nay Lê
huynh thế mạng cho ta, vậy là)
Sử muôn đời trung liệt còn ghi”
Cũng như lần trước, anh Năm lại vỗ tay và
mọi người cùng vỗ. Tiếng pháo tay làm cho âm
vang núi rừng như chuyển động.
Chúng tôi kết thúc buổi biểu diễn bằng vở
tuồng “Gian bất khuất”. Có thể tóm tắt: giặc Mỹ ng bắt được người con trai ông Thương, chúng
moi lấy gan đem đưa cho ông Thương, bảo cha
xào gan con cho chúng ăn, uống rượu…
Tôi đóng vai ông Thương, đoạn ông bưng lá
gan tươi sống của con trai mình đi nấu cháo cho
đòch ăn, đoạn này hát chỉ có một câu: “Đây là gan
của con lão…”Giông tố nổi trong lòng, được diễn
tả bằng động tác xiếng. Nước mắt tôi chảy dàn
dụa. Tôi bước đi lảo đảo, ngã rồi lại đứng, đứng
lại bước đi loạng choạng. Vậy mà cuốn hút đến lạ
kỳ. Anh Năm ngồi chòm lên và anh khóc. Anh và
mọi người đều không vỗ tay mà lặng im như lòm
đi. Rừng núi lúc này dường như cây lá cũng đứng
im vì xúc động. Ôi! Sức mạnh của nghệ thuật sân
khấu kỳ diệu làm sao!.
Kết thúc buổi diễn, anh Năm Công và các đồng
chí khác tràn lên sân khấu bắt tay và tặng cho
các nghệ só những bông hoa rừng. Anh Năm ôm
chặt tôi vào lòng. Anh nói thì thầm: Só Thừa, Só
Thừa đáng quý lắm…! Cố gắng giữ gìn sức khoẻ
để biểu diễn cho đồng bào xem…”Ánh sáng đèn
măng sông đã tắt, Anh Năm Công lưu luyến ra về.
Mọi người cũng lần bước ra trong đêm tối. Tôi mệt
quá phải nằm đu đưa trên chiếc võng ni-lon. Đêm
đen bao trùm và núi rừng như lặng trong giấc ngủ.
Tôi không sao chợp mắt được vì cái hứng cảm của
người nghệ só biểu diễn Tuồng cứ rạo rực trong tim
tôi và tấm lòng cao cả của anh Năm Công. Có thể
nói từ lúc mới vào nghề đến nay đã qua hàng ngàn
đêm diễn nhưng chưa có đêm nào tôi cảm thấy
hứng thú và diễn chân thật như đêm nay. Giá vợ
con tôi và đồng nghiệp của tôi ở miền Bắc mà biết
được tin này thì vui biết mấy!
Sáng hôm sau chúng tôi tạm biệt anh Năm
Công, tạm biệt cái sân khấu đặc biệt, về lại nơi
đóng quân. Lúc đi sao thấy rất xa, giờ trở về lại
gần quá. Có lẽ vì nỗi phấn khởi đêm hôm qua và
hình ảnh anh Năm Công đã thúc giục bước chân
chúng tôi mạnh mẽ hơn, leo núi không thấy mỏi,
lội suối không thấy đá gai. Chỉ trong ngày hôm
ấy chúng tôi đã về tới chỗ trú quân để tiếp tục
công việc luyện tập tiết mục chuẩn bò cho những
buổi diễn khác phục vụ cho đồng bào và chiến só
trên quê hương Liên khu 5 yêu dấu.
Tộc có phả
như nước có sử
V
LÊ ĐI CaNG
Nhà xuất bản Dân trí vừa cho ra mắt cuốn sách “Lê Đại Cang và Lê thò gia phả”
giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp Lê Đại Cang, một kẻ só thời Nguyễn, từng được hậu thế
ca tụng vì những phẩm chất “tận trung”, ‘tận hiếu” cao đẹp và bản gia phả dòng họ do
ông biên soạn. Trong cuốn sách này, phần “Lời tựa” của bản gia phả rất được các nhà
phả học chú ý. Xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.
ả, sự giáo dục về dòng
họ xưa nay vốn thế.
Chữ "tánh" (họ) có chữ
"sanh", điều ấy có nghóa là tổ
tiên kế tiếp sanh sôi, trăm đời
không thay đổi. Tộc tức là thuộc
vậy, con cháu cùng chung liên
"thuộc" vào nhau. Xưa kia, họ
Phục Hy đầu tiên xác đònh dòng
họ để coi trọng nhân luân, nhà
Hạ cho thổ tính, nhà Châu làm
tông pháp, lập tông từ tộc, lấy
tánh từ tông. Từ vua quan đến
thứ dân không đời nào không
giữ điều ấy. Về sau bỏ tông
giáp, nghóa thờ cha mẹ cũng trái
khoáy.
Đến khi "Sử ký" Tư Mã
Thiên ra đời, nhân có "Châu phả minh thế gia"
từ ấy về sau việc làm gia phả hưng thònh. Đến
thời nhà Đường càng thònh. Bởi lẽ việc làm tộc
phả không chỉ liệt kê tên các đời mà thôi, mà
còn có ý răn dạy khuyên bảo nữa. Vã chăng
chuyện một họ có giàu, nghèo, sang, hèn, hiền,
dữ khác nhau đều qui tụ trong phả. Ở đấy có
những điều đáng mừng, đáng tiếc, đáng ghét,
đáng tự hào, đáng răn dạy, khiến cho khuyến
khích người nghèo thành giàu có, khích lệ kẻ
hèn thành người sang, hóa người hung dữ thành
người hiền, chẳng hay biết bao!
Cho nên tộc có phả như nước có sử, không
sử thì truyền thống ngày càng sa sút, văn hiến
rơi vãi, không phả thì thế hệ không rõ, cội nguồn
mờ mòt. Hai cái ấy tuy có khác song không thể
thiếu một. Lễ có ba cái gốc, trời đất là gốc của
sinh, tổ tiên là gốc của loài, vua thầy là gốc của
trò, không trời đất thì làm gì có sinh, không vua
thầy thì làm sao có trò, không
tổ tiên thì từ đâu mà ra. Cho
nên Lễ: trên thì thờ trời, dưới
thì thờ đất, tôn kính tổ tiên,
yêu q vua thầy. Tôn kính cái
gốc đó là điều lớp người trước
luôn luôn xem trọng. Thời gần
đây không như vậy, bỏ cái gốc
đuổi theo cái ngọn, lấy thế làm
tông, nhận lợi làm họ, hoặc đổi
lấy họ nhà khác, hoặc cho đầy
tớ lấy họ mình, nuôi con người
khác lấy họ mình, coi như gốc
tổ sinh ra, mạo nhận họ khác
làm người thừa kế. Thực là gây
ra nhiều những băn khoăn.
Trước đây tôi từng tìm
được quyển phả của ông chú
để lại nhiều chỗ hư nát, trải qua bao năm rồi
vẫn đọc chưa hiểu, nếu cứ để vậy ngày sau sẽ ra
sao? Nếu không nhân dòp này mà viết lại thì tổ
tông đã qua đời trở thành biệt vô âm tín, tương
lai sẽ mù mòt chẳng hiểu biết gì cả, làm sao để
có thể gọi là tiếp trước nối sau. Bèn thu thập tài
liệu cũ, cộng với những điều nghe được, biết
được, mỗi khi rảnh rỗi lần lượt bổ chính, từ đời
thủy tổ trở xuống đều phải lược thảo. Hiềm vì
tôi văn không đủ sức. Lễ nói: những việc còn
ngờ không việc nào không phải hỏi lại cho chắc.
Bản phả này cốt ghi chép sự thực lấy đó làm
gương soi cho dòng họ, chỗ nào ngờ thì gác lại
không dám chép gượng ép. Ngu Bá Sinh nói:
"Là con cháu ai có thể chẳng quên sự việc của
cha ông mình ấy là kẻ só trung hiếu vậy".
Thơ rằng: Không nghó gì đến tổ tiên anh thì
phải sửa chữa ngay về cái Đức. Điều này trông
cậy vào những con cháu khỏe mạnh về sau.
Vùn Hiïën 11
viïåt Nam
Đôi điều bàn thêm về bài thơ
NAM QUỐC SƠN HÀ
NGÔ NGỌc LIỄN
T
rong cuộc sống có những điều ta coi như
hoàn chỉnh, tuyệt đối nhưng nếu mạnh dạn
nhìn lại, xem lại vẫn mong có thể có được
cái nhìn, cách nhận đònh phong phú, hợp lý hơn.
Xin đề cập đến trường hợp bài thơ thần: Nam
quốc sơn hà mà chúng ta chắc ai cũng nhớ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên đònh phận tại thiên thư
Như hà nghòch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bài thơ này chưa xác đònh được ai dòch nghóa
ra tiếng Việt đầu tiên, nhưng chúng ta ai cũng biết
qua sách giáo khoa hay qua các sách báo văn học
với bản dòch theo nghóa:
“Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
12
Vùn
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành đònh phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm lược
Chúng bay sẽ bò đánh tơi bời.
Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam: Lê ThướcNam Trân có bản dòch thơ:
Núi sông Nam Việt, vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất đònh phải tan vỡ
Nhà thơ Ngô Văn Phú cũng dòch thành thơ
(trong cuốn: 300 bài thơ Việt chữ Hán - NXB Hội
NhàVăn)
Sông núi nước Nam, Nam đế ở
Rõ ràng đònh phận tại sách trời.
Cớ sao giặc dữ sang xâm phạm,
Tơi tả rồi bay thàm hại thôi.
Một điều dễ nhận thấy, bài thơ nguyên gốc
chữ Hán là bài thơ Đường luật, theo thể “thất
ngôn tứ tuyệt”- bảy chữ bốn câu; với cách ngắt
trong câu theo: 4 chữ, tiếp 3 chữ . Như vậy theo
các bài thơ dòch trước đây câu cuối phải đọc theo
cách ngắt câu là:
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
tức là 4 chữ rồi tiếp 3 chữ; khác với cách đọc
của ba câu trên.
Theo ông Nguỹễn Hùng Vó trong bài: Cố GS
Nguyễn Tài Cẩn -19 năm sửa bài “Nam quốc sơn
hà” (Thể Thao - Văn Hóa, số 86, tác giả Chiêu
Minh), GS Nguyễn Tài Cẩn năm 1979 khi tham dự
hội thảo về bài thơ này đã lý giải việc đọc thơ phá
cách như vừa nêu cũng đã có trong tiền lệ thơ cổ.
Nếu câu cuối của bài thơ được đọc theo thông lệ
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (chúng bay
lại nhìn thất bại ư)
Từ “chúng bay”theo nghóa như ta trước nay vẫn
hiểu để nói với quân xâm lược nay chuyển sang là
để nói với quân, dân ta. Xin được tạm dòch:
Sông núi nước Nam, Nam đế ngụ
Sách trời thật rõ đã phân khu
Cớ sao lũ giặc dám xâm phạm
Bay chòu ngồi nhìn thất bại ru.
Tuy với 2 cách kiến giải này bài thơ không
thay đổi gì về ý nghóa bản chất, nhưng nhìn nhận
lại, theo bản thân, cách hiểu theo nghóa mới không
chỉ thể hiện về cách đọc bài thơ thần nổi tiếng
trên vẫn nằm trong cách đọc thơ chuẩn, mà còn
thích hợp với hoàn cảnh, thời điểm ra đời của bài
thơ hơn:
”Theo văn học sử trước nay ghi nhận bài thơ
Nam quốc sơn hà được xuất hiện trên chiến tuyến
sông Như Nguyệt, quân Tống bên bờ phía bắc và
quân ta bên bờ phía nam, cầm cự nhau đã lâu
ngày không phân thắng bại, giữa đêm trong đền
thờ thần Trương Hống, Trương Hát vang lên tiếng
đọc bài thơ trên để khích lệ quân só trước trận
quyết chiến ngày hôm sau, buộc quân Tống thua
phải rút về nước; do đó dược gọi là bài thơ thần”.
Như vậy nếu hiểu theo nghóa như ta vẫn chấp
nhận trước nay là để cảnh báo trước thất bại cho
Đền thờ Lý Thường Kiệt tại Thanh Hóa
Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam quốc tự
quân Tống không thích hợp vì chiến cuộc đă diễn
ra gần tháng bằng theo nghóa sửa lại là để khích
lệ quân só trước trận quyết chiến lòch sử vào sáng
hôm sau.
Nhân cũng muốn bàn thêm về tác giả của bài
thơ gốc, theo Wikipedia trong sách Văn thơ thời
Đinh, tiền Lê dẫn trong Lónh Nam trích quái (dạng
cổ sử) thì tác giả của bài thơ “Nam quốc sơn hà” là
của Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cũng trước trận
thủy chiến với quân Tống - 30 tháng 10 năm 981”
đêm tối mưa giông, sấm chớp, vang lên bài thơ
thần trên khiến quân Tống sợ hãi, sáng sau phải
rút chạy”. Nếu nhìn lại điều kiện xuất hiện của
bài thơ thần trên thì trong đêm mưa giông có sấm
chớp, quân Tống ở bờ bên kia sông chắc không
thể nghe được bài thơ (thời đó chưa có loa phóng
thanh như hiện tại) thêm nữa Lónh Nam trích quái
không phải là chính sử lại ra đời sau nên có thể
đã chép lại. Cũng có ý kiến cho rằng bài thơ trên
đã có từ trước nữa, do một đạo só hay nhà sư từ
trước thời tiền Lê là tác giả nhưng cũng chưa có
tư liệu nào để làm căn cứ.
Vì bài thơ “Nam quốc sơn hà” không chỉ là
một bài thơ lòch sử, từ lâu đã đi sâu vào tâm trí
của mọi người dân Việt; bản dòch hiện nay không
chỉ đã có trên sách báo, phương tiện truyền thông
mà cả trong các sách giáo khoa phổ thông, nên tôi
chỉ dám mạnh dạn góp thêm một ý kiến nhỏ; rất
mong sẽ có các cuộc trao đổi, hội thảo ; ý kiến của
các vò có trách nhiêm và có trình độ kiến thức đầy
đủ hơn để có sự nhìn nhận, đồng thuận thích hợp.
Vùn Hiïën 13
viïåt Nam
Những năm đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào Cần Vương thất bại,
thực dân Pháp bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác thuộc đòa lần
thứ nhất đối với đất nước ta. Bằng các chính sách trưng thu, cướp
đoạt đất đai của nông dân để xây dựng đồn điền, thực thi chính sách
bóc lột thuế khóa nặng nề... làm cho hầu hết các tầng lớp nhân dân ta
bò bần cùng hóa, nhân dân mất ruộng vườn, nhà cửa, lại thêm sưu cao
thuế nặng phải bán mình làm thuê trong các đồn điền, hầm mỏ... cuộc
sống vô cùng khổ cực.
Bình Đònh
trong q trình chuẩn bị xuất dương
tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành
LÊ KIM TON
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Đònh
T
rước hoàn cảnh đó, hàng loạt cuộc đấu tranh
của nhân dân ta đã nổ ra ở khắp nơi, tiêu
biểu là cuộc đấu tranh chống thuế của nhân
dân Trung Kỳ (1907-1908). Trong đó, Bình Đònh là
một trong nhiều đòa phương có đông đảo nông dân
tham gia phong trào chống thuế, trong đấu tranh
nhiều người đã bò bắt bớ, giam cầm trong nhà lao
tỉnh, một số bò đưa đi đày ở Côn Đảo hoặc bò tử
hình.
Trước hoàn cảnh lầm than của dân tộc, mặc
dù được nhận vào học tại Trường Quốc học Huế
(tháng 8.1908), nhưng với lòng yêu nước, tinh thần
đấu tranh chống áp bức, cường quyền nên Nguyễn
Bến cảng
Nhà Rồng năm 1911
14 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Tất Thành luôn bất bình trước thái độ miệt thò,
khinh rẻ của bọn thực dân đối với đồng bào ta.
Năm 1909, khi đang học dở chương trình tiểu học,
Nguyễn Tất Thành quyết đònh bỏ Trường Quốc
học Huế, theo cha vào Bình Đònh. Việc bỏ Trường
Quốc học Huế là quyết đònh có tính bước ngoặt
đầu tiên của người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành, tạm dừng con đường học hành để lập
thân, để rẽ sang con đường mới - con đường cách
mạng, cứu nước, cứu dân, mà mảnh đất Bình Đònh
là điểm dừng chân đầu tiên của Người. Bằng các
tư liệu lòch sử, các nhà nghiên cứu đã khẳng đònh:
Nguyễn Tất Thành - Chủ tòch Hồ Chí Minh đã
Con tàu của Pháp mang tên “Đơ đốc Latouche Tréville” đưa
Bác ra đi tìm đường cứu nước
có thời gian 1 năm 4 tháng ở Bình Đònh (từ trung
tuần tháng 5.1909 đến trung tuần tháng 8.1910).
Trong thời gian này, Người đã đến nhiều nơi,
gặp nhiều người trên vùng đất lắng đọng vô vàn
tinh hoa văn hóa, vang dội những chiến công của
phong trào khởi nghóa Tây Sơn, của phong trào
Cần Vương Mai Xuân Thưởng... Người còn được
chứng kiến tinh thần quật cường, quả cảm của
những người dân giàu lòng yêu nước, không cam
chòu cảnh nước mất nhà tan, tham gia đấu tranh
chống sưu cao thuế nặng, chống lại sự đàn áp
hà khắc của chế độ thực dân, phong kiến đương
thời, nhất là phong trào đấu tranh chống thuế của
nhân dân Trung Kỳ... Những năm tháng ấy đã để
lại trong tâm khảm người thanh niên yêu nước
những ấn tượng sâu đậm về con người và truyền
thống yêu nước của nhân dân Bình Đònh, góp
phần hun đúc ý chí, quyết tâm sắt đá đi tìm con
đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành.
Sự kiện Nguyễn Tất Thành đến Bình Đònh là một
tất yếu lòch sử dân tộc trước sự bế tắc (cả về
nội dung và hình thức) của phong trào yêu nước
Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhưng sự xuất hiện của
Nguyễn Tất Thành ở Bình Đònh không chỉ là yêu
cầu khách quan mà còn là kết quả chủ quan của
một quá trình chuẩn bò về tư tưởng và hoạt động
của chính Nguyễn Tất Thành. Sự kiện Nguyễn Tất
Thành ở Bình Đònh còn là kết quả của mối quan
hệ biện chứng giữa yêu cầu khách quan của dân
tộc và tư duy chủ quan của Nguyễn Tất Thành.
Xét về phương diện lòch sử tư tưởng thì quê hương
và con người Bình Đònh đã tác động đến quá trình
phát triển lôgíc trong nhận thức của Nguyễn Tất
Thành.Trong thời gian ở Bình Đònh, Nguyễn Tất
Thành đã đến nhiều nơi, nhưng chủ yếu sống tại
Quy Nhơn, học thêm tiếng Pháp và văn hóa ở nhà
giáo học Phạm Ngọc Thọ (thân sinh cố Bộ trưởng
Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch). Ngoài thời gian học
tập, Nguyễn Tất Thành còn dành nhiều thời gian
cho việc nghiên cứu các tác phẩm văn học Pháp,
các báo chí tiến bộ và yêu nước để nâng cao sự
hiểu biết văn hóa nước Pháp, từ đó có sự so sánh
nền văn hóa nô dòch của nước thuộc đòa Pháp;
nghiên cứu và nhận thức sự bóc lột của chủ nghóa
thực dân đối với đất nước ta, dân tộc ta, nhân
dân ta. Người còn đến thăm Huyện đường Bình
Khê, nơi ở và làm việc của cụ Nguyễn Sinh Huy
- thân sinh của Người; thăm quê hương anh hùng
Quang Trung - Nguyễn Huệ; đến thăm Tỉnh thành
Bình Đònh (huyện An Nhơn), nơi cụ Nguyễn Sinh
Huy tham gia chấm thi Hương tại Trường thi
Bình Đònh và cũng là nơi ở của cụ Huy khi cụ bò
cách chức Tri huyện Bình Khê chờ ngày đưa ra
Huế hậu cứu; đến thăm nhà cụ Đào Tấn - người
có mối thâm giao với gia đình cụ Nguyễn Sinh
Huy… Thời gian Nguyễn Tất Thành - Chủ tòch Hồ
Chí Minh ở Bình Đònh không nhiều so với những
chặng đường hoạt động cách mạng của Người,
song truyền thống lòch sử, văn hóa và con người
Bình Đònh đã tác động đến sự phát triển nhận
thức của Nguyễn Tất Thành - xét trên bình diện
nơi đây là một trong những nguồn cội cung cấp
các giá trò văn hóa, truyền thống tốt đẹp và đặc
trưng của Bình Đònh cũng như của cả dân tộc, góp
phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, như
sau này Đảng ta đã xác đònh. Mối quan hệ tương
tác trên đây thể hiện sâu sắc mối quan hệ biện
chứng trong quá trình phát triển nhận thức của
Nguyễn Tất Thành; đồng thời, cũng khẳng đònh
những đóng góp của quê hương Bình Đònh đến sự
hình thành ý chí, quyết tâm và tư tưởng cứu nước,
cứu dân của Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm
đường cứu nước.Sự kiện Nguyễn Tất Thành - Hồ
Chí Minh ở Bình Đònh trong bước ngoặt đầu tiên
của chặng đường Người chuẩn bò xuất dương tìm
đường cứu nước là niềm tự hào không chỉ của
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Đònh mà còn là
niềm tự hào chung của cả nước, của các thế hệ
con cháu Hồ Chí Minh. Tự hào là một trong năm
đòa phương của cả nước có gắn bó với thân thế
và sự nghiệp của Chủ tòch Hồ Chí Minh và là
nơi diễn ra cuộc chia tay lòch sử giữa Nguyễn Tất
Thành với cha và anh trai trước khi Người xuống
tàu ra đi tìm đường cứu nước, Đảng bộ và nhân
dân Bình Đònh nguyện ra sức thi đua xây dựng
quê hương ngày càng giàu đẹp, góp phần cùng
cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trường mầm non bán cơng Hoa Sen trên đường Phan Bội
Châu (TP Quy Nhơn, Bình Định) - khu vực được xác định
là nhà của Nhà giáo Phạm Ngọc Thọ trước kia, nơi Nguyễn Tất
Thành theo học tiếng Pháp.
Vùn Hiïën 15
viïåt Nam
Nhân 134 năm sinh và 50 năm ngày mất của Ưng Bình Thúc Giạ Thò
SỰ CỐNG HIẾN
CỦA MỘT VƯƠNG TÔN
CHO SỰ NGHIỆP VĂN HOÁ DÂN TỘC
GS HONG CHƯƠNG
16 Vùn Hiïën
viïåt Nam
C
ố đô Huế không chỉ đẹp và thơ với sông
Hương núi Ngự, với những câu hò mái đẩy,
mái nhì mà Huế còn là đòa linh nhân kiệt, là
trung tâm văn hoá lớn nhất ở miền Trung, nơi sinh
ra nhiều danh nhân văn hoá nổi tiếng, trong đó có
Ưng Bình Thúc Dạ Thò mà ngày nay trên thành phố
Huế có con đường đẹp mang tên Ông.
Ưng Bình Thúc Giạ Thò sinh ngày 9 tháng 3
năm 1877 và mất vào ngày 4 tháng 4 năm 1961,
ông là cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh con vua Minh Mạng. Thân sinh của Ưng Bình là
Tiểu Thảo Hường Thiết với hàm Hiệp tá Đại học
só, có nhiều sáng tác giá trò như: Tứ Tự Ca (Viết
về lòch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng; Liên Hiệp
Nghiêm Thò Tập (chữ Hán); Về một bản đồ nước
Việt (về đời Hồng Bàng đến 1900)…
Thân mẫu của Ưng Bình là Nguyễn Thò Huệ
thông thạo chữ Hán, có nhiều bài thơ Nôm được
truyền tụng như Nhớ quê, Thượng cầm hạ thú
(mỗi câu thơ đều có tên cầm và thú xuất gia…)
Con gái út của Ưng Bình là công nương Tôn
Nữ Hỷ Khương, một nữ só tên tuổi đã có nhiều
tập thơ đã được xuất bản và nhiều bài thơ hay,
trong đó có bài nổi tiếng như “Còn gặp nhau” mà
nguyên UVBCT Mai Chí Thọ đã trích dẫn trong
bức thư gửi Bộ Chính trò cách đây mấy năm và
bài thơ này cũng đã được in trên nhiều tờ lòch tết
và khắc trên bia đá. Giáo sư Vũ Khiêu đã tặng Hỷ
Khương hai câu đối:
1. Ngự Lónh Hương Giang đồng báo Hỷ
Ngọc Đường Kim Mã xuất giai Khương
2.Bạn quý bốn phương đều quý bạn
Thư tình trăm lá gửi tình thơ
Cuộc đời và sự nghiệp của cụ Ưng Bình gần
giống như cụ Đào Tấn, tuy cấp độ có khác nhau
- Đào Tấn sinh năm 1845 - Ưng Bình sinh năm
1877 cách nhau 32 năm. Đào Tấn làm quan tới ba
lần Tổng đốc, bốn lần Thượng thư. Còn Ưng Bình
làm quan cao nhất là Bố Chánh, Phủ Doãn và khi
nghỉ hưu mới được phong hàm Thượng thư, rồi
Hiệp tá. Đối với ông dường như chức tước không
quan trọng, thể hiện qua bài thơ sau:
Bạn hỏi tôi thăng chức tước gì?
Thưa tôi nỏ có chức quyền chi
Thượng thơ trí sự về năm trước
Hiệp tá vinh hàm thấy bữa ni
Hàng ghế dòch lên năm, bảy tấc
Thẻ bài thêm lớn một vài ly
Sống lâu ra lão nhờ ơn nước
Ghi chữ ơn đề mấy vận thi
(Tháng 2 năm Quý Mùi 1943)
Tuy nhiên, Ưng Bình vẫn gần giống Đào Tấn
ở chỗ làm quan trò nước thì ít mà làm “quan tuồng”
thì nhiều. Cụ thể là hai người này cả cuộc đời giành
cho văn thơ và nghệ thuật sân khấu. Ưng Bình đã
sáng tác gần 1000 bài thơ và các vở tuồng như “Lộ
Đòch” (bi hùng kòch) “Tào Lao” (hài kòch). Đặc biệt
vở tuồng Lộ Đòch được Ưng Bình phóng tác từ vở
kòch Le Cid của Cornelle (Pháp). Đây là vở tuồng
đầu tiên soạn theo tích chuyện phương Tây.
Lộ Đòch là một trong những vở tuồng có tuổi
thọ rất cao. Nếu tính từ đêm công diễn đầu tiên
(1936) đến nay, Lộ Đòch cũng đã có tới ngàn buổi
diễn đạt kỷ lục trong sân khấu tuồng Việt Nam.
Theo chúng tôi biết, kòch bản tuồng (hát Bội) trong
thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 - thời kỳ hoàng kim của
nghệ thuật tuồng - đa số được khai thác đề tài từ
truyện Trung Quốc như Tam quốc, Thuyết Đường,
Đông Chu liệt quốc, Thuỷ Hử…
Nhà viết tuồng Ưng Bình Thúc Giạ Thò không
hướng vào kho truyện Tàu như những nhà soạn
tuồng tiền bối, mà ông chọn tác phẩm văn học
cổ điển phương Tây để chuyển sang tuồng Việt
Nam, không phải ông sùng bái văn học phương
Tây, hoặc muốn “chơi trội” trong làng tuồng lúc
bấy giờ, mà ông muốn thử nghiệm nghệ thuật,
trước nhất là ông đã tìm thấy được những nét
tương đồng giữa kòch bản tuồng truyền thống
và kòch bản “Le Cid” của Corneille về mặt nội
dung và cấu trúc có chất bi hùng. Và kết quả
thật bất ngờ, vở tuồng Lộ Đòch cũng gần giống
như Truyện Kiều của Nguyễn Du viết theo truyện
“Đoạn Trường Tân Thanh” của Thanh Tâm Tài
Nhân (Trung Quốc). Đây là một vở tuồng về cấu
trúc cũng như nội dung và ngôn ngữ văn học có
chòu ảnh hưởng phong cách nghệ thuật tuồng Đào
Tấn (1845 - 1907). Và cũng như Đào Tấn, Ưng Bình
Thúc Giạ Thò viết tuồng không chỉ để diễn, để
mua vui cho công chúng, mà quan trọng hơn là
đem đến cho người xem một thông điệp lớn hơn
về tư tưởng, đẹp hơn về mặt thẩm mỹ và sâu hơn
về tính nhân văn.
Tuy làm quan trong triều nhà Nguyễn, nhưng
Ưng Bình Thúc Giạ Thò vẫn mang tâm sự buồn vì
đất nước đang bò thực dân Pháp thống trò. Tâm hồn
đó, tư tưởng đó được bộc lộ trong câu hò: “Chiều
chiều trước bến Vân Lâu/Ai ngồi ai câu, ai sầu, ai
thảm/Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông/Thuyền
ai thấp thoáng bên sông/Đưa câu mái đẩy chạnh
lòng nước non…”. Theo một số nhà nghiên cứu,
thì đây là tâm sự của ông đối với nhà chí só Phan
Bội Châu trong cuộc hành trình Đông Du tìm
đường cứu nước nhưng không thành. Riêng bản
Vùn Hiïën 17
viïåt Nam
thân ông, yêu nước nhưng chưa tìm ra đường cứu
nước, nên phải gửi gắm tâm sự của mình vào thơ
ca và nghệ thuật sân khấu. Điều đó giải thích vì
sao câu hò trên đã trở thành cửa miệng của nhân
dân xứ Huế và vở tuồng Lộ Đòch cũng trở thành
một trong những vở tuồng hay nhất, ăn khách
nhất ở miền Trung suốt từ khi nó ra đời (1936) cho
đến hôm nay. Tôi nhớ, lúc còn thiếu niên đã được
xem vở tuồng Lộ Đòch do các nghệ só tuồng Bình
Đònh biểu diễn. Ấn tượng trong tôi về hai nhân
vật Chi Manh và Lộ Đòch thật sâu sắc, nhất là lớp
“Lộ Đòch dâng gươm”. Trong tuồng truyền thống
thật hiếm những lớp tuồng hay như lớp “Lộ Đòch
dâng gươm”. Vì ở đây tính bạo liệt được đan lồng
trong tính trữ tình và tính nhân đạo, nhân văn.
Trong sân khấu tuồng rất cần những cảnh bạo liệt
về nội tâm nhân vật để người nghệ só bộc lộ được
tính cách qua động tác, bằng ca hát và diễn xuất.
Có lẽ thành công nhất vẫn là vở diễn Lộ Đòch do
nhà hát tuồng Đào Tấn dựng diễn vào năm 2000
theo phong cách tuồng Xuân nữ - nghóa là vẫn giữ
được nguyên tắc tuồng truyền thống, nhưng đã
được cách tân về ca hát và âm nhạc, kể cả tiết tấu
sân khấu. Vì thế mà đến hôm nay nhiều nơi vẫn
mời các nghệ só tuồng Đào Tấn đến biểu diễn vở
tuồng Lộ Đòch. Vở diễn do những nghệ só tài năng
như Hoà Bình (vai Chi Manh), Xuân Hợi (vai Lộ
Đòch), Văn Vó (vai Lộ Yết)... Qua vở tuồng Lộ Đòch
cho thấy, một mặt nghệ só nắm vững nghệ thuật
biểu diễn tuồng truyền thống, một mặt có tiếp
thu những tinh hoa, những thủ pháp đẹp trong
tuồng Xuân nữ giữa đầu thế kỷ 20, để làm cho
vở diễn trong sáng hơn, đẹp hơn và hấp dẫn hơn.
Việc phục hồi thành công vở tuồng Lộ Đòch từ các
bản diễn cũ trong dân gian để trở thành vở tuồng
hay có sức chinh phục khán giả hôm nay là một
chứng minh vốn tuồng truyền thống vẫn là những
di sản quý của dân tộc, cần được bảo tồn và phát
huy đúng mức để cho con người hôm nay được
thưởng thức tinh hoa của dân tộc.
Vở tuồng Lộ Đòch được phục hồi không chỉ
diễn ở Bình Đònh mà cả ở TP. Hồ Chí Minh và
Thủ đô Hà Nội qua nhiều năm vẫn được khán giả
yêu thích. Cũng cần nói thêm rằng, vở tuồng Lộ
Đòch được phục hồi thành công là do có sự ủng
hộ tích cực của hai phụ nữ mê tuồng. Đó là nhà
thơ Tôn Nữ Hỷ Khương - con gái út của Ưng Bình
Thúc Giạ Thò, hiện đang sống ở TP. Hồ Chí Minh
và GSTS Thái Kim Lan - Việt Kiều ở Đức. GSTS
Thái Kim Lan đã ủng hộ 150 triệu đồng (năm
2000) cho việc phục hồi vở tuồng Lộ Đòch ở Nhà
hát Tuồng Đào Tấn và cũng chính vò nữ tiến só
18 Vùn Hiïën
viïåt Nam
triết học này đã tự bỏ tiền túi ra để tổ chức đưa
cả một đoàn tuồng hơn 20 người, trong đó có giáo
sư Trần Văn Khê từ Paris và tôi từ Hà Nội sang
Cộng hoà Liên bang Đức để giới thiệu và trình
diễn vở tuồng Lộ Đòch trước một đối tượng khán
giả đa số là trí thức Đức. Khán giả Đức đã đón
nhận rất nhiệt liệt vở diễn này. Thành công này
nếu Ưng Bình được nhìn thấy thì ông sẽ vui sướng
như thế nào. Lòng yêu thích hát bội của Ưng Bình
không chỉ qua sáng tác kòch bản tuồng mà còn thể
hiện qua thi ca với nhiều bài thơ hay. Trong đó có
nhiều bài viết về sân khấu tuồng. Tôi xin trích bài:
Khai diễn tuồng Lộ Đòch:
Rạp hát Vương tôn đã khoát màn
Đã ra sân khấu giữa Tràng An
Hiếu tình ngắm rõ gương bi kòch
Thanh sắc mừng thêm vẻ lạc quan
Giá ngọc treo cho Đào Hữu Hạnh
Nhà vàng dựng để kép Phương Lan
Ham vui điệu cũ câu tuồng mới
Tri kỷ xin chào bạn khán quan
Một ông quan to, dòng dõi vương triều mà
nói: Giá ngọc treo cho đào Hữu Hạnh và Nhà
vàng dựng để kép Phương Lan thì còn sự quý
trọng nào hơn đối với đào, kép hát và Ưng Bình
tự thuật:
Vỹ dạ thôn có lão Vương Tôn là Thúc Giạ
Ưng ca, Ưng hát
Ưng giã gạo, hò khoan
Ham vui điệu cổ thì đàn
Nghe câu tuyệt xướng muôn vàng cũng mua
Rõ ràng không có sự đam mê nào hơn đam mê
hát bội trong vò Vương tôn Thúc Giạ này.
Cũng lại viết về đứa con tinh thần của mình
với nguồn cảm hứng khó tả trong bài: “Đêm diễn
tuồng Lộ Đòch”
Vẻ bầu thêm rọi nét đơn thanh
Chòu khó ra công hoá dễ thành
Nhờ một tiếng khen cô nữ só
Trả mười năm nợ chú thơ xanh
Trong tuồng đặng mấy khuyên son đỏ
Giữa rạp càng nhiều áng mắt xanh
Nghe ở Thuận Thành ta mới hát
Khi vui mới hỏi mệ Ưng Bình
Cụ Ưng Bình còn giành nhiều lời hay tứ đẹp
ca ngợi cô đào hát Tuyết Ngọc, quê ở Vinh vào
Huế hát 7 năm rồi bế con theo chồng về Vinh, ông
luyến tiếc viết:
Giả bạn Ô Châu khách Đế thành
Quê nhà quay quả thiếp ra Vinh
Ngửa hai tay trắng cười duyên phận
Vin bốn tay nôi kể sự tình
Đàn khách hãy còn theo dặm tía
Phấn son chưa dễ phụ mày xanh
Nhớ ơn quân tử thi đề tặng
Nhớ cảnh Hương Giang, nhớ Ngự Bình
(Thay lời cô Đào Tuyết Ngọc)
Tình yêu sân khấu, tình yêu nghệ só trong cụ
Ưng Bình còn thể hiện qua bài thơ Vònh cô đào
thanh sắc song tuyệt. Qua bài thơ ta thấy Ông coi
thanh, sắc là yếu tố hàng đầu của người nghệ só
và hết lời ca ngợi cái đẹp ấy trên sân khấu:
Rạp có cô đào tác cỏn con
Da như tuyết trắng mặt trăng tròn
Hát hay không đợi theo kèn quyển
Sắc đẹp cần chi phải phấn son
Chân bước diệu dàng thân liễu yếu
Miệng cười vui vẻ đoá hoa non
Mỗi khi nàng đònh lên sân khấu
Vé cửa chen mua khách đạp dồn
Rõ ràng gánh hát, chỉ cần một cô đào đẹp và
hát hay thì khán giả đã chen nhau mua vé vào rạp
xem tuồng. Cụ Ưng Bình còn vẽ nên cảnh diễn
tuồng vô cùng hấp dẫn trong những ngày xuân
qua bài Xem hát bội đầu năm:
Mai vàng liễu lục khéo khoe tươi
Én liệng oanh ca trước vũ đài
Giữa cuộc phiền ba xoay chong chóng
Trên màn ổi lổi ngó vui vui
Nònh cười, trung khóc chia hai ngả
Kép lựa đào tơ sắm đủ vai
Rạp cũ Đồng Xuân năm mới tới
May xưa lão lại bói tuồng chơi
(Xuân Bính Thân 1956)
Cũng qua những bài thơ mà ta có thể thấy
được Ưng Bình - Thúc Giạ Thò, một bậc vương tôn
cao quý của triều đình nhà Nguyễn mà mê say
đào hát tới dường nào. Hãy nghe bài: Thế lời cô
đào hát nói chuyện với tôi là Thúc Giạ
Thiếp thò Hà Mô lăng hạ trúc/Sắc với hương
chưa đủ lối tài ba
Gặp Vương Tôn một tiếng chào qua/Khi may
mắn cũng là duyên với phận/Gọi chút nở nang
lần má phấn/Dễ không ghi tạc tấm lòng son/
Mãi như ri hoa nở trăng tròn/ Chưa đúng khúc
Châu Lang còn ngoảnh lại/Xa xa chạnh cảnh Tầm
Dương điêu sái/Đặng Giang Châu nghe mãi tiếng
đàn chăng?
Là một ông quan văn có tấm lòng yêu dân
yêu nước cả đời chỉ làm việc tốt, việc nghóa. Ưng
Bình luôn ví mình là một kép hát chân chính trên
sân khấu:
Thû ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi…
Đây là hai câu tuyên ngôn của cụ Ưng Bình
thể hiện một nhân cách lớn của một danh nhân
văn hoá.
Ngày 28/11 năm 1940 sau nghỉ hưu lại ra làm
Tư vấn Viện trưởng viện dân biểu Trung Kỳ, Ưng
Bình lại viết bài thơ tự ngụ: Anh kép hát tuổi già
tự thuật cho nhớ tiểu sử:
Chân hia tay giáo bỏ đã lâu
Chẳng tới lui nơi rạp hát chầu
Quên lửng trống kèn thay đổi nhòp
Nhớ chăng Nam, Khách một vài câu
Mẹo tuồng xưa chỉ pho Tam Quốc
Tấn kòch nay, dồn chuyện Ngũ Châu
Khoẻ bước mình ra sân khấu lại
Sắm vai quan lão sẵn chòm râu.
Đây là bài thơ hay thể hiện đầy đủ nhất tâm
hồn và tình yêu của cụ Ưng Bình đối với nghệ
thuật hát bội. Chứng tỏ lúc còn trẻ ông đã từng
thông thạo chân hia, tay giáo, thông thạo cả hát
khách, hát nam, đến lúc già rồi, râu tóc bạc phơ
mà ông vẫn mong được ra sân khấu “sắm vai
quan lão sẵn chòm râu”.
Trong lòch sử sân khấu dân tộc, thật hiếm
có những ông “quan tuồng” như Đào Tấn, như
Ưng Bình Thúc Giạ Thò. Xin được mở ngoặc, cũng
có những quan tuồng như Nguyễn Thân, Hoàng
Cao Khải nhưng lợi dụng tuồng để ca ngợi chính
quyền bảo hộ, chống lại những bậc trung thần
yêu nước như những vở Tượng Kỳ - Khí Xa và
Tây Nam Đất Bằng của Hoàng Cao Khải tổng trấn
Bắc Kỳ. Chính nhờ có những ông quan nghệ só có
lòng yêu dân yêu nước mà nghệ thuật của cha
ông ta mới được bảo tồn và phát huy cho tới thời
đại Hồ Chí Minh và dưới ánh sáng của Đảng cộng
sản Việt Nam càng thêm đơm hoa kết trái. Vì vậy
mà việc hội thảo, kỷ niệm 50 ngày mất của danh
nhân văn hoá Ưng Bình Thúc Giạ Thò là nhằm
nhớ lại, tôn vinh và đánh giá một con người đã
cống hiến cho sự nghiệp văn học nghệ thuật nước
nhà là việc làm hết sức có ý nghóa.
(1). Hữu Hạnh sắm vai Chi Manh
(2). Phương Lan sắm vai Lộ Đòch
(3). Tác giả cảm ơn khán giả Bình Thuận tổ chức
hát tuồng Lộ Đòch lấy tiền giúp nạn nhân bò lụt ở Bắc Kỳ
(5), (6). Cô Tuyết Ngọc quê ở Vinh và Huế hát 7
năm được vương tôn quý khách không tiếc tiền mua câu
hát, sau 7 năm cô theo chồng về Vinh
Vùn Hiïën 19
viïåt Nam
Câu hò
trên sông Hương
và cụ Ưng Bình
Thúc Giạ Thò
GS.TS TRẦN VĂN KHÊ
N
ăm 1941, khi tổ chức chương trình văn
nghệ hàng năm của Tổng hội Sinh viên
Việt Nam tại Hà Nội, tôi có đề nghò đưa
lên sân khấu ba điệu hát dân gian, để chứng tỏ
rằng dân Việt ba miền Bắc Trung Nam, tuy có
giọng nói và nét nhạc dân gian khác nhau, nhưng
cùng chung một ngôn ngữ. Sinh viên miền Bắc
hát bài cò lả, miền Trung hò mái nhì và miền
Nam hò cấy. Câu hò trên sông Hương năm ấy do
chò Phùng Thò Cúc, sinh viên nha khoa, ngày nay
là chò Điềm Phùng Thò, một nhà điêu khắc Việt
Nam nổi tiếng trên thế giới, biểu diễn trên sân
khấu và dạy lại tôi:
Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền
Anh xa bạn cũ biết mấy niên giải sầu!
Năm 1951, tôi bắt đầu sưu tầm tài liệu để
soạn luận án Tiến só về âm nhạc, tôi gặp trong
bảo tàng viện Guimet đóa hát Beka số 20324 ghi
20 Vùn Hiïën
viïåt Nam
lại câu hò mái nhì có hai giọng nữ cho câu kể câu
xô, và tiếng đàn nhò mà tôi nhận ra là của giáo sư
Nguyễn Hữu Ba. Đóa hát đó không ghi rõ năm in,
nhưng thuộc loại đóa phát hành lối 1937-40. Trong
đó có câu hò:
Một vũng nước trong, mười dòng nước đục,
Một trăm người tục, một chục người thanh.
Biết đâu gan ruột gởi mình,
Mua tơ theo lấy tượng Bình Nguyên Quân.
Tôi rất thích thú học câu hò này, mà lúc ấy tôi
còn nằm trong bệnh viện chưa đi nước ngoài trình
diễn giới thiệu nhạc Việt Nam.
Năm 1954, khi hoàn toàn xuất viện, tôi lại gặp
trong Bảo tàng viện Con người, một băng từ ghi
âm câu hò mái nhì do chò Châu Loan biểu diễn tại
Varsovie (Ba Lan), giọng chò trong mát như suối
nước sông Hương, tôi chép lại và học thật kỹ cách
luyến láy của chò vì tôi nói tiếng Việt rặt giọng
miền Tiền Giang, bắt chước được giọng Bắc khi học
Y khoa tại Hà Nội, mà giọng miền Trung thì chòu
thua. Không nói được tiếng Việt Nam theo giọng
Huế, nhưng khi hò mái nhì, tôi theo cách buông
hơi, luyến láy của chò Châu Loan nên các bạn tôi
gốc Huế đều cho là “nghe có hơi Huế lắm”.
Từ đó, khi nói chuyện trên đài BBC (Anh
quốc), trong chương trình tiếng Việt, hay có lúc đi
giới thiệu nhạc Việt Nam trong 24 tổng nước Thụy
Só cho hội “Thanh niên yêu nhạc” và sau này trên
40 nước đã mời tôi thuyết trình về nhạc truyền
thống Việt Nam, đi đâu tôi cũng hò câu:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non!...
Tôi đinh ninh đó là câu hát trong dân gian,
như những câu hò cấy miền Nam, hò khoan
Quảng Ngãi, hò giã gạo miền Trung, không ai
biết tên người nào đã sáng tác ra những câu hò
được truyền tụng như thế.
Mãi đến sau, khi gặp hiền muội Tôn Nữ
Hỷ Khương, trong một câu chuyện, tình cờ Hỷ
Khương cho tôi biết rằng câu hò đó do cụ Ưng
Bình Thúc Giạ Thò sáng tác, tôi rất xúc động, vì
một nhà thơ sáng tác một câu hò hay điệu hát mà
dân gian chấp nhận không còn nhớ tên người đặt,
tức là nội dung câu hò điệu hát đó phù hợp với
cảm nghó, suy tư, hay hoài bão, nguyện vọng của
dân chúng, nên đã đi thẳng, đi sâu vào lòng của
dân chúng, lời lẽ bình dân, dễ nhớ, dễ truyền, và
dân chúng đã chắt chiu gìn giữ, truyền tụng từ
người này đến người khác, từ thế hệ trước đến thế
hệ sau. Ít nhà thơ nào, trừ ra cụ Nguyễn Du với
truyện Kiều được dân chúng nhớ lời thơ mà quên
tên tác giả như thế.
Đến năm 1992, khi nhận quyển “Thơ ca” tuyển
tập của cụ Ưng Bình Thúc GIạ Thò, đọc trang 314316, tôi thấy rằng chẳng những câu hò “Chiều
chiều trước bến Văn Lâu”, mà câu “Một vũng
nước trong, mười dòng nước đục”, cùng với tám
câu hò khác, đều do cụ Ưng Bình sáng tác, cho
người chèo thuyền hát trên sông Hương.
Câu hò “Chiều chiều trước bến Văn Lâu” từ
mấy chục năm nay đã được nghệ só ca Huế dùng
làm câu mở đầu để ca bài ca Nam bình. Một mặt
vì thang âm điệu thức của câu hò và của bài Nam
bình giống nhau trong cách dùng mấy chữ xự
non, xang già, xê, cống hơi non. Cũng có lẽ câu
hò kết thúc bằng hai chữ “nước non” - “đưa câu
mái đẩy chạnh lòng nước non” để tiếp theo hai
chữ đầu trong bài Nam bình… “Nước non ngàn
dặm ra đi”…
Câu hò đó đã gợi hứng cho nhạc só Thúy Hoan
sáng tác bài “Tình ca xứ Huế” được phổ biến rộng
rãi khắp năm châu, Hải Phượng đã ghi âm cho
hãng đóa OCORA bên Pháp năm 1994.
Trong đóa hát Echoes of ancestral Voices Tiếng ngàn xưa số MD 3199 do Lê Tuấn Hùng
và Đặng Kim Hiền thực hiện và hãng đóa Move
Records PMI phát hành tại Úc năm 1997, bài thứ
8 là câu hò “Chiều chiều trước bến Văn Lâu” do
Kim Hiền hò và tự đệm đàn nguyệt, có Lê Tuấn
Hùng phụ họa đàn tranh.
Giáo sư John Balaban, người Mỹ trước kia
thuộc đại học Massachusset, nay là Giáo sư đại
học Miami, khi nghiên cứu về ca dao Việt Nam
vào những năm sau 1971-72 có dòch câu hò ra
tiếng Anh. Thû ấy, ông chưa biết rằng câu hò
“Trước bến Văn Lâu” là do cụ Ưng Bình sáng tác.
Sau này tôi có dòp gặp ông mấy lần và nói chuyện
với ông về xuất sứ câu hò và cách dòch câu hò
“Trước bến Văn Lâu” ra tiếng Anh mà tôi gặp
một khó khăn là khi dòch Chiều chiều (Evening
after evening) - ai ngồi (sitting), ai câu (fishing),
ai nhớ ai trông (remembering), ai thương ai cảm
(loving). Nhưng tôi không tìm ra chữ nào có âm
“ing” cho có vần có điệu vì sầu thảm tôi chỉ biết
mấy chữ “sad” hay “sorrowful”. Ông Balaban đề
nghò chữ “grieving” tôi sung sướng quá!
Năm 1994, trong tạp chí Asian Arts and Cultures (Nghệ thuật và văn hóa Châu Á) số đặc
biệt về Việt Nam vol VII, No 1, winter 1994. (Mùa
đông năm 1994), ông Balaban đăng một bài về ca
dao Việt Nam. Khi dòch lại câu hò Trước bến Văn
Lâu, ông có thêm câu thơ ấy do cụ Thúc Giạ Thò
(tên thật là Ưng Bình) đặt ra trong lúc vua Duy
Tân bỏ kinh thành, hoạt động bí mật chống Pháp.
Câu dòch của ông như sau:
Evening before te King’s Pavillon
People are sitting, fishing, sad and grieving
Loving, in love, remembering, waiting, watching
Whose boats plies the river mists?
…offering so many rowing songs
That moves these moutains and rivers, our nation
Câu dòch rất sát nghóa, nhưng chưa dòch thoát
được chữ “ai” khi ông dùng chữ “people”.
Tưởng nhớ ngày sanh của cụ, nếu căn cứ theo
luật vô thường có sanh thì có tử. Nhưng thi ca của
cụ, nhất là câu hò bất hủ của cụ sẽ còn vang mãi
trong lòng người Việt, và chiều chiều các đoàn
nghệ thuật ca nhạc Huế, đều dùng câu hò “Trước
bến Văn Lâu” để chiêu đãi du khách dạo thuyền
trên sông Hương ngày nay và mãi đến mai sau.
Vùn Hiïën 21
viïåt Nam
“Tôn kính một sự
chuyển hóa Nghệ thuật”
(TỪ “LE CId” cỦa CORNEIllE đƯc
cHUYỂN HÓa tHNH tỰU “ĐÔNG LỘ ĐỊcH” cỦa
HONG tHN ƯNG BÌNH THÚc GI THỊ)
ĐO dIỄN, NSƯT LÊ CHỨc
Tuồng “Lộ Địch”
diễn lần đầu tiên
tại rạp Xn Kinh Đài,
Huế, năm 1928
T
ừ khi được biết và làm việc chung với GS Hoàng
Chương, ông thường có ý khích lệ bằng cách
khen tôi một chút ở một khía cạnh nào đó. Ông
là người tổ chức hội thảo về Văn học Nghệ thuật nhiều
nhất nước ta; giấy mời nào gửi đi cũng tặng cho đối tác
dòng chữ … “Đây là vấn đề mà Q vò quan tâm” để tạo
nên sự cộng hưởng khó mà từ chối cộng tác.
Thân thế sự nghiệp to lớn của Ưng Bình Thúc Giạ
Thò với tôi là một phạm vi hẹp về kiến thức hiểu biết,
nhưng nhớ là vài năm gần đây Nhà hát Tuồng Đào Tấn
có đưa vở diễn sang Đức trình diễn, giao lưu và được
đánh giá cao về quan điểm học thuật (kết hợp Âu - Á)
và trình độ cao của các nghệ só và nhạc công diễn tấu.
Nhận giấy mời viết tham luận lần này, tôi rất phân
vân vì sự cảm nhận thực tế của tự thân là không nhiều,
nhưng “nhà vận động” Hoàng Chương lại thay đổi chiến
thuật là sẽ gửi tài liệu cho tôi, có thể từ đó tôi cảm xúc
được gì chăng?
22 Vùn Hiïën
viïåt Nam
74 năm sau, năm
2002, “Lộ Địch” được
diễn lại tại Munich,
Đức, do GS.TS Thái
Kim Lan tài trợ
Và khi nhận được rồi đọc “Tiếng hát sông Hương”
của Lão Nhân và tập “Hồi ức về cha tôi” của Tôn Nữ Hỷ
Khương; rồi đọc lại Le Cid, tham khảo thêm một vài tài
liệu và cuối cùng là đọc và khảo cứu trực diện với văn
bản Tuồng “Lộ Đòch” thì “sự muốn viết” đã đến với tôi.
Tôi khâm phục một chi tiết này; ngày 4 tháng 4
năm 1961 Lão Nhân tạ thế - thọ 85 tuổi, nhưng đã 10
năm trước đó - 1951 Cụ đã làm lễ “điếu sống” mình
… như một người hiểu tường tận Quy luật của Sống Chết, của Sinh - Diệt, của Giá trò và Hư không, mà cao
nhất là “Vô” - dù Cụ để lại một gia tài Văn chương đồ
sộ, bất hủ, nhưng cao hơn là một hệ Ý thức về Cảm
nhận, Nẩy sinh, Phát triển, Truyền bá… sâu rộng, gia
giáo và thuần phong mỹ tục bao nhiêu - thì lại càng
thấy cốt cách Nhân văn, giá trò Nhân bản trong Thế
thái - Nhân tình” đã được mở rộng từ giáo lý nghiêm
ngặt đến các hành vi đời sống của từng cá nhân, gia
tộc, dòng họ, đến cộng đồng.
Tôi nhớ đến nhà văn người Nga Đôtstôiepxki được
gỡ giải băng bòt mắt khi chờ loạt đạn của bản án được
thực thi, để từ cái điều như là từ “cõi chết” trở về đặng
làm nên “Anh em nhà Karamagiốp” hoặc “Chàng Ngốc”…
Còn Ưng Bình Thúc Giạ Thò cũng như đã tự thẩm
thấu cái Tử - để có 10 năm sau là tự “tái sinh” làm nốt
sự nghiệp truyền đạo bằng sự lấp lánh cái đẹp trong
tình huống thi cảm, trong từ chương giản đò dễ gần và
dễ nắm bắt để hiểu được cho nhiều người. Ưng Bình
không hạ thấp vai trò nhận thức của giới thượng lưu
và không làm tổn thương đến lòng tự trọng của công
chúng bình dân - nếu phải làm cho sự cảm thấu quá dễ
dàng (nếu không muốn nói là buộc phải làm cho thấp
kém xuống).
Cụ giữ được tính Cương thường chuẩn mực cần
phải có của Xuất thân, của Tự Hạnh, của đạo Tôi Trung, và biết “dâng tặng” báu vật đó cho triệu người
cần lao ham học và khát khao điều thiện và phải được
đối xử theo nguyên tắc của lẽ công bằng, bác ái.
Tôi ngạc nhiên là trong tản mạn thi ca của Cụ nhiều đề tài rất đại chúng lại đã được một bậc Hoàng
thân lưu tâm và phản ánh. Nào là “đi chơi thuyền” ,
“đi dạo”, “về hưu”, “viếng”, thơ cho các Danh nhân hào
kiệt, khuyên học Phật...
Nhưng sững sờ nhất là các bài như: “Cơm độc
lập, nước tự do”, rồi “Khuyến học bình dân học vụ” với
những lời đẹp đẽ như: “Vàng chất nên non, không bằng
cho con biết chữ” hoặc “Đến ngày nay đã xây nền độc
lập”… và đó bài “Bản đồ nước Việt Nam” (1948), “Dòng
sông Bến Hải” (1954) đau đáu khát khao về sự hòa hợp
dân tộc, thống nhất đất nước và thấy cả được nguyên
nhân của chia lìa…
Cụ yêu nước bằng ý thức của giai tầng cao nhưng
lại biểu hiện trên diện rộng của tâm thức nhân dân. Ý
chí só phu bộc lộ trong khao khát nhân quần. Người ở
vò thế cao mà không tự phụ, đem cái sang cả đó đặt
vào chúng dân như vò thế một lãnh tụ hướng đạo tinh
thần, góp một tay chèo đònh hướng con thuyền Đại Việt
đương đại của thế kỷ XX đầy biến động và thay đổi
toàn diện về cơ tầng, cơ chế xã hội Việt Nam.
Vì sao Ưng Bình Thúc Giạ Thò lại chọn Le Cid của
Corneille để làm nên một bản Tuồng Việt có giá trò kinh
điển mẫu mực. Có thể Cụ nhận thấy cái “Bi” và “tinh
thần anh hùng” của các nhân vật từ nguyên tác chăng?
Cụ nhận ra được mối tương quan của Trung - Hiếu và
Ái tình là 3 điều căn bản của xã hội ta chăng? Bởi vì
giai đoạn thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XX - Văn hóa và Sân
khấu Pháp, tiếng Pháp, nếp sống Âu Châu qua người
Pháp đã tác động rất lớn đến mặt bằng và sự phát
triển của xã hội, văn hóa, kinh tế, ý thức của Việt ta rồi.
1911 đã có Nhà hát Tây Hà Nội; 1923 thì Nhà hát Lớn
Hải Phòng; kòch nói đã xuất hiện, Cải lương đã có dấu
hiệu hưng thònh trong quảng bá … Và 1928 đã có được
Đông Lộ Đòch nơi kinh đô Huế là sao? Danh nhân đất
Thần kinh đó sao lại tìm vào “tính bi tráng” theo số phận
những con người kiệt xuất của Corneille trong Le Cid từ
xa xưa? Tác phẩm Văn học kòch hát Bội cho dù phóng
tác là “Đông Lộ Đòch” kia phải có tuyên ngôn về tính sử
học cho sự ra đời của nó và tư duy mục đích tư tưởng
và thẩm mỹ của tác giả chứ?!
Từ một tác phẩm kòch kinh điển của châu Âu. Hoàng
thân, nhà Văn hóa Việt - Ưng Bình Thúc Giạ Thò đã “soạn”
một bữa tiệc tình thần bằng Văn học và một sự biến hóa
hợp lý cho “thực khách” sân khấu hát Bội của nước ta nói
riêng và của công chúng sân khấu Việt nói chung. Và
Cụ đã minh chứng một chân lý của Văn hóa nhân loại là
“không biên giới” khi tác phẩm bất kỳ nào đó của bất cứ
quốc gia nào đó mà vẫn đặt ra và đi tới những vấn đề cốt
lõi của bản tính nhân văn cao cả, thậm chí được bộc lộ và
diễn đạt bằng các biến tấu của nó.
Để nói về Con Người (viết hoa) có một câu thành
ngữ: “Đã là Con người thì máu phải đỏ và mồ hôi phải
mặn”. Đó là hai mẫu số chung cho việc lấy con người,
tính người, đặc trưng người, số phận con người… làm đối
tượng sáng tạo trong văn nghệ. Từ đó phân đònh, mặc
đònh cách hành động và xử lý các tình huống mà thôi!
Lại có một nhận đònh ở cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ
này là: Cái gì còn lại chưa bò mất đi trong cuộc giao lưu
và xâm lăng Văn hóa kinh tế xã hội đương đại này - thì
cái còn lại đó là: bản sắc dân tộc.
Huruki Murakami - nhà văn Nhật Bản (tác giả của
các tiểu thuyết đã được dòch như: “Rừng Na uy”, “Biên
niên ký chim vặn dây cót” và “Kapka bên bờ biển”…) có
một đònh ngữ: “Thì ra, mỗi chúng ta chỉ là một quân cờ
trên bàn cờ bộn bề của cuộc đời này, mà người cầm
quân lại là Đònh mệnh”.
Vậy các nhân vật có tâm hồn lớn và các hành động
đầy tính bi tráng, tiêu biểu trong Le Cid được mang theo
số phận và đònh mệnh nào mà họ phải hoàn thành các
nhiệm vụ như là sứ mệnh được đònh sẵn, quyết liệt và
đau đớn đến thế?! Đó phải chăng là sự được nhào nặn
từ quan điểm của Corneille khi ông khẳng đònh “Hành
động là linh hồn của bi kòch và phải là duy nhất; trong
kòch người ta vừa nói vừa hành động và nói để hành
động. Và khi đã hành động thì nhân vật kòch phải vươn
đến mục đích của hành động, phấn đấu cho điều đó dù
có phải trả giá bằng mất mát, đớn đau, thậm chí phải
hoặc cần trả bằng cái chết”. Trong Le Cid và Lộ đòch có
nhiều cái chết nhưng đều được hai tác giả đặt cho các
nội dung cao, chết xứng đáng và xin được chết (như lớp
dâng gươm xin được chết của Lộ Đòch với người yêu là
Chi Manh vì Chàng đã gây ra án mạng là giết chết cha
Nàng). Các tình huống giết người đó đều vì danh dự, vì
chữ tín của một lời nhờ hoặc một lời hứa nhận mà trang
nghóa só không thể không làm.
Vùn Hiïën 23
viïåt Nam
24 Vùn Hiïën
viïåt Nam
tài của W.Sếchxpia đã sáng tạo nên các kòch bản của
mình trên các nền tảng đã có trước, bổ sung và làm
thay đổi “nguồn gốc” mà không làm sai lạc bản tính
Con người nhân vật, mà bồi bổ cho những yếu tố có
phần “ngoại lai” đó thành một bản thể mới của kết quả
nhận thức, sáng tạo và truyền bá.
Cụ lại cho Lộ Đòch lập thêm chiến công vì Quân
vương xã tắc là đánh thắng giặc Mô rồi mới dâng gươm
xin chết dưới bàn tay của Người tình để trả nợ cho kiếp
nỗi Nhân Sinh - tức là đưa cao thêm lên để chuẩn bò
cho một “cú” hạ xuống - thì Chi Manh phải nhận thức
lại tình huống là Nàng đang “mắc cạn” giữa tấm lưới
Đònh mệnh của những người ruột thòt – của nhiều, nhiều
giọt máu đào.
(Như Hamlet đâm chết người cha của Ôphêlia
Như Rômêô đâm chết Ti Bân của phía nhà Juliet vậy)
Con người và tài năng sáng tạo Văn hóa đẳng cấp
cao của Hoàng thân Ưng Bình Thúc Giạ Thò làm tôi liên
tưởng đến Bá tước Lep Tônxtôi và các tác phẩm vó đại
của Ông.
Chỉ có những Trí tuệ sáng láng trong những Con
người tầm cỡ uyên thâm mới bàn đến được những số
phận của các Cuộc đời lớn.
Và họ nối cánh cho nhau - để từ “Le Cid” của Corneille - kinh điển Châu Âu, có được một “Đông Lộ Đòch”
của Ưng Bình Thúc Giạ - kinh điển Tuồng Việt.
Nghệ thuật không biên giới. Trí tuệ của các Vó nhân
và Con người theo đúng nghóa Con người là thế.
Đọc vào Văn bản kòch của Cụ - tôi thấy quá chi
tiết và đầy đủ với phẩm hạnh một soạn giả, một “thầy
tuồng” viết cả ra cho người đọc, người dựng trò - xếp
lớp, người diễn vai…
Nhưng Tôi không dám “lạm ngôn” về các bậc tiền
bối. Tôi xin được dùng chữ Tôn kính ở đề tựa phần
“thưa” này.
Đã từng có 1 Nguyễn Du biến hóa “Đoạn trường
tân thanh” của Thanh Tâm tài nhân - thành Truyện
Kiều - Việt Nam bất hủ.
Lại có 1 Đào Tấn, Đào Duy Từ, Nguyễn Hiển Dónh…
Kòch nói Châu Âu sau này lại được chuyển hóa
thành kòch Việt Nam bởi Thế Lữ, Vũ Đình Long, Lê Đại
Thanh, Lan Sơn, Đoàn Phú Tứ, Vi Huyền Đắc, Nguyễn
Huy Tưởng…
Văn hóa Pháp bước sang lónh vực tâm sinh lý Người
Việt và môi trường Văn hóa Việt - đã được những danh
nhân kẻ sỹ tiên phong uyên bác đó nhận sứ mệnh
trung chuyển và làm phong phú thêm các thành tựu
của sự tiếp thu và phát triển các giá trò được chọn lọc
và làm cho phù hợp với Tâm thức Việt.
Sự sang cả Văn hóa tối huệ cho ta sự trọng thò “Le
Cid” của Corneille và “Lộ Đòch” của Ưng Bình Thúc Giạ Thò.
Hà Nội, tháng 09.2011
Bìa bản Nơm tuồng “Lộ Địch”
của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị
Đó như là một mặc đònh về nhiệm vụ, về tính cách
và hành xử của các nhân vật anh hùng, của lòng Trung
“trước Quân vương” sự Hiếu thảo của tình Phụ - Tử và
cái Tình của Giai nhân với Anh hùng, tự biểu hiện trong
cao cả trước Danh dự cá nhân.
Ở một cuộc hội thảo trước đây về Tuồng - Tôi đã
có ý kiến là: Tuồng không chấp nhận trong mình những
con người “tiểu nhân”, các hành vi “biển lận”, nhỏ nhen.
Nếu có phải đề cập tới thì các cụ nhà ta đã “găm” vào
bản mặt nó cái mầu trắng - bạch diện phản trắc, như
đánh dấu một sự đònh hình, đònh tính rồi.
Trong Le Cid và Lộ Đòch cũng là vậy. Đó là những
con người tầm cỡ như Cát Ty Vương (Fernad, Roi de
Castille); như Lộ Yết (Diègue) thân sinh ra Lộ Đòch
(Rodirigue), rồi Ngô Mặc (Gormas) thân sinh ra nàng
Chi Manh (Chi mè ne), nữa là Uy Lạc Công chúa
(Uraque infante de Castille) … và các nhân vật khác mà
môi trường sống của họ là ở nơi Cung điện; những vấn
đề đặt ra cho họ phải vươn đến và trả lời là ở những
phạm vi lớn có ý nghóa của danh dự, giá trò của Quân
- Thần; Phụ - Tử, trong các mối quan hệ rường cột nơi
triều chính.
Không có chỗ cho các con người nhỏ nhen và các
hành vi tẹp nhẹp trong kòch của Corneille và trong Tuồng
của Ưng Bình Thúc Giả.
Cấu trúc “Đóng” của kòch cổ điển Châu Âu với thi
pháp của luật “Tam duy nhất” đã làm cho Le Cid được
cấu trúc chặt chẽ, nghiêm cẩn, căng thẳng của sự phát
triển nhanh và dồn nén các sự việc, sự kiện, các xung
đột đối kháng đến hủy diệt.
Cấu trúc “Mở” của Sân khấu truyền thống Việt đã
qua tư duy, dựng ý cấu tứ của Ưng Bình Thúc Giạ Thò
mà được Việt hóa theo nguyên tắc “tuần tự vi tiến”,
không gian hành động được mở rộng theo thời gian
diễn tiến; Cụ lại thêm vào một số các vai Hầu, Lính, Đại
tướng nước Mô, Hàn Lâm quan, Thể nữ … cho phù hợp
và cân đối trong tương quan xã hội, cấp bậc của cách
nhìn Việt Nam trên Sân khấu Tuồng truyền thống. Từ
đó mà khẳng đònh là Cụ dựa vào nguyên tác để sáng
tạo một bản mới cho Sân khấu Việt.
Cụ lại còn ghi sẵn cả cách hóa trang đònh hình cho
từng nhân vật nữa. Chi tiết để cho nàng Chi Manh qua
bao nỗi trầm luân của “Đời là bể khổ, Tình là giây oan”
- gửi phần đời còn lại vào nơi cửa Phật để rũ áo bụi
trần, đến với Giác Ngộ tâm linh (thay vì nguyên gốc là
vào với Nhà tu của Đạo giáo) là một động thái cao tay
trong niềm tin và tinh thần Việt với Quốc đạo Phật của
Đại Việt.
(Từ món “khoai tây” - Pomme de tèrre, Ưng Bình
Thục Giạ đã cho ta cái vò “khoai lang” hợp khẩu vò văn
hóa và sở thích)
Từ đó làm tôi liên tưởng đến công lao tầm cỡ thiên
TUỒNG
Lộ Đòch
ƯNG BÌNH THÚc GI THỊ
Cho đến nay, vở tuồng “Lộ Đòch” do Ưng Bình Thúc Giạ Thò phóng tác từ kòch “Le Cid”
của nhà viết lòch Pháp Corneil vẫn được coi là một mẫu mực trong việc chuyển biên một
tác phẩm sân khấu phương Tây lên sàn diễn sân khấu truyền thống Việt Nam. Ưng Bình
Thúc Giạ Thò giúp chúng ta hiểu những suy tư của ông trong quá trình chuyển biên tuồng
“Lộ Đòch” qua bài viết này.
T
uồng này gọi là tuồng “Lộ Đòch”, vì sự tích
quan yếu do Lộ Đòch, vai chính trong tuồng,
cũng như tuồng “Lý Phụng Đình” và “Đào
Phi Phụng”, sự tích tại Lý Phụng Đình và Đào Phi
Phụng mà ra.
Tuồng “Lộ Đòch” tôi soạn phỏng theo vở kòch
“Le Cid” của ông Pierre Corneille. Một kòch só trứ
danh thế kỷ 17 bên Pháp.
Nhưng vì nhiều lẽ, tôi đã phải châm trước ít
nhiều tác phẩm của kòch só Pháp. Muốn giải thích
các lý do ấy, tôi tưởng cần phải tóm tắt sự tích
tuồng “Le Cid”:
Màn diễn Lộ Địch dâng gươm cho Chi Manh
“Lộ Đòch (Rodrigue), con trai Lộ Yết (Don
Diègue) và Chi Manh (Chimène), con gái Ngô
Mặc (Gormas) yêu thương nhau và sắp kết duyên
với nhau, nhưng giữa Lộ Yết và Ngô Mặc là quan
đồng triều, một hôm xẩy ra cuộc xô xát vì vấn đề
danh vọng. Tuổi già sức yếu, Lộ Yết bò Ngô Mặc
tát tai làm nhục. Không thể tức thời tuốt gươm
rửa hận, Lộ Yết đành phải về nhà cậy con trả thù.
Hiếu, tình cân nặng hai vai, Lộ Đòch đứng vào
một tình thế đau đớn. Nhưng đã là đấng trượng
phu, chàng phải lấy hiếu làm trọng, chàng liền đi
tìm Ngộ Mặc và sau một cuộc tranh đấu gay go,
chàng giết được kẻ thù của cha.
Làm tròn bổn phận đối với cha, Lộ Đòch muốn
trọn tình đối với ý trung nhân. Chàng ra mắt Chi
Manh, trao nàng thanh gươm và đưa đầu chòu chém.
Noi gương Lộ Đòch, Chi Manh cũng coi nhẹ
ái tình: đối với nàng, Lộ Đòch không thể còn là
người yêu, mà chỉ là một kẻ thù. Nhưng vì không
muốn cầm thanh gươm đã sát hại cha mình, nàng
bèn đến trước bệ rồng, xin Cát Ty Vương cử người
hiệp só phục thù thay thế cho nàng.
Gặp lúc giặc Mô xâm lăng bờ cõi, vua phải cử
Lộ Đòch cầm quân chinh phạt. Thắng giặc Mô, Lộ
Vùn Hiïën 25
viïåt Nam
Đòch lại đánh bại cả Sanh Sơ (Don Sanche), nhà
Luật “Tam Duy Nhất” vốn gốc ở các tác phẩm
hiệp só báo thù hộ Chi Manh. Cát Ty Vương an ủi
văn só Hy Lạp Aristote và đã áp dụng một phần
người thiếu nữ, khuyên nàng tin tưởng thời gian,
nào đời Thượng Cổ. Sở dó các văn só Pháp thế kỷ
tin tưởng tình ái, và tin tưởng lượng cao cả của
17 lại nêu ra là vì các tấn tuồng từ thời Trung
Ngài để sau này lại tìm thấy hạnh phúc”.
Cổ Pháp cho tới đầu thế kỷ thứ 17, diễn trên sân
Cốt chuyện “Le Cid”, là do ở chỗ xung đột,
khấu nhiều khi có vẻ nghòch mắt trái tai. Thường
đau đớn và mãnh liệt giữa hiếu để và tình cảm,
khi cốt chuyện quá rườm rà, gồm những lớp lang
giữa bổn phận và sự say mê. Gốc tích hai chữ
xảy ra ở những nơi rất xa nhau, hoặc cách nhau
“Conflit conrnélien”, rất thông dụng trong Pháp
hàng năm hàng tháng. Tuy thế nhà dàn cảnh cũng
văn, để tả những trường hợp tương tự.
cứ trình bày cùng một lúc, khiến người xem phải
Sự tích tuồng “Le Cid” có đủ trung, hiếu, tiết,
cố tìm mà hiểu, ép trí óc để mà nhận đònh. Luật
nghóa, nên tôi xét có nhiều điểm rất hợp với tinh
“Tam Duy Nhất” đặt ra, mục đích để chấm dứt
thần luân lý Á Đông. Như vậy, kòch Pháp có thể
tình trạng ấy.
dung hòa một phần nào với tuồng ta; đó là lý
Ngoài ra, phong tục thế kỷ 17 bên Pháp, hay
do khiến tôi phỏng theo tuồng “Le Cid” mà diễn
nói cho đúng, giai cấp quý tộc thời đó – còn có
tuồng “Lộ Đòch”
những lề thói mà nhà soạn kòch phải tôn trọng,
Tuy vậy, về phương diện kết cấu và hành văn
tỷ như không được phô diễn những cảnh sỗ sàng,
tuồng “Le Cid” của ông Pierre Corneille có nhiều
rùng rợn, chém giết đổ máu trên sân khấu, vân
đặc điểm cần phải giải thích. Tuồng này vốn soạn
vân. Theo một câu thơ của nhà phê bình Boileau:
“Những cảnh nào khán giả không mục kích được,
theo một văn pháp rất nghiêm ngặt, do Văn Phái
kòch só phải thuật lại cho nghe” (Ce qu’onine doit
Cổ Điển Pháp (Ecole classique) nêu ra, gọi là văn
point voir, qu’un récit nous lé xpose”. Vì vậy nên
pháp “Tam Duy nhất”, (Règle des Trois Unités):
Kòch chuyển duy nhất (Unité d’ action, thời gian
nhà soạn kòch luôn luôn phải áp dụng phương
duy nhất (Unité de temps), và đòa điểm duy nhất
pháp thuật chuyện, và tránh hiện hình hiện trạng.
(Unité de lieu). Thi só và phê bình gia Boileau, mà
Nói tóm lại, văn Pháp “Tam Duy Nhất” nêu
ai ai cũng coi như nhà sáng tác lý thuyết, cầm
lên thành một luật lệ nghiêm ngặt, trước hết mục
cương nảy mực Văn Phái Cổ Điển, đã tóm tắt luật
đích để cho tích tuồng có mạch lạc, khỏi rườm
“Tam Duy Nhất” trong hai câu thơ:
rà và tránh những lớp lang nghòch mắt; sau nữa,
Qu’un seullieu, un seul jour, un seul fait accompli
cũng ngụ ý chiều theo phong tục thời bấy giờ.
Tiennent juspu’ laf jin le spectacle rempli
Sang thế kỷ thứ 19, Văn Phái Lãng Mạn (E’cole
(Tấn tuồng từ đầu đến cuối phải diễn ở một
Romantic que) chỉ trích luật lệ “Tam Duy Nhất”, cho
nơi, trong một ngày với một sự tích)
là chính các tấn tuồng cổ điển, vì ép sự tích phải diễn
Theo luật lệ này, từ đầu chí
ra ở một đòa điểm nhất đònh
cuối, tấn tuồng phải kết chung
và trong một thời gian quá
quanh một sự tích duy nhất,
ngắn, nên nhiều khi không có
không được có những chuyện
vẻ đúng sự thực. Đồng thời
lặt vặt kèm theo, các lớp lang
phương pháp thuật chuyện
không được rườm rà, lạc đề.
còn làm cho các vai tuồng phải
Đó là phép “Kòch chuyển duy
nói và tả cảnh rất nhiều, vì thế
nhất” (Unite’ d’action). Để cho
mà người nghe có lúc chán tai,
tấn kòch kém bề linh động.
cốt chuyện được minh bạch
Đây không phải là chỗ
rõ ràng hơn nữa, thì sự tích
để khen chê, và thiên về Văn
phải thu lại trong một thời
Phái Cổ Điển hoặc Văn Phái
gian ngắn (24 tiếng đồng hồ
Lãng Mạn. Nhưng dù sao ta
là cùng): đó là “Phép thời gian
cũng phải nhận rằng, cần giàu
duy nhất” (Unite’ de temps).
trí tưởng tượng lắm mới có thể
Đã thu gọn tấn tuồng chỉ có
tin trong 24 tiếng đồng hồ, Lộ
thể diễn tại một điểm nhỏ
Đòch có đủ thời gian giết Ngô
hẹp, như một dinh thự, một
Mặc, gặp Chi Manh, dẹp tan
công đường, một công viên,
giặc Mô, rồi lại đánh bại Sanh
vân vân. Đó là “Phép đòa điểm
Sơ.
duy nhất”.
Tuồng “Lộ Địch”
26 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Tuồng “Lộ Đòch” phỏng theo tuồng“Le Cid”,
chứ không phải bản dòch nguyên văn tác phẩm
của ông Pierre Corneille. Tinh thần và sự tích lấy
theo vở kòch Pháp, nhưng lớp lang mực mẹo đều
theo tuồng hát ta. Tuồng ta không phải tôn trọng
luật lệ “Tam Duy Nhất” nên sự tích diễn ra có thể
bao hàm một thời gian khá lâu và xẩy ra trong
một phạm vi khá rộng, miễn khán giả có cảm
tưởng kòch hát không xa sự thực.
Ngoài ra, tuồng ta cần phải linh động và
không câu nệ như tuồng cổ điển Pháp, cho nên
cần phải có hiện hình, hiện trạng mới hợp sở thích
khán giả, không thể chỉ áp dụng phương pháp
thuật chuyện để mô tả các biến cố xảy ra.
Ấy là các lí do chính đã khiến tôi châm chước
vở kòch “Le Cid” khi soạn tuồng “Lộ Đòch”.
1. Như lớp Lộ Đòch giết Ngô Mặc , thì trong
“Le Cid” chỉ nói lược qua; bây giờ diễn hí ra phải
cho có hiện hình hiện trạng, nên tôi phải đặt thêm
lớp Ngô Mặc đi săn Bạch Tùng Sơn, Lộ Đòch lên
đó lựa lời êm thấm, bày giải thiệt hơn cùng Ngô
Mặc, xin Ngô Mặc hãy đến nhà thân sinh chàng
mà chòu lỗi, nhưng Ngô Mặc không nghe, lại còn
tỏ ý khinh thò. Sau hai bên giao chiến và Lộ Đòch
đã hạ thủ Ngô Mặc tại núi Bạch Tùng; mà đã đặt
thêm lớp tuồng thì phải đặt thêm vai tuồng, nên
chỉ lớp tuồng ấy có thêm quân kỵ mã, quân hầu,
quân vọng thành vân vân.
2. Chuyện Lộ Đòch dẹp giặc Mô, trong “Le
Cid” chỉ kể lược qua mà thôi; để khán giả mục
kích, tôi phải đặt thêm lớp tuồng ấy nữa và cũng
phải thêm vai tuồng như tướng Mô là Lôi Cự và
quân giữ cửa ải.
3. Có một số vai tuồng nguyên trong “Le Cid”
không có, mà tôi phải đặt thêm cho hợp với phong
tục Á Đông. Lộ Đòch là con quan, khi ra rạp phải
có nhân viên tùy tùng; Lộ Yết là một vò đại thần,
khi lên sân khấu phải có thuộc quan cận vệ. Vì
vậy tôi phải thêm vai Hề Đồng đi hầu Lộ Đòch;
lại thêm quan Đông Tào, Nam Tào đi hầu Lộ Yết.
4. Nguyên trong “Le Cid”, thì lúc Don Diègue
bò Gormas làm nhục, Diègue không dám chống cự
lại, mà đành chòu rút lui; khi về tới nhà gặp Rodrigue đã vội hỏi “Rodrigue! As to du coeur?” và
ông đã nhờ Rodrigue đi báo thù giùm cho mình.
Về điểm này, trong tuồng “Lộ Đòch” tôi có châm
chước như sau: Khi Lộ Yết (Don Diègue) đi qua
thăm Ngô Mặc (Gormas) thì có hai ông quan hầu
là Đông Tào và Nam Tào đi theo; đến lúc Lộ Yết
và Ngô Mặc sinh chuyện xô xát, rồi Ngô Mặc
làm nhục Lộ Yết, thì hai ông quan hầu đã vội vã
can thiệp và đưa Lộ Yết về ngay, chứ thật ra Lộ
Yết không chòu thua. Lộ Yết tuy già yếu, nhưng
không sợ trước sức mạnh của Ngô Mặc, ông vẫn
tỏ ra rất anh hùng, rất chí khí. Khi về đến nhà,
ông cũng có ý muốn tự tìm cách trả thù lấy, chú
không có đònh tâm sẽ nhờ con là Lộ Đòch. Mà Lộ
Đòch đi báo thù là tự lòng can đảm và hiếu cảm
của Lộ Đòch, muốn bảo toàn cái danh dự cho cha,
chú không phải Lộ Yết mong nhờ hay bắt buộc.
5. Trong tuồng hát ta, thường thường có vai
Hề, mà vai Hề cũng là một vai quan trọng. Vì
thế, tôi có đặt thêm tên Hề Đồng đi hầu Lộ Đòch.
Vả lại Lộ Đòch cũng cần có một người thân cận
hiểu mình, để mong giãi bầy tâm sự trong những
lúc vui, buồn, thương, giận; cũng như Chi Manh
có Yến Nương, Uy Lạc Công Chúa thì có Liễu
Nương...
6. Trong tuồng “Le Cid”, khi Lộ Đòch giết Ngô
Mặc vừa xong, tức thì đem gươm đến trao cho Chi
Manh, yêu cầu nàng chém mình cho thỏa dạ báo
cừu. Tôi đem lớp dâng gươm ấy để sau khi Lộ
Đòch đã thắng trận thành công rồi, vì tôi muốn Lộ
Đòch toàn hiếu, lại toàn trung trước khi chòu chết
cho trọn tình.
7. Về phần Chi Manh, trong tuồng “Le Cid”
kết thúc theo tinh thần văn hóa Tây Phương, nên
để khán giả có cảm tưởng và hy vọng sau này
thời gian sẽ khiến nàng khuây được thù cha; có
thể theo tiếng gọi ái tình, rồi Cát Ty Vương sẽ
đứng chủ hôn cho nàng đẹp duyên cùng Lộ Đòch.
Nhưng kết cấu như vậy, tôi xét không hợp với
luân lý Đông Phương cho nên trong phần kết cuộc
của tuồng Lộ Đòch tôi đã phải tìm cho Chi Manh
một lối thoát duy nhất là đi tu. Vì Chi Manh,
tuy thù Lộ Đòch nhưng vẫn yêu. Yêu mà kính. Vì
chính nàng cũng công nhận Lộ Đòch là một trang
hào kiệt, là một đấng anh hùng, nên chi nàng vẫn
lo: “Lo là lo chí khí anh hùng, gây nên những tấn
kòch phi thường, dễ làm cho mờ mòt tâm hồn nhi
nữ; nếu chẳng may mà mờ mòt tâm hồn, thì ngọn
lửa ái tình e không khỏi cháy lan đến cái gốc luân
thường trên cái nền đạo đức”. Vì lo sợ như thế
nên nàng mới nhất quyết đi tu. Vậy kết cuộc của
tuồng “Lộ Đòch” đã đưa đến chỗ Chi Manh đi tu,
là ý muốn cho Chi Manh, giữ được toàn phẩm giá
người thiếu nữ, và cũng để cho hợp với tâm hồn
và luân lý Á Đông.
Nói tóm lại, hoặc thêm lớp, hoặc đổi lớp, hoặc
có một đôi chỗ châm chước cho rõ mẹo tuồng,
nói ra không hết; nhưng sự tích với tâm hồn của
tuồng “Lộ Đòch” chung qui tại chữ trung, hiếu và
ái tình là căn bản của xã hội ta.
Vùn Hiïën 27
viïåt Nam
Người con gái tri âm, tri kỷ
của thi tiên Ưng Bình Thúc Giạ Thò
NGUYỄN THẾ KHOa
Tôi nhớ buổi sinh hoạt sáng chủ nhật 19/10/2003 của CLB Văn hoá Huế tại thủ đô
Hà Nội có rất đông người đến tham dự bởi sự xuất hiện của GSTS Trần Văn Khê và một
“kỳ nữ” xứ Huế, bà Tôn Nữ Hỷ Khương, người con gái út của danh nhân Ưng Bình Thúc
Giạ Thò. Trong tiếng đàn tranh huyền ảo của “sư huynh”Trần Văn Khê, giọng ngâm
cùng tiếng hò mái nhì, mái đẩy thiết tha day dứt của "tiểu muội” Tôn Nữ Hỷ Khương với
những bài thơ, câu hò của phụ thân và của mình sáng tác, một hương vò Huế đậm đà
thuần khiết chợt tràn ngập không gian heo may một ngày cuối thu Hà Nội...
Ư
ng Bình Thúc Giạ Thò (1877-1961) thuộc
dòng họ Tuy Lý Vương danh tiếng của
hoàng tộc Nguyễn, là một tên tuổi lớn
của thơ ca và văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
20. Cụ tinh thông Hán học, uyên bác Tây học,
giỏi thơ, hay nhạc và rành hát bội, là tác giả của
hàng ngàn bài thơ Việt ngữ, vài trăm bài thơ chữ
Hán, bản Quốc ca thời Nguyễn, vở tuồng bất hủ
“Lộ Đòch” (Việt hoá vở bi kòch “Le Cid” của văn
hào Pháp P.Corneille). Đặc biệt, cụ là tác giả của
nhiều điệu hò sông Hương đã ăn sâu vào tâm linh
của nhiều thế hệ Việt như:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Hay:
Một vũng nước trong, mười dòng nước đục
Một trăm người tục, một chục người thanh
Thi só xứ Bắc Vũ Hoàng Chương từng gọi Ưng
Bình là “bóng hạc xa vời” trên núi Ngự, nhà văn
đồng hương Hoàng Phủ Ngọc Tường thì hình
dung cụ như là một “thi tiên” của vùng Vó Dạ,
còn với nữ só phương Nam Mộng Tuyết thì cụ
chính là “cái phong vận tài hoa của đất cố đô văn
vật”.
Tôn Nữ Hỷ Khương là con gái út của bậc hiền
tài được coi là một trong những đại biểu ưu tú
nhất của văn hoá Huế. Nhưng không chỉ là một
người con chí hiếu, Hỷ Khương còn được nhiều
người ca ngợi như một “tri âm, tri kỷ” của cha
mình. “Tôi cứ nghó rằng Hỷ Khương là một thiên
sứ được đầu thai vào gia đình Tuy Lý Vương để
được đánh bạn với một thi só lớn của đất nước là
28 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Nhà thơ Tơn Nữ Hỷ Khương và phụ thân trước cửa ngõ
Châu Hương Viên năm 1958
Ưng Bình Thúc Giạ Thò”. Không phải ngẫu nhiên
mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận xét
như thế về mối quan hệ giữa Hỷ Khương và người
cha rất mực tài hoa của bà.
Công TằngTôn Nữ Hỷ Khương sinh năm 1937,
tức là lúc cụ Ưng Bình đã vào tuổi 60 và món quà
bất ngờ của tạo hoá này trở thành người con gắn
bó nhất với cụ trong vòng gần 25 năm sau đó,
cho đến lúc cụ qui tiên vào năm 85 tuổi (1961). Bà
từng là nữ sinh nổi tiếng thông minh xinh đẹp của
trường Đồng Khánh đến năm thứ tư thì nghỉ học
ở nhà để săn sóc cha. Chò cũng từng được nhạc sư
tài danh Nguyễn Hữu Ba phát hiện khả năng âm
nhạc và đưa vào Sài Gòn học Quốc gia âm nhạc
nhưng chỉ được nửa năm thì cụ Ưng Bình không
chòu được nỗi nhớ con đã gọi chò về lại Huế với
mình. Trong 25 năm, Hỷ Khương quấn qt hầu
hạ cho cha từng miếng ăn giấc ngủ, lúc trái nắng
trở trời, là “thư ký riêng” trong sáng tạo thi ca và
giao lưu cùng bằng hữu bốn phương của cụ Ưng
Bình. Sau khi cha mất, 50 năm qua, Hỷ Khương đã
dành hết thời gian, tâm sức để sưu tầm, phục hồi,
phổ biến các trước tác của phụ thân. Bà đã tái bản
và xuất bản được hầu hết các tác phẩm của cụ
Ưng Bình. Đặc biệt, hàng năm, tới ngày giỗ phụ
thân, Hỷ Khương đều tổ chức một ngày “hội thơ”
tại tư gia tưởng niệm cụ với sự có mặt của nhiều
trí thức, văn nghệ só hâm mộ cha mình. Với chất
giọng Huế ít ai sánh được, chò rong ruổi ca ngâm
thơ ca, hò, vè của cụ khắp trong và ngoài nước,
cả bài “Quốc ca” triều Nguyễn thû nào mà Ưng
Bình đã hát cho chò nghe “khe khẽ và đầy tự hào”
trong những ngày cuối cuộc đời với điệp khúc:
Miền là miền Đông Á
Giống rạng giống Tiên Rồng
Nền là nền văn hiến
Tiếng rạng tiếng anh hùng
Hỷ Khương cho biết bà rất hạnh phúc khi nhờ
một thứ “duyên trời” bà đã thực hiện được hai
ước nguyện tưởng chừng ngoài tay với. Một là
với sự hỗ trợ về tài chính của GSTS Thái Kim
Lan (CHLB Đức) và sự nỗ lực về nghệ thuật của
Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Đònh), vở tuồng “Lộ
Đòch” đã sống lại trên sàn diễn tuồng hôm nay
và được công diễn thành công tại nhiều nơi trong
nước và cả ở CHLB Đức và Pháp. Hai là tập thơ
chữ Hán tuyệt bút “Lộc Minh đình thi thảo” của
Ưng Bình, tập thơ trước nay không thể phổ biến
vì rất khó dòch đã được TS tin học đam mê văn
chương cổ VN Nguyễn Hữu Vinh (Việt kiều Pháp)
bỏ ra 10 năm tròn để chuyển ngữ thành công.
Năm 1996, Hỷ Khương đã cho xuất bản quyển
sách gây xúc động lòng người “Hồi ức và cha tôi:
Ưng Bình Thúc Giạ Thò”. Đó là bức chân dung
tuyệt vời về người cha thanh cao mà dân dã, tài
hoa và nhân ái, gắn bó thiết tha sâu nặng với vạn
vật và con người xứ Huế được vẽ bằng nỗi nhớ
thương và những kỷ niệm, sự thấu hiểu và chia sẻ
của đứa con hiền thảo. Từ đó đến nay, cuốn sách
này đã liên tục được tái bản.
Từ năm 1959, Hỷ Khương đã có những bài thơ
cổ thể được chú ý trên báo chí Huế và Sài Gòn
và đến nay chò đã xuất bản 5 tập thơ. Theo Hỷ
Khương, bà làm thơ chủ yếu dành để tưởng niệm
cha và nối dài thêm triết lý nhân sinh “lão thực”
của Ưng Bình. Và những câu thơ tự nhiên hồn
hậu nhân ái của bà được nhiều người yêu thích,
truyền tụng, được các nhà thư hoạ và làm lòch liên
tục nhân bản. Sự trăn trở khôn nguôi về một chữ
tâm trong thơ Hỷ Khương đã tạo nên hiện tượng
thơ Tôn Nữ Hỷ khương, một hiện tượng thơ kỳ
thú trong đời sống hiện đại:
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời...
Dù đã bước vào tuổi “nhân sinh thất thập”,
Tôn Nữ Hỷ Khương vẫn liên tục làm thơ và cho
ra đời những tập thơ mới được đông đảo người
đọc yêu thích, vẫn không ngừng tái bản, xuất bản
những tác phẩm của cụ Ưng Bình, tổ chức lễ trọng
nhân húy nhật của phụ thân hàng năm. Bà lặng lẽ
tìm niềm vui, hạnh phúc và sự thanh thản trong
việc làm tròn bổn phận bình thường một người
con, một người mẹ, một người phụ nữ và cả một
thi nhân như nhắn nhủ năm nao của thi tiên Ưng
Bình:
Thû ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi…
Nhà thơ Tơn Nữ Hỷ Khương cạnh viên đá có khắc hai câu thơ
của bà được trưng bày trong Hội hoa Xn năm 2004
Vùn Hiïën 29
viïåt Nam
TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG
Cây có tính người?
ĐÔNG NGN
Niềm tin sáng tỏa
Kính tưởng niệm húy nhật
năm thứ 50 của phụ thân
Năm mươi năm thấm thoắt trôi qua
Hình ảnh từ thân chẳng nhạt nhòa
Vẫn sáng lòng con niềm hạnh phúc
Vẫn ngời hương sắc áng thi ca
Lời vàng khắc đậm trong tâm khảm:
Sống an vui tự tại chan hòa
Không giận không hờn không oán trách
Nghóa ân ghi tạc đẹp lòng ta
Năm mươi năm hình bóng yêu thương
Dẫn dắt đời con mỗi chặng đường
Cuộc sống thăng trầm luôn vững dạ
Không hân hoan cũng chẳng sầu vương
Tất cả nhờ ơn đức Phật Trời
Niềm tin sáng tỏa chẳng hề vơi
Lời xưa di huấn thời son trẻ
Con vẫn mang theo suốt cuộc đời
Sóng vàng quyện ánh sao rơi
Văn Lâu khúc hát trao lời núi sông
Dòng Hương Giang nước vẫn trong
Trong xanh như cả tấm lòng người xưa.
30 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Miền Nam tháng 2 năm Tân Mão - tháng 4/2011
(Có dùng lại một số câu thơ tưởng niệm tôi viết
nhân húy nhật năm thứ 12 và năm thứ 40 của phụ thân)
Có hai loại cây nhà và cây rừng khó tính bà
chằn. Đó là cây mít và cây dâu da.
1. Trước đây nhà anh tôi có cây mít to. Vào
mùa, quả ra chiu chít từ gốc lên ngọn có đến dăm
bảy chục trái. Những năm ấy nông thôn hiếm
tiền, quả mít to bằng cái rổ đại, đem bán chẳng
mua nổi nửa đấu gạo. Người ta cần cơm no chứ
chưa cần hoa quả ăn chơi. Cho nên ăn không hết
thì mang cho các nhà xung quanh trong xóm.
Rồi thời gian sau, anh tôi đi cày về, tiện tay
buộc chạc trâu vào gốc mít. Trước đây trâu thường
được cho vào chuồng. Anh bảo để trâu nằm gốc
mít cho thoáng mát. Có một cành la, anh chặt đi
để ngoắc chạc trâu cho tiện. Buổi chiều trâu thả
chăn thì cái cành thành chỗ phơi chiếu, quần áo tã
lót vắt bừa hong nắng. Từ đấy dưới gốc trâu hay
cọ mình làm bong tróc từng mảng vỏ, chưa kể nó
còn đái ỉa nhoe nhoét, khai nồng. Trẻ con mất chỗ
chơi. Năm sau cây mít thưa quả dần và ba năm
sau thì tòt hẳn. Đến cái dái mít cũng không có
nữa. Anh tôi bảo chẳng hiểu tại sao.
Một bữa có khách xa đến chơi, thấy cây mít đại
thụ mà không quả. Ông lẳng lặng nhìn gốc cây rồi
khẽ lắc đầu. Câu chuyện loanh quanh thế nào lại
lan sang gốc mít, ông khách nói: Nhìn cái tôi biết
ngay sao cây mít tắt quả. Mít là loài cây thiêng, gỗ
chỉ được dùng đóng đồ thờ hoặc tạc tượng. Anh
buộc trâu cho phóng uế bừa bãi rồi lại còn phơi đồ
bẩn lên, nó không chòu đâu.
Anh tôi chợt hiểu,
cho dọn dẹp sạch sẽ gốc
cây. Từ đấy không buộc
trâu dưới gốc mít nữa.
Năm sau mít lại ra quả. Ba bốn năm
sau quả lại ra chiu chít từ gốc đến ngọn.
2. Hàng xóm sau nhà anh tôi có cây
dâu da mọc ngay bên chái nhà. Vùng tôi
người dân có thói quen là không nhổ bỏ bất kì
loài cây ăn quả nào nếu nó mọc lên quanh nhà
quanh vườn. Người ta coi nó là lộc trời cho không
được tùy tiện hắt bỏ đi. Nhưng cũng có lẽ là do
vườn tược rộng rãi nữa! Nên các loại cây ăn quả
như táo, ổi, na, xoài, chanh, bưởi chen nhau như
răng mọc lẫy. Cây dâu da thì cũng vậy. Nó là
giống cây ở rừng tự mọc lên ở đó từ lúc nào, chủ
nhà cũng để mặc. Dâu da cạnh hơi người lên tốt
xum xuê. Gần mười năm thôi mà gốc bạnh ra
như cổ thụ. Nhưng lạ là cứ tà hoa là rụng ráo.
Năm sáu năm trời như vậy, cuối cùng cây ăn quả
trở thành cây che bóng mát. Có người nói hay là
giống dâu da điếc.
Không biết ai bảo, vào ngày tết Đoan ngọ
mồng năm tháng năm giết sâu bọ thì hai đứa con
nhà ấy dậy sớm tinh mơ. Thằng em nhẹ người leo
tót lên cây biến vào chùm lá rậm. Con chò thì tất
tả ra góc chuồng lợn vác cái vồ gỗ to hơn người.
Nó rướn mình quai vồ, miệng lẩm bẩm: “Dâu dả
dâu da, ra quả cho bà, không tao đánh chết!”. Nói
rồi nó táng ba nhát vồ vào gốc. Thằng em trên
cành cao giả vờ kêu thét: “Con lậy van bà/bà
đừng đánh nữa/rồi quả sẽ ra”…
Xong việc thằng em tuột xuống gốc cười toét.
Cả hai đứa kì vọng vào mùa hoa sang năm.
Năm sau vào tháng ba, những chùm hoa
buông dải chi chít như dây lộc vừng. Kì diệu thay
mùa hoa này kết trái. Những chùm dâu da trắng
trẻo lúc lỉu như đèn lồng. Mùa sau tiếp mùa, năm
nào gốc dâu da bên trái nhà hàng xóm đều cho
hàng tạ quả…
Lạ thế, mít là giống cây vườn thì khó tính
và khái tính đến lạ kì, không trọng nó là quyết
không cho quả.
Dâu da, giống cây rừng thì lại phải thuần hóa
mới chòu cho quả.
Phải chăng cây cũng có tính người?
Vùn Hiïën 31
viïåt Nam
T
Cau
HUỲNH KIM BỬU
32 Vùn Hiïën
viïåt Nam
rong các làng quê, cây tre được trồng nhiều nhất, đứng
thứ hai là cây cau. Tre trồng thành hàng, thành lũy bao
bọc lấy xóm làng, cho người ta gọi cuộc sống trong các
làng quê đó là “cuộc sống sau lũy tre làng”. Ít có nhà không
trồng cau. Các ngôi nhà vườn, thường trồng cây theo câu nói
dân gian: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” để vừa
cho khí hậu mát mẻ, vừa cho cảnh quan đẹp, lại cũng vừa
cho lợi ích kinh tế.
Cây cau đẹp thật. Thân cây thẳng, cao. Đọt cau là một
khóm tàu lá xanh đậm nổi lên dưới vòm trời xanh lơ. Hồi
nhỏ, nhìn tàu cau trên cao, tôi thường bảo đó là chiếc lược
trời, rồi chiếc lược má tôi, chò tôi cầm trên tay chải tóc, dắt
trên mái đầu kia là những chiếc lược trời thu nhỏ lại. Chim
vẫn bay về làm tổ và rộn tiếng ca trên những ngọn tàu cau.
Người đi đường, nhìn vào một xóm nhà, thấy hàng cau khi
thì lặng yên, khi phất phơ cùng ngọn gió nồm mát mà cảm
giác, đó là cảnh yên ả, thanh bình của một miền quê. Người
đi xa lâu ngày, trở về, trông cho mau tới chỗ đầu làng để
được nhìn thấy hàng cau nhà mình. Ở nông thôn, nhiều nhà
trồng cả một vườn cau liên phòng. Mỗi cây cau thường có
dây trầu quấn lấy. Cái rễ của dây trầu mọc từ gốc trầu đến
đọt trầu vẫn bám chặt vào thân cau, dẫu phải gió mưa cũng
không sờn, không rời? Có phải chăng, vì lẽ đó người ta đã lấy
trầu cau làm vật nghi lễ cho cưới xin, như muốn nói lên một
điều mong muốn bền vững cho lứa đôi?
Trồng cau được nhiều lợi ích. Cau trổ buồng về đêm. Một
đêm yên tónh, cái mo cau rụng xuống, là lúc cái buồng cau
và hoa cau nở xòe và tỏa hương thơm cho đêm trường. Cau
một năm bốn mùa hoa trái. Mỗi mùa cau, buồng trổ trước
được gọi buồng chò, buồng trổ sau gọi buồng em. “Buồng chò
- buồng em”, nghe thân thương như mấy chò em nhà nọ! Từ
khi cau trổ buồng, người ta theo dõi buồng cau lớn lên mỗi
ngày: Thû đầu là cái “quả cau nho nhỏ/cái vỏ vân vân”
(Ca dao), cho tới khi cau chín, vỏ ngã từ màu xanh đậm sang
màu đỏ tươi. Chẳng biết bác nông dân nào giỏi liên hệ, đặt
tên cho phần chóp của quả cau là cái vú cau? Và lũ trẻ nhỏ
các xóm quê vẫn vừa chơi “đánh trổng âm u” vừa hát: “Hú
hồ… hú hột/Cơm sốt cơm nhão/Cá đão hồng đơn/Cá sơn,
cá diếc/Cá liệt ăn trầu/Bỏ cau bỏ vú/Vú già vú non/Có đứa
cầm hòn/Mà u mà chạy/Chạy thẳng vườn cau/Mà ngồi mà
nghỉ…” (Đồng dao). Buồng cau không chờ chín mới hái mà
hái lúc nào, tùy ở nhu cầu. Vào bữa cưới xin, thì cần một
buồng cau xanh, nhưng phải là cau dầy (cau vừa nhai, không
phải cau non mà cũng không phải cau già) để xong lễ, theo
tục lệ, cầm đi biếu bà con, hàng xóm. Nhai trầu thì nhai cau
tươi (cau dầy) hoặc cau khô ngâm nước cho mềm. Gặp khi
cau nhiều quá, nhai tươi không hết, thì đem bổ ba, bổ bốn,
phơi khô để dành nhai dần.
Đời là một cuộc đổi thay. Trải nhiều năm nay, lớp người
ăn trầu ít dần, cây cau bò bỏ quên. Người ta chỉ trồng cau cảnh,
và có ai đó vì “thương hoài ngày xưa” của bà mình, đã không
chặt hạ cây cau đứng trong sân. Ngày nay, nghe nói có chỗ
thu mua quả cau tươi, cho nên ở nông thôn, vài hộ
nông dân bắt đầu để ý tới cây cau: cau được trồng
và chăm sóc trở lại. Nhớ hồi 9 năm kháng chiến
(1945 - 1954), bộ đội, dân quân sắm ống cau khô,
ống muối hột đeo bên hông làm thuốc cứu thương
dự phòng, thay thuốc kháng sinh.
Trên đây mới nói về hữu ích của hột cau. Cây
cau, còn bao hữu ích nữa: Thân cau làm cột nhà,
bắc cầu phập phù qua mương nước, sả dọc làm
đòn tay nhà, chẻ nan đan rá cải, bọc vườn rau,
chận lũ gà xộc vào bươi bới. Tàu cau tước lấy
sống lá bó chổi, lấy mo làm gàu xách nước (uống
cho mát), làm quạt mo quạt phành phạch lúc đêm
hè, nắm cơm đỡ cho người đi đường xa. Nhớ thû
đi học trường tiểu học xa nhà, sáng nào tôi cũng
được má dậy sớm, nấu cơm dỡ, nắm trong mo
cau cấp cho tôi mang đi học. Thường, má vẫn gói
kèm theo nắm cơm bì muối đỗ (có khi bì muối
mè). Tôi cũng không quên kỷ niệm những lần chờ
đợi chiếc tàu cau từ màu xanh chuyển sang màu
vàng, rụng xuống, để kòp nhặt lấy, làm con ngựa
tàu cau cưỡi quanh sân nhà mình, rồi quành ra
ngõ xóm để chơi với bạn.
Dầu sao, lợi ích văn hóa, tinh thần của cau
mới đáng kể hơn. Từ ngàn xưa, đã có sự tích trầu
cau để “vinh danh” một mối tình ngang trái mà
chung thủy. Ông bà mình vẫn lấy “Miếng trầu là
đầu câu chuyện” (Tục ngữ) trong mọi lễ nghi, ứng
xử, tiếp đãi nhau. Để nên miếng trầu, không thể
thiếu miếng cau (vẫn đi với trầu và cả miếng vôi,
miếng rễ…). Ông tiến só Hồ Só Tạo chống Pháp, hồi
kháng thuế (1908) ở Bình Đònh, bò Công sứ Pháp
và Tổng đốc Bình Đònh bắt bỏ tù. Ở trong lao tù
chòu nhiều thiếu thốn, ông thường than vãn: “Có
miếng trầu mà không miếng cau/Có miếng rễ mà
không miếng thuốc” (“Vè ông Tiến só”). Trong tình
yêu nam nữ ngày xưa, không thể thiếu miếng trầu,
miếng cau. Nhờ có nó mà tình yêu trở nên thi vò:
“Trầu xanh, cau trắng, chay (quả chay) hồng/Vôi
pha với nghóa, thuốc nồng với duyên” (Ca dao)
“Nhà em có một giàn giầu/Nhà tôi có một hàng
cau liên phòng/Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông/Cau
thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” (“Tương Tư”
- Nguyễn Bính). Lễ hội mùa Xuân - mời trầu là
dòp cho nam nữ thanh niên gặp gỡ và trao nhau
duyên mới trong cảnh đất trời tươi đẹp của mùa
xuân mới. Xưa nay, cái quạt lông gà của ông quân
sư Khổng Minh thì được người ta khen, còn cái
quạt mo của mấy ông thầy dùi bày dại, bò người
ta mắng: “Đồ quân sư quạt mo”. Cái quạt mo của
thằng Bờm, dẫu xưa mà thời nào cũng có người
thích đi tìm một lời giải mã mới cho câu chuyện.
Chuyện bên lề của cây cau là trèo cau, bẻ
buồng. Tôi dám chắc, là trẻ thơ trong các làng
quê, ít chú nào không một lần trèo cau. Trèo cau
bẻ buồng, thì người lớn không sai bảo, vì sợ nguy
hiểm. Nhưng mấy chú bé tinh nghòch vẫn lén
người lớn mà trèo cau bắt tổ chim non. Chim sáo,
chim sẻ… vẫn làm tổ trên ngọn cây cau. Một tổ
chim bò bắt đem đi mất, là trong vườn diễn ra
một cảnh chim trời tao tác, bay đi tìm chim non
thất lạc, nhưng thường là vô vọng. Người hái cau
“không chuyên” tròng cái nài (làm bằng bẹ chuối
khô) vào đôi bàn chân mà cứ nhún nhảy tại chỗ,
lưng tom lại, hai tay ôm ghì thân cau, mặt ngước
nhìn đọt cau, không chòu trèo. Vì anh ta nhát.
Trái lại, người trèo cau “chuyên nghiệp”, không
cần nài, thoắt cái, anh ta đã ở trên ngọn cây, bẻ
buồng, cột dây thả xuống. Trong vườn cau liên
phòng rậm rạp, các ngọn cau giao nhau. Bởi đó,
người hái cau cứ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn chuyền
từ đọt cây cau này sang đọt cây cau kia, khỏi
mất công trèo lên tuột xuống nhiều lần. Trẻ con
thành phố mà về quê, nhìn thấy anh “thợ” hái cau
chuyền trên đọt cây cau, đàng nào cũng liên hệ
tới mấy chú khỉ leo trèo không ngớt trong sở thú,
trong thảo cầm viên chúng thường ra chơi.
Chợ quê ngày xưa, sắp bày một dãy hàng cau.
Người mua đông, vì nam giới, nữ giới đều ăn trầu,
biếu trầu, mời trầu nhau. Đến cuối năm là mùa
cưới, hàng cau bán khá chạy. Người mua cau cho
đám cưới hỏi, thường mua nguyên buồng trăm
trái, có dư. Ý chúc cho đôi lứa sánh duyên được
câu “Bách niên giai lão” có dư. Người mua cau
ăn, mua vài chục trái. Người mua cau sỉ, tính cau
bằng thiên (= ngàn) trái. Chắc ngày xưa, ông Biện
Nhạc buôn trầu, không khỏi kèm theo mua sỉ bán
lẻ cau tươi? Chọn cau, thường người ta chọn buồng
trái mởn đều mà xanh đậm, vú cau tròn đều mướt
rượt. Người mua cũng cần bổ cau cho xem hột.
Cau được bổ bằng dao cau (con mắt dao cau là
con mắt sáng, hay liếc). Cái dao cau thật sắc, bổ
cau phải ngọt xớt, không cho bò nhầy nát ruột cau.
Trái cau phơi ruột ra đó, cho người xem: trắng,
mòn, mềm, vừa nhai, không sâu đục…là cau ngon.
Những hàng cau, bụi tre, bến nước, mái đình…
tạo nên mảnh hồn làng thiêng liêng, người ta lấy
đó làm cội nguồn, biết đâu là nguồn cội của mình:
“Sao anh không về chơi thôn Vỹ/Nhìn nắng hàng
cau, nắng mới lên” (“Đây thôn Vỹ Dạ” - Hàn Mạc
Tử). Quê tôi bây giờ, cũng như nhiều quê khác,
cây cau còn lại rất ít và cũng khó gặp người ăn
trầu. Tôi nhớ những hàng cau liên phòng, những
vườn cau xanh chim chóc bay về.
Vùn Hiïën 33
viïåt Nam
Cảm thức
thời gian
TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
VÕ NHƯ NGỌc
T
hời gian nghệ thuật trong văn học là thời gian
được cảm nhận và thể hiện một cách chủ quan
của người nghệ só. Thời gian nghệ thuật trở thành
một ý thức vận động theo tư tưởng của hình tượng, gắn
liền với sự phát triển cũng như quá trình tự ý thức thông
qua những mối liên hệ chằng chòt giữa con người với
con người. Năng lực đo độ dài của thời gian vận động
vốn có trong tâm hồn con người, và chỉ trong tâm hồn
mới có được những hình thức tri giác thời gian đã qua,
thời gian hiện tại và thời gian tương lai; trong thực tế vật
thể không có những hình thức này. Trong thơ Chế Lan
Viên, hình tượng thời gian rất phong phú, sinh động,
đầy gợi cảm, giàu suy tư, thể hiện như một quan niệm
gắn liền với ý thức mới về ý nghóa cuộc đời.
1. Thời gian hoài vãng, siêu thực
Trước cách mạng, Chế Lan Viên có quan niệm thời
gian độc đáo. Thời gian mang bản chất tiêu cực là đặc
trưng cơ bản trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn này:
“Thời gian của hạnh phúc đã mất, thời gian của huỷ
diệt đang chờ”. Nhà thơ xem xét thời gian qua ý thức
siêu thể và tuyệt vọng, đó là thời gian hoài vãng, siêu
34
Vùn
thực. Ông đã dựng lên một thời gian quá vãng để khóc
thương cho hiện tại, cho những tháng ngày đã mất.
Chế Lan Viên bày tỏ khát vọng hão huyền muốn quay
ngược thời gian để được trở về huyền thoại một thời
xa xưa với “tháp Chàm cô tòch”, với “đầu lâu, sọ trắng,
xương khô”… “Để nếm lại cả một thời xưa cũ - Cả một
dòng năm tháng đã trôi xa!” (Cái sọ người). Trong thẳm
cùng của hư vô là dó vãng, nhưng dó vãng lại là sự chết,
hay nói một cách khác, trong cái chết vẫn tồn tại sự
sống. Chính tư tưởng Chế Lan Viên kéo chúng lại gần
nhau để tìm bóng trần gian:
Đây những tháp gày mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian,
Những sông vắng lê mình trong đêm tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
(Trên đường về)
Tư tưởng quyện lấy thời gian, sự đau khổ quyện lấy
thời gian. Mọi vật đều thay đổi nhưng chính Chế Lan
Viên vẫn không thấy mình thay đổi. Nhà thơ muốn chối
bỏ tất cả, ngay cả mùa xuân, mùa của sự bắt đầu với
những gì tươi non nhất nhà thơ cũng muốn khước từ:
“Ai đâu trở lại mùa thu trước - Nhặt lấy cho tôi những
lá vàng? - Với của hoa tươi muôn cánh rã - Về đây đem
chắn nẻo xuân sang” (Xuân). Điều này ở Chế Lan Viên
khác hẳn so với các nhà Thơ Mới khác. Với Xuân Diệu,
xuân trong tâm thức nhà thơ lúc nào cũng tươi non, háo
hức, tha thiết, luyến lưu, rạo rực. Cái nhìn của Xuân Diệu
say mê với thiên nhiên, với cuộc đời: “Một sớm tim bỗng
dòu dàng đồng vọng... - Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn
sóng, - Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa? - Kể chi mùa,
thời tiết, với niên hoa, - Tình không tuổi, và xuân không
ngày tháng” (Xuân không mùa). Ngay cả nhà thơ của
cõi đau thương Hàn Mặc Tử, cảnh xuân, sắc xuân cũng
được cảm nhận với tất cả màu sắc, đường nét, hình khối
và âm thanh: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan - Đôi mái
nhà tranh lấm tấm vàng - Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lý bóng xuân sang” (Mùa xuân chín). Với
Chế Lan Viên, mỗi lần mùa xuân trở về, thi só cảm thấy
ngỡ ngàng và khước từ một cách lạnh lùng:
Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân đến lại thêm sầu
(Xuân)
Mùa xuân đến đánh dấu sự thay đổi của tạo vật.
Nhưng với ông nó vẫn không có ý nghóa gì. Phải chăng,
Chế Lan Viên cảm thấy thời gian bò đóng khung bởi
những nhung nhớ, tiếc nuối. Sự thay đổi của vạn vật
càng khiến tâm hồn ông cảm thấy tái tê hơn. Đêm có
tan trong ánh sáng, nắng có bạc giữa không gian, xuân
có mang hương sắc đến, thì tim ông vẫn buồn thẳm
khôn nguôi: “Bóng đêm tan trên đồng xanh vô tận Nắng trời bay phấp phới bạc muôn cây - Chốn cao xa
trên trán trời không giới hạn - Làn tóc mây đùa giỡn bảo
nhau bay” (Nắng mai). Dường như tất cả đang muốn
lướt qua thời gian, lướt qua không gian vô hạn để tìm
đến nước non Chàm. Và nhà thơ đưa bóng thời gian
trở về quá khứ tìm những dòng sông Linh, tìm đàn voi
trận, tìm dáng Chiêm nương: “Ta vẫn thấy hồn ta buồn
ủ rũ - Và cõi lòng dày đặc bóng đêm mờ - Vì bạn ơi
trong bao tia nắng rỡ? - Tia nào đâu rơi tự nước Chàm
ta” (Nắng mai).
Chế Lan Viên tìm trong ánh nắng bóng thời gian,
đưa ông về với dòng thời gian hiện tại. Nhưng đứng
nhìn hiện tại bằng đôi mắt tư tưởng, Chế Lan Viên đã
bao trùm tất cả các thời khắc. Nhà thơ như không phân
biệt được đâu là thực, đâu là mộng, vì giữa thực và
mộng đã không còn ranh giới. Và giờ đây, cũng không
phải “thời gian là một chuyển động, một luân lưu, một
dòng chảy mà chúng ta đã chia cách thành hôm qua,
hôm nay và ngày mai” (Kishnamuti - Tự do và Hòa bình,
Nxb An Tiêm, Sài Gòn, 1976) như Kishnamuti từng nói.
Chế Lan Viên như đã nhập thể vào quá khứ, vào tất cả
mọi linh hồn để làm cho thời gian dừng lại trong nghóa
khổ đau: “Cả dó vãng là chuỗi dài vô tận - Cả tương
lai là chuỗi huyệt chưa thành - Và hiện tại, biết cùng
chăng hỡi bạn - Cũng đang chôn lặng lẽ chuỗi ngày
xanh” (Những nấm mồ).
Đắm mình trong quá khứ để tìm chỗ trú chân khi
phải đối diện với thực tế cuộc sống, nhưng mang tư
tưởng siêu hình về thời gian nên Chế Lan Viên không
tìm ra lối thoát. Nhà thơ muốn trốn chạy, muốn vũ trụ
ngừng chuyển động. Dưới mắt ông, vũ trụ chỉ là một
tinh cầu lạnh giá. Nơi đó, ông có thể ẩn náu thân mình
để hy vọng thoát khỏi nỗi u buồn của kiếp nhân sinh:
“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh - Một vì sao trơ trọi
cuối trời xa - Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh - Những
ưu phiền đau khổ với buồn lo” (Những sợi tơ lòng). Hoài
vãng về một không gian ảo tưởng, dựng lên một không
gian siêu thực để than vãn, Chế Lan Viên đã xóa nhòa
ranh giới giữa quá khứ, hiện tại, tương lai:
Cả dó vãng là chuỗi mồ vô tận
Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành
Và hiện tại, biết cùng chăng hỡi bạn
Cũng đương chôn lặng lẽ những ngày xanh
(Những nấm mồ)
Nhà thơ chỉ thấy những vang vọng lòch sử kia một
thế giới “điêu tàn”, chỉ thấy cõi sâu u tối để triết lý với
thời gian:“Tiếng gà bỗng từ đâu vang dội lại - Hồn yêu
tinh sực tỉnh giấc mơ nồng - Và vội vã trở về mồ u tối
- Quên làn xương trong cỏ đắm sương trong” (Xương
khô). Tiếng gà cũng đẩy thời gian đi, và những hồn ma
bóng quế cũng sợ thời gian tìm về nơi u tối. Hồn ma
sợ hãi thời gian, Chế Lan Viên cũng sợ hãi thời gian,
bởi thời gian đang diễn ra từng khúc ca thù hận, những
tiếng hát bi ai đang lần lượt hiện về: “Tiếng máu Chàm
ri rỉ chảy không thôi” (Bóng tối). Nhưng máu Chàm
giờ đây còn chảy nữa không khi thời gian đã đi quá xa
những tháng ngày đau thương ấy? Và thời gian có bao
giờ quay trở lại để hồn người rộn mối thương tâm? Đó
chỉ là một cách ẩn dụ về cuộc đời của Chế Lan Viên,
bởi: “Điêu tàn có riêng gì cho nước Chiêm Thành yêu
mến của tôi đâu. Kìa kìa nó đang đục sọ dừa anh. Tiếng
xương tan vỡ dội thấu đáy lòng tôi” (Tựa Điêu tàn), là
khát vọng tìm lại thời gian cho mình và đồng loại của
Chế Lan Viên.
2. Thời gian lòch sử, xã hội
Hình tượng thời gian vận động là con đường biểu
hiện tư tưởng thơ ca chuyển biến theo thời đại của Chế
Lan Viên. Thời gian gắn liền với sự vật, tâm tư và lòch
sử dân tộc, tất cả cùng chuyển động không ngừng. Ở
đây có một sự hoán cải về cách nhìn thời gian. Nếu
thời gian nghệ thuật trong Điêu tàn là thời gian hoài
vãng, siêu thực, sự vận động của nó là những giây phút
“Lời chưa dứt, bóng đêm đã vụt biến - Tình chưa nồng
đã sắp phải phôi phai” (Đêm tàn) trả lại con người nỗi
buồn năm tháng, thì ở các tập thơ 1945 - 1975, do được
sản sinh trong thời đại cách mạng, nên thời gian trong
thơ vận động theo hiện thực khách quan, hiện thực nội
tâm hòa quyện với tiến trình lòch sử. Nhà thơ đã thể
hiện sự tồn tại của con người trong ý thức về thời gian
Vùn Hiïën 35
viïåt Nam
với những mối tương quan biện chứng của bản thân
thời gian cũng như mối tương đồng giữa thời gian với
nhòp đập con người, với sự vận động của lòch sử xã
hội. Mối liên hệ sâu sắc, đa chiều giữa sự vận động cá
nhân - lòch sử - cách mạng là mạch ngầm xuyên suốt
dòng thời gian trong thơ Chế Lan Viên:
Trên cả lòng ta còn lòng tổ quốc,
Cả cuộc đời mỗi lúc gọi ta lên,
Như đêm hè mỗi lúc mọc sao thêm,
Như ngày hè mỗi lúc mỗi bay chim.
(Giữa tết trồng cây)
Không còn là thời gian siêu tưởng, có quyền năng
kỳ ảo, huyền bí hãm chế tâm hồn thi só, mà thời gian giờ
đây hiện lên một cách khách quan, tích cực: “Tôi đi giữa
siêu hình - như đất này lợm mửa - trời xanh màu cứu
khổ - Tôi lao vào trời xanh” (Ngoảnh lại mười năm). Nó
là đoạn mạch của trái tim trắc ẩn, suy tư, là quá trình
tự ý thức của con người lý trí: “Đi xa về hóa chậm - Biết
bao là nhiêu khê” (Ngoảnh lại mười năm).
Thời gian gắn liền với hiện thực cuộc đời, liên hệ
theo trục dọc và trục ngang đời sống trong dòng luân
chuyển của quá khứ - hiện tại - tương lai. Nó không
phải “giúp người ta chỉ có thể hiểu được tính chất hiện
tại của ý thức là nhờ tính chất tương lai của nó” (Jean
Paul Sattre), cũng không phải “thời gian là một cái tuyệt
đối” (Aollinaira), mà ở Chế Lan Viên, cuộc sống hiện
tại bao giờ cũng gánh nặng quá khứ và tương lai trước
mặt. Đó là ý thức biện chứng về thời gian với sự tương
tác của các dòng ý niệm: ý niệm về lòch sử và ý niệm
về cuộc đời cùng vận động, phát triển. Nhờ đó, Chế
Lan Viên đã soi mình vào cuộc đời, vào sự kiện để
nhận thức. “Người đánh thức tương lai đã về kia! Bác
hôn lên hồn đất - Nghe trong tay trở dậy những thành
đồng, - Nghe thay đổi cả vóc hình Tổ quốc - Chừng
Điện Biên rực lửa đã nằm trong” (Người thay đổi đời tôi,
Người thay đổi thơ tôi).
Từ hiện tại con người nhìn về quá khứ và mơ tới tương
lai. “Đó chính là mối tương quan giữa cái đang hiện thực,
cái hiện thực và cái chưa hiện thực” (A.Askin), tạo nên chất
sống tổng hợp trong thơ ca. Thời gian nghệ thuật trong thơ
Chế Lan Viên được soi sáng từ nhiều góc độ, từ những
mặt khác nhau của tư tưởng nghệ thuật. Nhà thơ nhìn về
quá khứ để phân tích và chiêm nghiệm, qua đó phản ánh
bước đi của lòch sử, cách mạng: “Xưa phù du mà nay đã
phù sa - Xưa bay đi mà nay trôi mất - Cho đến được lúa
vàng, đất mật - Phải trên lòng bao trận gió mưa qua” (Nay
đã phù sa).
Chế Lan Viên liên hệ hiện tại và quá khứ qua những
hình ảnh đối lập trong cuộc sống: xưa và nay, mới và
cũ, đẹp và xấu, thiện và ác, đau thương và hạnh phúc…
Tất cả đều ngưng kết trong dòng thời gian, từ đó nhìn
nhận, nghiệm suy cuộc đời với những mối liên hệ đa
chiều của nó. Nhà thơ nhìn hiện tại bằng đôi mắt quá
khứ.“Côn Sơn thơm mùi hoa dại - Thơm từ thời Nguyễn
36
Vùn
Trãi đến thời ta - Giữa trưa vắng trắng ngời chân núi Như oan khiên lọc rồi nay đã kết thành hoa” (Côn Sơn).
Và từ hiện tại, ông mơ ước đến tương lai: “Nghóa trang...
- Thời gian... - Hạt thóc - Nên vàng - Như tình của nhân
dân ấp ủ” (Thóc mới Điện Biên). Đó chính là những
điểm khép mở có tính chất khởi đầu cho hình tượng thời
gian vận động trên nhiều sự kiện cách mạng đang ào
ạt dâng lên biển bờ cuộc sống.
Ngay trong hiện tại, thời gian cũng vận động nhiều
lớp, tạo nên bề dày, chiều sâu cuộc sống, như gam
màu tô đậm bức tranh cuộc sống với hình tượng thơ
sôi nổi: “Mới vàng mai đã lại mai vàng - Ngày rất ngắn
là ngày chiến đấu - Thời gian ở đây trôi như chảy máu
- Lòch sử chiến trường máu với bom napan”. Thời gian,
không gian đúc kết thành bốn chiều sự sống: “Buổi
sáng em xa chi - Cho chiều mùa thu đến - Để lòng anh
hóa bến - Cho thuyền em ra đi!” (Lòng anh là bến thu).
Thời gian nghệ thuật thơ Chế Lan Viên đa dạng và
phong phú. Đó có thể là thời gian tự nhiên hòa lẫn thời
gian lòch sử, thời gian tâm trạng:
Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ
Một cành hoa cũng muốn gục môi hôn!
Anh áp tai vào đất,
Không cần có lỗ tai của nhà triết học
Cũng có thể nghe cuộc đời đi, lòch sử đang đi!
(Tàu đến)
Thời gian lòch sử là thời gian luôn phát triển, đó là
thời gian hồi sinh, phục sinh, trưởng thành… Thời gian
lòch sử không chỉ là sự vận động của chân trời hiện tại,
mà còn vận động trong truyền thống oai hùng của cha
ông: “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc - Nguyễn Du
viết Kiều, đất nước hóa thành văn - Khi Nguyễn Huệ cưỡi
voi vào cửa Bắc - Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng
Bạch Đằng” (Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng).
Dòng lòch sử phân tranh giữa hai trận tuyến ta và
đòch, bi và hùng, nô lệ và tự do… tất cả đều quy tụ và
hun đúc thành sự vận động đi lên, đấu tranh giải phóng
dân tộc, xây dựng chủ nghóa xã hội trong thời đại mới,
thời đại cách mạng tiến bước hiện thực với ước mơ và
khát vọng cao đẹp.
3.Thời gian suy tư, tâm trạng
Ý thức về thời gian là ý thức về sự tồn tại của con
người, giúp người ta nhận thức sâu sắc hơn giá trò cuộc
sống. Điều này ta dễ dàng nhận ra ở trong thơ Chế
Lan Viên giai đoạn sau 1975. Thời gian hằn lên trong
ý thức của nhà thơ như một lực lượng đầy sức mạnh,
nhiều dáng vẻ, nhiều sắc thái phong phú và sinh động.
Nó là đề tài, là đối tượng phản ánh, là mạch cảm hứng
nằm trong tư duy nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. Tần số
xuất hiện các từ chỉ sự biểu hiện của khái niệm thời
gian thơ Chế Lan Viên giai đoạn này là rất cao. Chỉ
tính riêng trong bộ ba Di cảo, cụm từ “thời gian” trở đi
trở lại 62 lần: “sóng thời gian”, “bể thời gian”, “bến thời
gian”, “thạch nhũ thời gian”, “dòng thời gian”, “thời gian
xa”, “trọng tài thời gian”, “giặc dữ thời gian”… Nó được
Chế Lan Viên cảm nhận trong dòng chảy trôi vận động:
“Sóng thời gian trôi chảy bến ngày xanh” (Khúc ca
chiều); “Thời gian đến, thời gian đi hoảng hốt” (Mỗi lần
hoa), “Thời gian đang chảy xuôi” (Giặc cỏ), “Thời gian
ồ ồ nước xiết” (Ngày trống không)... thể hiện tâm trạng
của một người sắp phải đi xa. Càng về sau, khi bước
vào “buổi hoàng hôn của tuổi”, ý thức về sự trôi chảy
thời gian trong thơ Chế Lan Viên càng trở nên mạnh
mẽ. Điều này đưa đến một phương châm ứng xử riêng
biệt, in đậm cảm xúc, nghó suy của nhà thơ trước đời,
trước người, trước thơ và trước... ngày rời khỏi cõi thế.
Trong cảm nhận của Chế Lan Viên, cái khoảng
“trăm năm”, “ba vạn sáu ngàn ngày” thật ngắn ngủi.
Nhà thơ đã đồng nhất “ba vạn sáu ngàn ngày” bằng
“chốc lát”, bằng “khoảnh khắc”, thu gọn cái đa số vào
cái tối thiểu để làm nổi bật sự ngắn ngủi của đời người.
Về mặt khoa học, thu gọn như vậy là không ổn, nhưng
về qui luật tâm lí, thì điều đó lại đúng với tất cả những
con người đang ở giai đoạn cuối của đường đời. Chế
Lan Viên nắm bắt rất giỏi các quy luật tâm lí của đời
người. Chính vì vậy mà dù giọng thơ ông nhẹ nhàng
nhưng câu thơ mang sức nặng ngàn cân. Ông xem thời
gian như một đại dương lớn mênh mông mà đời người
như một con cá bơi lẻ loi và bé nhỏ: “Người bơi trong
dòng thời gian như cá” (Vẽ cá), con người bước qua thời
gian như “những chuyến xe không có khứ hồi” (Chuyến
xe). Ý thức sâu sắc về khoảng thời gian hữu hạn cuộc
đời xuất hiện thường trực như một nỗi niềm xuyên suốt:
Giữa ba vạn sáu ngàn ngày chóng mặt
Anh ở đây chốc lát
Vui buồn khoảnh khắc.
Rồi anh ra đi.
(Cây và người)
“Nếu thời gian là cách tư duy tốt nhất, giúp con
người hiểu thêm ý nghóa cuộc sống, thì quả thật Chế
Lan Viên đã ý thức đầy đủ và nâng lên thành nội dung
tư tưởng, thành hình tượng thời gian trong thơ”. (Hồ Thế
Hà). Thời gian là chứng tích của sự cô đơn và đau khổ:
“Ôm mặt nghìn năm ta lại khóc - Bến xưa rừng cũ thấy
thời gian” (Lại thấy thời gian). Nó mang đến cho nhà thơ
nỗi hốt hoảng và ám ảnh khôn cùng: “Thời gian đến,
thời gian đi, hoảng hốt” (Mỗi lần hoa). Nhà thơ nhận
thức đời người và đời thơ rồi cũng phải đến điểm dừng:
“Rồi tác phẩm rời anh như con thuyền rời bến - Sống
cuộc đời riêng, anh không dự kiến - Nó trôi đến các thời
gian xa, những năm mơ hồ” (Con thuyền).
Trước dòng thời gian đi nhanh, Chế Lan Viên càng
thấy mình mắc nợ thơ, với đời: Ông gắn bó với cuộc đời
bằng tất cả tình yêu, mong muốn “để lại cho đời” những
vần thơ bằng tấm lòng biết ơn, thành kính. Chế Lan
Viên tỏ ra băn khoăn, day dứt khi tâm nguyện còn dang
dở: “Hết năm rồi, hết năm rồi - Những năm làm ra đời -
Câu thơ đang viết dở - Mà lá bàng cứ rơi” (Lá bàng rơi).
Nhất là cuối đời, khi giáp mặt với cái chết, ông hiểu
rằng: “Đời anh sắp tắt rồi” (Mùa thu quân), “Thời hạn
của anh hết rồi mà bờ bến tít mù xa” (Tìm thơ). Trước
sự hữu hạn của đời người, nhà thơ vội vã theo dòng
thời gian đang đuổi sau lưng “chạy thục mạng trước thời
gian truy bức”. Cái khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại
của cuộc đời đôi khi đưa nhà thơ vào sự bế tắc: “Mỗi
ngày, mỗi phút, mỗi giây - Thấy thời gian đang dồn anh
vào chân tường - Và bắn …” (Dồn vào chân tường). Một
giờ khắc qua nhà thơ cảm thấy quỹ thời gian sống của
mình bò đe doạ nặng nề. Lúc nào ông cũng thấp thỏm
trong ý nghó thời gian đang đi tới có nghóa là thời gian
đang qua. Khi bóng đêm buông xuống cũng chính là khi
thời gian ban ngày đã hết. Nhiều lần ta nghe ông thảng
thốt: “gần hết đêm”, “đêm sắp qua rồi”… Ông tranh thủ
từng giờ, từng phút, thậm chí từng khoảnh khắc “giữa
hai chớp mắt” để sống và viết. Dù phải đạp “tháng ngày
mà viết”, phải tự hối thúc mình “Viết đi! Viết đi! Viết!
Viết!”, phải “Viết thêm! Viết nữa! Viết vào!” (Thời gian
nước xiết), “Phải xong bản trường ca trước lúc nến tắt
- Khi giọt nến cuối cùng nhỏ giọt thì chữ cuối cùng anh
phải viết xong”. Nhưng rồi, Chế Lan Viên ngậm ngùi
nhận ra “tháng ngày không kòp nữa”.
Dù phải đối diện với “cái chết đã được tiên lượng”,
Chế Lan Viên vẫn luôn thống nhất ở chỗ mang nặng ý
thức trách nhiệm với thơ, với đời, với mình. Trước dòng
thời gian trôi chảy, có những phút giây tróu nặng u buồn,
nhưng ông biết đấu tranh với từng phút giây còn lại
để sống có ích, không chỉ cho mình mà còn cho mọi
người, cho những giá trò vónh hằng, bất biến. Chính vì
vậy, trước lúc đến lò thiêu, ông kòp gửi lại cho đời những
câu thơ nồng nàn, tha thiết:
Anh viết cho đời và anh yêu em
Trong khi chờ nhát cuốc - à không
Chờ ngọn lửa của lò để đến Vùng Quên
(Lò thiêu)
Cảm xúc về thời gian sống là đònh hướng lớn nhất
cuốn hút tư duy thơ Chế Lan Viên giai đoạn cuối đời. Nếu
trong thời cách mạng, Chế Lan Viên thường đứng ở hiện
tại để hướng về tương lai, thì nay nhà thơ thường nhìn về
quá khứ, về những chặng đường mình đã đi qua: “Thôi
không còn chờ mùa hoa phía trước - Mà ngoái đầu nhẩm
lại các mùa hoa phía sau” (Các mùa hoa). Tuy cùng là nỗi
ám ảnh quá khứ, nhưng cái nhìn quá khứ trong Di cảo có
sắc thái riêng, khác trong Điêu tàn. Cái nhìn quá khứ trong
Di cảo là cái nhìn có tính chất đúc kết của một người đã
vượt qua rất nhiều thăng trầm của cuộc đời, có vốn sống,
vốn hiểu biết phong phú. Còn cái nhìn quá khứ trong Điêu
tàn là cái nhìn của chàng trai mơ mộng, tuy ít nhiều có tư
tưởng tiến bộ xét trong hoàn cảnh đương thời. Cũng nhờ
đó, những triết luận về thời gian trong thơ Chế Lan Viên
giai đoạn này sâu sắc hơn, gần chân lí hơn.
Vùn Hiïën 37
viïåt Nam
Người làm phim
CẦN BIẾT "S" ĐIỆN ẢNH
NGUYỄN ANH TUN
B
ộ phim "Bi, đừng sợ" đã làm dấy lên những luồng
dư luận cực kỳ đa dạng và trái chiều chưa từng
thấy ở bất kỳ bộ phim Việt nào trước đó. Thành
công về mặt nghề nghiệp của bộ phim này cùng những
bất cập của nó về nội dung tư tưởng đã được nhiều cây
bút phê bình của không ít người trong nghề lẫn đông
đảo khán giả vạch ra khá cụ thể. Có thể nói: hầu hết
những ý kiến đánh giá, khen chê tràn ngập công luận kể
từ lúc phim ra đời tới nay, thậm chí kể cả những ý kiến
có động cơ tô vẽ quảng cáo hoặc có động cơ trù ghét đố
kò, xét cho cùng, đều chứa đựng hạt nhân sự thật. Thế
nhưng, đâu mới là chân lý cuối cùng? Cần nhận đònh
thế nào cho thật khách quan về tác phẩm này?
Điều trước tiên, tôi muốn khẳng đònh ngay là: bộ
phim "Bi, đừng sợ", đứng về mặt đẳng cấp nghề nghiệp
đã vượt trội so với nhiều phim Việt từng giành giải Bông
Sen vàng Quốc gia hoặc gặt hái những giải thưởng
Quốc tế. Một người bạn đạo diễn trẻ của tôi từng học
qua trường điện ảnh của Pháp (Index) từng kể cho tôi
nghe: ở bên đó, những đạo diễn trẻ có dự án hay ý
tưởng sáng tác độc đáo đều được nhà nước ủng hộ, họ
đều có thể có điều kiện quay lên tất cả những gì họ nghó
ra. Song, đến khâu hậu kỳ- nghóa là dính dáng tới guồng
máy kinh doanh điện ảnh thì số phim được hình thành
chỉ dưới 10%! Như vậy, trường hợp của Phan Đăng Di,
một nhà làm phim độc lập nước ta là rất đáng nể, vì
chỉ với số tiền thưởng LHP quốc tế Pusan về kòch bản
và chạy vạy tìm thêm nguồn kinh phí từ các nhà tài trợ
trong - ngoài nước, đạo diễn Phan Đăng Di đã thực hiện
được một phim hoàn chỉnh, lại được gửi tới tham dự LHP
Cannes lần thứ 63 và mang về cho điện ảnh Việt Nam
giải thưởng Kòch bản hay nhất tại LHP này.
38
Vùn
Nhưng, phim chỉ được giải về kòch bản mà không
được giải về phim hoặc về đạo diễn! Đây chính là điều
đã không được nói đến. Chưa kể, như nhà lý luận và
biên kòch điện ảnh Đoàn Tuấn cho biết: “Các phim tố
cáo hiện thực nêu lên những mặt trái của xã hội, những
nghiệt ngã của con người lại rất thường được phương
Tây trao giải. Các phim dạng này cũng không hiếm ở
nhiều nước: Nga, Ba Lan, Cộng hòa Czech... Nhưng
sẽ khó mà thấy được tương lai của đạo diễn nếu như
mải theo đuổi dạng phim kiểu này”. Còn khi đạo diễn
Nguyễn Vinh Sơn nhận xét: "Có thể thấy Phan Đăng Di
nhập vào dòng phim hiện thực với những chuẩn mực
của nó", thì bất chợt chúng ta phải đặt câu hỏi: đó là
dòng phim hiện thực nào? Theo kiểu Tân hiện thực Ý
hay Làn sóng mới của Pháp? Hay Hiện thực XHCN mà
người ta đã nói tới nhàm và thực ra cũng chẳng còn nội
dung nghiêm túc thực sự? Và cái chuẩn mực đó là gì?
Lấy gì làm thước đo, làm tiêu chuẩn?
Đạo diễn Michelangelo Antonioni, một trong những
nhà cách tân sáng giá của điện ảnh Italia giữa thế kỷ
trước, trong bộ phim "Sa mạc đỏ" nổi tiếng (năm 1964)
đã mổ xẻ một cách thấm thía sự cô đơn trong tâm hồn
con người, sự tách rời giữa tâm hồn và trí tuệ, giữa cá
nhân con người với quan hệ ruột thòt và cội rễ gia đình,
khi các giai tầng xã hội phân chia sâu sắc và nền văn
minh kỹ trò bắt đầu thống trò tất cả; cùng hàng loạt các
phim của ông đều tỏ rõ thái độ bênh vực những con
người nghèo khổ bất hạnh, căm thù tội ác và sự thối nát
xã hội. Chính thái độ dứt khoát trong cuộc đấu tranh giữa
thiện và ác, giữa nhân văn và phi nhân văn đã khiến sự
nghiệp nghệ thuật của ông chói sáng trong nền điện ảnh
thế giới.
Cũng thuộc nền điện ảnh Italia, đạo diễn Bernado
Bertoluci có lần tranh luận với đạo diễn Pháp Gean Luc
Godard: "Tại sao không có can đảm đứng cách xa với
nguyên mẫu của anh, chấm dứt chuyện liên tục lặp lại
những nhiễu loạn thần kinh mà hãy đối diện với số đông
khán giả của mình?". Trên thực tế, Bertoluci đã đem
một thứ điện ảnh giàu tính nhân văn tới đông đảo công
chúng toàn thế giới, những tác phẩm mãi mãi làm rung
động lòng người, như "Bản tăng-gô cuối cùng ở Paris",
"Thân phận con người", "Hoàng đế cuối cùng", "Tiểu
Phật"... là những minh chứng rực rỡ của một nghệ thuật
độc đáo và luôn quan tâm đến số phận con người ở bất
kỳ tầng lớp nào, ở bất kỳ hoàn cảnh sống nào.
Ingmar Bergman, đạo diễn Thụy Điển tài ba là
người ưa dùng hình thức ngụ ngôn giàu bản sắc vùng
Bắc Âu để thể hiện những vấn đề thời đại cấp bách,
mà cấp bách nhất đối với ông chính là phải bảo vệ con
người và môi trường sinh thái - văn hóa xung quanh con
người, giữa khi tràn ngập chứng ngủ lòm về đạo đức, sự
lên ngôi của bản chất giáo điều, thói nhẫn tâm, khi sự
dửng dưng nguội lạnh trước thân phận con người được
che đậy bằng các thứ mặt nạ. Bergman coi điều nguy
hiểm chính của xã hội là những quan điểm chỉ vì cái
quyền lợi cục bộ của một nhóm người mà bất chấp mọi
sự sống khác của số đông người. Trong bộ phim được
trao giải Oscar "Fanni và Alekxandr", những nhân vật
nhỏ tuổi có tâm hồn đẹp đẽ nhiều mơ ước của ông cuối
cùng đã buộc phải chấp nhận cuộc đấu tranh không
cân sức với những con quỷ tồn tại trong tâm hồn của
tên giáo chủ độc ác Vergơrut để bảo vệ lý trí, nghò lực
và những tình cảm tốt đẹp của mình...
Cũng nên nhắc tới "người khổng lồ" của điện ảnh
Tây Ban Nha: Louis Bunuel, người được phong danh
hiệu "Nhà điện ảnh bậc thầy" tại LHPQT Venise 1969,
đoạt giải Oscar phim "Ước muốn mơ hồ" năm 1977.
Ông là người đạo diễn đã bò trục xuất khỏi Tổ quốc
mình, nhưng trái tim mãi mãi thuộc về Tây Ban Nha bởi
trong tất cả các tác phẩm của mình, ông đã kiên trì say
mê khám phá nội tâm đích thực của những nhân vật
mang tính nhân loại nên cũng liên quan đến Tổ quốc
đau thương của ông, những nhân vật khổ đau bởi niềm
tin mù quáng, giáo điều, bởi tàn nhẫn và bất công xã
hội đã ngăn cản họ làm điều thiện, đã phá hủy nguyên
tắc nhân đạo mà họ lựa chọn. Ông từng tâm sự: "Tuổi
thơ, rồi thời thanh niên của tôi diễn ra dưới ảnh hưởng
những chuẩn mực hư hỏng, sa đọa và những nguyên
tắc của xã hội đó. Chúng đã di căn trong tôi hậu quả có
thật, ấn tượng về một thế giới đầy dục vọng luôn muốn
trội hơn, muốn áp đảo kẻ khác... Những luận thuyết và
những nguyên tắc không sờ tới được lại có khả năng
tiêu diệt rất lớn. Chính vì những nguyên tắc ấy trở thành
phương tiện để áp đảo và đè nén, nên tôi cần phải
nhẩy vào cuộc đấu tranh không khoan nhượng vì tự
do...".
Qua một vài tên tuổi lớn của điện ảnh thế giới,
chúng ta có thể nhận thấy điểm chung nhất: cái chủ
nghóa nhân văn được nung lên tới độ cháy bỏng và được
thể hiện một cách kỳ tài trong những hình thức có một
không hai; và tôi chỉ muốn góp phần khẳng đònh thêm
cái điều hiển nhiên này: người nghệ só cần sự độc đáo,
cần vươn tới sự hoàn thiện về nghệ thuật của riêng
mình, song tất cả sẽ là vô nghóa, nếu như chúng không
hướng tới một cái đích cao cả là bênh vực, bảo vệ, cổ
vũ con người. Người đạo diễn điện ảnh tài năng thường
được coi là "thầy phù thủy". Nhưng cũng thật là tai hại
nếu người đạo diễn đó tung ra những "âm binh" làm
nhiễu loạn thêm cái cuộc sống vốn đang bò đảo lộn các
giá trò! Lòch sử điện ảnh và ngành điện ảnh học thế giới
từ trước tới nay không chỉ quan tâm đến diện mạo riêng
chung, quy luật phát triển của nghệ thuật thứ bảy, mà
còn tìm hiểu sức ảnh hưởng đối với sự hình thành nhân
cách con người của một loại hình nghệ thuật mà theo
học giả Georger Sadoul "là quan trọng nhất trong các
nghệ thuật, đồng thời cũng là phổ cập nhất...". Nghệ só
điện ảnh chân chính là người thù ghét những gì phản
với đạo lý tự nhiên, họ miêu tả những nghòch cảnh,
những xung đột tâm lý, thông qua hình tượng chân thực
của những con người nhằm chống lại cái xấu, cái ác,
sự giả dối và phi lý của xã hội. Cả cuộc đời hoạt động
điện ảnh của nghệ só thiên tài Charlie Chaplin chỉ để
nhằm chứng tỏ: "Hơn hết thảy mọi điều, đối với tôi, giá
trò cao đẹp nhất chính là nhân phẩm con người". Marcel Carné, một chủ soái của trường phái điện ảnh hiện
thực lãng mạn Pháp đã tuyên bố hùng hồn: "Bộ phim
phải là tấm gương phản ánh thời đại mình." Đạo diễn
Palesine Elia Suleiman tâm niệm: "Tôi tin điện ảnh có
thể làm cuộc sống của chúng ta ít khó khăn hơn, nếu
như mỗi người nghệ só biết tự vấn và biết quan tâm đến
số phận con người". Đạo diễn Tây Ban Nha Pedro Almodovar khẳng đònh: "Tôi tin rằng nếu chúng ta mang
hiện thực đặt vào phim thì cũng có nghóa là chúng ta
đang tham gia cải tạo cuộc sống và giúp chúng trở nên
tốt đẹp hơn". Bài học thất bại của đạo diễn danh tiếng
Pháp René Clair cũng đáng để suy ngẫm: rời xa hiện
thực để say mê với những công thức máy móc của tư
tưởng thuần túy, ảo tưởng, ông đã dần đánh mất bầu
nhiệt huyết của người nghệ só, những phim của ông giai
đoạn sau cùng mất hẳn đi sức sống và cuốn hút thời
trai trẻ nên bò rơi vào quên lãng...
Xin trở lại với phim "Bi, đừng sợ".
Phải công nhận rằng Phan Đăng Di là một đạo diễn
có nhiều công phu suy nghó tìm tòi về thủ pháp điện ảnh,
và có "gout" thẩm mỹ tốt trong cách lựa chọn khuôn
hình, ánh sáng, động tác máy, chi tiết nghệ thuật... Ấn
tượng nhất, và có khả năng gợi suy nghó nhiều nhất là
các chi tiết về chiếc lá phong, quả táo đỏ bò đông cứng
Vùn Hiïën 39
viïåt Nam
trong nước đá. Rồi cảnh người ông nôn ra máu sau khi
ngửi một bông hoa đồng nội, cảnh hai đứa trẻ cào bới
ruột quả dưa hấu một cách hoang dã sau nhiều ngày
chúng nâng niu bảo vệ nó trong bụi kín… Tôi cho rằng
đó là những cảnh phim, chi tiết phim có thể trở thành
kinh điển trong các bài giảng ở trường điện ảnh. Cái thế
giới trẻ thơ được đạo diễn khá dày công chăm chút xây
dựng, và nếu diễn viên Bi được thay bằng chú bé khác
chứ không nhạt nhòa gần như vô cảm trên màn ảnh thì
hiệu quả còn mạnh hơn nữa. Song, cái thế giới trẻ thơ
đó dường như lạc lõng trong phim, và chúng có mối liên
hệ lắp ghép về dựng phim bên ngoài hơn là mối quan
hệ nội tại với tổng thể.
Một trong những cây bút ca ngợi phim hết lời đã
viết:"Lấy bối cảnh mùa hè Hà Nội và hình tượng viên
đá xuyên suốt câu chuyện, phim truyện dài đầu tay
của đạo diễn Phan Đăng Di dẫn dắt khán giả bước vào
cuộc hành trình khám phá những bí mật sâu kín tồn tại
trong mỗi con người". Những bí mật nào đây? Trong
phim, người xem rồi cuối cùng cũng đã hiểu: những bí
mật đó thực ra chỉ là những ẩn ức dục vọng sinh lý bò
kìm nén cần được giải tỏa, cái điều mà nhà phân tâm
học Sigmund Freud đã lý giải từ lâu và nó đã được
khai thác đến nhàm chán, đến "trơ khố tải" trong văn
học nghệ thuật phương Tây đến cả một thế kỷ và hẳn
chúng chẳng còn khả năng gây bất kỳ xúc động thẩm
mỹ nào nữa! Tình tiết người cô của Bi thủ dâm bằng
cục nước đá khiến ta liên tưởng đến hình ảnh cô gái
thuyền chài móc cả chùm lưỡi câu vào cửa mình trong
phim "Hòn đảo" của đạo diễn tài ba Hàn Quốc Kimkiduk. Song, với kiểu phim luận đề quen thuộc được sử
dụng một cách cao tay, Kimkiduk đã phanh phui ra mặt
trái đáng ghê tởm, phi nhân tính của xã hội thông qua
những hình ảnh giàu tính triết lý, và tình tiết trên đã vượt
qua được chủ nghóa tự nhiên để cài cắm vào tâm trí
Một số cảnh trong phim “Bi, đừng sợ”
40
Vùn
người xem nỗi nhức nhối về những vấn đề toàn xã hội,
thậm chí ở tầm vóc nhân loại. Còn tình tiết "mô phỏng"
đó của "Bi, đừng sợ", cùng hàng loạt cảnh làm tình thô
thiển (và nhơ nhớp) trong phim chỉ khiến rất nhiều khán
giả các tầng lớp thấy bức bối phản cảm. Và họ có lý!
"Bi, đừng sợ" cũng khiến người xem trăn trở về mối
quan hệ từ gia đình tới xã hội đã "đóng băng" một cách
thê thảm, và đó cũng có thể là hồi chuông cảnh tỉnh xã
hội mà những người làm phim muốn gióng lên. Có điều,
hồi chuông cần thiết đó lại được bật ra từ những hình
bóng vật vờ như bóng ma, tựa những nét vẽ phúng dụ
mà đời sống tinh thần trong đó sao mà méo mó, thảm
hại, bé nhỏ, không có chút âm hưởng nào của đời sống
thực tại đang cộm lên bao điều gay gắt nóng bỏng!
Cuộc đời thực có thể còn tồi tệ ảm đạm hơn thế nhiều,
song nếu chỉ làm cái việc mô phỏng nó một cách nghệ
thuật, tỉa tót nhấm nháp nó thì cần gì đến sứ mệnh của
người nghệ só?! Ngoài một chút ngậm ngùi, có đượm
chua xót và mỉa mai của tác giả, người xem thèm biết
bao thái độ uất hận đầy dũng khí của người làm phim
trước sự tha hóa của tâm hồn - nhân cách mà thực ra
phim cũng đã hé lộ ra được phần nào, song tác giả lại
không đủ dũng cảm và bản lónh nghệ thuật để đi tới
tận cùng sự cảnh tỉnh, vì vậy, tác phẩm hóa ra "chơi
vơi" như tên một bộ phim mà Phan Đăng Di tham gia
với tư cách tác giả kòch bản! Người xem đông đảo sẽ
thu nhận được điều gì, ngoài sự xuýt xoa về những tiểu
xảo, những chi tiết điện ảnh có tính nghệ thuật song xét
cho cùng chỉ là những đóa hoa dại mọc trên một bãi cát
khô cằn của tư tưởng tình cảm? Đó có phải là hướng đi
lâu dài cho một đạo diễn trẻ khá tài hoa và chòu khó lao
động nghệ thuật? Đó có phải là con đường lớn của điện
ảnh Việt Nam? Đó có phải là tác phẩm chứa đựng trong
nó những giá trò để xứng đáng gia nhập vào kho tàng
điện ảnh nhân loại? Phần đông người xem phim cũng
có thể tự trả lời; và bản thân tôi buộc phải tự nhủ mình:
"Người làm phim hãy nên biết "sợ" điện ảnh!"
Nếu cắt "Bi, đừng sợ" ra làm những trích đoạn bài
tập về đạo diễn, quay phim, thiết kế mỹ thuật, xử lý
âm thanh... để sinh viên điện ảnh nghiên cứu, học tập,
thì sẽ có khá nhiều bài tập thật xuất sắc; cũng giống
như trường hợp của nhiều đạo diễn trẻ ở Pháp đã được
thỏa sức thể nghiệm về nghề nghiệp mà tôi kể ở trên...
Nhưng, để tạo ra một tác phẩm điện ảnh hoàn chỉnh có
tác dụng đích thực đối với xã hội, rõ ràng là Phan Đăng
Di còn phải tự vượt lên trên mình. Không chỉ là vấn đề
nghệ thuật thuần túy, kỹ thuật thuần túy mà bất cứ giáo
trình điện ảnh nào của Mỹ cũng nhấn mạnh để giúp
người làm nghề bước vào một công nghệ càng ngày
càng đậm chất thương mại có cơ hội mau chóng chộp
được thành công. Mà cái chính là thái độ của người
nghệ só điện ảnh trước thời cuộc, là tình yêu sâu sắc
và sự thấu hiểu chia sẻ nâng đỡ chân thành giúp con
người vượt qua những bi kòch của minh…
Một hình ảnh
TẢ CHÂN
trên “khoảng trắng”
NGUYỄN HUY THẮNG
Nguyễn Huy Tưởng
khoảng cuối năm 1948 đầu 1949
T
rong cuộc đời của cha
tôi, nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng có một số khoảng
trống không thấy ghi trong nhật
ký. Cuốn nhật ký năm 1948 của
ông ghi đến ngày 25-11, sau đó
chép lại bức thư gửi các chò phụ
vận Liên khu 10 về một chuyện
ít nhiều có tính riêng tư. Dòng
nhật ký tiếp theo, Nguyễn Huy
Tưởng đề “Đêm 15-2-1949”, tiếp
theo là một câu tóm lược: “Đi
một tháng với Pháo binh về”.
Nhưng thực tế, giữa hai mốc thời
gian 25-11-1948 và 15-2-1949 là
một “khoảng trắng” không phải
chỉ một tháng, mà tới 80 ngày.
Sự khiếm khuyết này gây
không ít khó khăn cho những ai
nghiên cứu chuyên sâu Nguyễn
Huy Tưởng, đặc biệt về giai
đoạn kháng chiến chống Pháp
là thời kỳ Nguyễn Huy Tưởng
giữ nhiều trọng trách trong lãnh
đạo văn nghệ.
Rất may, mới đây gia đình
chúng tôi đã tìm được một tư
liệu giúp bổ khuyết phần nào
“khoảng trắng” ấy trong cuộc
đời ông. Đó là một cuốn sổ tay
khổ nhỏ, có thể đút vừa túi ngực
áo varơi (loại áo lính của Pháp
là đồ chiến lợi phẩm, cán bộ
và chiến só ta hồi đó hay mặc).
Nhà văn đã sử dụng cuốn sổ ấy
trong suốt thời gian đi với các
đơn vò pháo binh, và cả trước
đó nữa. Ông ghi chép từ các
số liệu “chuyên môn” có liên
quan (tất nhiên trong phạm vi
được phép) đến thư từ của chiến
só pháo binh nhận được từ gia
đình, những chuyện riêng tư mà
họ tâm sự cùng ông… Và, thật
thú vò, cùng với một số hình ảnh
do ông vẽ phác để làm tư liệu,
như một khẩu mortier mà ông
chú thích kỹ càng từng bộ phận,
cuốn sổ còn có một bức ký họa
vẽ chính ông! Trang giấy có bức
ký họa ấy nằm lẫn giữa các trang
ghi “linh tinh” đủ mọi thứ mà
nhà văn quan tâm. Có lẽ vì thế
chăng mà tôi đã bỏ qua nó sau
nhiều lần giở đến cuốn sổ. Nay
phát hiện được, xin công bố để
bạn đọc có thêm một tư liệu về
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Và
cũng với hy vọng được chia sẻ
thông tin về tác giả bức vẽ.
Trên bức ký họa có ghi
“Chàng Huy”, chắc là để chỉ
Nguyễn Huy Tưởng mà các bạn
văn nghệ só thân với ông vẫn
quen gọi (Huy hoặc Huy Tưởng).
Ngoài ra còn hai chữ nữa là
“Thọ” và “mắm”. Hai chữ ấy chỉ
gì, phải chăng là tên người vẽ?
Được biết trong các họa só của
ta, có họa só Trần Đình Thọ cũng
tham gia kháng chiến ở Việt
Bắc. Có điều, những thông tin
về quãng đời hoạt động ở Việt
Bắc của người họa só này thường
chỉ nói ông làm báo Cứu quốc,
bên cạnh các nhà văn Nam Cao,
Tô Hoài, mà không có tư liệu
nào nói ông đi với pháo binh cả.
Nhưng mặt khác, chữ “mắm”
lại gợi cho ta nghó đến ông, vì
Trần Đình Thọ vốn gầy gò, biết
đâu hồi kháng chiến thiếu thốn
trông ông gầy đến nỗi được gọi
là “cá mắm”? Song tất cả đều
chỉ là phỏng đoán mà thôi. Họa
só Trần Đình Thọ lại vừa ra đi
tháng Giêng vừa qua, không còn
có thể trả lời bất cứ câu hỏi nào
cho những ai quan tâm…
Nhưng dù tác giả là ai, gia
đình chúng tôi vô cùng biết ơn
vì cùng với bức vẽ này, một hình
ảnh đặc tả cha tôi đã được hiện
hình, trên một “khoảng trắng”
mà trước đây gia đình tôi biết
được rất ít. Cũng rất mong bạn
đọc nếu có thông tin hay kiến
giải gì, xin hãy chia sẻ với chúng
tôi để ở lần xuất hiện sau, bức
ký họa sẽ được ghi đầy đủ và
chính xác tên của người đã vẽ ra
cách đây sáu mươi năm có lẻ…
Vùn Hiïën 41
viïåt Nam
thơ
Nguyễn Hoa
Đến đậu
Trên đá
Như thả neo vào lòng tôi!
Nguyễn Hoa có một câu thơ làm các tài thơ lớn phải giật mình: “Em là muối/ướp nỗi đau/
tươi mãi”. Đây là nhà thơ thật mộc mạc nhưng rất “thi sĩ” trong cảm nhận thiên nhiên, cuộc đời,
tình u. Có lẽ chỉ Nguyễn Hoa mới hiểu được “nỗi lòng cây, nỗi lòng cây/tán xanh xòe bóng làm
mây giữa đời”. Cũng chưa ai thấy lửa lại “mềm”, “mát” và “hiền” như Nguyễn Hoa. Anh là thi sĩ
của cái đẹp. Nhưng là một người lính từng đi qua chiến tranh, Nguyễn Hoa khơng ngi nỗi
nhớ đồng đội cùng sinh tử năm xưa của mình “Tháp Rùa trong trái tim/ta trở về Hà Nội/xa xót
mãi khơng qn/những bạn bè nằm lại”, “Và như thế! Đồng đội ơi/ có phải/chúng ta mang bản
chất con người/chúng ta hi sinh”. Và thơ Nguyễn Hoa ln nói đến sự hy sinh. Cái đẹp và sự hy
sinh làm nên sự ám ảnh lạ lùng của thơ anh. Xin chọn gửi bạn đọc vài bài thơ Nguyễn Hoa
Nguyễn Thế Khoa
Đi trong
rừng khộp mùa khô
Đi trong rừng khộp mùa khô
Cùng tôi có gió ngâm thơ giữa trời
Cuối rừng kêu khản tiếng nai
Trong sâu thẳm thức một tôi thû nào
Bạn bè ngủ kín đêm sao
Cũng mùa khô với nôn nao đêm rừng
Gió lùa lành lạnh dưới lưng
Bỗng người dựng: Nhớ bom rừng, đất
bay…
Mới ngày đó đã hôm nay
Áp bờ sống chết tháng ngày đâu quên!
Tôi đi rong cánh rừng liền
Đo lòng suối cạn gọi tên nước về
Đo rừng gọi một vùng quê
Đo mình bằng bước chân về lại bưng…
Gia tài vẫn chỉ trên lưng
Ba lô từ thû biết rừng ấy thôi!
Bạn bè ơi - Bạn bè ơi
Cùng tôi gió với khoảng trời mùa khô!
Cây rụng lá mùa đông
Cây rung trong gió chiều
Rụng đi từng đợt lá
Tựa cơn mưa hối hả
Lá rơi đầy đất đai
Lá rơi trên vai tôi
Hơi cây còn vẫn ấm
Giữa trời cây đứng nhận
Cả mùa đông về mình!
42 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Dưới mặt trời
A
Bắt đầu từ nỗi nhớ
Nỗi nhớ không sợ thời gian…
Buổi sớm ấy cách đây vừa tròn mười năm
Tôi chia tay đứa con gái vừa sinh
Và vợ
Cùng cánh buồm
Ra đảo đá…
Và bứt khỏi cái tổ của tôi
Cái tổ ấm nồng hơi người - ngọn lửa
Cái tổ nhỏ nhoi đủ chứa cuộc đời tôi, vợ tôi
và đứa con gái nhỏ
Cái tổ nếu tôi không có Thì tôi như không có trên đời!
Một ngày
Mười ngày
Một trăm ngày
Một nghìn ngày nghe sóng đổ
Sóng đổ vào chân đảo đá
Như là sóng đổ vào cái tổ ấm có mồ hôi tôi
Trong giấc ngủ đêm nào cũng có…
Nếu chết là điều đáng sợ
Thì cô đơn còn đáng sợ hơn!
Sợi dây nối đầu tiên
Giữa đất liền với đảo
Đấy là những cánh chim hải âu
Nhìn những cánh chim ngang trời
Mỗi người phải biết tự mình bay lên bằng đôi cánh…
Và những trang thư mỏng mảnh
Tôi cầm lên tay
Và tôi khóc
Bởi tôi biết những cánh buồm rách
Những dòng máu tươi
Đã hòa biển mặn…
Vì bom đạn muốn cắt đi mọi tín hiệu của con người
Để chúng tôi chết bằng sự cô đơn trên đảo đá
Bằng sự ngày mai cũng như hôm nay
không là gì cả
Trên đầu trời xanh và dưới biển xanh…
Chiến tranh
Chiến tranh!…
Ngọn gió đen lồng trên đất nước tôi
Một trăm tấn bom trên đảo đá
Một ngày
Một ngàn tấn bom trên đảo đá
Mười ngày…
Cứ thế nhân lên để thấy
Chúng tôi đã đến ở đây
Từ ngọn cỏ lá cây
Ròng ròng nhựa chảy
Đêm trăng như thấy
Những giọt nước mắt vàng đang chảy
Và đá cháy
Lửa bom xăng, bom na-pan
Lửa!
Cháy cả bóng chúng tôi
Bóng đảo!
Đấy bi đông nước của tôi
Cái bi đông bẹp méo lăn khắp trên đảo đá
Nước ngọt ở đây phải tính bằng giọt
Chúng tôi đã đổi bằng máu tươi
Lấy trang thư của vợ
Và ở đây
Không có cái gì của anh, của tôi, của ai nữa.
Của tất cả mọi người
Không tựa vào cái bóng của nhau
Để thắng giặc trời, giặc biển…
Chợt dải mây bay đến
Kòp nhận ra mình vào tuổi bốn mươi
Đứa con gái viết thư ra nói
Sang năm vào học lớp mười
Và dòng tái bút:
Tóc con đã dài gần gấu áo
Bố đừng gửi vỏ sò, vỏ ốc
Mà bạn trai cười…
Đêm nay
Trăng
Tôi sóng bước cùng người
Hương cỏ cây
Hương cỏ cây…
Tôi kêu lên như gặp lại
Cái độ mình trạc tuổi hai mươi
Của một sớm mai cùng cánh buồm ra khơi
Đến đảo đá thành người đảo đá!
B
Và bắt đầu từ nỗi nhớ
Nỗi nhớ không sợ thời gian…
Những đồng đội của tôi - Không thể nào quên
Tuổi møi tám, đôi mươi nằm xuống
Sang năm, sang năm
Con gái tôi vừa tròn mười tám…
Những bông hoa của đảo nở rộ tươi
Còn bao đồng đội tôi không thêm tuổi nữa rồi?
Và sớm nay
Biển sáng, hải âu bay
Tôi nói gì
Về nỗi cách xa?…
Nỗi cách xa chỉ biển xanh hiểu nổi
Nỗi cách xa chỉ đảo đá này hiểu nổi
Nỗi cách xa…
Chúng tôi không đếm những gian lao đi qua
Cái chết và cái sống
Để đảo đá này
Có một
Vùn Hiïën 43
viïåt Nam
Những bất cập
CỦA CẢI LƯƠNG TRÊN ĐẤT BẮC HIỆN NAY
NGỌc ANH
Mừng giỗ tổ ngành Sân khấu (12/8 âm lòch năm Tân Mão) và kỉ niệm 60 năm thành lập Nhà hát Cải lương
Việt Nam, vừa qua Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN phối hợp với Nhà hát Cải
lương Việt Nam tổ chức hội thảo “60 năm bảo tồn và phát huy nghệ thuật Cải lương trên đất Bắc”.
T
rong lòch sử hình thành và phát triển của nghệ
thuật Cải lương tròn 100 năm (1911 - 2011) thì
Cải lương Bắc đã góp phần không nhỏ trong tiến
trình đưa nghệ thuật Cải lương phát triển đồng hành
cùng những giai đoạn của lòch sử dân tộc. Nhìn lại từ
lúc manh nha đến phát triển, nghệ thuật Cải lương nói
chung và Cải lương Bắc nói riêng đã có một bước tiến
rất dài theo phương châm:
Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh
Với một hành trình phát triển 60 năm (1951 - 2011),
Cải lương Bắc đã bước những bước tiến vẻ vang, đầy
vinh quang, tự hào nhưng cũng không ít những chông
gai, thử thách. Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi
sân khấu trong thời kỳ trầm lắng, thiếu vắng khán giả
thì nghệ thuật Cải lương nói chung và Cải lương Bắc nói
riêng cũng không tránh khỏi vòng quay nghiệt ngã này.
Cải lương Bắc hát giọng Nam
Hơn 20 tham luận và nhiều ý kiến quý báu của
các đại biểu tham dự đã nêu lên những nguyên nhân
dẫn đến hậu quả Cải lương không còn là thánh đường
như thời kỳ hoàng kim vang bóng. Bên cạnh việc đánh
giá những thành tựu của nghệ thuật Cải lương trên đất
Bắc, hội thảo cũng đề cập đến vấn đề mở rộng đối
tượng khán giả cho Cải lương - đặc biệt là giới trẻ đang gặp nhiều khó khăn, phải chăng một phần cũng
bởi Cải lương thiếu vắng những kòch bản hay, tràn đầy
hơi thở thời đại hay vì những người làm nghệ thuật chưa
thực sự tâm huyết với sứ mệnh nối nhòp cầu Cải lương
hòa điệu cùng khán giả?
Mặc dù các nghệ só của Nhà hát Cải lương Việt
Nam đã chuẩn bò khá kỹ lưỡng các tiết mục văn nghệ
chào mừng hội thảo. Nhưng suốt 30 phút nghe và xem
các nghệ só biểu diễn các bài tân cổ, vọng cổ… các đại
biểu tham dự đều ái ngại bởi các tiết mục ca cổ: Cung
đàn mới, Cô gái tưới đậu, Hoa mua trắng, Dòng sông
Thu Bồn… đều được hát bằng giọng Nam. Đành rằng có
sự giao thoa giữa Cải lương hai miền Nam Bắc, nhưng
tại một hội thảo bàn về Cải lương Bắc thì chuyện các
44 Vùn Hiïën
viïåt Nam
nghệ só hát bằng giọng Nam đã như một sự báo động
về bản sắc riêng của Cải lương Bắc. Điểm nổi trội dễ
nhận biết nhất của Cải lương Bắc là nét diễn và giọng
ca đậm chất Bắc, nhưng tại diễn đàn bàn về Cải lương
Bắc thì những lợi thế ấy lại không được “trưng”, “khoe”
để khán giả thưởng thức và cảm nhận?
Con chim đầu đàn của Cải lương Bắc vẫn
“lang thang”
Sân khấu Cải lương Bắc thời
gian gần đây nổi bật các vở
diễn về đề tài lòch sử, khá
hoành tráng như: Đế đô
sóng cả, Trọn đời trung
hiếu với Thăng Long,
Cung phi Điểm Bích, Trời
Nam… (Nhà hát Cải lương
Việt Nam), Lễ mở xiêm
áo, Yêu là thoát tội (Nhà
hát Cải lương Hà
Nội). Tuy nhiên,
những vở diễn
đó chỉ được
nhắc tới trong
những
đợt
hội diễn và
được người
trong nghề
nhớ tới còn
khán giả lại thờ
ơ, hoặc thậm chí
chưa bao giờ đi
xem. Cho dù Nhà
hát Cải lương
Việt Nam có
nhiều suất diễn
tại rạp Hồng
Hà hay tại
Nhà hát Lớn
(Hà Nội) thì
cũng vẫn đa số là vé mời hoặc bán vé theo con đường
tìm nhà tài trợ chứ phần lớn không phải do công chúng
say mê Cải lương mà tìm mua vé xem. Một trong những
nguyên nhân khán giả phía Bắc hiện nay chưa mặn mà
với nghệ thuật Cải lương, hoặc muốn xem nhưng chưa
tìm đến được với Nhà hát Cải lương Việt Nam hiện nay
là do Nhà hát Cải lương Việt Nam chưa có rạp để hát.
Mỗi lần có suất diễn tại thủ đô Hà Nội, Nhà hát thường
phải đi thuê đòa điểm diễn tại rạp Hồng Hà hoặc Nhà
hát Lớn. 60 năm tồn tại và phát triển nhưng Nhà hát
Cải lương hiện nay vẫn “lang thang” vì chưa có rạp diễn
chính thức, dù Nhà hát ra đời sớm hơn Nhà hát Tuồng
Việt Nam và Nhà hát Chèo Việt Nam. Trụ sở của Nhà
hát nằm ở trong ngõ ngách, dân cư đông đúc, đi lại
chật chội, lại thuộc khu vực có điểm nóng về nhiều tệ
nạn xã hội đã tạo nên những hạn chế trong việc quảng
bá để công chúng biết tới thương hiệu của Nhà hát.
Đa số các suất diễn của Nhà hát Cải lương Việt Nam
ở Hà Nội chủ yếu tỏa đi các khu vực ngoại thành hay
các tỉnh phụ cận, tất nhiên đó là hoạt động xã hội hóa
sân khấu, nhưng mặt khác cũng phải nhận thấy rằng
ngay giữa trung tâm Thủ đô nhưng khán giả lại thờ ơ
với Cải lương.
Hiện nay, nhiều đơn vò nghệ thuật ở phía Bắc có
xu hướng Nam tiến để tìm mạch nguồn cảm hứng sáng
tạo cũng như tìm được nguồn doanh thu đảm bảo cuộc
sống cho anh chò em nghệ só trong hành trình xã hội
hóa sân khấu. Dẫu cho chuyến đi từ Bắc vào Nam khá
vất vả nhưng các đoàn lại rất phấn khởi vì sẽ có nhiều
hợp đồng diễn, điều này đồng nghóa với doanh thu cao,
cuộc sống của nghệ só cũng đỡ chật vật. Vì thế, rất
nhiều đoàn nghệ thuật phía Bắc, trong đó có Nhà hát
Cải lương Việt Nam đã thắng lớn khi lưu diễn tại các
tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Hợp đồng
diễn được ký, đến hẹn lại lên, các đoàn lại ngược xuôi
từ Bắc vô Nam tìm lời giải cho bài toán doanh thu và
khán giả. Và phương Nam xa xôi đã trở thành miền đất
hứa đối với các đơn vò nghệ thuật phía Bắc mong tìm
sức sống mới.
Vậy tại sao Cải lương Bắc không thu hút được khán
giả ngay trên “sân nhà” mà phải tính đường du Nam?
Có thể thấy, hoạt động quảng bá cho các chương trình
sân khấu ở các tỉnh phía Bắc chưa được chú trọng.
Thực tế là ngay ở Hà Nội, nếu khán giả muốn xem kòch,
xem hài sẽ tới Nhà hát Tuổi trẻ, nhưng muốn xem các
loại hình nghệ thuật khác lại không biết tìm hiểu, liên
hệ ở đâu và không biết điểm diễn nào chuyên về nghệ
thuật sân khấu gì. Một vò trưởng đoàn của một đoàn
nghệ thuật miền Trung khi đưa đoàn ra Hà Nội biểu
diễn đã nhận xét: “Thật tiếc vì nhiều đơn vò nghệ thuật
tọa lạc ngay giữa Trung tâm Thủ đô lại không phát huy
được thế mạnh của mình để tìm hướng đi xã hội hóa
sân khấu”. Đấy là các Nhà hát đã có rạp khang trang
mà vẫn còn long đong tìm khán giả, thì đối với cảnh
“lang thang” như Nhà hát Cải lương Việt Nam hiện nay,
việc thu hút được khán giả lại càng khó khăn hơn. Rõ
ràng, để kéo khán giả đến rạp, các loại hình nghệ thuật
sân khấu dân tộc, trong đó có nghệ thuật Cải lương
buộc phải làm mới mình. Và trong tiến trình làm mới
ấy, các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc phải tự
tiếp thò, quảng bá để thoát khỏi cảnh trầm lắng lâu nay.
Thiếu vắng nhạc công chuyên nghiệp
Bên cạnh những nguyên nhân như yếu tố kòch bản,
nguồn diễn viên, ánh sáng, âm thanh, phục trang… còn
nhiều những bất cập cần khắc phục để Cải lương theo
kòp với cuộc sống đương đại phải nhắc tới sự thiếu hụt
của các nhạc công trong dàn nhạc Cải lương hiện nay.
Thực tế nhiều vở diễn gần đây cho thấy các đơn vò,
nghệ só đều “lên tay” và thực tế nhiều vở diễn đã kết
hợp hài hòa được chất trữ tình sâu lắng của Cải lương
với một hình thức không kém phần sang trọng, đẹp đẽ
và được khán giả, báo chí đánh giá cao. Tuy nhiên, đã
từng diễn ra trường hợp vì thiếu nhạc công, Nhà hát
Cải lương Việt Nam phải đi thuê nhạc công của Nhà
hát Tuồng Việt Nam, nhưng vì thù lao của nhạc công
Nhà hát Tuồng Việt Nam quá cao so với kinh phí được
đầu tư cho mỗi vở diễn của Nhà hát Cải lương Việt
Nam nên Nhà hát Cải lương Việt Nam đành phải thuê
các nhạc công “vườn” để đảm bảo sự đầy đủ nhạc khí
âm thanh của dàn nhạc. Dó nhiên, với sự thuê mướn
như vậy, chất lượng vở diễn sẽ không thể được đảm
bảo và nếu không có sự chuyên nghiệp đồng bộ thì
Cải lương vẫn khó có những bước chuyển mình để tìm
lại thời hoàng kim trước đây. Được biết, đời sống của
nhạc công thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc
biệt là nhạc công trong dàn nhạc Cải lương còn nhiều
khó khăn, chế độ lại ít được quan tâm nên nhiều nhạc
công nhạc dân tộc đã chuyển sang các loại hình âm
nhạc khác để có thêm thu nhập. Một số nhạc công gạo
cội của Nhà hát đã nghỉ hưu. Điều này đã dẫn tới ngày
càng ít các nhạc công chuyên nghiệp của dàn nhạc Cải
lương. Thêm vào đó, các trường nghệ thuật lại ít đào
tạo nhạc công nhạc dân tộc (có thể do ít người theo
học) hoặc đào tạo một cách chung chung, ở phạm vi
rộng mà không chuyên sâu vào lónh vực âm nhạc Cải
lương nên sự thưa vắng của các nhạc công trong dàn
nhạc Cải lương phía Bắc hiện nay là khó tránh khỏi.
Cải lương là sự kết hợp tuyệt vời giữa đàn - ca - diễn,
nhưng lực lượng đàn cho các nghệ só biểu diễn đang
khan hiếm như vậy, thì Cải lương Bắc muốn “vươn mình
trỗi dậy” hướng tới thánh đường sân khấu như ao ước
của những người làm nghề e rằng vẫn còn nhiều chông
gai, bất cập.
Làm nghệ thuật là hướng đến công chúng, nếu
không có sự điều chỉnh kòp thời thì nghệ thuật Cải lương
vốn đang xa rời khán giả sẽ còn bò đẩy xa hơn nữa.
Vùn Hiïën 45
viïåt Nam
Giã từ
với
PHẠM VIỆT LONG
Ma VăN KHNG
N
ăm 1999, Phạm Việt
Long cho xuất bản tập
truyện ngắn “Âm bản”.
Tác phẩm trình làng này của
anh là cái duyên cớ khiến tôi và
anh biết nhau rồi trở nên thân
quen nhau.
“Âm bản” để lại cho tôi
nhiều thiện cảm. Đặc biệt nó
gây thích thú cho tôi vì sự vận
dụng khá nhuần nhuyễn các đặc
trưng thể loại; trong đó, quan
trọng là tính thống nhất triệt để
của các chi tiết cùng sự phong
phú của vốn sống thực. Với một
cây bút lần đầu viết truyện ngắn
thì đây là điều bất ngờ.
Tuy nhiên, Phạm Việt Long
còn gây cho tôi nhiều bất ngờ
hơn, mà không phải chỉ là vì nhà
văn tiếp tục con đường sáng tạo
của mình bằng thể loại tự sự cỡ nhỏ như Âm bản;
anh tạo nên cả một dư luận sôi nổi trong bạn đọc,
bằng việc ngay sau đó công bố cuốn tiểu thuyết
tư liệu thật đầy đặn, nhan đề “Bê trọc”.
“Bê trọc” là cuốn sách phản ánh hành trình
của chính tác giả trong vai một phóng viên Thông
Tấn xã sống làm việc chiến đấu ở chiến trường
miền Nam những năm 1966 - 1977, khi cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc đang ở thời kỳ ác liệt.
Cuốn sách lập tức có được sự đón nhận thật
vồ vập của độc giả ngay từ khi nó mới ra đời.
Chất liệu sống tự nhiên, sự dồi dào của các tình
tiết chân thật của một con người vừa hồn nhiên
vừa chín chắn trong trải nghiệm, tạo nên những
trang viết cảm động đến nao lòng cùng một sức
hấp dẫn không thể cưỡng lại được. Xuất bản năm
46
Vùn
1999, cùng năm với “Âm bản”,
“Bê trọc”, cuốn sách có cái tên
trần trụi như chính đời sống,
liên tiếp được tái bản trong
những năm 2001, 2002, 2003.
Phạm Việt Long, trong suy
nghó của tôi lúc này đã là một
tiềm năng sáng tạo đáng nể
trọng rồi. Năm 2002, anh bảo
vệ thành công Luận án tiến só
ngữ văn với đề tài Tục ngữ,
ca dao về quan hệ gia đình.
Tiếp đó, anh xuất hiện với tư
cách một nhạc só, tác giả của
các đóa nhạc Mơ hình bóng quê
nhà, Những bản tình ca mới,
Giàn thiên lý và 2 chương trình
riêng trên truyền hình Việt
Nam (Quán Âm nhạc: Nhà văn
- Nhạc só Phạm Việt Long) và
Truyền hình Hà Nội (Hà Nội
trong tôi)... Các ca khúc trữ tình cũng đã được
trình diễn trong một đêm ca nhạc với tên gọi Nhớ
một thời, thu hút được nhiều cảm tình của công
chúng. Tiếp tục con đường văn chương, năm 2002,
anh cho in ký sự Du khảo Hoa kỳ sau thảm hoạ 11
tháng 9; năm 2006, anh công bố tập truyện ngắn
và tản văn nhan đề Ngờ vực. Và bây giờ, năm
2010, tiểu thuyết Giã từ.
Giã từ, ở bản thảo nộp dự thi Tiểu thuyết Hội
Nhà văn Việt Nam năm 2005 - 2008, dầy 200 trang
khổ A4. Đây là câu chuyện xảy ra ở một tập đoàn
kinh tế liên doanh với nước ngoài, tại thời điểm
hôm nay, lúc tất cả đang trong trạng thái mới bắt
đầu bộc lộ những khía cạnh tiêu cực của nền kinh
tế thò trường, khi con người dễ bò biến sắc theo lợi
ích vò kỷ và đồng tiền, ở thời kỳ tranh chấp quyết
liệt giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tốt đẹp và cái
Tôi yêu những trang viết về ngày hôm nay,
xấu xa, giữa bảo thủ trì trệ và cách tân năng động,
lúc này. Ngày hôm nay là cái đang diễn tiến ở
giữa đạo đức trong sáng và thói vụ lợi, tham lam,
trước mắt chúng ta. Nó đang hiện tồn. Nó chưa
quỷ quyệt. Diễn tiến theo các sự việc, các nhân
phải là cái đã qua, cái đã đònh vò, đã được đanh
vật hiện lên với nhiều hình nhiều vẻ, phong phú
giá, để có thể tha hồ chiêm ngưỡng hoặc chê cười.
và phức tạp đan xen. Ở đây người tốt thì thật tốt.
Ngày hôm nay là cái chưa hoàn thành, cái còn
dang dở, phải cất công mầy mò tìm hiểu. Ngày
Người xấu thì cực xấu. Và xung đột giữa hai lớp
người đối lập này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tạo
hôm nay là cái đang phải khám phá. Viết về ngày
nên một năng lượng đủ sức duy trì lực hút của
hôm nay là một thử thách với nhà văn, nhưng lại
cuốn sách.
là một đòi hỏi ráo riết, một yêu cầu thiết tha của
Rõ ràng là để viết cuốn tiểu thuyết này, nhà
người đọc. Nói như vậy là tôi thực sự có ý ủng
văn phải huy động một cách tổng lực vốn sống
hộ cuốn sách của nhà văn Phạm Việt Long. Đây
đã tích luỹ và sự từng trải của mình. Bóng dáng
là một cuốn sách thuộc loại đề tài mà tôi và có lẽ
những người thật việc thật ở ngoài đời phảng
là nhiều bạn đọc đang muốn tìm đọc.
phất đây đó trong các nhân
Không còn nghi ngờ gì
vật tiểu thuyết mà người đọc
nữa, viết về ngày hôm nay
“Giã từ” là một trong 51 cuốn tiểu thuyết
quen biết ít nhiều đã có thể
theo cái cách anh đã thể hiện
đã lọt vào vòng chung khảo của cuộc thi tiểu
ở cuốn Giã từ này, đó chính là
nhận ra, là một minh chứng
cho nhận xét trên của người
ưu
thế trội của cây bút Phạm
thuyết của Hội Nhà văn. Cùng với cảm nhận
đọc. Nhà văn viết bằng
Việt Long. Chả ai là toàn bích
rằng đây là một cuốn sách có tính khuynh
gì, nếu không phải là bằng
cả. Mỗi người chỉ thật giỏi ở
hướng cao, thể hiện rõ quan điểm của nhà
chính những tích lũy từ đời
một vài thao tác thôi. Tâm sự
văn, có màu sắc tố cáo và chống lại một
sống của mình?
về nghề văn, Phạm Việt Long
cá
c
h
khô
n
g
khoan
nhượ
n
g
cá
i
xấ
u
,
cá
i
tiê
u
“Giã từ” là một tiết đoạn
bảo: nhà văn phải biết tích
cực, hấp dẫn, dễ đọc, nhiều người còn muốn
trong bức tranh sống động
luỹ vốn sống, từ đó mà sáng
hôm nay, một giai đoạn kỳ
tạo nghệ thuật. Tạo hoá ban
gọi đây là một tiểu thuyết phóng sự.
thú mà văn chương có thể và
cho nhà văn tiềm năng sáng
cần phải đem hết sức mình để
tạo. Cuộc sống ban cho nhà
miêu tả. “Giã từ” là một trong 51 cuốn tiểu thuyết
văn chất liệu và cảm hứng sáng tạo. Tiểu thuyết
đã lọt vào vòng chung khảo của cuộc thi tiểu
Bê trọc của anh đã đoạt giải thưởng của Uỷ ban
thuyết của Hội Nhà văn. Cùng với cảm nhận rằng
toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật
đây là một cuốn sách có tính khuynh hướng cao,
Việt Nam năm 2000. Năm 2008 anh đã nhận giải
thể hiện rõ quan điểm của nhà văn, có màu sắc tố
thưởng của Báo Văn nghệ trong cuộc thi Bút ký,
cáo và chống lại một cách không khoan nhượng
Phóng sự mang tiêu đề Việt Nam Tổ quốc tôi.
cái xấu, cái tiêu cực, hấp dẫn, dễ đọc, nhiều người
Cái duyên văn chương của anh là ở đó chăng?
còn muốn gọi đây là một tiểu thuyết phóng sự.
Nhà văn viết bằng cái gì, ngoài cảm hứng ra, nếu
Tính chất phóng sự của cuốn tiểu thuyết! Nói vậy
không có cái gọi là chất liệu cuộc đời?
là có ngụ ý về sự hạn chế của sức khái quát, về
Đọc “Giã từ” của Phạm Việt Long, cùng với
niềm vui thích vì được tiếp cận với đời sống hiện
hình bóng phôi thai của “cái thật” trong đời sống
thực hôm nay, tôi nghó bạn đọc có thể còn được
đang còn có chỗ rõ nét trong mỗi trang sách; tuy
hưởng cái khoái cảm nghệ thuật trong các cách
vậy, mặt khác nói vậy cũng lại giống như một gợi
thức mà anh đã dùng để miêu tả cuộc sống nhiều
mở về tính xác thực, sự gần gụi mộc mạc, chưa
hình, nhiều vẻ này; đúng như nhà văn đã từng
cần đến gọt rũa, điểm tô, đắp bồi của các trang
viết: “Tôi sáng tác theo chủ nghóa hiện thực, đồng
viết về cái phần đời sống thực đang hiện hữu ở
thời vận dụng thêm các thủ pháp của phương
lúc này, ngày hôm nay; để rồi một lần nữa nhận
pháp hiện thực huyền ảo, phương pháp tượng
ra: đây chính là một mặt mạnh riêng của nhà văn
trưng, huyền thoại, ngụ ngôn... với hình thức giản
Phạm Việt Long, nếu độc giả đã từng bò cuốn vào
dò, dễ hiểu, dễ đi vào công chúng”.
cơn say mê cuốn hút khi đọc Bê trọc của anh.
Vùn Hiïën 47
viïåt Nam
PHaN THaNH LIÊM
nhưng với sân khấu “mini”, nghệ só Phan Thanh Liêm
có thể ngồi trên sàn mà vẫn điều khiển các con rối.
Phan Thanh Liêm sáng tạo ra nhiều loại sân khấu Rối
thu nhỏ: cho 4 người diễn, 2 người diễn và độc diễn.
Với sự độc đáo của loại hình này, tháng 4/2008, Phan
Thanh Liêm được Tổ chức Múa Rối Thế giới UNIMA kết
nạp làm thành viên.
Sân khấu rối nước mini “madein” Phan Thanh Liêm
ra mắt khán giả lần đầu tiên vào năm 2001 tại Trung
tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Vân Hồ (Hà Nội)
và được Thủ tướng Phan Văn Khải khen ngợi. Với sân
khấu Rối nước thu nhỏ này, một mình Phan Thanh
Liêm đảm đương mọi công đoạn, từ tạo hình con rối,
lắp ráp, hậu đài, điều khiển con rối... Nhờ sự gọn nhẹ,
tiện lợi, Phan Thanh Liêm có thể mang sân khấu múa
rối nước thu nhỏ đi khắp nơi để biểu diễn. Anh đến các
trường học, các trung tâm trẻ em tàn tật, đến cả những
vùng sâu vùng xa, thậm chí là nơi chưa hề có ánh điện.
Nam sinh sống, làm việc và học tập tại đây. Trong 15
ngày ở Nhật, nghệ só Phan Thanh Liêm đã diễn 16 suất
tại 10 thành phố với các trò rối dân gian truyền thống
như múa tiên, cáo bắt vòt, múa rồng, múa sư tử, cày
bừa, cấy… góp phần giúp khán giả đất nước mặt trời
mọc hiểu về nghệ thuật truyền thống của Việt Nam...
Khán giả của Phan Thanh Liêm ở mọi lứa tuổi, họ rất
yêu thích và thán phục nghệ thuật Múa rối nước độc
đáo của Việt Nam. Sau mỗi buổi diễn, khán giả Nhật
ở lại rất lâu để đặt cho anh rất nhiều câu hỏi về nghệ
thuật rối nước của Việt Nam.
Là “con nhà nòi” gắn bó với rối nước từ nhỏ, từ năm
2000, nghệ só độc diễn Rối nước Phan Thanh Liêm
là thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và
Phát huy Văn hóa Dân tộc VN. Tại đây, Phan Thanh
Liêm có nhiều cơ hội để thỏa nguyện niềm đam mê
gắn bó cùng nghệ thuật Rối nước và mang Rối nước đi
khắp mọi miền đất nước và nhiều nước trên thế giới để
Nghệ sĩ Phan Thanh Liêm và những người bạn Nhật Bản
Sân khấu rối nước “mini” của nghệ sĩ Phan Thanh Liêm
Khán giả nước ngồi thích thú với rối nước Phan Thanh Liêm
Thủy đình do anh làm ra là những tấm bìa gọn nhẹ có
thể tháo lắp. “Ao nước” là một thùng bằng nilon gấp
gọn. Đến đòa điểm biểu diễn anh chỉ ít phút để trải “ao”
ra, đổ vài xô nước, dựng thủy đình, thả các con rối mini
cùng cái đài cassette là biểu diễn được. Điểm khác biệt
là con rối truyền thống làm bằng gỗ sung, con rối được
nối với một cây sào dài để người ở phía sau có thể điều
khiển được. Nhưng với thiết kế này, một người chỉ có
thể điều khiển được một con rối, như vậy trong một trò
diễn có 5 đến 7 nhân vật thì cần có 5 đến 7 người điều
khiển. Sân khấu múa rối nước truyền thống đường kính
có thể lên tới 10m, cộng với rất nhiều phông bạt để
trang trí sân khấu nên việc di chuyển đến các đòa điểm
để biểu diễn là không thể. Phan Thanh Liêm đã nghó ra
mô hình con rối mới với thiết kế chỉ cần một người có
thể điều khiển được nhiều con rối cùng một lúc. Sân
khấu “mini” của Phan Thanh Liêm vẫn giữ nguyên được
những những yếu tố cơ bản của sân khấu Rối nước
truyền thống, nhưng gọn nhẹ, cơ động hơn nhiều. Ở
sân khấu Rối nước truyền thống, người điều khiển phải
đứng dưới nước để điều khiển suốt hàng tiếng đồng hồ,
Không chỉ vậy, với sân khấu Rối nước thu nhỏ, Phan
Thanh Liêm còn được rất nhiều tổ chức trên thế giới mời
đi biểu diễn. Hơn 10 năm nay, một mình Phan Thanh
Liêm đã thực hiện hàng chục chuyến lưu diễn kéo dài
hàng tháng trời tại các nước Ý, Ba Lan, Canada, Hàn
Quốc, Thái Lan, Malaysia, Pháp... góp phần không nhỏ
trong việc giới thiệu và quảng bá văn hóa truyền thống
Việt Nam với bạn bè thế giới. Sân khấu gọn nhẹ, cơ
động, chỉ cần “một mình một ngựa” với hơn 100kg đạo
cụ, nhưng bằng sự mày mò sáng tạo, Phan Thanh Liêm
có thể biểu diễn được nhiều trò khác nhau với sự hấp
dẫn phong phú, độc đáo. Qua những nơi đã từng biểu
diễn, anh nhận thấy bạn bè quốc tế rất yêu mến môn
nghệ thuật này và luôn nghó phải có sự sáng tạo trong
nghệ thuật nhưng không làm mất đi giá trò truyền thống
đặc trưng để giới thiệu được những tinh hoa của văn
hóa dân tộc ra thế giới.
Chuyến xuất ngoại của Phan Thanh Liêm tại Nhật
vừa mới đây đã thu hút sự quan tâm của công chúng
đến từ nhiều nước trên thế giới và bà con kiều bào Việt
quảng bá, giới thiệu về nét độc đáo, hấp dẫn của loại
hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này.
Hiện nay, Phan Thanh Liêm đang ôm ấp việc thực
hiện một cuộc triển lãm và trình diễn quy mô về nghệ
thuật Rối nước, trong đó có những
trò diễn cổ, con Rối cổ do cha ông
truyền lại cùng các con Rối mới,
trò diễn mới và mô hình sân
khấu Rối nước mới do anh sưu
tầm, phục chế và sáng tạo...
Đây là một dự án công phu tốn
kém cần được sự tài trợ hỗ trợ
của các cơ quan Nhà nước và
các Mạnh Thường Quân mới
có thể thực hiện. Được biết dự
án này của Phan Thanh Liêm
đã nhận được sự quan tâm
hỗ trợ bước đầu của Liên hiệp
các hội Khoa học và Kỹ thuật
VN…
Khát vọng Rối
NGỌc ANH
Một sân khấu rối nước “mini” với thủy đình và bể nước chỉ rộng hơn 1 mét
vuông, chứa khoảng 2/3 mét khối nước, con rối cao nhất cũng chỉ 20 phân và
chỉ cần một người biểu diễn nhưng trong chuyến lưu diễn tại Nhật Bản vừa mới
đây, nghệ só độc diễn Rối nước Phan Thanh Liêm đã khiến cho rất nhiều khán
giả của xứ sở hoa anh đào và kiều bào Việt Nam tại đây vô cùng thích thú xen
lẫn ngạc nhiên, tò mò với loại hình nghệ thuật giàu bản sắc văn hóa Việt này.
S
inh ra trong một gia đình 7 đời biểu diễn Rối
nước ở thôn Trạch (Nam Chấn, Nam Trực, Nam
Đònh) - một trong những cái nôi của sân khấu
Rối nước cổ truyền, từ nhỏ Phan Thanh Liêm đã được
làm quen và chơi cùng những con rối. Cha anh là nghệ
nhân Phan Văn Ngải - tác giả của thủy đình đang được
hầu hết các nhà hát, các phường rối nước sử dụng hiện
nay (đã được cấp giấy chứng nhận bản quyền vào năm
1989) và là "cha đẻ" của chú Tễu đang được trưng bày
tại Bảo tàng Louvre (Pháp). Gia đình anh cũng từng có
đoàn rối nước tư nhân đầu tiên của Việt Nam mang tên
Song Ngọc từng đi khắp đó đây trên cả nước. Từ nhỏ
được sống trong không gian nghệ thuật Múa Rối truyền
thống, nhất là được thừa hưởng tình yêu Rối nước của
người cha nên Phan Thanh Liêm đã quyết đònh chọn con
đường gắn bó cùng Rối nước để lập thân, lập nghiệp.
Say mê Rối nước, anh bắt đầu mày mò thiết kế sân khấu
Rối nước thu nhỏ từ những năm 1990 với mong muốn tự
mình đưa nghệ thuật rối nước đến với trẻ em các vùng
sâu, vùng xa chứ không chỉ là trẻ em ở các thành phố
lớn hay các vùng quê chiêm trũng.
Sân khấu Rối nước lưu động do Phan Thanh Liêm
sáng tạo hết sức gọn nhẹ rất tiện cho việc lưu diễn.
Nghệ sĩ Phan Thanh Liêm chế tác con rối
48 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Vùn Hiïën 49
viïåt Nam