Đội ngũ trí thức
là vàng ròng của quốc gia
S
GS.TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp Các hội KH&KT Việt Nam tặng
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bức tranh (Ảnh: Đất Việt)
áng 13/8/2011, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng đã có buổi làm việc với Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam về tình
hình triển khai thực hiện nghò quyết số 27 Ban
Chấp hành TW Đảng khóa X, về xây dựng đội
ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng dự có đ/c Đinh
Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trò, Bí thư Trung
ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương;
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, cùng lãnh
đạo các bộ, ngành Trung ương.
Theo báo cáo của GSTS Đặng Vũ Minh, Chủ
tòch Liên hiệp hội, sau 2 năm thực hiện Nghò quyết
số 27, Đảng đoàn và Đoàn chủ tòch Liên hiệp hội
đã chỉ đạo và tổ chức quán triệt Nghò quyết và
Chương trình hành động của Đảng đoàn Liên
hiệp hội tới đông đảo cán bộ, đảng viên trong
hệ thống. Liên hiệp hội đã chú trọng nâng cao
chất lượng trong tư vấn, phản biện và giám đònh
xã hội; tập hợp nhiều trí thức tiêu biểu, các nhà
khoa học tham gia tư vấn, phản biện các đề án,
chính sách lớn có tính chất phức tạp, đa ngành.
Tổ chức nhiều hoạt động thông tin và phổ biến
kiến thức góp phần nâng cao dân trí; xã hội hóa
khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo
vệ môi trường...
Tại cuộc làm việc, nhiều trí thức, nhà khoa
học bày tỏ mong muốn, Đảng và Nhà nước noi
gương Bác Hồ, thực sự coi trọng, đánh giá đúng
và sử dụng hiệu quả khả năng của từng nhà khoa
học và đội ngũ trí thức khoa học công nghệ, thể
hiện bằng những chính sách đãi ngộ và cơ chế
chính sách cụ thể. Có thể có cơ chế mềm trong
quản lý khoa học công nghệ, nhất là với những ý
tưởng mới, sáng tạo chưa có trong kế hoạch. Đảng
và Nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác
đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực.
Phát biểu tại cuộc làm việc, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao những đóng góp
to lớn của Liên hiệp hội vào những thành tựu
chung của đất nước. Tổng Bí thư nhấn mạnh: Đội
ngũ trí thức là vàng ròng của quốc gia. Cùng với
những chính sách, văn bản pháp quy khác, Nghò
quyết số 27 thể hiện sự quan tâm của Đảng đối
với đội ngũ trí thức; đến nay, nội dung, mục tiêu
và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức vẫn còn
nguyên giá trò.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, Liên
hiệp hội phải tập hợp được đông đảo trí thức
khoa học và công nghệ, trí thức trẻ, trí thức trong
doanh nghiệp và trí thức là người Việt Nam ở
nước ngoài; tiếp tục đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với
các cơ quan của Đảng và Nhà nước để phát huy
vai trò của Liên hiệp các hội và đội ngũ trí thức
khoa học và công nghệ, đóng góp vào việc hoạch
đònh chính sách, điều hành các dự án lớn nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận kiến
nghò của Liên hiệp hội về việc xem xét công nhận
Liên hiệp các hội là tổ chức chính trò - xã hội;
xây dựng cơ chế thuận lợi, lâu dài để phát huy
vai trò, trân trọng những đóng góp của đội ngũ
trí thức; mong muốn đội ngũ trí thức tiếp tục có
những đóng góp tích cực hơn nữa vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
PV
Vùn Hiïën
Trongsöënaây
viïåt Nam
Tạp chí xuất bản 03 kỳ/tháng
Kỳ chính ra ngày 25 hàng tháng
Kỳ chuyên đề Văn hóa - Kinh tế ra ngày 15
Chuyên san phương Nam ra ngày 5 hàng tháng
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT
số 41/GP-SĐBS; số 35/GP-SĐBS
Tháng 8- 2011
Toà soạn - Trị sự
27 Hương Viên - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
ĐT&Fax: 04.39764693
Website: vanhien.vn
Email:
Văn phòng Ban chuyên đề
Số 6 - lô 12 B Trung Yên - Trung Hòa - Hà Nội
ĐT/Fax: 04.37831962
Cơ quan đại diện tại TP.HCM
288B, An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM
ĐT: 08.8353878
Cơ quan đại diện tại miền Trung và Tây Nguyên
Tầng 5 Khách sạn Eiffel, 117 Lê Độ, Đà Nẵng
ĐT: 0511. 647529
Fax: 0511. 811972
4. Bác về Hà Nội
8. Tướng Giáp, nhà chiến lược của tự do
10. Ấn tượng Nguyễn Sinh Hùng
Tổng biên tập
TS Phạm Việt Long
12. Mùa báo hiếu nghĩ về mẹ
Phó Tổng Biên tập Thường trực
NB Nguyễn Thế Khoa
15. Cái bếp của mẹ tôi
Phó Tổng Biên tập
TS Nguyễn Minh San
NB Trần Đức Trung
16. Tây Nguyên - văn hóa rừng đi về đâu
Giám đốc cơ quan đại diện tại TP.HCM
NB Võ Thành Tân
Thư ký tòa soạn
NB Từ My Sơn
NB Thu Hiền
Hội đồng Biên tập
Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, GS Vũ Khiêu,
GS.NSND Trần Bảng, GSTS Trần Văn Khê,
GS Trường Lưu, GSVS Hồ Sĩ Vịnh, NB Phạm Đức
Lượng, GSTS Thái Kim Lan, NSND. TS Phạm Thị
Thành, NSND Đặng Nhật Minh, TS Đoàn Thị Tình,
GSTS Nguyễn Thuyết Phong, NVK Nguyễn Thế Kỷ
Trình bày
Từ My Sơn
Bìa 1:
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Ảnh: Duy Anh
Tài trợ phát hành
Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa
TP. Hồ Chí Minh
In tại
Công ty Cổ phần in Sao Việt, Hà Nội
Giá: 22.000đ
Nguyễn Văn Hảo
40. Cái màu đỏ ấy
nhật ánh
Chủ nhiệm
GS Hoàng Chương
Trưởng ban Trị sự
NB Nguyễn Hoàng Mai
4. Uncle Ho came back to Hanoi
38. Chapi nhạc cụ của người Raglai
Võ Nguyên Giáp
đoàn tử diễn
42. Phó An My sẽ không còn cô đơn
Hoàng Chương
Minh Chánh
46. Cảm nhận chân dung mộng mị
Võ Hồng
Võ Khoa Châu
Nguyễn Anh Tuấn
49. Dự án “Sân khấu học đường” giúp thế
hệ trẻ hiểu về nét đẹp văn hóa nghệ thuật
truyền thống
52. Bình Định với “Sân khấu học đường”
19. Mùa thu trên tay
Đông Ngàn
20. Trần Nhân Tông và bài học giải phóng
nội lực
Văn Quân
54. Điều tâm đắc về phương pháp tiếp
cận văn hóa dân tộc
Phan Đăng Nhật
56. Hồn gùi
59. Vân Hương ký sự
Hải Yến
24. Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu-ông đồ nghệ sĩ
Vũ Ngọc Liễn
Tân Linh
62. Làng Chèo bên sườn núi
31. Vua Minh Mệnh với cuộc cải cách hành
chính, chống tham nhũng để canh tân đất
nước
64. Thiền và Văn hóa giao thông
Nguyễn Minh Tường
67. Gửi người lái xe buýt Thủ đô
34. Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời Tây
Sơn và nhà Nguyễn
Nguyễn Văn Tuấn
nguyễn hưởng
Đặng Nhật Minh
Nguyen Van Hao
nhat anh
10. Impression of Nguyen Sinh Hung
12. Thinking of mother when it ‘s the season of
fulfilling our filial duties
68. Ngâm Kiều
Trần Văn Khê
42. Pho An My will not be alone
Minh Chanh
46. To feel the dreaming portrait
Vo Hong
Nguyen Anh Tuan
Vo Khoa Chau
49. Project “Stage in the school” help the
young understand about the good feature of
traditional art
15. The cooking fire ‘s my mother
16. Tay Nguyen: Where ‘s forest culture?
Van Cong Hung
18. Live and die of motherland
Thanh Thảo
19. Autumn on the hand
Dong Ngan
20. Tran Nhan Tong and lession of internal force
liberation
Van Quan
24. Quynh governor Nguyen Dieu - artist
scholar
Vu Ngoc Lien
31.King Minh Menh and andministrative
reform, against to embezzle to renovate the
country
Nguyen Minh Tuong
Nhật Ánh
40. That red
doan tu dien
Prof. Hoang Chuong
Văn Trọng Hùng
Thanh Thảo
38. Chapi - the orginal musical instrument of
Raglai people
8. General Giap - strategist of liberty
Ngọc Anh
Văn Công Hùng
18. Sống và chết vì Tổ quốc
Vo Nguyen Giap
34. Hoang Sa and Truong Sa under the period of
Tay Son and Nguyen
Nguyen Van Tuan
Ngoc Anh
52. Binh Dinh with “Stage in the school”
Van Trong Hung
54. Favourite thing of the method to approach
national culture
Phan Dang Nhat
56. Spirit of papoose
59. Chronicle about Van Huong
Hai Yen
Tan Linh
62. Village of traditional operetta beside the
nguyen huong
66. Dhyana and traffic culture
Dang Nhat Minh
67. To send to driver of bus in the capital
Nhat Anh
68. To chant the story of Kieu
Tran Van Khe
Bác
về Hà Nội
VÕ NGUYÊn GIÁp
1
. Về Hà Nội, chúng tôi ở phố Hàng Ngang.
Thành uỷ đã bố trí cho chúng tôi ở tại một
gia đình cơ sở. Ít hôm sau, có tin Bác đã
về. Mấy ngày trước đó, một trung đội Quân giải
phóng thuộc chi đội Quang Trung chiến đấu tại
Thái Nguyên, đã được lệnh quay gấp lại Tân Trào
để đi bảo vệ Bác. Đồng chí đến báo tin nói dọc
đường có những lúc Bác phải dùng cáng. Như
vậy, chắc Bác còn yếu lắm. Bác vốn không bao giờ
muốn làm bận đến người khác ngay cả những khi
yếu mệt. Tình hình đang khẩn trương. Anh Thọ
được cử lên chiến khu đón Bác thì Bác đã về. Anh
Ninh và tôi cùng đi lên Phú Gia gặp Bác…
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác,
lênh đênh góc bể chân trời, đã có những ngày vui
lớn. Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng
dân tộc khi đọc Luận cương của Lê-nin về các vấn
đề dân tộc và thuộc đòa. Đó là ngày thành lập Đảng
cộng sản Pháp năm 1920 mà Bác là một thành viên.
Và ngày lòch sử mồng 3 tháng Hai năm 1930, ngày
thành lập Đảng cộng sản Đông Dương...
Đây lại là một ngày vui lớn nữa đang đến với
Bác, đang đến với cách mạng Việt Nam.
Mới đêm nào còn ngồi bên chiếc giường tre,
trong căn lán nhỏ, những ngày Bác mệt nặng tại
Tân Trào. Vào những giây phút đó mới thấy hết
được tấm lòng khát khao cháy bỏng của Bác đối với
nền độc lập, tự do của dân tộc. Không phải chỉ ở
những lời Bác dặn dò về công tác cán bộ, cách giữ
vững phong trào, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường
Tốn Con Nai (Mỹ) thuộc lực lượng đồng minh chụp ảnh kỷ niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Nội vụ Võ Ngun Giáp (1945)
4 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự do”. Tấm
lòng của Bác còn hiện lên rất rõ qua mỗi cử chỉ nhỏ,
qua cái nhìn khi Bác chợt tỉnh giữa những cơn sốt,
qua sự đấu tranh với bệnh tật hiểm nghèo để giành
từng phút, từng giây cho cách mạng.
Theo lời hiệu triệu của Đảng, của Bác, suốt
mấy ngày nay, cả dân tộc ta từ Bắc chí Nam đã
vùng dậy với một sức mạnh như triều dâng,
thác đổ. Tin khởi nghóa thắng lợi ở khắp các đòa
phương đang dồn dập bay về...
Chúng tôi vào làng Gạ.
Bác ở một ngôi nhà gạch nhỏ nhưng sạch sẽ.
Chúng tôi bước vào, nhìn thấy ngay Bác đang
ngồi nói chuyện với cụ chủ nhà.
Ngày nào ở Việt Bắc, Bác còn là một ông ké
Nùng. Bữa nay, Bác đã trở thành một cụ nông
dân miền xuôi rất thoải mái, tự nhiên trong bộ áo
quần nâu. Bác vẫn gầy nên đôi gò má cao. Những
đường gân hiện rõ trên trán và hai thái dương.
Nhưng với vầng trán luôn luôn ngời sáng, một
sức mạnh tinh thần kỳ lạ toát ra từ hình dáng
mảnh dẻ của Bác. Dù sao so với những ngày dự
hội nghò ở Tân Trào, Bác đã khá hơn nhiều.
Cụ chủ nhà thấy chúng tôi tới, giữ ý, mời thế
nào cũng không ngồi lại, nói vài câu chào hỏi rồi
lánh đi chỗ khác.
Bác tươi cười nhìn chúng tôi, nói:
- Trông các chú bữa nay ra dáng người tỉnh
thành rồi.
Chúng tôi sôi nổi báo cáo với Bác tình hình
khởi nghóa ở Hà Nội và các tỉnh. Bác ngồi lắng
nghe, vẻ mặt điềm đạm. Tính Bác như vậy, khi
vui khi buồn đều vẫn bình thản.
Chúng tôi nói với Bác ý Thường vụ muốn tổ
chức sớm lễ ra mắt của Chính phủ. Theo quyết
đònh của Hội nghò toàn quốc họp tại Tân Trào, Uỷ
ban dân tộc giải phóng do Bác làm Chủ tòch sẽ trở
thành Chính phủ lâm thời.
Với một vẻ vui vui, Bác nói như hỏi lại chúng tôi:
- Mình làm Chủ tòch à?
Thực ra, một thời kỳ rất vẻ vang nhưng cũng
cực kỳ hiểm nghèo của dân tộc đã bắt đầu. Bác đã
nhận sứ mệnh khó khăn: Lái con thuyền quốc gia
Việt Nam vừa mới hình thành, vượt qua những
thác ghềnh nguy hiểm. Bác đã đón nhận nhiệm
vụ đó trước lòch sử, trước nhân dân đúng như Bác
đã trả lời các nhà báo nước ngoài ba tháng sau đó:
“Tôi tuyệt đối không ham muốn công danh phú
quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tòch là
vì đồng bào uỷ thác thì tôi gắng phải làm, cũng
như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra
trước mặt trận”.
2. Đây là lần đầu tiên Bác đến Hà Nội. Chặng
đường ba trăm ki-lô-mét từ ngôi nhà tranh nhỏ
hẹp tại làng Kim Liên tới đây, Bác đã đi mất
ngoài ba mươi lăm năm.
Con đường Bác đã đi không giống bất cứ con
đường của một người Việt Nam yêu nước nào đã
đi trước Bác. Bác đã một mình lặn lội, xông pha
trên những nẻo đường của hầu khắp các miền
khác nhau trên trái đất…Thế gian hỗn loạn, đau
thương; tội ác của chủ nghóa đế quốc chồng chất.
Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, giả thật khó phân, Bác
đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý.
Bác đã đến với chủ nghóa Lê-nin. Từ năm mươi
năm trước đây, người yêu nước Việt Nam vó đại
đã tìm được ở chủ nghóa Mác-Lê nin cho đồng bào
ta và những người cùng hội cùng thuyền - những
dân tộc bò đọa đày vì chủ nghóa đế quốc một con
đường giải phóng duy nhất: “Đường cách mệnh”.
Một sự đổi thay lớn lao đã đến trong đời sống
của dân tộc.
Mấy ngày trước đây, Hà Nội còn giữ nguyên
vẹn bộ mặt một sản phẩm của chế độ thực dân
thối nát thời chiến. Cả thành phố chìm đắm trong
những hoạt động chợ đen. Cuộc sống tính từng
ngày. Những chiếc xe chở rác không đủ để đưa
xác những người chết đói ra vùng ngoại ô, đổ
xuống những hố chung. Trong khi đó, ở các cửa ô,
người đói khắp làng quê vẫn ùn ùn kéo vào. Họ
đi vật vờ như những chiếc lá khô buổi chiều đông.
Nhiều khi chỉ một cái gạt tay của viên cảnh sát,
cũng đủ làm họ ngã xuống không bao giờ trở dậy.
Lại thêm tháng Tám năm nay, nước các triền
sông đều lên to. Cơn “hồng thuỷ” đã phá vỡ
những đê điều từ lâu không được bọn thống trò
nhòm ngó tới. Sáu tỉnh đồng bằng, vựa thóc của
cả miền Bắc, bò chìm dưới làn nước trắng. Dòch tả
hoành hành. Bao nhiêu tai hoạ của chế độ thực
dân cùng một lúc dồn đến.
Cùng với bọn đầu cơ kinh tế, bọn đầu cơ
chính trò cũng đua nhau nổi lên. Chúng vừa hô
Việt Nam độc lập, vừa hô “Đại Nhật Bản vạn
tuế”. Thay vào những tên đội xếp Pháp mang dùi
cui là những hiến binh Nhật đeo kiếm dài, lệt xệt
đôi ủng đi trên các hè phố.
Không phải chỉ riêng Hà Nội mà cả dân tộc ta
đang sống những giờ phút đau thương.
Thắng lợi vó đại của Hồng quân Liên Xô đánh
tan đạo quân Quan Đông của Nhật vào giữa tháng
Tám, đã đưa lại cho dân tộc ta một thời cơ lớn.
Cách mạng nổi lên như một cơn lốc. Chỉ trong vài
ngày, những vết nhơ, những nỗi nhục, những khổ
đau của chế độ nô lệ đã được quét đi khá nhiều.
Vùn 5
Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường.
Hôm trước cả thành phố còn tê liệt vì nạn đói, vì
bệnh dòch, vì sự khủng bố. Hôm sau, tất cả những
đường to ngõ hẻm đã sôi lên. Hàng vạn, hàng vạn
con người ầm ầm kéo đi với sức mạnh như những
dòng thác. Chính quyền nhân dân cách mạng vừa
mới thành lập. Không khí Hà Nội trở nên trong
lành, náo nức.
“Đoàn quân Việt Minh đi, chung lòng cứu
quốc...” những bài ca cách mạng vang lên rộn
ràng từ sớm tới khuya. Cờ sao mỗi lúc một nhiều
hơn, đẹp hơn. Cờ bay đỏ nhà, đỏ phố.
Chập tối, Bác đến nhà. Chúng tôi ra đón, nhận
thấy trên nét mặt của Bác những dấu hiệu xúc
động.
Bác đã về đến Hà Nội. Ít ngày nữa, Hà Nội
sẽ trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà...
3. Thế là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương lúc bấy giờ có khoảng năm ngàn
đảng viên, Mặt trận Việt Minh được toàn dân ủng
hộ, đã giành thắng lợi vó đại trong cuộc Tổng khởi
nghóa suốt từ Bắc chí Nam. Chỉ trong khoảng mười
ngày, chính quyền cách mạng đã được thành lập
trên cả nước. Chế độ thực dân kéo dài tám mươi
năm cùng với chế độ phong kiến hàng ngàn năm
sụp đổ tan tành.
Anh chò chủ nhà ở phố Hàng Ngang đã dành
cho chúng tôi tầng gác hai. Bác được mời lên tầng
ba làm việc cho tónh. Nhưng Bác không thích ở
một mình, cùng ở với chúng tôi.
Tầng gác này vốn là phòng ăn và buồng tiếp
khách nên không có bàn viết, Bác ngồi viết ở cái
bàn ăn rộng thênh thang. Chiếc máy chữ của Bác
được đặt trên cái bàn vuông nhỏ, mặt bọc nỉ xanh
kê ở góc buồng. Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm
một chỗ nghỉ luôn tại đó. Người nằm ở đi-văng.
Người ngủ trên những chiếc ghế kê ghép lại. Bác
nghỉ trên một chiếc ghế xếp bằng vải trước kia
vẫn dựng ở góc buồng.
Bác chủ toạ phiên họp đầu tiên của Thường
vụ tại Hà Nội. Cách mạng đã thành công ở hầu
khắp các tỉnh. Nhưng chính quyền cách mạng
trung ương vẫn chưa thành lập. Tình hình trong,
ngoài lại rất khẩn trương. Thường vụ nhận thấy
phải sớm công bố danh sách Chính phủ lâm thời
và tổ chức lễ ra mắt của Chính phủ. Những việc
này cần làm ngay trước khi đại quân của Tưởng
kéo vào.
Các tỉnh ở phía trên nhận được chỉ thò nhân
lúc nước lụt, lấy cớ huy động thuyền bè khó khăn,
6 Vùn Hiïën
viïåt Nam
làm chậm việc chuyển quân của Tưởng thêm ngày
nào hay ngày ấy.
Một số chi đội Quân giải phóng đã được
lệnh điều động gấp từ Thái Nguyên về Hà Nội.
Nước lụt làm hư nhiều đoạn đường nên anh em
về chậm. Hà Nội giành chính quyền đã hơn một
tuần lễ. Nhưng lực lượng vũ trang cách mạng mới
chỉ có những đơn vò tự vệ chiến đấu và một số
lính bảo an vừa theo cách mạng. Đó cũng là một
điều phải quan tâm. Sáng ngày 26, có tin hai chi
đội Quân giải phóng đã về đến Gia Lâm. Anh
Nguyễn Khang cùng anh Vương Thừa Vũ sang
đón.
Phải trải qua một cuộc dàn xếp khó khăn, bọn
Nhật mới đồng ý để các đơn vò Quân giải phóng
vào Hà Nội.
Đội nhạc binh cử những khúc quân hành khi
đoàn quân vượt cầu Long Biên. Các chiến só dàn
thành hai hàng dọc hai bên đường, súng cầm tay,
đạn lên nòng, đi theo tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Sự có mặt ở Hà Nội của những lực lượng vũ
trang cách mạng đã trải qua tôi luyện, thử thách
làm cho mọi người phấn khởi. Một cuộc duyệt
binh của Quân giải phóng và tự vệ thành được
tổ chức tại quảng trường Nhà hát Lớn trước niềm
hân hoan, tin tưởng của đồng bào.
Ngày 28, danh sách Chính phủ lâm thời được
công bố trên các báo chí tại Hà Nội. Thành phần
của Chính phủ nói lên chủ trương đoàn kết rộng
rãi các tầng lớp nhân dân của Mặt trận Việt Minh
trong công cuộc xây dựng đất nước.
Thường vụ đã quyết đònh ngày ra mắt của
Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam
chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết
lập chính thể dân chủ cộng hoà. Ngoài đường
lối, chính sách của Chính phủ, phải chuẩn bò cả
những lời thề để đưa ra trước nhân dân. Bác và
Thường vụ trao đổi về một việc hệ trọng cần bắt
tay vào làm ngay: Thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.
Trong căn buồng nhỏ thiếu ánh sáng của ngôi
nhà sâu thâm, nằm giữa một trong ba mươi sáu
phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm
việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.
Một buổi sáng, Bác và anh Nhân gọi anh em
chúng tôi tới.
Bản Tuyên ngôn lòch sử đã thảo xong, Bác
mang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói
lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất
của Người.
Hai mươi sáu năm trước, Bác đã tới Hội nghò
hoà bình Véc-xây, nêu lên những yêu cầu cấp
thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân
thuộc đòa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng
không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận.
Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông
chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết
chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực
lượng của bản thân dân tộc mình.
Giờ phút này, Người đang thay mặt cho cả
dân tộc hái quả của tám mươi năm đấu tranh.
Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui
rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người.
4. Mồng 2 tháng Chín năm 1945.
Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát
ngát cờ đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ
những rặng cây, đỏ những mặt hồ.
Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh,
Hoa, Nga chăng khắp các đường phố: “Nước Việt
Nam của người Việt Nam”, “Đả đảo chủ nghóa
thực dân Pháp”, “Độc lập hay là chết”, “Ủng hộ
Chính phủ lâm thời”, “Ủng hộ Chủ tòch Hồ Chí
Minh”, “Hoan nghênh phái bộ Đồng minh”.
Đồng bào thủ đô già, trẻ, gái, trai đều xuống
đường. Mọi người đều thấy mình cần phải có mặt
trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước.
Hàng chục vạn nông dân từ ngoại thành kéo
vào. Những chiến só dân quân mang theo côn,
kiếm, mã tấu. Có những người vác theo cả những
quả chuỳ đồng, những thanh long đao rút ra từ
những giá vũ khí bày để trang trí trong các điện
thờ. Trong hàng ngũ của các chò em phụ nữ nông
thôn với những bộ quần áo ngày hội, có những
người vấn khăn vàng, mặc áo tứ thân, thắt lưng
hoa lý...
Nắng mùa thu rất đẹp trên quảng trường Ba
Đình từ giờ phút này đã đi vào lòch sử. Đội danh
dự đứng nghiêm trang chung quanh lễ đài mới
dựng. Các chiến só Quân giải phóng đứng sát cánh
cùng các đội tự vệ của công nhân, thanh niên và
lao động thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.
Sau bao năm bôn ba khắp thế giới. mang án tử
hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và
những ngày dài gối đất nằm sương, Bác đã trở về
ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lòch sử
này mới hôm nào còn ở trong ước mơ.
Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang
đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người
ta thường dành cho các bậc vó nhân. Nhưng vào
ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới
lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là
đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.
Chủ tòch Hồ Chí Minh, vò Chủ tòch của Chính
phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
đã ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất
hiện trước đông đảo quần chúng.
Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng,
râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka-ki cao
cổ, đi dép cao su trắng. Hai mươi bốn năm làm
Chủ tòch nước, trong những ngày lễ lớn của dân
tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Hồ
Chủ tòch bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh
giản dò, không thay đổi. Vẫn bộ quần áo vải, trên
ngực không một tấm huân chương, y như lần đầu
Bác đã ra mắt đồng bào.
Lời nói của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc
chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn
người ta thường được nghe trong những ngày lễ
long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở đó
những tình cảm sâu sắc ý chí kiên quyết; tất cả
đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi
vào lòng người.
Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng,
Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:
- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?
Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang
như sấm:
- Co.. o... ó!
Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người
đã hoà làm một.
Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập:
- Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề:
Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hoà, ủng hộ Chủ tòch Hồ
Chí Minh
- Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền
độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu
mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng”
Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng
hoà làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên
quyết thực hiện lời Hồ Chủ tòch vừa đọc để kết
thúc bản Tuyên ngôn:
“Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do
và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do,
độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Lòch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt
đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.
Bản đồ thế giới phải sửa đổi lại vì sự ra đời của
một Nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà.
(Trích hồi ký
“Những năm tháng không thể nào quên”)
Vùn Hiïën 7
viïåt Nam
Nhân dòp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi
(25/8/1911 - 25/8/2011)
Tướng
Giáp
Nhà chiến lược của tự do
C
Đại tướng Võ Ngun Giáp
Triển lãm ảnh: “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Ngun Giáp”
8
Vùn
Nhật ánh
hiều 22-8, tại Hà Nội, triển lãm ảnh “Đại tướng
Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp” do Bộ Thông
tin - Truyền thông tổ chức đã khai mạc với sự
tham dự của Chủ tòch nước Trương Tấn Sang. Đây là
một hoạt động nhiều ý nghóa kỷ niệm Đại tướng Võ
Nguyên Giáp tròn 100 tuổi (25.8.1911- 25.8.2011), kỷ
niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh
2-9. Tại triển lãm, Chủ tòch nước Trương Tấn Sang đã
ghi dòng lưu bút: “Đồng chí Võ Nguyên Giáp, người
anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người học
trò xuất sắc của Chủ tòch Hồ Chí Minh kính yêu. Tên
tuổi và công lao của đồng chí mãi mãi đi vào lòch sử
của dân tộc Việt Nam, của Quân đội Nhân dân Việt
Nam, của những vò tướng tài ba lừng lẫy trên thế giới.
Tổ quốc, nhân dân và Đảng kính yêu mãi mãi ghi
nhớ công lao của đồng chí”.
Cũng dòp này, Bộ Thông tin - Truyền thông cho ra
mắt tập sách ảnh Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên
Giáp ghi lại những thời khắc lòch sử hay đời thường của
vò Đại tướng. Trong lời tựa của cuốn sách, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng viết: “Với gần 300 bức ảnh chọn lọc,
cuốn sách ảnh Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp
đã phác họa khá đầy đủ và chân thực bức chân dung
GS.AHLĐ Vũ Khiêu thăm và chúc sức khỏe Đại tướng năm 2001
Cuộc gặp mặt đầy xúc động của Đại tướng Võ Ngun Giáp với văn nghệ sĩ
sống động về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng
Võ Nguyên Giáp, một vò tướng tài ba, một nhà cách
mạng nổi tiếng, một người học trò xuất sắc của Chủ
tòch Hồ Chí Minh, một người con ưu tú của dân tộc,
được nhân dân cả nước yêu mến và bạn bè quốc tế
ngưỡng mộ". Giáo sư Vũ Khiêu thì viết trong lời giới
thiệu cuốn sách: “Trong lòch sử vẻ vang của ngàn
năm Thăng Long-Hà Nội, thì trăm năm cuối cùng
trong ngàn năm ấy là trăm năm quan trọng nhất, khó
khăn nhất nhưng lại rực rỡ nhất, thành công nhất.
Trong một trăm năm này, nổi bật lên hình ảnh chói
lọi của lãnh tụ Hồ Chí Minh và sau đó là hình ảnh
rực rỡ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với các
nhà lãnh đạo lỗi lạc của dân tộc”.
Nhà văn Mỹ Lady Borton, người hiệu đính
tiếng Anh cho cuốn sách nói rằng bà khâm phục
vò Đại tướng huyền thoại bởi "ông từ nhân dân
mà ra" và bởi ông nêu cao chân lý “có nhân dân
là có tất cả”. Cũng là người từng dòch, hiệu đính
cho cuốn sách hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên
Giáp: "Điện Biên Phủ điểm hẹn lòch sử", nữ nhà
văn Mỹ đã không quản công tìm kiếm những tài
liệu ở nước ngoài viết về Đại tướng để dòch và
trao cho gia đình ông.
Cũng trong dòp kỷ niệm 100 năm ngày sinh
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tạp chí Nhân đạo của
Pháp đã dành 6 trang in màu giới thiệu cuộc đời
và sự nghiệp của ông. Bài viết có tiêu đề “Tướng
Giáp, nhà chiến lược của tự do”, tác giả là nhà
báo - đạo diễn người Pháp Daniel Roussel. Trong
bài báo của mình, Daniel Roussel thuật lại cuộc
đời và sự nghiệp của nhà chiến lược quân sự tài
ba của Việt Nam, ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên
Giáp là huyền thoại sống ở Việt Nam, một trong
những nhà quân sự lỗi lạc nhất thế kỷ 20.
Trong lễ mừng thọ lần thứ 100 của Đại tướng
do gia đình và văn phòng Đại tướng tổ chức,
những cuốn sách, những bài thơ, bức ảnh, tượng
đã được trao tặng cho gia đình Đại tướng. Trong
đó, đáng chú ý có cuốn sách Commanders của
Hoàng gia Anh, tuyển chọn giới thiệu 59 danh
tướng lỗi lạc nhất thế giới từ cổ chí kim, đã trang
trọng dành 4 trang giới thiệu về Đại tướng Võ
Nguyên Giáp. Trong 59 danh tướng ấy, chỉ duy
nhất Đại tướng Võ Nguyên Giáp của chúng ta
còn sống. Hay bức thư của GS.TS Burkhanov của
Kazakhastan đã tôn vinh Đại tướng là "Vò Nguyên
soái vó đại của thế kỷ XX”.
Đây chỉ là một phần trong những tình cảm
yêu quý mà người dân cả nước và bạn bè thế giới
đã dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bởi như
GS Phan Ngọc trong buổi lễ đã nói: “Nói thế nào
cũng không hết, viết thế nào cũng không đủ về
Đại tướng trăm tuổi của Việt Nam và thế giới”.
Vùn 9
Ấn tượng
Nguyễn Sinh Hùng
GS HOÀnG ChƯƠnG
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tiếp thân mật các Thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp các học viện, trường đại học trên địa bàn
thành phố Hà Nội năm 2011. Ảnh: TTXVN
T
ôi nhớ hôm ấy là một ngày chủ nhật đẹp
trời trong tiết hè sắp chuyển sang thu nên
có hơi mát mẻ, nhất là ở khu du lòch sinh
thái Thác Đa - Ba Vì. Tôi đang đi dạo dưới cánh
rừng nguyên sinh xanh biếc để giải toả sau một
hội thảo khoa học kéo dài căng thẳng thì TS Đinh
Đức Hữu - chủ nhân của Thác Đa cho người đến
mời tôi tới cùng tiếp Bộ trưởng Bộ Tài chính
Nguyễn Sinh Hùng. Nơi tiếp khách quý không
phải trong phòng víp mà ngay ở khu nhà hàng
rộng lớn như nhà rông Tây Nguyên. Bàn ghế đều
bằng những gốc cây được cải tạo có tính mỹ thuật
vừa cổ vừa kim. Quang cảnh hoang sơ và khí hậu
trong lành làm cho con người có cảm giác dễ chòu
để quên đi những không gian khép kín với tiện
nghi công nghiệp và không khí nhân tạo từ máy
điều hoà nhiệt độ. Ngồi cạnh Bộ trưởng là một
10
Vùn
phụ nữ trẻ đẹp, dòu dàng, luôn nở nụ cười tươi.
Không cần giới thiệu tôi đã biết ngay là phu nhân
của Bộ trưởng Nguyễn Sinh Hùng. Bộ trưởng
Nguyễn Sinh Hùng vui vẻ trò chuyện cùng tôi.
Ông tỏ ra rất thích thú khi khu du lòch Thác Đa
và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy
Văn hóa Dân tộc ngay từ lúc khởi đầu đã có mối
quan hệ thân thiết. Ông nói với TS Đinh Đức Hữu
và tôi: “Du lòch kết hợp với văn hóa, nhất là văn
hóa truyền thống thì hai bên đều có lợi, văn hóa
được quảng bá tốt hơn còn du lòch sẽ thu hút du
khách nhiều hơn, bền vững hơn”. Bằng chất giọng
Nghệ An pha giọng Bắc rất ấm gần giống giọng
Bác Hồ, Bộ trưởng Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện
rất có duyên và dễ gây cảm tình với người nghe.
Thật ra, tôi được biết tên Nguyễn Sinh Hùng
từ khi ông còn là một nghiên cứu sinh ở Bungari.
Lúc đó tôi cũng là nghiên cứu sinh ở Rumani. Do
tôi đi nghiên cứu sinh theo tiêu chuẩn của Chính
phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam nên
có điều kiện nhiều lần đến các nước XHCN Đông
Âu. Hai lần đến thủ đô Sofia và các thành phố
Vasna, Dimitrograt tìm hiểu về nghệ thuật sân
khấu Bungari, tôi có nghe các bạn sinh viên ở
đây nói: Ở Bungari hiện có một nghiên cứu sinh
mang họ Bác Hồ - tức là Nguyễn Sinh Hùng đang
làm TS về kinh tế tài chính. Sau này khi làm chủ
nhiệm đề tài thể hiện hình tượng Bác Hồ trên sân
khấu cũng như nghiên cứu về Bác Hồ với văn hoá
dân tộc, tôi càng quan tâm tới gia tộc của Bác Hồ,
trong đó có các con cháu của Người…
Trong những năm gần đây, khi đồng chí
Nguyễn Sinh Hùng trở thành UVBCT, Phó Thủ
tướng Thường trực của Chính phủ, tôi có may mắn
gặp ông nhiều lần ở những hoạt động văn hóa xã
hội do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy
Văn hóa Dân tộc phối hợp với các cơ quan đơn vò
khác tổ chức mà ông quan tâm tới tham dự. Trong
các lễ trao Cúp vàng cho các doanh nhân tâm
tài, doanh nhân xuất sắc, mà tôi là đồng trưởng
ban tổ chức Cúp, tôi thường được đàm đạo với
riêng ông về văn hóa nói chung, về văn hóa doanh
nhân. Cũng có lúc tôi được vinh dự cùng ông lên
sân khấu trao cúp cho doanh nhân. Và cũng nhiều
lần tôi đến thăm ông tại nhà riêng nhân ngày lễ,
ngày tết. Mỗi lần tiếp tôi, Phó Thủ tướng Nguyễn
Sinh Hùng hết sức vui vẻ, cởi mở đối với một tri
thức văn nghệ mà ông quý mến. Vốn là con cháu
Bác Hồ mang phong cách văn hoá xứ Nghệ, tôi
thấy Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng luôn luôn
thể hiện sự thông minh và uyên bác không chỉ về
kinh tế mà còn về các lónh vực khác của đời sống
xã hội, cả về văn hóa văn nghệ. Ông rất giản dò,
lại thường pha chút dí dỏm, nên luôn luôn chinh
phục, cuốn hút mọi người. Tôi nhớ hôm ông cùng
Phó Chủ tòch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên được
mời đến Cung hữu nghò Việt - Xô Hà Nội để trao
cúp cho doanh nhân có truyền hình trực tiếp. Ban
tổ chức mời ông lên phát biểu. Ông nhường cho
ông Kiên, ông Kiên lại nhường cho ông và cuối
cùng ông phải bước lên sân khấu. Không có bài
được chuẩn bò sẵn, ông vẫn nói một mạch mà rất
trúng, rất sinh động, rất hay về chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với doanh nghiệp, doanh
nhân, làm cho hàng trăm người ngồi dưới hả lòng,
hả dạ. Điều đó càng chứng tỏ tri thức và tài hùng
biện của một Phó Thủ tướng được đào tạo cơ bản
và được trải nghiệm rất dày dặn trên con đường
hoạn lộ của mình.
Là một trí thức lãnh đạo, nên đồng chí Nguyễn
Sinh Hùng rất quan tâm, rất cảm thông và tôn
trọng trí thức. Một lần tôi đến tặng cho ông hai
quyển sách mới xuất bản là “Nghệ thuật Tuồng
trong cuộc sống hôm nay” và quyển “Chuyện lạ
người chiến só đặc công”. Tôi nghó ông nhận cho
vui đấy thôi chứ lấy thì giờ đâu mà đọc, đó là hiện
tượng chung ở nhiều vò lãnh đạo cấp cao hiện nay
vì quá bận, không như các vò lãnh đạo tiền bối như
Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng trước
đây. Các vò này được tặng sách thường là đọc hết,
đã được mời đi xem Tuồng, Chèo, Cải lương, Bài
chòi, kòch nói là đi xem và sau đó thường mời tác
giả đạo diễn đến trao đổi, góp ý kiến rất thân tình.
Mấy tháng sau gặp Phó Thủ tướng Nguyễn
Sinh Hùng, tôi hỏi: Anh đã đọc sách của tôi chưa?
Ông vui vẻ trả lời rất thật: “Đọc xong quyển
“Chuyện lạ người chiến só đặc công”, hay lắm.
Còn quyển tuồng là sách nghiên cứu lại quá dày,
chờ khi về hưu sẽ đọc”. Ông còn dặn bảo vệ và
người nhà rằng: “Khi nào GS Hoàng Chương tới
thì mở cửa mời vào nhà”. Tôi cảm động và biết ơn
ông, một vò lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính
phủ mà luôn giành cho tôi, đại diện của một cơ
quan hoạt động văn hóa dân tộc, một sự ưu ái đặc
biệt.
Vì quý mến ông, nên khi biết tin ông được tái
đắc cử vào Trung ương, vào Bộ Chính trò khoá
XII, tôi đến chúc mừng ông. Ông vui vẻ nói: Mình
được bầu bổ sung nhưng lại được tín nhiệm cao,
nhờ Đảng và nhân dân thương. Hôm ông được
Quốc hội bầu làm Chủ tòch Quốc hội khoá 13, tôi
thấy rất mừng vì một người có đức, có tâm, có tài
mà làm Chủ tòch Quốc hội thì đó là điều rất tốt
cho nhân dân, cho đất nước. Khi nhìn ông đứng
trên sân khấu danh dự nhận chức và nhận bó hoa
tươi thắm chúc mừng của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng, tôi xúc động liền ứng tác mấy câu vè
theo điệu ví dặm quê hương ông:
Tự hào xứ Nghệ quê mình
Đất nghèo muôn thủa sản sinh anh tài
Nguyễn Sinh Cung xưa trẻ trai
Bao năm nếm mật nằm gai chẳng sờn
Chân trần đi khắp bốn phương
Tìm ra con đường cứu nước, cứu dân
Lớp người sau tiếp bước chân
Thật vui có Nguyễn Sinh Hùng hôm nay
Trải bao thử thách dạn dày
Đảng tin, dân mến trao tay trọng quyền
Chúc anh noi gương tổ tiên
Làm thêm rạng rỡ cháu con Bác Hồ
Hà Nội 25 tháng 7/ 2011
Vùn 11
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
(Truyện Kiều)
Mùa
báo
hiếu
Nghó về
VÕ HỒnG
T
ựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả.
Mẹ bảo Vương "Nhữ triêu xuất nhi văn lai" mày
sáng đi mà chiều về, "tắc ngộ ỷ môn nhi vọng"
thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ
thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để
đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
Truyện dân gian mô tả lòng mẹ thương con thì rất
nhiều. Chẳng hạn truyệnngười mẹ bò rắn độc cắn, biết
mình sắp chết bỏ con, vội vã chạy về nhà, đổ lúa vào
cối mà xay, đổ thóc vô cối mà giã, gấp gấp để cho
có gạo để lại con ăn sau khi mình chết. Không ngờ
huyền diệu đã xảy ra: dồn cả sức lực, bắp thòt đến rã
rời, truyện kể rằng chất độc toát ra theo mồ hôi, thoát
ra theo hơi thở... và người mẹ được cứu sống. Còn
nhớ truyện vua Salomon xử kiện? Hai người đàn bà
tranh nhau một đứa nhỏ, ai cũng nói mình là mẹ của
nó. Dùng đủ mọi lý lẽ mà không giải quyết yên, cuối
cùng vua phán: "Đem đứa nhỏ ra xẻ hai, mỗi người
lãnh một nửa". Một người đàn bà nói: "Dạ, thà như
vậy cho công bằng". Người đàn bà kia: "Thôi, tôi xin
nhường". Đó là lời của mẹ bạn đó, hỡi bạn nhỏ đang
lắng nghe tôi. Mẹ bạn cũng sẽ xử sự như vậy nếu bò
đặt vào hoàn cảnh nêu trên.
12 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Trường hợp này thì còn đáng phục hơn: Chàng
Côdắc hỏi tiên nữ Ôcxana rằng đến khi nào nàng mới
yêu chàng? Nàng trả lời rằng nàng sẽ yêu người nào
đem tặng trái tim người mẹ... Chàng Codắc im lặng,
lòng đượm buồn và chẳng thiết gì ăn uống nữa. Nhưng
rồi cuối cùng chàng cũng mang đến cho Ôcxana trái
tim của mẹ mình.
Đường dài chân mỏi mắt hoa
Vừa lên thềm cửa, chân sa ngã nhào
Tim mẹ đập, ứa máu đào
Mà còn hỏi nhỏ "Nơi nào đau, con?"
Hỡi ơi, chỉ có trái tim người mẹ mới vò tha tới mức
vẫn cứ thương đứa con bội bạc dường kia!
Lòng mẹ đối với con như vậy, còn lòng con dành
cho mẹ thì sao? Trong bốn câu thơ Đoạn trường tân
thanh nêu trên, một câu đầu nói nỗi lòng người mẹ
thì hai câu sau là nỗi lòng của con. Câu trước dành
cho đứa con nhỏ tuổi là Hoàng Hưng, câu sau chọn tả
nhân vật hiếu tử già nhất lòch sử: Lão Lai. Suốt cuốn
Nhò thập tứ hiếu là 24 gương con hiếu. Nhiều gương
ngang tầm với người thường, người thường làm được.
Truyện Quách Cự chôn con, được chum vàng. Trời chu
đáo chôn sẵn để thưởng Quách Cự, hơi khó tin đối với
chúng ta hôm nay. Có vẻ như do một thí só của cung
đình sắp đặt dựng lên nhằm ca tụng vượng khí của triều
đại, thần linh và con người giao cảm tương thân. Riêng
truyện Vương Thôi có khí vò đặc biệt. Mẹ Vương Thôi sợ
sấm. Ngày thường Thôi ra đồng làm việc, mà hễ trời nổi
cơn sấm sét là lật đật chạy về nhà cho mẹ hết sợ. Khi
mẹ chết rồi, mỗi lần sấm sét là Thôi lại vội vàng chạy ra
ôm mộ mẹ mà nói: "Có con đây, mẹ đừng sợ". Tâm hồn
Vương Thôi có cái gì chất phác đơn giản của một người
nông thôn quê mùa, khiến ta tin là hoàn toàn có thật.
Và không cần cố gắng, khỏi phải lý giải, hễ đọc lên là
lòng mỗi chúng ta đều xúc động rưng rưng.
Trong kho truyện cổ của ta có chuyện Bát canh hẹ.
Một tù nhân một hôm nhìn vào mâm cơm thấy có bát
canh hẹ liền khóc òa bảo người cai ngục: "Tôi biết là mẹ
tôi vừa tới thăm tôi, nhờ ông chuyển cho bát canh hẹ
này. Vì hồi ở nhà mẹ tôi thường nấu canh hẹ cho tôi ăn".
Truyện kể một vò hiền giả nọ (3), một hôm phạm lỗi
bò mẹ đánh. Ông khóc tức tưởi nhiều hơn mọi lần. Mẹ
hỏi: "Lần này mẹ đánh ít, sao con khóc nhiều?" Thưa:
"Những lần trước mẹ đánh nhiều, ngọn roi mạnh, con
khóc vì đau. Lần này mẹ đánh ít, ngọn roi nhẹ, con thấy ít
đau, nhưng con biết sức mẹ đã yếu, mẹ đã già, nghó vậy
mà con khóc". Sách vở ghi biết bao nhiêu gương hiếu.
Mà nào phải lục tìm trong cổ văn mới thấy gương
mẹ hiền biết cách thương con. Mẹ của người bạn cùng
quê với tôi, anh Phạm Ngọc Ân, vốn không biết chữ
Quốc ngữ như mọi bà mẹ thời đó. Khi Ân học vỡ lòng,
anh lẫn lộn M với N, P với Q... rồi sang vần ngược thì
càng tha hồ lẫn lộn. Cha giận, vừa nạt, nộ, vừa vụt roi.
Mẹ thương con, lén đứng dòm, lẩm nhẩm nhớ để rồi
bày cho con. Kết quả là bà đọc được Quốc ngữ và sau
đó Ân học hành giỏi, làm tới chức thanh tra giáo dục.
Ân nay đã đông vầy con cháu và mẹ già đã nằm yên
dưới ngôi mộ bên sườn núi Ngân Sơn.
Chỉ không lưu ý đó thôi chớ hình ảnh mẹ con diễn
ra quanh ta đầy dẫy, vạn trạng thiên hình kể sao cho
xiết! Mẹ ẵm con đi chợ, mẹ bồng con đi nhà thương,
mẹ dắt con đi tới trường... Trên sân: gà mẹ dẫn gà
con bươi rác. Trên đồng cỏ: Trâu mẹ đứng yên cho
trâu con sục mõm vào bầu vú, mắt nhìn hiền từ, thỉnh
thoảng liếm vai liếm lưng. Con cò luộm thuộm vụng về,
cái cổ dài ngoẵng, cặp chân lêu khêu vậy mà từ lưng
chừng trời xếp đôi cánh đáp xuống nhẹ nhàng cạnh
bầy con, dùng cái mỏ nhọn hoắc để sú mồi, để rỉa lông
âu yếm... Tình mẹ con quả là thứ tình cảm thiêng liêng
khó giải khi ta nhìn cặp mắt vàng lợt đó như thiếu vắng
sự thông minh, cái cổ quá mảnh quá dài làm khó khăn
biết bao cho sự dẫn truyền tình cảm.
Cho chí thảo mộc vô tình cũng gợi xúc cảm mẹ con.
Cây chuối mẹ và bầy chuối con xúm xít. Cây ổi mẹ và
lũ ổi con ngơ ngác vây quanh. Lũ cây con rất cần mẫn
nhìn mẹ mà bắt chước, mà nhại theo hình dáng mẹ, cố
gắng sao cho giống mẹ.
Trên đời không ai yêu thương ta bằng mẹ. Người
tình dẫu thủy chung, cũng chỉ yêu ta với diều kiện. Hoặc
là ta đẹp. Hoặc là ta có tài. Mẹ thì không, xấu xí cũng
thương, xấu xí càng thương như nhằm bù lại những thiệt
thòi cho con, như ngầm nhận sự xấu xí là do lỗi mẹ.
Không đến nỗi quá lời nếu nói rằng với mẹ, con
là tất cả. Khi có con, mẹ bình dân vạch vú cho bú, áo
xống xốc xếch, quần xăn quá đùi cũng không còn thấy
ngượng. Có con là như đã có đủ rồi. Không như những
bạn lấy chồng năm mười năm mà chưa có con, vẫn cứ
thẹn thùng kín đáo.
Đúng, đã có đủ rồi. Vì có con, mẹ mới yên tâm, mẹ
vừa hãnh diện. Con là tác phẩm tuyệt hảo của mẹ, là
báu vật thiêng liêng mà mẹ vẫn không hiểu làm sao
mà mình có đủ khả năng tạo thành. Cái sinh vật nhỏ
đó lần lần lớn lên, có trí thông minh, thân thể phát triển
vẹn toàn để có thể sẽ trở thành danh nhân, trở thành vó
nhân. Càng thêm hãnh diện, càng được đền bù bởi mẹ
mang thân phận đàn bà, từ mới sinh ra đã chòu mọi thiệt
thòi. Làm con gái đâu được cha mẹ chiều bằng con trai.
Lớn lên phải phụ tay trong bếp, dọn dẹp trong nhà. Sự
thiệt thòi đeo đẳng suốt đời chỉ vì là thân phụ nữ. Luân
lý thời xưa khắc nghiệt bắt người đàn bà không được
bước đi bước nữa, phải ở vậy thờ chồng nuôi con. Trải
bao cuộc chiến tranh, bao nhiêu góa phụ chôn vùi tuổi
thanh xuân, đến khi nhắm mắt xuôi tay là coi như xóa
sạch cuộc đời, vónh viễn không còn dấu vết. Cho dẫu
có được sắc chỉ "Tiết hạnh khả phong" hoặc dãy vòng
hoa và bài ai điếu.
Vùn Hiïën 13
viïåt Nam
Rốt cuộc dường như niềm vui lớn nhất trên đời là khi
sinh được đứa con. Tình yêu chồng dần dần sớt qua con
và nếu gặp trường hợp đớn đau phải hy sinh đời mình để
cho con sống thì hầu như mọi người mẹ đều nuốt nước
mắt nhận cái chết về mình, ít cần lưỡng lự.
Nước ta có hai bậc quần thoa xuất chúng. Bà Trưng và
bà Triệu, được ca ngợi là cân quắc anh hùng, hào quang
xuyên suốt lòch sử. Nhưng không thấy sử ghi là hai bà có
được đứa con. Khiến có hôm xúc cảm nhìn cảnh mẹ con
vui vầy của những bà mẹ, "mẹ của Quỳnh Chi, Thanh
Hải, Nhật Thành... Tôi chợt ngậm ngùi nghó đến hai bà:
Tôi chợt nhớ về Bà Trưng, Bà Triệu
Chưa một lần được nói tiếng "con ơi!"
Vì nghóa lớn, xả thân mình lo liệu
Phần ấm êm: xin nhường hết cho người.
Phần ấm êm là đứa con, là tình mẹ con, dẫu rằng
thế tục tầm thường nhưng không phải dễ mà có dược.
Tôi, thû ấu thơ không được sống gần mẹ, đã vậy
mới mười một tuổi mẹ đã từ trần. Theo cha đến chùa một
lần là nhân lễ mãn tang mẹ. Lớn lên mới biết là lễ Vu Lan
báo hiếu nên cứ mỗi lần xé tờ lòch nhìn thấy ghi tháng
Bảy âm lòch là lòng u hoài nghó đến mẹ. Có một thôi thúc
nhẹ nhàng, một háo hức tiềm ẩn muốn được làm một cử
chỉ báo ân. Nhưng mẹ đâu còn? Đành tìm trong chỗ bạn
quen thân có ba người còn mẹ già, ngày Vu Lan tự tay
đem một tặng vật nhỏ, gọi là góp lời cầu nguyện cùng
bạn. Rồi âm thầm nghó đến tích Mục Liên Thanh đề, nhớ
đến quê hương xa cách, ngôi chùa làng vắng vẻ tòch liêu.
Đến ngôi mộ của mẹ tôi, của bác tôi, của ông bà tôi nằm
rải rác quạnh hiu nơi sườn núi cuối thôn. Đến những vò
xuất gia đã cát ái từ thân, giờ này đang trì chú hộ niệm.
Nhưng cát ái từ thân đâu có nghóa là không nghó đến
mẹ? Đại đức ơi, thầy nghó đến mẹ tha thiết như thế nào?
Hòa thượng ơi, ngài nghó đến mẹ bồi hồi như thế nào?
Hiện rõ mái đầu bạc phơ của Hòa thượng, chân
mày sợi dài trắng xóa, dáng đứng như chỏm núi cao.
Như đỉnh Hy mã Lạp Sơn tuyết phủ. Đỉnh núi tuyết uy
nghi có biết báo ân mẹ không? Những bụi sim quây
quần dưới chân núi rì rào nhớ mẹ. Mẹ là hột sim do
con chim bay qua thả rơi xuống đất. Cây bồ đề cổ thụ
thân lớn mấy người ôm, tàn lớn phủ sườn núi cũng xào
xạc nhớ mẹ. Mẹ là hột bồ đề rất nhỏ ngẫu nhiên ngọn
gió bay mang tới. Nhưng hùng vó như Hy Mã Lạp Sơn
thì mẹ là ai? Tôi đành âm thầm lắc đầu vừa tưởng như
nghe ầm ầm những chuyển động tạo sơn quằn quại
dựng nên dãy núi. Thành ra núi cô đơn.
Ở nhiều nước văn minh trên thế giới, người ta thỏa
thuận lấy một ngày trong năm đặt là Ngày lễ Mẹ (Mother's day). Vào ngày đó, các con dẫu ở xa cũng gắng tụ
hội về quanh mẹ, dâng hoa tặng quà, đọc lời chúc tụng
và vui vầy tiệc tùng. Trên ngực áo mỗi người con rực rỡ
một đóa cẩm chướng màu đỏ. Những người con nào
mà mẹ đã qua đời thì lạnh lẽo nơi ngực áo một đóa cẩm
chướng màu trắng.
14 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Ở ta, từ thập niên 50 nhiều đòa phương nhân ngày
lễ Vu Lan đã tổ chức nghi thức bông hồng cài áo: ai còn
mẹ thì được gắn một hoa hồng đỏ, ai mất mẹ, thì một
đóa hồng trắng. Một cách để nhớ mẹ, để tôn vinh mẹ, để
mừng mẹ còn tại thế, để xót xa nghó đến mẹ đã qua đời.
Bản thân người mẹ Việt Nam không đòi hỏi được
tôn vinh. Vào thế hệ tôi, người mẹ gần như chỉ lúc thúc
ở nhà dưới, nhà ngang, lăng xăng suốt ngày và hạnh
phúc với múi dưa, với con cháu. Cha già được thong
dong ngồi hút thuốc, được thưởng thức tách trà sớm,
được nhấm nháp ly rượu buổi hoàng hôn, chớ mẹ thì
gần như không biết hưởng thụ là gì. Cả ngay khi số
tuổi chồng chất, đóng vai bà nội, bà ngoại. Có một thời
gian, láng giềng tôi là một gia đình giàu. Khi người vợ
sinh đứa con lên bốn tháng, người ta nhắn về quê nhờ
bà kế mẫu già, nghèo, tới coi sóc giùm nhà. Một hôm
qua khung cửa tôi thấy bà ngồi vá quần cho đứa nhỏ.
Tôi ngạc nhiên bồi hồi đứng nhìn. Trẻ con dưới một tuổi
lớn mau, quần áo vải mới, mặc không vừa nữa thì bỏ
một chỗ, quần áo vải cũ, rách thì ném làm giẻ lau, ai
hơi đâu nheo mắt ngồi vá? Thôi, hiểu rồi, tâm lý người
mẹ, người mẹ nhà quê, người mẹ nghèo, tần tảo, quên
mình, người mẹ của thế hệ tôi đó. Thời nay có khá hơn,
có biết vò kỷ hơn, nhưng có được bao nhiêu người con,
dẫu đã thành đạt, nhớ đến Ngày lễ Mẹ? Nhiều bà mẹ
tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật cho con hằng năm, có
chụp hình... Nhưng này các con, sao sinh nhật mẹ, các
con không gom một bó hoa - ngắt hoa dại trong vườn
ngoài rào cũng được - sáng sớm trao tay mẹ? Nếu mắc
cỡ không nói được thì có thể viết trên mảnh giấy nhỏ:
"Con mừng sinh nhật Mẹ" chẳng hạn. Vì đa số các con
vô tâm mà phải mượn lễ Vu Lan để cài một đóa hồng.
Nhưng rằm tháng Bảy không phải chỉ là ngày nhớ
mẹ, báo ân không chỉ có báo ân mẹ. Còn phần hiếu
thảo dành cho cha. Rộng hơn, dân tộc ta còn nhận ngày
này là ngày xá tội vong nhân, chú nguyện cho thập loại
chúng sinh vừa mở rộng lòng bố thí cho người nghèo
khó nơi dương thế. Lòng nhân ái tựa biển, tràn khắp bao
la trong tiếng chuông ngân vang ngày lễ.
Hãy thương yêu mẹ hết lòng, săn sóc ân cần, hầu
hạ trìu mến, nhất là khi mẹ già yếu bệnh hoạn xấu xí
bẩn thỉu. Hãy nhớ lại thû mình còn nhỏ, mặt mũi chưa
được trơn láng như hiện giờ, ỉa đái ngay trên mình mẹ,
và khi lên năm lên mười mẹ phải chòu nhòn phần mẹ để
mua món ăn ngon, sắm cái áo đẹp cho mình. Hãy xúc
động sụt sùi mà cầm tay mẹ, nhìn mặt mẹ, theo dõi
bước đi dáng ngồi của mẹ. Không như tấm lòch đẹp treo
tường, tấm năm sau sẽ thay tấm năm trước, không phải
như cái bàn gỗ mộc sẽ cứ đứng mãi đó nếu ta không tự
ý phế bỏ. Mẹ thì không, dẫu ngó vững chắc nhưng sự
sống vốn dễ rung rinh, chẳng chóng thì chầy, rồi cũng
tới một ngày - thậm chí có thể chỉ trong thoáng chốc - ta
sẽ chỉ còn thấy được mẹ trong trí nhớ.
Cái bếp
của mẹ tôi
VÕ KhOA ChÂU
C
ái bếp nấu ăn của mẹ tôi cũng giống như bao cái bếp
khác ở miền núi hoặc ở vùng trung du. Bếp được làm
chặt chẽ trên bốn cây trụ tre rừng, mặt trên nện đất sét,
nhồi rơm. Nấu nướng càng lâu chừng nào, thì bề mặt của cái
bếp càng dẽ dặt chừng ấy, nhờ độ nóng của lửa và tro tích tụ
lâu ngày.
Mẹ đặt trên bàn bếp một cái kiềng sắt 3 chân và một bếp 3
ông táo bằng đất. Khoảng trống bên dưới cái bếp đứng, mẹ tôi
để đủ thứ, nào là củi tre, tàu cau khô, rơm khô, hoặc vài nhánh
cây gãy, mẹ lượm trong vườn. Sáng nào cũng thế, mẹ dậy thật
sớm, lui hui nấu nước chè xanh, hoặc
chè đen cho cả nhà cùng dùng. Nồi
nước chè luôn luôn nóng ấm trên cái
kiềng sắt 3 chân.
Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi,
nhưng cái bếp thân yêu, như là chỗ
ghi nhớ bóng dáng mẹ, thì vẫn được
các em tôi dùng làm nơi đun nước
hàng ngày, dù cho bây giờ, nhà vẫn
nấu bếp ga.
Tôi sống xa xứ đã lâu, thường về
thăm quê vào những ngày giỗ mẹ.
Cứ mỗi lần đi qua ngăn bếp cũ, hoặc
vào lấy chén đũa ăn cơm, lòng tôi lại
bồi hồi xao xuyến, tưởng chừng dáng
mẹ đâu đây, vẫn vào ra, lom khom thổi lửa nhóm bếp bằng cái
ống tre nhỏ.
Đã hơn hai năm, tôi chưa về thăm lại nơi chôn nhau cắt rốn,
để thắp nén hương nguồn cội. Một hôm, nhận được điện thoại
của em tôi mời về chơi nhân dòp cậu ta khánh thành ngôi nhà
mới, kết hợp tổ chức vào ngày giỗ của mẹ.
Khi đứng trước căn nhà tường xây, mái ngói đỏ tươi, thay
cho mái lợp tôn cũ kỹ, tôi vô cùng vui mừng về sự thành đạt
của đứa em út. Căn phòng khách đầy đủ tiện nghi, còn có phòng
ngủ, phòng vi tính riêng… Nền nhà lát gạch hoa màu xanh lam,
sạch bóng. Tất cả được thiết trí đẹp, thanh nhã. Nhưng khi đến
chỗ căn bếp của mẹ thû xưa, tôi không thể nén được những
giọt nước mắt xúc động.
Căn bếp chật hẹp của mẹ ngày nào, mọi đồ dùng vẫn nguyên
vẹn như xưa…
(Giác Ngộ số Vu lan 2011)
Vùn Hiïën 15
viïåt Nam
Têy Ngun
vùn hốa rûâng ài vïì
VĂn CÔnG HÙnG
V
ăn hóa rừng ấy còn bò chính con người
nhân danh văn hóa hủy diệt. Người ta
cưỡng áp thói quen của nền văn minh
lúa nước vào đời sống nương rẫy của đồng bào.
Những cán bộ tròch thượng luôn nghó mình giỏi
hơn dân, luôn muốn "giáo dục" dân. Họ không
chòu học hỏi, cứ thế "cưỡng chế" văn hóa bắt dân
rời bỏ thói quen văn hóa của mình, du nhập một
lối sống xa lạ với những nhà rông văn hóa vô
cảm, những ngôi làng xôi đỗ nhôm nhoam mang
tên làng văn hóa…
Trong các câu chuyện cổ của người Tây
Nguyên, đặc biệt là các trường ca, rất hay nhắc
đến biển. Có nhiều cách lý giải, ví dụ như đấy là
khát vọng, nhưng điều này không vững vì phải
16 Vùn Hiïën
viïåt Nam
thấy thì mới... khát vọng chứ. Cách nữa là do tạo
sơn gì đấy nên biển hóa Cao nguyên, mà dấu
tích vẫn còn trong cổ tích... vân vân... liệu có một
trường hợp này xảy ra không: trăm năm nữa,
trong một văn bản nào đó, người ta giải thích về
Tây Nguyên: Nơi đây từng có... rừng.
Theo các số liệu thống kê, rừng Tây Nguyên
đang bò thu hẹp kinh khủng, thậm chí có thông
tin là rừng đã kòp... hết. Cách đây hai chục năm,
chỉ ra khỏi nội ô Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Pleiku,
Kon Tum... ta đã lạc vào rừng. Bây giờ cả ngày
đi trên đường Hồ Chí Minh chang chang nắng chỉ
gặp những đoàn xe khổng lồ chở gỗ từ Lào, Campuchia về. Muốn dừng xe dưới bóng mát nghỉ mà
không có cây. Rừng như chỉ còn trong cổ tích...
Sẽ ra sao nếu Tây Nguyên không còn rừng?
Cổ tích Việt nói rằng mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm
trứng, năm mươi con ở lại cùng cha, năm mươi
con theo mẹ lên rừng. Dằng dặc thời gian, tháng
năm, thăng trầm dâu bể, năm mươi người con
ấy làm nên một phần đất Việt. Họ sống cùng
rừng, chết cùng rừng, hòa quyện với rừng, tan
chảy trong đời sống rừng, làm nên một văn hóa
rừng bền vững và đậm chất nhân văn, hợp quy
luật và hợp lẽ sống.
Văn hóa rừng ấy giờ đang trôi về biển, trên
những chuyến xe khổng lồ rùng rùng lún đất suốt
ngày đêm đưa sản vật về xuôi, mà nhất là gỗ. Để
trơ lại những khu rừng... không cây.
Văn hóa rừng ấy giờ đang được... thay máu.
Người ta quan niệm cao su, cà phê, bạch đàn...
cũng là rừng và thế là hàng chục ngàn héc ta
rừng được phá để... trồng cao su, cà phê... mà
người ta không biết rằng những cái cây trơ trọi
kia có thể nó làm ra đồng tiền ngay trước mắt,
nhưng nó không có đời sống, nó vô tri vô giác,
nó không phải là nơi đất lành chim đậu, không
có những tầng những vỉa, những bí ẩn tâm linh,
những phập phồng thức mở để rừng là lá phổi
của hành tinh và là mái nhà của con người.
Văn hóa rừng ấy còn đang bò thủy điện giết
chết. Hàng loạt công trình thủy điện đã phá hàng
ngàn héc ta rừng, nguy hiểm hơn, nó hủy diệt
sinh thái và môi trường sống, nó đẩy bà con vào
các làng đònh cư xây như những cái hộp vuông
vức, trông có vẻ đẹp, hiện đại nhưng triệt tiêu sức
sống, những cái nhà rông bê tông lợp tôn xanh
đỏ tím vàng đóng cửa im ỉm chả ai lên... mới đây
nhất, vụ thủy điện An Khê Kanác tích nước làm
cả vùng An Khê khô hạn, sông Ba hùng vó trơ
đáy, sau đấy đùng cái lại nửa đêm xả nước làm
thiệt hại hàng trăm héc ta hoa màu ruộng vườn là
một ví dụ nhỡn tiền. Không phải ngẫu nhiên mà
bà con Tây Nguyên ở nhà sàn. Nó phù hợp với
tập tính và môi trường sống mà phải những ai am
hiểu mới biết. Tương nhà bê tông nền xi măng
vào, sự khác biệt cách sống khiến cho người ở
bức bối như người ở nhờ, và nhỡn tiền là sự mất
vệ sinh khi bà con vẫn có thói quen hút thuốc và
nhổ, uống rượu cần giữa nhà, thậm chí đi chân
đất... những thói quen ấy được giải quyết rất nhẹ
nhàng khi bà con ở nhà sàn, có cầu thang như
một trạm nghỉ, có bếp lửa giữa nhà và sàn bằng
le, nứa... có kẽ hở, nước rượu cần, nước rửa tay,
thức ăn rơi vãi... đều rơi xuống gầm sàn và sàn
vẫn khô, sạch...
Văn hóa rừng ấy còn bò chính con người nhân
danh văn hóa hủy diệt. Người ta cưỡng áp thói
quen của nền văn minh lúa nước vào đời sống
nương rẫy của đồng bào. Những cán bộ tròch
thượng luôn nghó mình giỏi hơn dân, luôn muốn
"giáo dục" dân. Họ không chòu học hỏi, cứ thế
"cưỡng chế" văn hóa bắt dân rời bỏ thói quen
văn hóa của mình, du nhập một lối sống xa lạ
với những nhà rông văn hóa vô cảm, những ngôi
làng xôi đỗ nhôm nhoam mang tên làng văn hóa,
với cái gì cũng phong cho lễ hội như "lễ hội cồng
chiêng", "lễ hội đâm trâu", "lễ hội rượu cần"...
trong khi nó chỉ là một thành tố của lễ hội, người
ta phục dựng những cái ấy theo ý chí của người...
Kinh. Cũng như thế, người ta phong văn hóa cho
đủ thứ, từ nhà rông văn hóa, làng buôn văn hóa,
đến văn hóa cồng chiêng, văn hóa rượu cần, văn
hóa thổ cẩm, "thập cẩm" văn hóa... mà chính người
phong ấy có khi không hiểu văn hóa là gì? Các hội
diễn, các lễ hội... của người Tây nguyên là do ý
chí của người Kinh, do người Kinh đạo diễn, trong
khi đồng bào, những chủ thể ấy lại trở thành...
khách. Toàn bộ lễ khai mạc Festival cồng chiêng
quốc tế Gia Lai năm nào là cuộc biểu dương âm
nhạc Nguyễn Cường và các nghệ só múa người
Kinh. Các chủ nhân của chiêng, đồng bào dân tộc
đến từ mấy chục tỉnh thành trên cả nước "được"
vây quanh sân khấu trong bóng tối, gõ chiêng trên
nền nhạc... Nguyễn Cường. Người ta đề cao "văn
hóa" rượu cần bằng cách trước khi uống rượu tây,
uống bia, mang rượu cần ra mời khách trước trong
nhà hàng muôn muốt trắng với dao nóa ly tách
mà không biết rằng, cách ly ra khỏi làng, rượu
cần chỉ còn là... nước lã. Cũng như thế, bứng cồng
chiêng mang ra phố dưới ánh sáng đèn màu trên
sân khấu vuông loằng ngoằng dây điện là một
cách để chiêng diệt vong nhanh nhất...
Vì thế, tôi thấy Tây Nguyên đang... trôi...
Vùn 17
Sống
vÀ
chết
Mùa thu
trên tay
vÌ TỔ QUỐc
ĐÔnG nGÀn
ThAnh ThẢO
B
uổi sáng ngày 24.7.2011, tôi lặng lẽ leo 160 bậc đá lên tới đỉnh ngọn đồi ở
Hòa An (Cao Bằng), nơi yên nghỉ của hàng trăm liệt só hy sinh vì Tổ quốc
từ tháng 2.1979. Lên chỉ để thắp cho các anh một nén hương. Và đứng
lặng rất lâu trước những ngôi mộ đang được huyện Hòa An trùng tu.
Tôi đọc trên bia mộ: “Liệt só Hoàng Văn Dử, sinh tại Lạng Sơn, thuộc Đại
đội 10, Trung đoàn 851, Sư đoàn 346, hy sinh ngày 18.2.1979”, “Liệt só Triệu
Quang Dũng, sinh tại Hòa An - Cao Bằng, thuộc Sư đoàn 346, hy sinh ngày
24.2.1979”. Và đây nữa “Liệt só Nguyễn Văn Vân, sinh năm 1962 tại Đại Từ Thái Nguyên, thuộc Đại đội 14, Sư đoàn 346, hy sinh ngày 5.10.1984”, nghóa là
anh Vân hy sinh sau khi đất nước thống nhất hơn 9 năm... Tất cả họ đã hy sinh
khi giữ từng tấc đất, từng mỏm đá ngọn núi dòng suối của đất Cao Bằng.
Và từ nơi đòa đầu cực bắc của Tổ quốc, tôi lại như nhìn thấy Hoàng Sa thân
yêu của Tổ quốc ta, nơi vào tháng 1.1974 đã xảy ra trận hải chiến khốc liệt và
đã có 74 chiến só Việt Nam ngã xuống khi quyết giữ Hoàng Sa tới giây phút
cuối. Họ đã chết và chúng ta đã mất Hoàng Sa. Nhưng họ còn trong nỗi nhớ
chúng ta, và Hoàng Sa thân yêu mãi mãi vẫn là “máu của máu Việt Nam, thòt
của thòt Việt Nam”.
Tôi như nhìn thấy Trường Sa thương yêu của Tổ quốc ta, nơi tháng 3.1988
đã chứng kiến một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức giữa những chiến só
hải quân Việt Nam làm nhiệm vụ xây dựng đảo Gạc Ma không mang vũ khí
bên mình và những tàu chiến của hải quân Trung Quốc trang bò hỏa lực mạnh.
64 chiến só Việt Nam đã ngã xuống, nhưng 2 đảo Cô Lin và Len Đao vẫn đứng
vững sau cuộc xâm lấn của ngoại bang vào 3 đảo.
Tôi bỗng thấy những ngọn núi đá Cao Bằng dưới nắng mai vút lên rực rỡ
một vẻ đẹp ngỡ ngàng, khiến ta trào nước mắt. Ai là người Việt Nam mà không
yêu Tổ quốc mình đến quặn thắt, đến xót xa, ngay khi được ngắm nhìn những
vẻ đẹp diệu kỳ của núi của sông của biển quê hương mình. Xót xa vì cứ như
từng tấc đất tấc biển đều thấm máu các chiến só xả thân vì nước.
Đất nước hòa bình đã 36 năm mà sự an nguy của Tổ quốc vẫn dồn nặng trên
đôi vai những người chiến só, dù là người chiến só biên phòng suốt chiều dài
biên giới phía Bắc của Tổ quốc hay người đang giữ đất trời biển đảo Trường Sa.
Lòng biết ơn là phẩm chất lớn của một dân tộc, cũng là một phẩm chất
lớn của mỗi con người. Mà cao cả nhất của lòng biết ơn, là biết ơn những con
người đã sống và chết vì Tổ quốc, vì nhân dân. Lòng biết ơn ấy không thể hời
hợt, không thể hình thức, đãi bôi, nó phải thấm sâu vào lòng mỗi người Việt
Nam. Như máu hòa trong máu. Như một lời nguyền trong lặng lẽ: “Không một
ai bò lãng quên, không một điều gì bò quên lãng” (thơ của nữ thi só Nga Onga
Bergon).
18 Vùn Hiïën
viïåt Nam
C
ách đây mấy hôm, buổi sáng ra chợ thấy có trám đen. Vài quả trám
đầu mùa loi thoi trên góc sạp rau quả. Tôi hỏi mua vài chục thì cô
bán hàng nhanh nhẩu: Bốn mươi ngàn một cân chú ơi. Lâu nay trám
đen còn ai bán trăm bán chục? Ừ, thời thế thay đổi, bây giờ, trám còn ai bán
quả, gạo còn ai bán đấu. Cái cân thỏa tính chi li của con người hơn. Ôi sự kì
diệu chi li!
Có trám đen nghóa là mùa thu đã tới. Mấy hôm nay trời oi nồng bức bối.
Thì ra năm nay trám chín trước cả ngày lập thu. Hoàng Cầm xưa viết:
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Nhưng đó là kỉ niệm của ông về nắng thu vàng. Còn với tôi thì mùa thu
là trái trám đen, hương thu náu sau mùi trám ngầy ngậy và vương chút vò
chát tình đời.
Dù bây giờ người trung du trở lại với cây trám thì rừng cũng đã nhỏ đi
trên mảnh đất mới chia. Cây trám chẳng dễ buông cành tỏa bóng sang phần
đất không thuộc chủ nó. Trên đời, có những thứ phải quản để phát triển,
nhưng lại có thứ quản là dẫn đến tiêu diệt. Cây Trám vốn quen sống tự do
xoài bóng theo triền đồi, nhưng không được tự do xòa tán lá thì khó có mùa
tróu quả. Một bạn bảo tôi, kể cũng văn học nhỉ, cây trám lại giống nhà thơ nhà
văn, trám cũng nghệ só gớm. Tôi bảo thực ra cây cũng chẳng thể ví với người.
Nhưng thiết nghó con người cũng nên nhìn theo cây mà sống cũng tốt chứ sao?
Hai lạng rưỡi trám giá mười ngàn, đếm được hai chín quả. Cô bán hàng
cân hơi non vì cân đủ có thể sẽ phải là ba mốt. Nhưng tôi tin rằng nếu có hụt
đi chút ít thì đó luôn là sự cần thiết đối với những thân cò lăn lội, vì đó là lí
do của nghề buôn thúng bán bưng tồn tại. Dòch vụ tận tay này so với khách
sạn vẫn rẻ hơn trăm lần. Nên mua rau cỏ đừng có bao giờ đem cái tinh thần
năm xưa ra chợ mà so kè mà tội. Phải nhớ đất nước giờ đây đang thời kinh
tế thò trường.
Tôi bâng khuâng giữa khuôn chợ ồn ào. Phía cổng chợ, xe và người tấp
nập. Hà Nội không có mùa, không còn mùa. Còn tôi, trên tay đang đỡ mùa
thu, đó là những trái trám đen đầu mùa, một mùa thu trông thấy được, sờ
tay vào đựợc.
Đầu thu 2011
Vùn Hiïën 19
viïåt Nam
Sức mạnh nội lực của dân tộc
dưới hào quang của vua trẻ
Trần Nhân Tông
Trần
Nhân
Tông
và bài học
giải phóng nội lực
VĂn QUÂn
Tìm hiểu toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp Trần Nhân Tông, trong số những bài
học lớn về tư tưởng của Người, cũng là của thời nhà Trần vinh quang - nổi bật và
sâu xa nhất chính là bài học về khai phóng nội lực, mà vì nó - Người đã đánh đổi tất
cả để dấn thân tìm phương giáo hóa và vượt thoát cộng đồng.
20 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Ngày nay, ứng với công cuộc đổi mới và hội
nhập - chính là nhu cầu phát huy nội lực - điều
kiện cần và đủ cho quá trình phát triển đất nước,
khẳng đònh vò thế Việt Nam. Đó là bí quyết - phải
chăng có thể coi đây chính là “Lẫy nỏ thần kỳ”
của lẽ thành bại mỗi thời, liên đới đến sự sáng
- tối, mạnh - yếu, hưng - vong của xã tắc và sự
sướng - khổ, buồn - vui, vinh - nhục của người
dân? Và như thế, thời của Người - vấn đề này
được nhận thức và phát huy như thế nào?
Trước hết, thời của Người - thế kỷ 13, đất
nước cũng phải đứng trước hai thách thức lớn,
đều mang tính sống còn: Một là họa xâm lăng, với
một đội quân hung bạo nhất thế giới, từng tung
hoành vó ngựa khắp từ Á sang Âu - giặc Nguyên
Mông. Hai là khôi phục đất nước sau chiến tranh
và xây dựng hòa bình.
Đối với thách thức xâm lăng - dường như đã
thành nghiệp chướng, rất ít thời tránh khỏi. Và
thời Trần của Người đã làm cuộc quật khởi toàn
dân tộc, để lại những dấu ấn chói lọi bậc nhất
trong lòch sử nước nhà - ba lần chiến thắng quân
Nguyên Mông. Cho đến bây giờ, đọc lại sử sách
hơn 700 năm về trước, chúng ta hãy còn đau đáu
về một thế nước mong manh, với một vương triều
vừa khai mở, về cuộc rút lui lặng lẽ khỏi kinh
thành Thăng Long, về cuộc săn lùng ráo riết và
tàn bạo của kẻ thù, không chỉ với vua Trần và tôn
thất, mà với cả “dân đen” và “con đỏ” như đã nêu
trong “Hòch tướng só” của Trần Hưng Đạo. Sau
chiến thắng lần thứ nhất, dưới hào quang của ông
vua trẻ - tức Trần Nhân Tông, sức mạnh nội lực
ấy đã được nhân lên một tầm mức mới - không
chỉ đơn thuần là yêu nước mà cả nhân nghóa sáng
ngời.
Giờ đây và có lẽ còn mãi mãi về sau, khi nhắc
đến bài học cốt tử đó, hậu thế không thể nào
quên những Hội nghò Bình Than, Diên Hồng lòch
sử, những tình cảm vua – tôi, tướng só “một lòng
phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, về
nghóa cử “động trời” khi Người cởi áo bào toàn
thắng để đoái thương thân xác của tướng giặc Toa
Đô tử trận… Có gì đó rất gần gũi với thời đại và
con người Hồ Chí Minh. Phải chăng bài học ấy,
trước những thử thách can qua như thế đã trở
thành máu thòt, thành sức mạnh tự thân và khí
phách anh hùng của dân tộc Việt Nam mà không
kẻ thù nào dám coi thường?
Cả một thời thanh xuân binh lửa, lãnh đạo
quân dân kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh vệ
quốc thần thánh chống Nguyên Mông, Người đã
thấm nhuần bài học sống còn là khai phóng nội
lực, thổi luồng sinh khí mới vào công cuộc chấn
hưng dân tộc sau 30 năm bò tàn phá nặng nề, trở
thành thời kỳ cực thònh bậc nhất trong lòch sử
phong kiến Việt Nam, thậm chí có những thành
tựu còn dư sức tỏa sáng về sau.
Có thể kể ra những việc làm cao trọng của
Người: Đầu tiên là an dân và ổn đònh xã hội thực hành đại xá cả nước, tha bỏ tô thuế để nới
sức dân, khuyến khích khai hoang phục hóa, mở
rộng thông thương… Bên cạnh đó là chấn chỉnh
bộ máy triều chính, cốt ở tinh chứ không cốt ở
đông, với quan điểm “quan nhiều thì dân khổ”,
tích cực tìm kiếm và đào tạo hiền tài bằng khuyến
học và rộng đường thi cử. Cho nên, không có thời
nào mà só tử lại đông và hiền tài lại nảy nở như
thời Trần. Nhờ thế mà kinh tế xã hội và văn hóa
phát triển, đời sống con người - cả vật chất và tinh
thần được cởi mở và thăng tiến.
Đặc biệt, Người đã chủ trương xây dựng và
hình thành một hàng rào tư tưởng tâm linh tiêu
biểu và hoàn chỉnh của nước Nam, vừa nhằm giáo
dục truyền thống, vừa tạo ra chỗ dựa vững chắc
cho tinh thần dân tộc và hun đúc khí thiêng sông
núi vững bền. Với người có công còn sống, Người
không quên ban thưởng. Với người đã mất được
phong thần – mà sử sách còn ghi rõ: Người chủ
động phong thần cho 27 anh hùng là nhân thần,
cùng nhiều nhiên thần khác, được đương thời và
hậu thế đánh giá cao, coi như đã xây cất thành
công một “thần điện” Việt Nam.
Hoàn tất các đại sự quốc gia, Trần
Nhân Tông chọn đường lên Yên Tử
Hoàn tất các đại sự quốc gia rồi, Người chọn
đường lên Yên Tử. Khi ở ngôi - Người sống mẫu
mực theo cốt cách cha ông: Giản dò, kiêm ước và
tự đủ. Khi nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng
- Người vẫn không quên coi trọng việc dân nước.
Và khi chính thức đường tu, Người thực vẫn theo
hướng tận hiến cho xã tắc - thậm chí còn phải chòu
nhiều gian khổ và thiếu thốn, không phải vì mục
tiêu ép xác, mà cốt là để mong xác lập phương
cách giáo hóa con người và vượt thoát dân tộc.
Mỗi khi có dòp đặt chân về Yên Tử hoặc
thường khi suy tưởng về Người, tôi vẫn tự hỏi:
Ngày nay, đường đi lối lại phong quang, vậy mà
không ít người còn không đủ sức và đầy tâm để
lần bước tới đỉnh chùa Đồng. Còn Người thû ấy
Vùn 21
đã cất công khai lối, dựng nền thì phải chòu đựng
khó nhọc đến mức nào. Làm vậy để mong thoát
tục ư? Tôi không tin.
Và ngay từ những thế kỷ trước, các bậc thức
giả cao quý đã thẩm đònh rồi – ví như Ngô Thì
Nhậm đã viết: “…Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất
tổ (tức Trần Nhân Tông) đến ở chùa Hoa Yên
thì bảo là Ngài xuất gia. Ta biết rằng – Ngài lúc
bấy giờ đã xem thiên hạ (non sông – nòi giống)
là công. Trong nước vô sự, nhưng phía Bắc vẫn
còn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an
tâm. Cái ý ấy không tiện nói rõ, sợ dân tình dao
động. Cho nên nhằm được ngọn Yên Tử là núi
cao nhất – phía đông nhìn về Yên Quảng, phía
bắc liếc sang hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng – mà
dựng lên ngôi chùa. Thời thường dạo chơi để xem
động tónh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm
phạm”. Vậy, theo đúng tư tưởng lớn của Trần
Nhân Tông về bài học khai phóng nội lực, những
mong vượt thoát toàn dân tộc nên soi tìm ở đâu
và như thế nào?
Phải thăng hoa về cả trí tuệ, thể chất
và tâm hồn thì mới phát huy được
nội lực
Dó nhiên, về mặt phân đònh, ai cũng hiểu - nội
lực là toàn bộ tiềm lực bên trong vốn sẵn (trong
nước và trong dân). Một cá nhân là thế và cả dân
tộc càng thế. Có điều - về mặt nhận thức - đúng
ra và nhất là hành xử thực tiễn thì nhiều thời cha
ông, đặc biệt là thời Trần, đã triệt để, hữu dụng
và hữu ích. Vả lại, việc đó thời chiến đã khó, thời
bình còn khó hơn rất nhiều, bởi nó thường vấp
phải nhiều trở lực từ tâm lý và tập tính cố hữu
của cộng đồng. Đó là thói vò kỷ và hẹp hòi, thói
bon chen và ham lợi lộc, dễ coi nhẹ lợi ích chung.
Vấn đề cần chỉ ra là: Những thành tố chính
yếu của nội lực và sự phát huy nhằm vào phương
diện nào để tỏa sáng nhanh chóng và mạnh mẽ
- như trên đã nói là: đắc cách, đắc dụng và hữu
ích? Phàm thì người ta nghó ngay đến nhân tài vật
lực - sức người sức của – hay như ta ngày nay là
nguồn lao động và tài nguyên dồi dào, thậm chí
cả đồng vốn còn đọng nhiều ở trong dân, phải
được thu hút hết mức cho công cuộc giàu hóa
nhanh chóng.
Điều đó hoàn toàn đúng, rất quan trọng nhưng
chưa phải cốt yếu và hàng đầu - thậm chí ở góc độ
nhất đònh - những thứ đó vẫn cứ còn là ngoại lực,
là hình tướng. Gốc của nội lực nằm trong chính
mỗi con người - cốt ở tâm và trí cộng lại và nhân
lên mà thành. Đối với tố chất người Việt Nam thì
22 Vùn Hiïën
viïåt Nam
đây chính là chỗ mạnh nhất, sáng nhất cần được
phát huy tối đa, nghóa là phải được thăng hoa cả
về trí tuệ, thể chất và tâm hồn. Sự hưng thònh và
tươi sáng của không ít thời đã chứng tỏ điều đó.
Và đương nhiên, thời Trần là một tiêu biểu.
Trần Nhân Tông đã đến với Phật giáo bằng
tầm nhìn của một nhà chính trò và tư tưởng lớn
Cứ nhìn vào cung cách Trần Nhân Tông và soi
vào tư tưởng lớn Trần Nhân Tông, rõ ràng để làm
được điều đó – có thể gọi là nghiệp lớn và phúc
lớn – thì cốt là ở một nền giáo hóa chuẩn mực
và lành mạnh. Nền giáo hóa ấy thấm đẫm suốt
cả đời người - từ trong quá trình thai giáo cho
đến khi nhắm mắt xuôi tay - cả vua quan và dân
chúng, cả giàu nghèo lẫn sang hèn, cả trẻ lẫn già.
Từ nhỏ, được ấn tâm và thụ giáo người thầy
lớn là Tuệ Trung Thượng só Trần Tung - một cư
só tại gia chủ trương hòa gắn đạo và đời làm căn
bản cho quá trình nhận thức và tu tâm tónh trí để
đạt giải thoát và viên mãn. Sau đó, trải nghiệm
qua công cuộc dân nước hào hùng, Người không
khó khăn gì để khẳng đònh chân lý giải thoát như
thế. Và chính Người và những người cùng thời đã
nhìn thấy từ trong tinh hoa đạo Phật những giá trò
thuận cách cho nền giáo hóa con dân đúng hướng,
dựa trên căn bản của nền sống dân tộc - đó là
bình dò và kiệm ước, trọng học và trọng tình, biết
tôn thờ sự nghiệp dân nước làm trọng.
Có thể nói, Trần Nhân Tông đã đến với Phật
giáo bằng tầm nhìn của một nhà chính trò và tư
tưởng lớn, biết thu nạp và diệu dụng tôn giáo vì
mục đích cao cả: Cứu nhân độ thế, làm cuộc vượt
thoát toàn dân tộc. Cho nên Phật thiền Trần Nhân
Tông đã dầy công gây dựng ở Yên Tử hoàn toàn
không phải là dập khuôn giáo lý gốc của Phật
(Đại Thừa Ấn Độ hay Thiền Tông Trung Hoa) mà
chính là đã thổi vào đó những giá trò tươi mới và
tích cực - đó là quan điểm Phật tại tâm, tu theo
thập thiện chứ không khuyến khích khổ hạnh và
ép xác, càng không cho phép coi nhẹ bổn phận
công dân và lòng tự cường dân tộc - như trong bài
phú “Cư trần lạc đạo” coi như một tuyên ngôn tư
tưởng Trần Nhân Tông về cả đạo và đời, không
chỉ giành cho riêng giới tu hành mà cho toàn dân
tộc muốn đạt tới “Nhân hòa” để tìm phương vượt
thoát và lớn mạnh - như cụ Hồ gọi là “sánh vai
với các cường quốc năm châu”.
Trong các trước tác của Người, trước hết phải
kể tới “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” - chủ
yếu Người bàn về thân - tâm, vốn là những thứ
chủ yếu gây nghiệp chướng cho đời sống con
người, là cội nguồn nảy sinh dục vọng để khiến
con người tự trở thành nô lệ và tội đồ của chính
mình, tự ngăn trở và làm lạc hướng trong việc tạo
tác nguồn tâm vô nhiễm - trong trẻo và ngay lành.
Đó mới thực là hình ảnh tối thượng của đường
tu, của hạnh phúc kiếp người. Vì tính chất và nội
dung như thế nên đây là một tác phẩm không dễ
đọc và dễ hiểu thấu, đòi hỏi phải dành nhiều thời
gian và tâm sức tìm hiểu. Chúng ta chỉ cần nghe
bốn câu kệ kết thúc tác phẩm (phần dòch nghóa):
Cảnh lặng, sóng yên, lòng tự tại
Gió mát thổi đến dưới bóng cây thông
Giường thiền ở dưới gốc cây, kinh một quyển
Hai chữ thanh nhàn quý hơn vạn nén vàng
Còn trong “Cư trần lạc đạo phú”, gồm 10 hội
và phần kệ, mới đọc - tưởng chừng như Người tự
viết cho mình và tự nói với chính mình - khi đã
rũ bỏ mọi vướng bận - kể cả ngai vàng và vương
quyền để lên núi tu hành. Tại đây, sau khi đã ngộ
nghiệm và đònh rõ chân lý, Người để lại phần tâm
cốt nhất của tư tưởng và tình cảm lớn, góp phần
vào sự nghiệp giáo hóa con dân, nhằm ổn đònh
nhân tâm, khai mở nội lực (cả nhận thức lẫn hành
động) và mạnh bền thế nước dài lâu. Bởi chúng
ta cũng biết, chính trong lúc đang ở đời tu, Người
vẫn chủ động dấn thân chăm lo mở cõi - bằng
việc làm “vô tiền khoáng hậu” là quyết đònh gả
con gái cho vua Chiêm, đổi lấy hai châu Ô - Lý.
Đây chính là mảnh đất đầy vò thế về đòa lý - chính
trò - quân sự và kinh tế - văn hoá, đặc biệt là thế
mạnh gần như độc tôn về phát triển công nghệ vi
sinh thế kỷ 21 và còn mãi về sau. Trở lại với “Cư
trần lạc đạo phú” - mở đầu, Người viết:
Mình ngồi thành thò
Nết dùng sơn lâm
Ấy là nói tới lối hành xử khôn ngoan nhất,
nhuần hợp với cốt cách dân tộc, theo nghóa “thô”
thì người có thể ở chốn thành thò giàu có, sung
sướng đủ đầy, nhưng nết hạnh và ứng xử phải
thuần phác và trong trẻo mới là quý, là nên. Còn
theo nghóa “tinh” thì dù có sống trong cảnh ngộ
nào cũng phải đề cao tính thiện nhẫn và chọn sự
thanh thản làm đầu. Được thế là đời tiên phật, là
dân tộc vững bền. Như ở hội 3, Người viết:
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc (chẳng biết), họa kia thực
cả đồ công.
Và như thế, khi đã biết, đã ý thức được thì:
“Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng
Thích Ca. Câm giới hạnh, đoạn gian tham, chón
thực ấy là Di Lặc”. Cho nên, nói ngắn gọn: Đời
tục hay cõi tu cũng cốt ở cái Tâm con người. Nếu
biết hành xử nhuần hợp để có được nguồn tâm vô
nhiễm thì dễ dàng đạt tới cực lạc. Đó là căn bản
của tư tưởng “Phật tại Tâm”. Báu vật của tâm linh
và đời thực ấy sẵn có ở trong mỗi con người. Vấn
đề là tự ý thức, tự hành xử được hay không mà
thôi. Chân lý ấy sâu xa mà giản dò vô cùng - như
bài kệ kết thúc, Người viết:
Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui
với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với cảnh mà vô tâm thì không cần
phải hỏi Thiền nữa.
Nói tóm lại - bài học phát huy nội lực của
Trần Nhân Tông và thời đại của Người chính là
trước hết tôn cao nền giáo hóa con dân theo cách
thiện, giúp họ hoàn thiện quá trình tự nhận thức
để giữ được tâm trong và trí sáng, biết bình tâm
trước mọi diễn biến của đời sống, đạt độ an nhiên
tự tại, ít bò vướng bận vào hệ lụy thường tình như
tham, sân, si, nhất là những mặc cảm áp chế thân
phận và cá tính. Trên cơ sở đó mà thăng hoa hết
mình cả tâm hồn và trí tuệ để có thể sáng tạo và
dâng hiến hết mình. Đó chính là cốt lõi của con
đường giải thoát và tự vượt thoát.
Và chính Người - cả khi chỉ huy đánh giặc lẫn
khi xây dựng hòa bình đều đã thể hiện rõ phong
cốt và sức mạnh tự thân ấy. Nó lan truyền sang
tướng só và thần dân, thôi thúc họ lòng tự tin, tính
nhân hậu, ham học hiểu, với khao khát hòa ái và
lòch duyệt, biết thiện nhẫn và làm tròn bổn phận
trên tinh thần tự cường và tự tôn dân tộc.
Cho nên, Phật Thiền Trần Nhân Tông - tư
tưởng Trần Nhân Tông - trong đó, lớn nhất và
cao sâu nhất là bài học khai phóng nội lực - trước
hết không phải là những giá trò tôn giáo, mà là
giá trò dân tộc, thuộc về bản sắc cao quý, cần và
theo suốt hành trình dân nước dài lâu. Nếu không
thấy, nhất lại là không thực hành lấy cho nghiêm
thì đó quyết không phải lỗi ở tiền nhân kỳ bí, mà
chính là ở hậu thế nhạt nhòa - ví như cuối đời
Trần, khi vương triều suy vi, Trần Nghệ Tông đã
phải thốt lên:
Tự hận nhi tôn tham bão noãn
Bất tùy xung mật báo thâm ân.
Dòch thơ:
Tự hận cháu con tham lợi lộc
Không theo nghóa lớn báo ơn dày.
Đó là sự treo giá của những bài học lòch sử
sâu xa và cội rễ.
Vùn Hiïën 23
viïåt Nam
Suốt cuộc đời của cụ Tú Quỳnh Phủ Nguyễn
Diêu lấy việc dạy học trò làm niềm vui và lẽ sống,
lấy bà con hàng xóm làm nguồn an ủi, lấy tao nhân
mặc khách quanh vùng làm bầu bạn, lấy văn chương
làm phép lạ, và phần nào để giải tỏa mặc cảm tội
lỗi trong tâm hồn. Nếu đề tài về quốc gia dân tộc
chiếm vò trí chủ đạo trong sự nghiệp văn chương
của cụ Đào Tấn thì đề tài về đạo làm người chiếm vò
trí chủ đạo trong sự nghiệp văn chương của Quỳnh
Phủ tiên sinh, nghóa là ông chăm lo chữa chạy các
bệnh thái xã hội của người đời, và điều này thấm
đẫm phẩm chất văn chương của một nhà giáo dục.
Quỳnh Phủ
Nguyễn Diêu
ông đồ
nghệ só
VŨ NGỌc LIỄn
24 Vùn Hiïën
viïåt Nam
S
inh thời cụ Đào Tấn có lần đi viếng mộ thầy
Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu rồi để lại cho chúng ta
một bài thơ viết về nỗi niềm hối hận của cụ trước
mộ thầy. Bài thơ đó nhan đề và nội dung như thế này:
Sơ thu vãng yết nghiệp sư Nhơn Ân Nguyễn tiên
sinh sơn phần cảm thuật
(dòch nghóa: viết trong dòp tháng 7 đi viếng mộ
Nguyễn tiên sinh thầy dạy nghề ở Nhơn Ân).
Thu khí bán sơn hoàn cổ mộ
Xuân phong nhất nguyệt ức tiên sinh
Càn khôn nộn tán qui lai vãng
Không phụ ngô sư hối nhữ tình
Nghóa là:
Hơi thu tỏa lưng chừng núi và quanh ngôi mộ cổ
Nhớ khi đến với thầy như ngồi giữa gió xuân
Đất trời (thời thế) đã đảo lộn rồi mà ta thì về chậm
Lòng rất hối hận vì đã phụ lời thầy dạy bảo
Ông Đỗ Văn Hỷ dòch thơ:
Thu quyện quanh mồ, thu nửa núi
Nhớ thầy nhớ ngọn gió xuân xưa
Đất trời nghiêng ngả sao về muộn
Luống phụ thầy ta những dặn dò
Có lẽ bài thơ này ra đời vào những năm 1883-1885,
thời kỳ “bốn tháng ba vua”, thời kỳ cụ Đào bỏ quan về
quê, rồi đi tu ở chùa ông Núi. Tuy chuyện bỏ quan bò
triều đình giáng chức bốn cấp, nhưng đổi lại cụ được
thoát khỏi cái xiềng danh lợi, và được dòp thăm mộ thầy,
tạ lỗi với hương hồn thầy cho thanh thản lòng mình.
Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu là thầy dạy chữ thánh hiền,
đồng thời truyền nghề viết kòch bản hát Bội cho trò Tấn,
nên cụ Đào Tấn mới có từ tôn vinh là “nghiệp sư”.
1. Cụ Nguyễn Diêu hiệu là Quỳnh Phủ. Sinh quán
của cụ ở thôn Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình
Đònh, nên người dân Bình Đònh gọi là cụ Tú Nhơn Ân.
Về sau, gia đình cụ từ thôn Nhơn Ân dời về thôn Kỳ
Sơn, xã Phước Sơn cùng huyện.
Lâu nay có khá nhiều học giả viết về cụ Quỳnh
Phủ Nguyễn Diêu nhưng không ai biết rõ ngày sinh
và năm mất. Chỉ biết chắc chắn rằng ngày giỗ của cụ
là ngày mồng 5 tháng 5 hằng năm, và cũng biết chắc
chắn rằng cụ đỗ tú tài khoa Canh Thân năm Tự Đức
thứ 13 (tức năm 1860, trùng với năm cụ tú tài Nguyễn
Thế Hiển thành lập “xã thương” (cái lẫm lúa chống đói
nghèo) của thôn Phụng Sơn, kế cận với thôn Kỳ Sơn,
nơi cụ Tú Diêu di cư, và những năm sau đó cụ viết bài
ký ca ngợi về cái “xã thương” này; ca ngợi công lao và
đức độ của cụ Tú Hiển.
Theo học giả Quách Tấn thì Quỳnh Phủ Nguyễn
Diêu sống dưới thời Minh Mạng - Tự Đức (1820-1883),
là người cùng thời với cụ Tú Nguyễn Thế Hiển. Thời trò
Tấn ở đậu tại “Đặng gia trang” đi học trường thầy Diêu
dạy ở thôn Kỳ Sơn, nghóa là gia đình cụ Tú từ vùng đất
nửa ruộng nửa biển đã chuyển về ở đây rồi. Đào Tấn
từng viết Quá phỏng Kỳ Sơn Đặng gia trang ức thiếu thời
độc thư xứ ngẫu chiếm (Viết trong lần qua Kỳ Sơn thăm
nhà họ Đặng nhớ thû thiếu thời đi học ở đây) như sau:
Quyện điểu tà phi phản cố lâm
Mỗ khâu mỗ thụ phí tương tầm
Ngẫu qua bình nhật học ngữ xứ
Vọng khước cao tường thiên lý tâm
Nghóa là:
Chim chiều mỏi cánh trở về rừng
Cội nọ gò kia liệng uổng công
Chợt ghé nơi xưa từng học nói
Quên rồi cái mộng nhảy bay rông
(Vũ Ngọc Liễn dòch)
Về đời tư, cụ Tú Nguyễn Diêu vấp phải một khối
hận tình yêu đè nặng tâm hồn cụ, khiến cụ sống đắng
cay, ray rứt suốt cuộc đời. Chuyện kể rằng:
“Tương truyền nhà ông Tú vốn nghèo, thû còn đi
học ở trường tỉnh, trọ nhà một phú ông, phải mang gạo
theo tự nấu lấy ăn. Cô gái con chủ nhà phải lòng anh
học trò họ Nguyễn nên lúc nào thấy hũ gạo vơi thì lén
đổ gạo nhà vào cho đầy, thấy quần áo bẩn thay ra thì
đem đi giặt. Anh học trò cũng biết cô gái thương mình
nhưng không tiện đường đột ngỏ lời vì lễ giáo không
cho phép và vì còn phải để tâm chí vào việc học hành.
Đến khi đỗ tú tài xong, phú ông gọi anh tới cho biết ý
đònh muốn gả con gái cho anh. Anh về nhà bẩm mẹ
hay, mẹ anh nhờ thầy coi tuổi lại không hợp nên nhất
đònh cấm cản. Mẹ anh cưới cho anh một cô gái khác
không đẹp bằng người anh yêu nhưng được cái hợp
tuổi. Vì chữ hiếu, anh phải vâng lệnh mẹ. Cô gái con
phú ông nghe được tin này thì đau buồn, bỏ cơm cháo
đến ốm tương tư mà chết.
Anh biết chuyện ân hận không cùng, thường tự
trách mình đã gây ra cái chết cho người yêu. Chính cái
mặc cảm tội lỗi này đã dày vò tâm hồn anh, từ ấy cho
đến khi lìa bỏ cõi đời. Cũng chính vì lẽ đó mà về sau ông
đi thi hoài vẫn không đỗ được cái cử nhân. Người ta bảo
rằng mỗi bận ông vào trường thi ông đều thấy cô gái ấy
hiện hình ngồi ở đầu chõng ôm mặt khóc nức nở, khiến
ông tâm thần bấn loạn, mắt hoa tay run, không tài nào
làm trọn bài thi được. Ông đâm chán ngán cả khoa danh
mở trường dạy học, soạn tuồng hát Bội, mở đàn cầu tiên
để thỉnh thoảng chuyện vãn với linh hồn người yêu hoặc
xướng họa với tiên, với thánh mà quên sầu”.
Đó là lời tường thuật về câu chuyện bi đát này của
Đặng Q Đòch trong cuốn “Chuyện cũ kẻ só Bình Đònh”,
sách mới xuất bản 2009.
Cũng thuật lại chuyện này nhưng Quách Tấn Quách Giao kể cụ thể hơn và rùng rợn hơn, rằng vò
phú hộ ấy ở làng Xuân Qn (vốn là Quang, đọc trại
âm thành Qn) kề Quy Nhơn, còn cô gái tên là Thìn
con một vò phú hộ yêu say đắm trò Diêu, và “cô Thìn
nghe tin người yêu phụ tình liền nhảy xuống giếng tự
tận. Lúc khâm liệm người nhà mới biết nàng đã có thai”
(Đào Tấn và hát Bội Bình Đònh, xuất bản năm 2007)
chứ không phải vì tương tư bỏ ăn bỏ uống mà chết như
Bùi Văn Lăng và Đặng Q Đòch nói.
Vùn 25
Theo Quách Tấn thì học trò của Quỳnh Phủ Nguyễn
Diêu rất đông, vì ảnh hưởng của cụ trên văn đàn, trong
giáo giới thời bấy giờ rất lớn. “Cụ là một trong bốn nhà
hay chữ nổi tiếng ở Bình Đònh”. “Bốn nhà hay chữ đó là:
Đằng ở Tri Thiện, Diêu ở Nhơn Ân, Trinh ở Vinh Thạnh,
Hiển ở Phụng Sơn”.
2. Hiện nay chúng tôi chỉ sưu tầm được ba vở tuồng
do Quỳnh Phủ tiên sinh viết, còn khá nguyên vẹn:
1/ Pho tuồng “Ngũ hổ bình Liêu” (còn gọi “Ngũ hổ
bình Tây”) gồm 3 hồi, cả bản phiên âm và bản Hán Nôm.
2/ Vở tuồng “Liệu đố” (“Chữa bệnh ghen”).
3/ Vở tuồng “Võ Tam Tư trảm Nguyệt cô” (“Chém
cáo”, hoặc “Tiết Giao đoạt ngọc”, “Cổ miếu vãn ca”).
Ngoài 3 vở trên cụ Phạm Phú Tiết còn bổ sung vở
“Văn vệ quốc” vào danh mục tác phẩm của cụ Tú Diêu
(chưa tìm được).
Ông Đoàn Nồng, tác giả sách “Sự tích và nghệ thuật
hát Bộ” xuất bản năm 1942 viết rằng: “Trước cụ Đào Tấn
có ông Tú tài Nguyễn Văn Diêu, người làng Nhơn Ân,
phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Đònh, tác giả của tuồng “Ngũ
hổ bình Liêu”, tuồng “Võ Tam Tư trảm hồ”...
Quách Tấn - Quách Giao thì nói rằng cụ Tú Diêu
viết các vở: “Ngũ hổ bình Tây”, “Liệu đố”, “Nhất tiễn
song điêu”, “Tinh Trung tứ khúc” (bao gồm: “Trương
Hứa thệ tử thủ cô thành” - “Trần gia cốc” - “Văn Tín
Công (tức Văn Thiên Tường) - “Dương Châu tuẫn quốc”.
Trong số ba tác phẩm của Quỳnh Phủ tiên sinh thì
“Ngũ hổ bình Liêu” là pho tuồng đồ sộ nhất và biểu diễn
liên tục, nhiều nhất. Ảnh hưởng sâu đậm của “Ngũ hổ bình
Liêu” đối với vùng đất Nam Trung bộ từ Huế đến Phú Yên
- Khánh Hòa có thể nói là “gia truyền hộ tụng”. Trong dân
dã mỗi khi có dòp chia tay tiễn bạn là họ cất tiếng hát câu
hát Nam của Công chúa Trại Ba tiễn chồng:
Rượu vơi vơi nâng chuốc chén vàng
Chân rén rén dìu đưa người ngọc
Rén rén dìu đưa người ngọc
Kể khôn cùng chân tóc, kẽ răng
“Ngũ hổ bình Liêu” viết về chuyện xảy ra thời Bắc
Tống (T.Q). Tác phẩm chia thành ba hồi:
Hồi I- Kể chuyện Đòch Thanh - tướng nhà Tống
(dòng dõi Đòch Nhân Kiệt) đi dẹp giặc vùng Tây Liêu,
vì lạc đường nên bò cầm chân ở nước Thợn (tức Đơn
bang, tức nước Khiết Đơn).
Hồi II- Kể chuyện Đòch Thanh rời khỏi nước Thợn đi
đánh giặc Liêu ở phía Tây (nên gọi là Tây Liêu).
Hồi III - Kể chuyện Công chúa Trại Ba (Công chúa
con vua nước Khiết Đơn, vợ trời ban của Đòch Thanh)
đi giải vây cứu chồng ở ải Bạch Hạc (thuộc Tây Liêu).
Không rõ cụ Tú Nhơn Ân viết tác phẩm này dựa
vào Tống sử hay Tống tiểu thuyết mà lại có nhân vật
Lý trưởng của làng xã Việt Nam hay sinh sự xuất hiện
ở đây. Rất rõ ràng đây là hình ảnh những tên Lý trưởng
của xã hội Việt Nam dưới thời phong kiến sắp xuống
dốc, chuyên ăn cắp lúa dành để cứu đói cho dân của
“xã thương” (cái lẫm lúa của xã); xén bớt từng thước
26
Vùn
ruộng công điền phân cấp cho dân; dân có la lối thì hắn
lại già hàm. Hắn tự hào về cuộc sống của mình: Của
tiền phú túc/Ăn uống bó bàng. Dựa vào những nguồn
thu nhập như tiền phạt các cô gái vì nông nổi mà có thai
ngoài giá thú mà hắn gọi là “chửa hoang”; tiền thu lệ phí
các vụ kiện cáo… Hắn “Giận những kẻ ăn to” vì ở vào
danh phận của hắn thì không có điều kiện ăn to, nhưng
ăn vặt và bòn rút, mánh lới thì hắn rất thành thạo và “việc
làng nắm trong tay” cho nên hắn tha hồ hành động.
Một điều hơi lạ nữa là nghe các cụ lớp trước nói rằng
cụ Tú Diêu viết hồi II và hồi III tuồng “Ngũ hổ bình Liêu”
trước hồi I. Sau khi hoàn thành hồi II và hồi III một thời
gian khá lâu rồi mới viết hồi I lắp vào. Trên lòch sử văn học
nghệ thuật của loài người có không ít trường hợp sáng tác
ngược như vậy, song đều có lý do nội tại của nó cả.
Có thể nói gọn rằng ở Ngũ hổ bình Liêu Quỳnh
Phủ tiên sinh diễn tả một cuộc tình chung thủy nằm
ngổn ngang suốt chiều dài cuộc chiến. Một cuộc tình
vượt biên giới các dân tộc, cuộc tình bò nhà đại Tống
lên án nhưng đối với các dân tộc “phiên ngung” thì đó
là điều đáng tôn trọng, miễn là họ sống cao đẹp, chung
thủy. Hơn nữa, tác giả diễn tả cuộc tình bằng văn học
cao, giai điệu đẹp. Chúng ta thử nghe nhân vật Lưu
Khánh (tướng tùy tùng của Đòch Thanh) đang bay ở
lưng chừng trời tâm sự với đời:
Dốc một lòng trung thuận
Lập hai chữ công danh
Tùng Nguyên soái Tây chinh
Mỗ hiệu Phi Sơn Hổ
Như tôi
Mình đã nhuộm thê phong, khổ võ
Chân lại quen hải giác, sơn trình
Vẹt mây cho thấy mặt trời xanh
Gối sương dễ từ nơi ải tía
Nay
Đã chòu lời Nguyên soái
Về thám thính Biện Kinh
Cho hản nỗi dữ lành
Kẻo ôm lòng nghi ngại
Lưu Khánh nói lối tiếp đoạn nữa rồi hát một sắp
hát Nam:
Xông lướt chân trời nhẹ nhẹ
Đoái cung Thiềm điện Quế xa xa
Gấm thêu mấy thức yên hà
Giang sơn một bức trời đà vẽ nên
Rước người hoa chẳng biết tên
Hơi hương xa thổi vào rèm gió trăng
Nghóa là đang bay ở lưng chừng trời vẫn hưởng
được mùi hương của hoa ở mặt đất.
Còn nguyên soái Đòch Thanh thì tự giới thiệu thân
phận mình để cảm động người nghe:
Lỡ bước vì ngươi Đình Quý
Gá duyên tạm với Trại Ba
Trăng hồng lâu giục não lòng ta
Gió cố quốc đưa sầu cho mỗ
Mẹ nương cửa nhọc tình triêu mộ
Con trông mây tủi phận thần hôn
Từ ngày ta sai Lưu Khánh hồi Trường An thám
thính, tự thử chí tư, ý mần răng vắng tin…
Bồi hồi thiên lý quân môn
Trù trướng tam canh hồ sắt
Đã khá rõ, cuộc tình này đối với Đòch Thanh cũng
chưa quen, anh ta yêu tạm, cái chủ nghóa đại Hán còn
nặng nề trong anh ta. Nhưng cứ mỗi giai đoạn ở chiến
trường xảy ra những cảnh éo le, nguy hiểm bao nhiêu
thì cuộc tình bộc lộ sự gắn kết bấy nhiêu. Có những lúc
cuộc tình tưởng chừng tan vỡ nhưng rồi tình yêu được
bồi đắp đầy hơn. Sức cuốn hút đối với người xem xưa
nay nằm ở chỗ này đây. Và tôi có cảm nhận hình như cụ
Tú còn chừa một khoảng trống dành cho người đời sau
kết luận: ai văn minh hơn, nói theo ngôn ngữ ngày nay.
Sinh tiền, trên nhiều bài viết, học giả Quách Tấn
nói rằng: “Để giải bớt ưu sầu cụ (Tú Diêu) soạn tuồng
Ngũ hổ bình Tây, mượn Đòch Thanh thay mình, Trại Ba
công chúa thay người yêu, nói lên những nỗi cay đắng
chất chứa trong lòng, nói lên những niềm giằng co xung
đột giữa Trung, Hiếu và Tình”.
3. So với các tác phẩm khác của cụ Tú như Ngũ
hổ bình Liêu, Võ Tam Tư trảm Nguyệt cô (Chém cáo)
thì vở tuồng Liệu đố có số phận hẩm hiu hơn, trước và
sau cách mạng tháng Tám rất ít diễn. Riêng tôi chưa hề
thấy diễn lần nào.
Khoảng 1984-1985 trong dòp lên nhà lão nghệ só Phan
Hiền (tức Cửu Vò) chơi, tình cờ tôi phát hiện trong kho tuồng
của ông có một bản Hán Nôm tuồng Liệu đố, liền nhờ ông
phiên âm, và có ý đònh xong việc sẽ “chôm” luôn bản Hán
Nôm đó. Không ngờ, đến một năm sau ông mới trao bản
phiên âm cho tôi, rồi sau đó không nhớ thời gian bao lâu
thì nghệ só Phan Hiền qua đời, bản Hán Nôm Liệu đố trôi
dạt vào đâu cũng không biết. Bản phiên âm tôi có trong
tay do lão nghệ só Phan Hiền đọc cho đứa cháu gái học
lớp 4, lớp 5 chép trên tập vở giấy học trò. Mãi đến gần
đây, nhân biên soạn công trình này tôi mới đem ra xem
lại, thấy rất rối rắm, chép câu hường, câu kẽ với câu thơ
nói lối, điệu hát không phân biệt, không biết đâu mà lần.
Nhất là do đọc âm Bình Đònh: phát huy thành phát hi, nguy
hiểm thành nghi hiểm… cho nên nội chuyện hiệu đính âm
tiết cũng đủ bở hơi tai, chưa nói đến việc điển tích chú giải
dài hơn ruột kòch.
Riêng vở Liệu đố có một đặc điểm là lạ, đính trước
kòch bản có một bài “Bình phẩm tuồng Liệu đố”. Phần
đầu dài 36 câu song thất lục bát bình phẩm chung tác
phẩm, kế đó là 11 bài thơ thất ngôn bát cú viết về 8
nhân vật trong vở tuồng. Riêng về nhân vật Kim Liên
chiếm 2 bài, nhân vật Thổ đòa chiếm 3 bài gồm: Thổ đòa
tự xưng, Thổ đòa đi công tác, Thổ đòa nhậu rượu.
Tôi ngờ rằng bài “Bình phẩm tuồng Liệu đố” viết
sau cách mạng tháng Tám, vì dù không biết tên tác giả
nhưng dùng từ ngữ chỉ xuất hiện ở giai đoạn ấy mà thôi.
Ví dụ: bài thơ nói về Thổ đòa đi công tác có những câu:
Bây giờ Thổ đòa nghó càng lo
Công tác Ngọc hoàng đã nấy cho
Châu, Thạch, Ngọc Mai còn lắm chuyện
Bắt hồn Kim Cảnh chửa xong trò...
Điều này phản ánh hiện tượng tuồng Liệu đố ngày
trước cũng được diễn nhiều và được nhiều người ưa
chuộng. Về thể tài, Liệu đố thuộc dòng dân dã như
Trương Ngáo, Trương Đồ Nhục, Nghêu Sò Ốc Hến, Lưu
Bình-Dương Lễ… không cân đai mũ mãng.
Liệu đố viết và diễn về câu chuyện anh thư sinh
Châu Anh ở thôn Bạch Lãnh vừa đỗ cử nhân, cùng với
vợ là Ngọc Mai bàn tính chuyện đến kinh dự thi Hội.
Ngọc Mai không cho chồng đi vì sợ chồng mình:
Những muốn ông tiến só
Những muốn ông Thám Hoa
Về làm quan làm gia
Đặng mà
Kiếm hầu xinh hầu tốt
Hễ đắc lộ lên là sướng lắm, mà không ức sao
được… tới các chốn thò thành kiếm năm bảy đứa hầu áo
đỏ, quần tía, tay đồng, tay vàng…
Nhắm cho phồng mang cóc
Sướng cho nở bắp kèn
Để họ ngồi họ khen
Rằng (ông) nhiều hầu nhiều hạ
Do đó nàng bàn với chồng:
Em nghe rằng…
Khoa này Hội thí
Đòi cả cử nhơn
Sao anh không
Lên tỉnh mà xin một lá đơn
Ở nhà nhủ ba thằng con nít
Em khuyên phu quân
Chớ tham cuộc công danh sừng ếch
Mà vào vòng phú q đầu ruồi
Anh đi xin đơn đi
Tốn ít nhiều của có em lo
Mẹo tháo trút coi theo các thẫy…
Thế đủ biết vợ chồng Châu Anh - Ngọc Mai chưa có
con, nhưng gia tư có của ăn của để. Cuối cùng không
ngăn được Châu Anh đi thi Hội, nàng buộc:
Phải nghe em dặn:
Ra đường mà thấy mấy cái đứa
Gò má trứng gà
Chân mày vòng nguyệt
Móng tay ngòi viết
Con mắt bồ câu
Ấy là vò đen đầu
Nó làm cho rốc thòt
Chẳng hư nhiều, hư ít
Cũng nát cửa nát nhà
Đến chừng đổi cật ra mê thì mình chòu, chớ…
Phù thủy đâu thường gà
Thôi đừng
Đem voi về phá mả đó anh à!
Vùn 27
Đàn bà như cô Ngọc Mai đáo để thật! “Vò đen đầu” là
vò gì tôi nghó mãi không ra. Có thể là q đen đầu chăng?
Châu Anh cùng Hề đồng trên đường đến kinh kỳ thì
gặp bọn tướng cướp Hắc Sát, Bạch Hoạch dẫn bọn lâu
la đón đường cướp của. Chúng đánh đuổi thầy trò Châu
Anh chạy hụt hơi, may nhờ có cha con cụ Thạch Nghò và
Kim Liên đánh bọn cướp cứu cho. Trong lúc Thạch Nghò
và Kim Liên đánh cướp ác liệt thì thầy trò Châu Anh chạy
vào nhà Thạch Nghò trốn (chuyện xảy ra gần nhà Thạch
Nghò) riêng Châu Anh chui thẳng vào buồng ngủ của cô
Kim Liên mà núp trốn.
Vì vậy mà khi tan cuộc đánh cứu mới xảy ra chuyện
líu lăng tiếp theo. Số là cách đó không lâu cô Kim Liên
nằm chiêm bao thấy một con cọp chạy vào buồng ngủ
của mình, nàng sợ quá đánh thức cha dậy nhờ đoán xem
là điềm lành hay dữ. Cha nàng ông Thạch Nghò, bằng các
chiêm nghiệm xưa nay đoán đònh là điềm lành, nàng sẽ
gặp đức ông chồng là trang hào kiệt. Nay gặp Châu Anh,
hỏi kỹ nguyên do biết được Châu Anh đã đậu cử nhân
khoa Nhâm Dần, tức năm con cọp, cho thế làm lương
duyên trời đònh nàng xin kết nghóa Châu Trần mặc dù
Châu Anh nói thật mình đã có vợ nhà.
Cuối cùng Châu Anh đến kinh kỳ dự Hội thí và có
tới hai vợ thuận hòa, Kim Liên sinh hạ được một trai,
đương nhiên họ phải nếm trải một quá trình không hề
đơn giản. Tác giả phải cậy đến uy lực của Thổ đòa đưa
linh hồn bà Kim Cảnh (mẹ Ngọc Mai) từ cõi âm về cõi
dương mới giải tỏa được nỗi ngờ vực thâm căn cố đế
của Ngọc Mai.
Phương thang của Quỳnh Phủ tiên sinh chữa cái
bệnh kinh niên này là kêu gọi lương tri, lương năng
của con người thông cảm, chia sẻ cho nhau những vui
buồn; nhường nhòn thương yêu nhau những được mất
mới giải quyết nổi một vấn đề xã hội thường xảy ra mà
không ai muốn cả. Điều quan trọng trong phương thang
là vò thuốc sống thật, là sự thật. Biết được sự thật thì
con người có thể sướng khổ sống bên nhau.
4. Vở Võ Tam Tư trảm Nguyệt cô, ông Đoàn Nồng
gọi là Võ Tam Tư trảm hồ, ông Quách Tấn gọi là Cổ
miếu vãn ca, các nghệ nhân thường gọi ngắn gọn cho
dễ nghe là Tiết Giao đoạt ngọc, hay Hồ Nguyệt cô mất
ngọc, hoặc Chém cáo. Trong số các tên gọi trên đây
thì tên Cổ miếu vãn ca, từ ngữ liên quan đến thổ ngữ
Bình Đònh, nên nếu không giải thích cặn kẽ thì không
dễ hiểu, ngay cả người Bình Đònh.
“Vãn ca” nghóa là điệu hát Nam. “Cổ miếu vãn ca”
nghóa là điệu hát Nam nơi miếu cổ. Ở Bình Đònh vì là kinh
đô của hát Bội nên đám thanh niên ham chơi ngày xưa
thường mượn tên làn điệu hát Bội làm từ lóng, truyền
đạt cho nhau, người ngoài cuộc nghe không hiểu nói gì.
Ví dụ đôi trai gái đang tán tỉnh thì họ nói chúng đang hát
khách. Còn họ nói chúng đang hát Nam thì có nghóa là
đang cùng nhau âu yếm. Nói trắng ra Cổ miếu vãn ca
có nghóa là cuộc tình nơi miếu cổ. Chung quanh việc
xác đònh tác giả của tác phẩm này có hai luồng ý kiến:
28
Vùn
- Quách Tấn cho rằng tác phẩm này là của Đào
Tấn, do “nhóm mộ điệu” như Mai Cao Lương, Đoàn
Phong… ở Tây Sơn nói vậy.
- Đoàn Nồng qua sách Sự tích và nghệ thuật hát Bộ
xuất bản năm 1942 viết: “Theo dã sử, theo tán từ của cụ
Hà Đình để lại về tiểu sử của cụ Đào Tấn, ta biết rằng
trước cụ Đào Tấn có ông tú tài Nguyễn Văn Diêu, người
làng Nhơn Ân, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Đònh, tác giả của
tuồng “Ngũ hổ bình Liêu”, tuồng “Võ Tam Tư trảm hồ”...
Cụ Phạm Phú Tiết thì viết trong sách “Chầu đôi”
rằng: “Trước Đào Tấn: 1- Nguyễn Diêu, tú tài, làng
Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Đònh (thầy học
của Đào Tấn) viết các vở: Văn vệ quốc, Võ Tam Tư
trảm Nguyệt cô, Liệu đố, Ngũ hổ bình Liêu”.
Tuồng “Võ Tam Tư trảm Nguyệt cô” miêu tả câu
chuyện nửa thực nửa hư trong tiểu thuyết thời tàn
Đường, tức là thời Võ Hậu (Võ Tắc Thiên) nắm quyền,
lập ra nhà Chu. Võ Tam Tư là cháu gọi bằng cô của Võ
Tắc Thiên, làm nguyên soái, thống lónh binh quyền. Các
công thần nhà Đường lập căn cứ ở Cửu Diệm sơn, có
Tiết Cương đã già mà còn dũng lực, có Từ Mỹ Tổ làm
quân sư, “vận trù duy ốc chi trung, quyết thắng thiên lý
chi ngoại”, nhất là hậu duệ của dòng họ Tiết, như Tiết
Giao… vẫn tiếp tục nối nghiệp ông cha chiến đấu chống
lại Võ Tắc Thiên hòng khôi phục nhà Đường.
Hồ Nguyệt cô là nhân vật trung tâm, nhân vật chủ
đề của tác phẩm. Gọi là Hồ Nguyệt cô vì nàng vốn là
một con cáo, nhờ lên tiên, tu luyện lâu năm có được
ngọc người mà được làm người.
Lúc rời cõi tiên xuống trần để cứu đời, Tiên Mẫu có
dặn: hễ gặp chàng trai nào mặt trắng hoặc mặt đỏ thì
kết duyên vì đó là những con người tốt. Lần đầu giao
tiếp với cõi trần nàng gặp Võ Tam Tư với gương mặt
nửa trắng nửa đỏ ngỡ là người tốt, nàng vớ ngay làm
chồng. Cuối cùng chính Võ Tam Tư là kẻ giết nàng.
Kòch bắt đầu từ Võ Tam Tư ra trận bò thất bại, chờ
viện binh của vợ là Nguyệt cô cứu viện trong khí thế rất
chi hăng hái:
Mã phùng Bá Nhạc
Hồng ngộ thuận phong
Nguyện triển chí anh hùng
Cho biết tài nhi nữ
Nàng ra quân đánh trận đầu thắng phe Cửu Diệm
sơn, bắt sống tướng Trònh Bửu, gây cho phe Cửu Diệm
sơn mà đứng đầu là Nguyên soái Tiết Cương bò lao
đao, vì mất một danh tướng rường cột. Tiết Cương đòi
ra trận, Từ Mỹ Tổ không cho:
Lửa tàn đã lạnh hơi lò
Nhà ngã lấy ai làm cột?
Thế chẳng đặng đừng, phải cử một tướng trẻ chưa
có kinh nghiệm chiến trường ra quân tiếp chiến với
Nguyệt cô. Theo quân sư Từ Mỹ Tổ phân tích:
Tài lưu mà đòch với nữ lưu
Phúc tướng cũng hơn trí tướng
Gặp phải một tướng trẻ non tơ, mặt trắng màu phấn
hồng liền nhớ đến lời thầy dạy, nàng mê say đắm đuối,
bởi vì:
Cái người mần răng mà…
Cất con vát như bông bay lá rụng
Giục vó lừa dường mưa tạt mây tuôn
Tôi nghó như tôi chừ
Vào vườn đào (thì) hồn điệp phải điên cuồng
Mà tôi khen cho đó
Gặp tin bướm (sao) phách hoa còn lơ lửng
Đó là những ý nghó trong đầu nàng, chứ bên ngoài
thì nàng gây sốc với Tiết Giao:
Ớ ông Đường trào công tử! Tôi hỏi đây này…
Danh thùy tánh thậm?
Niên kỷ nhược hà?
Chốn sa trường sao dám dương qua
Hay là
Trong Đường thất đã hết tay cất vát (rồi à?)
Tiết Giao trả lời rằng:
Ủa lạ, cha chả… coi nỗi
Trong trận tám (còn) buông lời diễu cợt
Giữa quân ba (sao) không biết thẹn thuồng
Ớ con kia! Mi đã hỏi tên ta thì ta nói cho mà nghe
Ngã Tiết Giao thân đổng binh nhung
Phụng thiên thảo tiểu trừ nghòch tặc (nhà bay đây bay)
Thế là cuộc chiến kỳ lạ bắt đầu. Nguyệt cô giả vờ
bại, Tiết Giao tất phải đuổi theo tiêu diệt. Nguyệt cô
nghoảnh lại cười thầm:
Nực cười mặt xuân xanh
Mà lầm tay má phấn
Nhưng Tiết Giao đang lo làm nhiệm vụ cứu nước,
thì giờ đâu mà ghẹo gái mà nàng lại trách anh ta:
Trách ai tình khéo vô tình
Gẫm thiếp ý nên hữu ý
Sứ điệp đã lẳng lơ thế ấy
Tin ong còn lạt lẽo nỗi này
Hễ làm người với người ta
Có trải thú mưa mây
Mới biết mùi trăng gió
Cái người làm sao tôi nói không nghe…
Còn hung hăng sức đó
Chẳng đoái chút tình riêng
Nếu mà
Để cho thục nữ lòng phiền
Thời cũng trượng phu sức mệt
Tiết Giao tỏ thái độ cực đoan rằng:
Miệng buông lời phong nguyệt
Mặt chẳng biết hổ han
Dẫu líu lo dụ mỗ trăm đàng
Cũng sanh tử với nàng một trận
Đánh cho phai má phấn
Đánh cho lợt môi son
Để chi thói thuần bôn
Để chi loài uế đức
Thế là Nguyệt cô nàng nổi giận:
Nghó đà nên tức
Nói chẳng biết nghe
Thời đã
Chỉ nước non đây quyết hẹn thề
Răng mà
Dạ vàng đá đó càng bền chặt
Đó là tại chàng chớ chẳng phải tại thiếp đó nghe!
Chi nữa…
Triển ngô diệu thuật
Khán ngã kỳ tài
Nàng phù phép làm cho Tiết Giao tâm hồn bất đònh:
Dưới ngựa tỉnh mê mê tỉnh
Trong trường không sắc sắc không
Hồn phất phơ dường tới Vu phong
Phách thơ thẩn như qua bích thủy
Cảnh khác miền thành thò
Lại gặp trận võ vân
Chốn sa trường lờ lạt bóng trăng
Nơi cổ miếu lại qua hơi gió
Kết quả của phép màu làm cho Tiết Giao không
còn sức tự chủ thì Nguyệt cô hành lạc:
Sao còn nằm đó
Mà chẳng đuổi đây?
Coi cái mặt kìa! Chi nữa…
Mặc tình ta mưa gió gió mưa
Dẫu ý thiếp nguyệt hoa hoa nguyệt
(Nguyệt cô ôm Tiết Giao vào lòng hôn hít)
Hết khoe tài oanh liệt
Đã vào cuộc lao lung (thời đã rồi)
Thử thời bất sát, cánh đãi hà thời?
Muốn ra tay (cho) vắn số anh hùng (đó chúc)
Nhưng mà
Còn nghó lại chút tình ân ái (nên ta không nỡ giết)
Chi nữa
Chốn viên môn trở lại
Chỉ cựu lộ huy tiên
Phen này
Cưu gọi loan, mặc thiếp đảo điên
Cứng với rắn dễ ai tỏ biết (?)
Nhưng mà không đặng, chừ tôi về không mần ri
chắc không xong, thời ta cũng…
Muốn lộn lạo trong trường hư thiệt (lắm chúc)
Nhưng mà e
Khó phôi pha những tiếng thò phi
Vả tôi đi đánh giặc mà chưa trảm đắc nhất tướng,
thối đắc nhất binh,
nữa về, phu quân tôi hỏi thời tương hà vi tín, tôi biết
nói sao đây!
Thôi thôi…
Đoạn
chút tình đành phụ với ai kia
Lấy thủ cấp đặng làm tin cùng đó
(Giơ gươm muốn chém, lại thôi)
Cái người làm răng mà khó giết…cha chả
Đoạn tình đi cũng khó
Đưa gươm xuống chẳng đành
Vùn 29
Nhưng mà người ta đã chết rồi, có sống lại được
đâu mà lo
Đã ngẩn ngơ một dự tuổi xanh
Khôn gắng gượng ba phân mạng bạc
Thôi, ở lại đó để ta đi về
Như vậy đó, sau khi thỏa mãn công việc hành lạc,
thỏa mãn dục vọng của nàng thì nàng tính giết Tiết
Giao. Cũng phải ghi nhận chút tình luyến tiếc của nàng,
chứ không thì tác giả không lấy gì viết tiếp đoạn sau là
nhờ Lý Tònh tiên ông đến cứu, Tiết Giao sống lại. Tiết
Giao lại khiêu chiến làm cho vợ chồng Võ Tam Tư xục
rục, rạn nứt. Nguyệt cô lại ra trận tiếp chiến với Tiết
Giao. Lần này thì Tiết Giao chủ động đáp ứng đòi hỏi
của nàng và nàng bò mất ngọc.
Tác giả miêu tả cuộc làm tình:
Nguyệt cô:
Đó đã đem lòng ghẹo nguyệt
Đây đâu có dạ ngăn ong
Mặc ý tình lang…
Phân lưu bất cấm thủy tây đông
Tònh túc hoàn giao oanh thượng hạ
(Hai người ôm nhau… đại loạn… Nguyệt cô thổ ngọc,
Tiết Giao giơ tay hứng lấy)
Nguyệt cô cất tiếng hát run sợ:
Thất sắc, thất sắc
Kinh hồn, kinh hồn
Trăm lạy tình lang trả lại cho em nào!
Uổng trăm năm thâu góp báu càn khôn
Sẩy một phút tan tành trường phong nguyệt
Đã với đó chiêu phong lộng điệp
Xin thương đây phách quế hồn hoa
Dấu xưa dầu nhuần gót hương khuê
Báu cũ mới nhờ ơn hiệp phố
Đoạt ngọc của Nguyệt cô để khôi phục cơ đồ nhà
Đường đối với Tiết Giao đó là tính nguyên tắc, không thể
làm khác được. Nguyệt cô hối hận quá muộn màng, nàng
lủi thủi rời khỏi cổ miếu về viên môn trong tâm trạng:
Hơi gió xuân man mác chốn u khuê
Bóng trăng xế mơ màng nơi bạch lãnh
Ôi!
Gió tỏa phất phơ vườn hạnh
Sương rây lác đác cành dương
Đã phủi rồi son phấn một trường
Đành trở lại nước non ngàn dặm
Rồi nàng hát Nam ai, một điệu Nam thống thiết thể
hiện sự ân hận quá muộn màng!
Ngàn dặm, thẹn cùng non nước!
Gẫm mơ màng thân trước, thân sau?
Câu Nam này tác giả miêu tả tận cùng cái đáy tâm
hồn của con người, rằng kiếp trước là con cáo nhờ tu
luyện lâu năm mà được làm người, bây giờ đã xảy ra
như thế này, rồi từ đây về sau sẽ như thế nào làm sao
mà biết được!
Nàng hát tiếp:
Dặm hòe, một bước một đau
30
Vùn
Nhìn xem cảnh cũ ra màu dở dang
Ôm lòng hổ với phu lang
Non sông lỗi hẹn cùng chàng từ đây!!
5. Ngoài ba vở tuồng nói trên, cụ Tú Diêu có để lại một
số văn thơ khá đặc biệt như thơ cầu tiên, tuồng Chèo Bả
Trạo mà dân làng Nhơn Ân đến bây giờ còn truyền tụng.
Điều này tìm không ra ở các cây bút khác cùng thời.
Riêng tuồng Chèo Bả Trạo rất có thể do cụ Tú
Diêu viết giúp dân làng Nhơn Ân (xã Phước Thuận) lúc
ban đầu. Nhưng lâu ngày, dần dần càng về sau càng
tam sao thất bản, do dân làng chài sửa văn cụ Tú như
cá kho chung với rạm, có đoạn văn hay chen lẫn với
nhiều câu ngớ ngẩn, lủng củng, không biết đâu mà lần.
Còn thơ cầu tiên thì do học giả Đặng Quý Đòch mới
sưu tầm, in trong sách “Chuyện cũ kẻ só Bình Đònh” xuất
bản năm 2009. Gọi là thơ cầu tiên, thực chất là những
bài “cầu cơ” bằng văn vần lục bát nhằm nói chuyện với
người ở cõi âm, như văn tế cô hồn của Nguyễn Du vậy.
Trong số thơ đích thực còn lại của cụ Tú có hai bài
“Chán đời”, hai bài “An phận” và một bài “Con muỗi”.
Đáng chú ý nhất là bài “Hàn só vònh” dài đến 90 câu,
viết theo thể phú.
Chúng ta hãy nghe một đoạn của bài phú này:
“Liếc mắt thấy thế tình đa điên đảo
Lóng tai nghe thời sự hóa dở dang
Đương lúc thương, yêu dấu như vàng, những cô
bác, những anh em đều trân trọng con nhà Hàn, Mặc
Đến khi ghét, phui pha hình sắc, nào xóm làng, nào
bầu bạn, xúm chê bai cái đạo tư văn
Lòng cực lòng khó nỗi cắn răng
Phận hổ phận khôn bề mở miệng
Trách là trách vận thời ôi khéo khiến
Buồn là buồn căn số hỡi sao vầy
Đã thẹn thuồng không bằng loại cỏ cây
Thêm tủi hổ khác gì thân bèo bọt…”
Rồi cụ Tú đi đến kết luận:
“Lưới trời giăng lộng lộng trước sau, tuy thưa thớt
mảy lông không lọt
Mắt thần ngó ngời ngời như chớp, thiệt rạng soi nhà
tối không lầm
Có chữ rằng “lợi trọng hại thâm”, khuyên ai chớ bần
sơ phú hậu
Cơ báo ứng lẽ trời còn giấu, mới hản rằng họa phúc
vô môn
Cuộc dinh hư dưới thế khôn phân, quả thiệt lúc thời
lai vò đáo
Lời ngạn ngữ đặt chơi lếu láo, soi lòng nho gặp lúc
thừa nhàn
Dẫu dở hay mặc ý sửa sang, chữ thô lậu dám đâu
tự đắc.”
Quả thật, những lời khuyên chí tình của cụ Tú Diêu
không chỉ đối với các hàn só làng nho lúc ấy mà mãi
đến các tầng lớp người trong cuộc sống bây giờ và mai
sau vẫn có thể soi chung. Vì rằng đây là cẩm nang xử
thế không bao giờ lỗi thời.
Dưới triều Nguyễn, dường như việc chống tham nhũng là một công việc đã được
một số vò vua, quan thanh liêm đặc biệt chú trọng. Điển hình là việc chống tham
nhũng và những đóng góp của vua Minh Mệnh, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ...
Những bài học về chống tham nhũng từ thời đó vẫn còn ý nghóa đến hôm nay.
Vua
Minh Mệnh
với cuộc cải cách hành chính, chống tham nhũng
để canh tân đất nước
PGS.TS. NGUYỄn MInh TƯỜnG
S
Bên dưới cấp tỉnh, Minh Mệnh
au khi chiếm được Thăng
cũ
n
g
chú ý tới việc đề ra những
Long, xác lập chính quyền
quy
đònh
mới nhằm chấn chỉnh
trên toàn cõi Việt Nam thời
việ
c
cai
trò
của các cấp Tri phủ
bấy giờ, các vua đầu triều Nguyễn,
và
Tri
huyệ
n
. Dưới thời quân chủ,
nhất là Minh Mệnh (1820-1841)
Tri
phủ
,
Tri
huyện được coi như
đã tiến hành công cuộc cải cách
nhữ
n
g
bậ
c
“Dâ
n chi phụ mẫu”
hành chính nhằm tăng cường
(cha mẹ của dân), vì họ là những
chính quyền trung ương tập quyền
viên quan trực tiếp cai trò dân.
và củng cố nền thống nhất quốc
Một trong những biểu hiện rõ
gia. Cuộc cải cách hành chính
nét của việc cải cách nền hành
được tiến thành dưới triều Minh
chính dưới triều Minh Mệnh so với
Mệnh khá toàn diện, từ trung ương
các triều đại trước, đó là sự củng
đến các đòa phương.
cố và tăng cường chế độ giám sát
Ở trung ương, Minh Mệnh đầu
toàn bộ nền hành chính quốc gia.
tiên tiến hành cải tổ, đổi mới và
Khi chế độ trung ương tập quyền
thành lập các cơ quan văn phòng
được tăng cường, thì chế độ giám
như: Nội các (năm Kỷ Sửu, 1829),
sát càng được củng cố. Thực tế
cơ mật viện (năm Giáp Ngọ,
cho thấy muốn bộ máy hành chính
1834)…, sau đó, ông tiếp tục hoàn
vận hành tốt, nhất là để loại trừ tệ
thiện Lục bộ (Lại - Hộ - Lễ - BinhVua Minh Mệnh
nạn tham nhũng, hối lộ thì phải coi
Hình - Công); Lục tự (Đại Lý tự).
trọng chế độ giám sát. Có thể coi việc thành lập Đô sát
Ngoài ra, Minh Mệnh còn củng cố và tăng cường Hàn
viện và đề cao vai trò của Ngôn quan (tức quan Ngự
Lâm viện, Quốc sử quán, Thông chính sứ ty, Bưu chính
sử) trong việc giám sát nền hành chính quốc gia là một
ty…
bước tiến quan trọng trong việc sử dụng học vấn vào
Ở đòa phương, Minh Mệnh bãi bỏ hai đơn vò hành
lónh vực cai trò dưới triều Minh Mệnh.
chính đặc biệt được thiết lập dưới triều Gia Long là Bắc
Có thể nói, việc đề cao tinh thần pháp trò là điểm
Thành và Gia Đònh thành (còn gọi là Nam Thành). Vào
tựa quan trọng để Minh Mệnh tiến hành thành công
hai năm 1831, 1832, Minh Mệnh chia cả nước thành 30
cuộc cải cách hành chính dưới thời gian trò vì của mình.
tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên (tương đương với tỉnh, trong
Một quy luật dễ nhận thấy là, muốn chống tham nhũng
đó có kinh đô Phú Xuân). Ở tỉnh lớn như Thanh Hoá
triệt để, từ trên xuống dưới đều phải sống và làm việc
hoặc liên tỉnh quan trọng như: Bình - Trò (Quảng Bình
dựa theo pháp luật. Lòch sử đã ghi nhận Minh Mệnh là
- Quảng Trò), Hà - Ninh (Hà Nội - Ninh Bình)…, Minh
một trong những ông vua của Việt Nam rất đề cao pháp
Mệnh cho đặt 1 chức Tổng đốc, hàm Chánh nhò phẩm
luật và tự mình cũng chấp hành nghiêm luật pháp.
(ngang cấp với Thượng thư Lục bộ tại triều đình). Ngoài
Ngay khi mới lên ngôi báu, vào tháng 5 năm Canh
ra ở các liên tỉnh kém quan trọng hơn như: Lạng - Bằng
Thìn (tháng 6 năm 1820), Minh Mệnh cho biết cần phải
(Lạng Sơn - Cao Bằng), Thuận - Khánh (Khánh Hoà)…
sửa lại bộ “Luật Gia Long” (tức Hoàng Việt luật lệ) được
chỉ đặt chức Tuần phủ, hàm Tổng nhò phẩm (ngang cấp
ban bố năm 1815, cho sát hợp với tình hình hiện tại: “Hình
với Tham tri sáu bộ).
Vùn Hiïën 31
viïåt Nam
để đe răn kẻ gian, luật thì theo ý đời xưa, mà lệ thì lựa
cho hợp sự nghi đời nay, thay đổi biến thông chứ không
thể gắn chặt mãi được… Trẫm vâng nhận cơ nghiệp lớn,
trau dồi điển chương cũ, càng nghó rằng cải cách luật là
để giúp việc trò, điều mục hoặc giả còn thiếu, hữu ty sai
về nhẹ nặng, thì dân biết đặt chân vào đâu. Các khanh
nên kêu cứu luật cũ, bàn kỹ những điều nên theo nên
đổi, nên bớt nên thêm, trẫm sẽ xét đònh thi hành”.
Đối với Minh Mệnh, mọi người, kể từ hoàng tử, hoàng
thân xuống đến thứ dân, binh lính đều bình đẳng trước
pháp luật. Năm Canh Dần - 1830, Đề đốc Kinh thành
Huế là Nguyễn Văn Phượng cầm súng bắn, bắn lầm
phải một con bò đen, con bò chạy ra. Phượng cầm súng
bắn, bắn lầm một người lính, làm người đó bò thương.
Minh Mệnh biết chuyện, dụ bộ Hình: “Pháp luật nghiêm
ngặt có cho như thế đâu. Hơn nữa, Phượng là quan võ chức
to, đánh gươm bắn súng vốn là nghề nghiệp của mình, lại
bắn lầm phải lính. Thử nghó xem, quan võ bất tài như thế,
còn dùng làm việc gì được, vậy cách chức giao bộ bàn.
Người lính bò thương thì bắt bảo cô”. Ngay cả những viên
quan đứng đầu tỉnh mắc tội, Minh Mệnh cũng thẳng tay
trừng trò. Năm Giáp Ngọ - 1834, phát hiện vụ án Tuần
phủ tỉnh Hà Tiên là Trònh Đường tham tới 1.000 quan
tiền. Trước kia khi quân Xiêm tiến sát tỉnh lỵ Hà Tiên,
Trònh Đường lấy giấu 1.000 quan tiền công ở kho đem
xuống thuyền chạy trốn, nhưng bò nguyên Án sát Đặng
Văn Nguyên phát giác, mới chỉ đích danh. Minh Mệnh
biết chuyện, rất tức giận bèn tuyên dụ: “Trònh Đường
trước đây có lỗi đã được gạt bỏ vết xấu mà lại dùng. Để
Hà Tiên thất thủ, tội đã khó tha thứ, lại còn dám nhân lúc
ấy, lấy cắp tiền công đến 1.000 quan vội bỏ thành trì đất
đai mà chạy! Bản tâm của y chính là nhằm lợi dụng lúc
có giặc cướp để làm việc gian tham đó, thực đáng ghét.
Nay lập tức cách chức, cho xích lại, giao viên tiếp biện
là Trần Chấn xét rõ, tâu lên. Còn Đặng Văn Nguyên thì
phải triệt lưu chờ đối chất”. Khi thành án, Trònh Đường
bò xử tội giảo quyết (thắt cổ chết ngay), còn Đặng Văn
Nguyên bò khép vào tội trảm giam hậu (tội chém đầu
nhưng giam lại, đợi xét sau).
Minh Mệnh là một ông vua luôn thưởng, phạt hết
sức nghiêm minh người có công, cho dù người đó là ai,
Minh Mệnh sẵn sàng ban thưởng mà thường là thưởng
khá rộng rãi. Ngược lại, đối với tội lỗi của quan lại, kể cả
những viên Thượng thư thân cận, Minh Mệnh cũng xử
phạt rất nặng, nhiều khi vượt khỏi cả luật pháp. Trường
hợp ông xử phạt Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực là
một ví dụ điển hình. Năm Bính Thân - 1836, Phan Huy
Thực mắc lỗi là không thường xuyên kiểm tra, đôn đốc
người dưới quyền trong việc giữ gìn, bảo quản đồ thờ
trong nhà Thế Miếu, dẫn tới tình trạng bọn gian thủ
đánh tráo từ vàng thật thành vàng giả. Minh Mệnh đã ra
lệnh cách chức Thượng thư bộ Lễ của Phan Huy Thực.
Đặc biệt với các tội tham những, đòi ăn hối lộ và
biển thủ công quỹ, Minh Mệnh trò tội còn nặng hơn
nhiều, thường áp dụng nguyên tắc: “Sát nhất nhân, vạn
nhân cụ” (giết một người để muôn người sợ mà tránh).
32
Vùn
Xin dẫn ra đây hai sự kiện điển hình: Năm Nhâm Ngọ
- 1822, hai đòa phương Quảng Đức và Quảng Trò gạo
đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán cho
dân, người lính coi kho là Đặng Văn Khuê đóng thóc
để phát mỗi hộc kém vài cáp. Minh Mệnh liền sai chém
Khuê. Năm Bính Tuất - 1826, người làm việc ở kho kinh
là Trần Công Trung, đòi ăn tiền làm khó dễ, việc phát
giác, Minh Mệnh giao bộ Hình tra xét. Án xong, ông nói:
“Vụ án Đặng Văn Khuê năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đã
theo luật nghiêm trò, thế mà bọn Trung còn dám công
nhiên làm bậy, không kiêng sợ gì, tuy tang vật không
quá 10 lạng, nhưng luật quý ở chỗ làm cho lòng người sợ
hãi, nếu nhu nhơ để sống một mạng thì e sau này những
kẻ khinh nhờn pháp luật sẽ nhiều ra, không thể giết hết
được” và bèn sai chém Trung ở chợ Đông.
Là người đứng đầu triều đình, Minh Mệnh luôn luôn
làm gương trong việc “sống và làm” theo pháp luật. Ông
từng nói với các cận thần: “Ta từ khi lên ngôi đến nay,
dùng người làm việc, giữ một mực công bằng, dẫu có kẻ
tôi con thân tín từ trước cũng chỉ dùng theo tài năng chứ
không tư vò một người nào. Kẻ nào có tội cũng theo pháp
luật trừng trò, chưa từng gượng nhẹ bao giờ”. Đúng như
ông đánh giá về mình, cách dùng người của Minh Mệnh
nhiều mặt căn cứ trên tài năng. Nếu là người có tài, cho
dù con cháu những người đã từng làm quan với Tây
Sơn, như trường hợp dòng Phan Huy ở Sài Sơn (nay
thuộc huyện Quốc Oai), Minh Mệnh vẫn trọng dụng.
Phan Huy Thực sau đó được thăng tới chức Thượng thư
bộ Lễ. Con ông là Phạm Huy Vònh bắt đầu ra làm quan
vào thời kỳ này và tới triều Tự Đức cũng lên tới chức
Thượng thư bộ Hình. Còn những người không có năng
lực, mặc dù là người thân cận, gần gũi, hầu hạ khi ông
còn ở nơi “tiềm để”, Minh Mệnh cũng không trọng dụng
hoặc tha thứ khi có lỗi lầm...
Để làm gương trong việc đề cao pháp luật cho mọi
người, Minh Mệnh không chỉ xử nghiêm đối với người
ngoài, mà còn xử rất nghiêm khắc với cả con của mình.
Sử triều Nguyễn cho biết vào tháng 1 năm Minh Mệnh
thứ 16 (Ất Mùi, 1835), Hoàng tử Miên Phú, đêm đến
cùng với bọn phủ thuộc là Hoàng Văn Vân, Bùi Văn
Nghò và Bùi Văn Quế phi ngựa ở phía tả ngoài hoàng
thành. Miên Phú về trước, mấy người phủ thuộc còn
cho ngựa chạy thi. Có một bà già đi bên đường tránh
không kòp, bò ngựa của Vân xéo chết. Minh Mệnh biết
tin đó, bèn sai ngay Tôn nhân phủ Tôn Thất Bằng,
Cơ mật viện Trường Đăng Quế và Phan Bá Đạt, Hình
bộ Nguyễn Công Hoán và Nội các Hoàng Quýnh hội
đồng điều tra xét hỏi. Khi thành án, Minh Mệnh phê
chuẩn Miên Phú bò tước mũ áo, cách mất lương bổng
hàng năm, đóng cửa ở nhà riêng để tự xét mình sửa lỗi,
không cho ra ngoài một bước, không được lại dựa vào
hàng các hàng tử, chỉ gọi tên là Phú mà thôi. Hoàng
Văn Vân bò chém ngay, Bùi Văn Nghò, Bùi Văn Quế
đều bò phát vãng sung quân. Khi đến chỗ phát phối,
đánh thêm 100 hồng côn. Hơn thế nữa, Minh Mệnh còn
bắt tên Phú phải đền cho người chết 200 lạng bạc, và
ông dụ “Để giữ công bằng, quyết không có lý nghò thân,
nghò quý. Phàm các em và con cháu chớ nên coi khinh,
lấy thân để thử pháp luật. Gương sáng chẳng xa, ai nấy
phải kính cẩn đó”.
Dưới triều Nguyễn, bên cạnh vua Minh Mệnh, có
không ít những vò quan thanh liêm, luôn luôn tận tình
chăm sóc đến đời sống của nhân dân lao động và kiên
quyết trừng trò mọi hành vi tham nhũng của cường hào
và quan lại. Tiêu biểu trong số những vò quan ấy, phải
kể đến Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) - một vò quan thanh
liêm, suốt đời tận t vì dân, vì nước.
Đặng Huy Trứ luôn luôn thấm nhuần tư tưởng lấy
dân làm gốc của nước, và thừa hành phương châm xử
thế “Mọi sự đều vì dân”:
Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó,
Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn.
Đặng Huy Trứ cho rằng trong 3 chữ răn mình của
người làm quan “Só hoạn tâm quy” là Thanh (Trong sạch)
- Thận (Cẩn thận) - Cần (Siêng năng), thì chữ được nêu
lên đầu tiên là Thanh. Theo ông, “Thanh” là liêm khiết
giữ mình, không lấy của ai mảy may. Ông cũng cho rằng:
Những người làm quan trong hoàn cảnh như ngày nay,
tức vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, mà giữ cho được
thanh liêm hoàn toàn thì khó lắm.
Hơn ai hết, Đặng Huy Trứ nhận ra một nguy cơ đi
kèm với nguy cơ ngoại xâm là nạn tham nhũng. Ông đã
thẳng thắn vạch mặt những tên tham quan cho dù đó là
cấp trên, là bạn đồng liêu, hay là có quan hệ thân thích
với mình. Đặng Huy Trứ đã từng vạch tội viên Tham tri
bộ Binh là Nguyễn Luận vì tội nhận tiền đút lót, cho dù
Luận là quan trên, đồng thời là đồng hương và là bà
con xa của ông. Vì việc đó, mà ông bò điều chuyển đến
ba lần liền trong 6 tháng. Cuộc đời làm quan thanh liêm
chính trực 15 năm của ông đầy thăng trầm.
Để bảo vệ đức thanh liêm, chống tệ nạn tham
nhũng trong hàng ngũ quan lại, Đặng Huy Trứ đã biên
soạn bộ “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu
của việc nhận và không nhận). Trong tập sách này,
ông đề ra 104 nguyên tắc không thể nhận (từ) và chỉ
có 5 nguyên tắc có thể nhận (thụ). Đặng Huy Trứ đã đề
cập tới mọi mặt: kinh tế, chính trí, quân sự, văn hoá…có
liên quan đến nạn tham nhũng. Đặc biệt, ông đã dành
phần lớn dung lượng sách để nói đến nạn tham nhũng
trong lónh vực chính trò. Theo ông, tham nhũng trong
chính trò, được ẩn giấu, ng trang dưới nhiều thủ đoạn
tinh vi, đòi hỏi người làm quan phải luôn nâng cao cảnh
giác. Tham nhũng đã cắm rễ và toả nhánh đi khắp mọi
mặt của xã hội phong kiến rệu rã lúc bấy giờ: con buôn
hối lộ để được thầu thuốc phiện; thượng nhân hối lộ để
tiêu thụ được hàng; người dâng đò tế tự không chu đáo,
hối lộ để xin khỏi bò bác bỏ; hương thôn tế thần, hối lộ
quan trên để xin được mở hội hát xướng; cô đầu hối lộ
cầu được yên bề sinh sống, kẻ gá bạc hối lộ cầu được
nới lỏng lệnh cấm… Những việc đó diễn ra hàng ngày,
nếu không giữ vững phẩm chất đạo đức, thì người làm
quan dễ bò lung lạc. Đề ra các trường hợp ấy, Đặng
Huy Trứ muốn lường trước được các tình huống có thể
xẩy ra và để cảnh tỉnh người làm quan khỏi sa ngã. Về
một mặt nào đó, cuốn “Từ thụ yếu quy” có ý nghóa như
là kim chỉ nam của người làm quan dưới triều Nguyễn.
Dưới triều Nguyễn vào thế kỷ XIX, ngoài Minh
Mệnh, Đặng Huy Trứ trên đây không phải không có
những vò quan thanh liêm, thực tâm chống tham nhũng
trong đời sống quan trường, nhưng tác dụng và kết quả
đối với thực tế không được bao nhiều. Vào nửa sau thế
kỷ XIX, nạn tham nhũng, hối lộ hầu như không giảm
bớt mà có phần trầm trọng hơn trước. Nhiều nhà canh
tân thời kỳ này, đặc biệt là Nguyễn Trường Tộ (1828
- 1871) đã chỉ ra rằng nguyên nhân của tệ nạn tham
nhũng trong đội ngũ quan lại là do lương quá thấp.
Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27, ngày 15-111867), Nguyễn Trường Tộ có đề nghò sáp nhập một số
tỉnh, huyện để tinh giảm biên chế và tăng lương cho các
viên chức của bộ máy hành chính. Ông nói: “Hãy xem
tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có thể lớn bằng một lần
rưỡi nước ta. Hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây hợp
lại có thể gấp đôi nước ta. Một huyện của Trung Quốc
có thể tương đương với một tỉnh nước ta. Trên thế giới
có nhiều nước phân chia tỉnh, huyện còn lớn hơn của
Trung Quốc…Vậy xin gấp rút xem xét đòa thế, hợp lại, ba
tỉnh làm một tỉnh, hoặc ba, bốn huyện làm một huyện,
lấy số lượng dư ra cấp thêm cho các quan liêm. Bấy giờ
nếu họ không thanh liêm mới có thể trách. Tôi tính lương
Tri huyện mỗi ngày không quá ba, bốn thạch (một thạch
khoảng 60-70 đồng tiền), như vậy nuôi một người con
không đủ, huống chi nuôi gia đình nhà quan. Đã biết rõ
thiếu hụt mà cứ đem lời suông khuyên người thanh liêm,
như thế là ngầm để cho người ta tham nhũng. Tôi thấy
lương bổng một năm, tính hết tất cả các khoản của một
Lục bộ đại thần nước ta không bằng 2 ngày rưỡi lương
của một Nguyên soái nước Pháp. Một ngày lương của
một Tổng đốc nước Anh tương đương lương một năm
của quan đại thần nước ta. Vì vậy người phương Tây có
nói: “Các quan lại nước Nam, trừ những người quá tham
ô không nói, còn bao nhiều người khác, thường thường
sau khi xong công việc ngoài nghe quan lại nước ta
lương bổng ít ỏi như vậy, họ rất chê cười, họ không thể
hiểu nổi tại sao lại có thể như thế được…”!
Như vậy, có thể nói rằng, dưới triều Nguyễn công
cuộc cải cách hành chính do vua Minh Mệnh chỉ đạo,
tiến hành đã thành công tốt đẹp. Nhưng việc chống
tham nhũng, làm cơ sở để canh tân đất nước tạo nguồn
sức mạnh giúp cho việc chống ngoại xâm, thì hầu như
chẳng đem lại kết quả bao nhiêu.
Nhưng dù sao, những đóng góp của các vò: Minh
Mệnh, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ trong việc
chống tham nhũng vẫn có một ý nghóa rất đáng trân
trọng. Họ là những con người giầu tâm huyết, liêm khiết
và đầy lòng dũng cảm dám đương đầu trong cuộc chiến
chống tham nhũng nhiều khó khăn, gay go, và đến hôm
nay vẫn còn để lại cho chúng ta những bài học, những
kinh nghiệm hết sức bổ ích và quý báu.
Vùn 33
Hoàng Sa và Trường Sa
dưới thời Tây Sơn và nhà Nguyễn
NGUYỄn TẤn TUẤn
Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu
khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên nắm quyền... và được tiếp tục trong thời Tây Sơn và nhà Nguyễn.
T
ại tỉnh Quảng Ngãi từ lâu đời đã tồn tại
Di tích miếu Hoàng Sa ở đình làng Lý Hải
thuộc đảo Lý Sơn. Công việc thực thi chủ
quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn
Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội
Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác
và bảo vệ biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một
phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà
nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển
Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong
khu vực có được... Các hình thức thực thi chủ
quyền này được tiếp tục và phát triển trong thời
Tây Sơn và triều Nguyễn.
Triều Tây Sơn
Thành tựu vó đại của phong trào nông dân Tây
Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau
nhiều thế kỷ bò chia cắt thành hai khu vực Đàng
Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự
Đình làng trên đảo Lý Sơn
34
Vùn
thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn
tương đương với nước Việt Nam ngày nay. Cũng
là lần đầu tiên toàn bộ đường bờ biển chạy dài
từ Vònh Bắc Bộ đến Vònh Thái Lan với hàng ngàn
hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa ngoài biển Đông đã thuộc về quyền
kiểm soát của Nhà nước Việt Nam.
Giống như các chúa Nguyễn trước đây, Triều
đại Tây Sơn của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn
tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với
chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng
quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa thời
kỳ chúa Nguyễn được ấn đònh số lượng 70 suất
và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vónh thuộc tỉnh
Quảng Ngãi.
Hằng năm, cứ vào tháng 2 đội xuất hành gồm
5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa
vật của tàu bò nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến
tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân.
các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm
Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được
cá đều sẽ bò trò tội".
vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã
Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân
quyết đònh đặt thêm đội thuyền Bắc Hải. Đội này
xã An Vónh về việc dâng nộp các loại đồi mồi,
do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ
hải ba, quế hương và xin miễn sưu dòch đã được
giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở
thánh chỉ ban thưởng vàng và phê "chuẩn cho".
khu vực phía Nam, từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến
Văn bản chép rõ: "Niên hiệu Thái Đức năm đầu
các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người
ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh
đến năm thứ 15 (1778-1792)" và "niên hiệu Cảnh
Bình Thuận và không cố đònh số suất thủy thủ
Thònh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi
như đội Hoàng Sa.
ấy John Barrow là phái viên của phái bộ MacartPhong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ
ney đi từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu
đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773,
vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều
đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng
vua Quang Toản), trong A Voyage to CochinchiNam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía
na, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành
Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của
tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793)
hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm
mô tả: "Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu
trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn.
dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán
Vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, Cai hợp
ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến
phường Cù Lao Ré (đảo
trong nhóm quần đảo
Lý Sơn) là Hà Liễu đã
gọi là Paracels (Hoàng
làm đơn trình bày rõ:
Sa)".
"Bây giờ chúng tôi lập
Từ những tư liệu
hai đội Trường Sa và
hiện có, đã xác đònh
Quế Hương như cũ gồm
được chủ quyền trên
dân ngoại tòch được bao
các quần đảo ngoài
nhiêu xin làm sổ sách
biển Đông dưới thời
dâng nạp, vượt thuyền
Tây Sơn. Thời ấy tình
ra các đảo, Cù Lao
hình nước Trung Hoa
ngoài biển tìm nhặt vật
rất phức tạp, nhiều
hạng đồng thiếc, hải ba,
người chống đối chính
đồi mồi được bao nhiêu
quyền Mãn Thanh đã
xin dâng nạp. Nếu như
phải phiêu bạt trên biển
có tờ truyền báo, xảy
đông, triều Tây Sơn
Tờ lệnh Hồng Sa
chinh chiến, chúng tôi
đã ban nhiều tờ chiếu
xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong
khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu
việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng
Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: "Họ’’
thuế quan đem phụng nạp".
(dân Tàu) ra vào nơi bể nước (biển Đông), tụ tập
Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua
đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có
Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn
lẽ cũng là việc bất đắc dó, phần vì thiếu miếng ăn
lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vónh (nay là
nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo
thôn Tây, xã Lý Vónh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng
ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu
Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn
hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người
giữ được Chỉ thò ngày 14/2 năm thứ 9 hiệu Thái
thậm chí chấp thuận cho cả "những người có chí
Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân
lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo".
chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu Cai
Quy thuận những người Trung Hoa phiêu bạt trên
đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội
biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc
cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu
nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính
vượt biển thắng tiến Hoàng Sa cùng các sứ Cù
chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy.
Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và
Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá
1857) cho biết, có nhiều người Trung Hoa làm
quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu
nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang
ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt
Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải
Vùn 35
vương: "Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây,
chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt
động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh
(1796) vò tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng
đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu
vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo
đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho
ấn" (Tr.25b).
Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô
tả "Di thuyền" (thuyền của quân Tây Sơn) cao,
to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng,
hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân
nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể đòch được.
Đây là một bằng chứng khẳng đònh lực lượng hải
quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được
các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của
các vùng đảo, quần đảo giữa biển Đông.
Thời Nhà Nguyễn
Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn
tiếp tục chính sách tiến ra biển Đông, khẳng đònh
chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long,
Minh Mạng, Thiệu Trò… đã thực thi chủ quyền của
mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm
tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản,
tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bò nạn, khảo sát,
đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền,
dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho
người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan
trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lòch sử chủ
quyền của Việt Nam trên biển Đông là sự tiếp nối
chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.
Nhà Nguyễn quan tâm đến hoạt động xuất
nhập khẩu và kinh tế biển từ rất sớm. Các hoạt
động vươn ra biển Đông của nhà Nguyễn thời ấy
chính là nhằm khẳng đònh chủ quyền lãnh hải và
khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa đã được ghi chép tương đối
đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của nhà
Nguyễn, cũng như trong các tài liệu của người
nước ngoài mà chúng ta thu thập được trong
những năm đổi mới và mở cửa hội nhập...
Theo tư liệu lòch sử, Thích Đại Sán là một
trong những vò cao tăng người Trung Hoa được
chúa Nguyễn mời đến đất Thuận Hóa để truyền
kinh Phật. Ông là người đã khai sáng chùa Thiền
Lâm vào năm 1695, mở Đại giới đàn ở chùa Thiên
Mụ (Huế), làm cố vấn chính trò cho chúa Nguyễn
Phúc Chu. Ông đến Thuận Hóa bằng đường biển,
qua cảng thò Hội An. Khi trở về cố quốc, ông đã
viết cuốn Hải ngoại ký sự. Cuốn sách được xem
là một cẩm nang đối với giới nghiên cứu. Đọc Hải
ngoại ký sự có thể thấy từ thế kỷ 15-17, nhà nước
phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của
mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các
biện pháp: thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài;
Luyện tập sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
quần đảo Trường Sa. Ảnh: Vũ Hải
36
Vùn
thiết lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai
thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những
chiếc tàu bò đắm trên vùng biển này.
Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (17261784) có 2 đoạn viết về Hoàng Sa: "Ở ngoài núi Cù
Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng
Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa (tức quần
đảo Hoàng Sa). Ngày trước, nơi đây thường sản
xuất nhiều Hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà
nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận
các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày mới đến được
đảo Đại Trường Sa... Ở trong các hòn đảo có bãi
cát vàng, dài chừng hơn 30 dặm, bằng phẳng và
rộng lớn, nước trong nhìn suốt đáy. Ở trên các hòn
đảo có vô số tổ yến, còn các thứ chim thì kể có
hàng ngàn, hàng vạn con... Trên bãi có rất nhiều
vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn
như chiếc chiếu... Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà
cừ, thứ ốc này để trang sức các đồ dùng... Có thứ
đại mạo là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba
biển) cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn,
mai mỏng, người ta dùng trang sức các đồ dùng...".
Lê Quý Đôn cho biết, đội Hoàng Sa gồm 70
suất, lấy người ở xã An Vinh (Quảng Ngãi) bổ
sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Ra đi
từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức
ăn... Đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo
(cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp
các sản vật đã khai thác được. Nghiệm thu hải vật
xong đội Hoàng Sa được bán riêng những con ốc
hoa, mai hải ba, hải sâm. Sau đó các thành viên
của đội được trở về nhà. Ngoài đội Hoàng Sa, các
chúa Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc hải. Đội
Bắc hải không qui đònh bao nhiêu người. Đội này
tàu thuyền nhỏ hơn, hoạt động ở vùng đảo Côn
Lôn, ở xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên. Họ chủ
yếu khai thác hải sản, ít khi tìm được vàng bạc, đồ
vật quý giá từ các tàu đắm như ở Hoàng Sa.
Các công trình: Lòch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú; bộ biên niên sử của triều
Nguyễn là Đại Nam thực lục (ĐNTL) chính biên
và tiền biên; Khâm đònh Đại Nam hội điển sự lệ;
Đại Nam nhất thống chí... cũng đều có ghi chép
về Hoàng Sa giống như Lê Quý Đôn đã miêu tả
nhưng cụ thể hơn, tần suất nhiều hơn, nội dung rõ
ràng và cụ thể hơn.
Quyển 10 ĐNTL tiền biên chép: "Tháng 7
năm Giáp Tuất (1754) dân đội Hoàng Sa gặp
gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà
Thanh. Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho lương
đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư qua...".
ĐNTL chính biên quyển 50, 52 cho biết: Năm
1815, 1816 vua (Gia Long) cho thủy quân và đội
Hoàng Sa ra xem xét, đo đạc thủy trình. Quyển
104 chép: "Năm 1833, vua (Minh Mạng) bảo Bộ
Công rằng: Dải Hoàng Sa trong hải phận Quảng
Ngãi, xa trông trời nước một màu không phân biệt
được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường
bò hại. Nay nên dự bò thuyền bè đến sang năm sẽ
phái người tới dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều
cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ
nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn. Đó
cũng là việc lợi muôn đời vậy".
Quyển 154 chép: "Năm 1835 dựng ‘thần từ’ ở
Hoàng Sa... Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có
một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh tốt, giữa
cồn có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bia
khắc 4 chữ Vạn Lý Ba Bình... Năm ngoái vua (Minh
Mạng) đònh lập miếu ở chỗ ấy, vì gặp lúc sóng gió
không làm được. Đến nay mới sai đội thủy quân là
Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng
phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Đònh chuyên
chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7
trượng). Bên trái dựng bia đá, phía trước miếu xây
bình phong. Mười ngày làm xong rồi về".
Tác giả Sơn Hồng Đức, giảng viên đòa lý học
ĐH Văn khoa Sài Gòn, sau khi tham gia chương
trình Điều nghiên bình đòa hỗn hợp Việt Mỹ đã
có bài viết Khảo sát về quần đảo Hoàng Sa. Tác
giả cho biết: "Từ Đà Nẵng tàu khởi hành vào buổi
chiều, sáng hôm sau là đến Hoàng Sa. Đảo Tri
Tôn là điểm đến đầu tiên của hải trình". Ở đảo
Hoàng Sa tác giả mục kích: Có vài ngôi mộ binh
só thời nhà Nguyễn đã hy sinh. Phía Đông có am
thờ gọi là Đền Bà; có pho tượng Quan Âm đặt trên
bệ đá chạm trổ tinh vi, có lẽ do các ngư phủ Việt
Nam dựng lên. Phía Bắc có ngọn hải đăng. Gần
đó trước kia có căn cứ quân sự, đài khí tượng.
Đài khí tượng được chính phủ bảo hộ xây dựng và
chính thức hoạt động vào năm 1938. Ngày 9-31945 quân Nhật cũng đảo chính ở đây, tước khí
giới trung đội lê dương. Các công chức đài khí
tượng tháo dỡ trần nhà lấy gỗ làm bè thả trôi về
tận bờ biển Quy Nhơn. Quân Pháp, rồi quân Nhật
đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở đây nên trong
chiến tranh thế giới thứ 2 đảo bò không quân của
đồng minh oanh tạc.
Các sử liệu và những dấu tích để lại trên quần
đảo Hoàng Sa cho thấy tầm nhìn chiến lược cũng
như ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm và khát
vọng của cha ông chúng ta trong công cuộc khám
phá, khai thác kinh tế biển và thực thi chủ quyền
lãnh hải.
(Theo Dư Đòa chí Bình Đònh)
Vùn 37
chapi
Đàn Chapi
NHẠC CỤ ĐỘC ĐÁO
CỦA NGƯỜI RAGLAI
NGUYỄn VĂn HẢO
C
húng ta đã từng nhắc đến đàn đá Khánh Sơn một loại nhạc cụ gõ có niên đại trên 3000 năm
được tìm thấy năm 1979 trong thung lũng Tô
Hạp, nơi cư trú của của tộc người Raglai. Chưa có công
trình khoa học nào công bố chính thức đàn đá Khánh
Sơn có phải là của người Raglai hay không, song nơi
tìm thấy đàn đá Khánh Sơn cũng như người lưu giữ
(gia đình ông Bo Bo Ren - dân tộc Raglai) đã đủ để
cho đồng bào dân tộc Raglai tự hào về loại nhạc cụ cổ
xưa này. Mã la được coi là nhạc cụ tiêu biểu nhất, quan
trọng nhất và gần gũi nhất đối với đồng bào Raglai. Bên
cạnh đó, người Raglai còn có nhiều loại nhạc cụ khác
như: đàn Chapi, đàn Kanhi (họ dây); kèn bầu Sarakel,
sáo Talekung, sáo Taliaq, sáo Taliaq kuluma, Katèh (họ
hơi); trống Sagơr (họ màng rung).
Trong số những nhạc cụ của người Raglai, đàn
Chapi hay còn gọi là đàn Coq t’lơr, là loại nhạc cụ dây
gẩy truyền thống độc đáo. Đàn Chapi đã gắn bó với đời
sống núi rừng, nương rẫy của đồng bào Raglai. Không
những vậy, đàn Chapi còn đi vào tâm thức của nhiều
người, là niềm cảm hứng để rồi có nhạc só đã viết thành
những giai điệu với lời ca dung dò:
Ở nơi ấy họ đang sống cuộc sống yên bình
Ai nghèo cũng có cây đàn chapi
Khi rung lên vài sợi dây đàn đã đong đầy hồn người
Raglai…
(Trần Tiến - “Giấc mơ Chapi”)
38 Vùn Hiïën
viïåt Nam
CẤU TẠO NHẠC CỤ
Đàn Chapi được làm từ một ống tre già, tạo thành
ống đàn (hộp đàn). Tùy thuộc vào kích cỡ của ống tre
khác nhau, song thông thường chiều dài của ống đàn
khoảng 35 cm, đường kính khoảng 8 cm. Hai đầu đàn
không bòt kín, đầu trên là phần đốt của cây tre nên có lỗ
ống nhỏ hơn so với đầu dưới của đàn.
Đàn có 6 dây đôi (cũng có khi đàn chỉ có 6 dây
đơn) được tách ra từ cật tre, các dây đàn chạy đều xung
quanh ống đàn. Hai đầu của các dây đàn có quấn dây
mây để giữ cho dây đàn không bò tách ra khỏi ống đàn.
Hai đầu của mỗi dây, ngay sát cạnh gốc dây có
ngựa đàn để đỡ dây đàn không cọ sát xuống ống đàn,
đồng thời còn có chức năng như một bộ phận để lên dây.
Ở giữa mỗi cặp dây có gắn chung một phím đàn
được làm từ miếng tre mỏng dài khoảng 2,5 cm, rộng
1,5 cm. Ngay bên dưới mỗi phím đàn là một lỗ nhỏ
thông với ống đàn.
Gần phím đàn, về phía đầu trên của đàn có gắn hai
que, mỗi que dài khoảng 15 cm dùng để làm bộ phận
tay cầm khi gẩy đàn (cũng có trường hợp không có bộ
phận tay cầm)
TÍNH NĂNG VÀ KỸ THUẬT DIỄN TẤU
Cao độ dây đàn Chapi không cố đònh, tùy thuộc vào
cảm nhận của từng nghệ nhân, tùy thuộc vào từng bài
bản khác nhau mà nghệ nhân có thể lên dây bằng cách
dòch chuyển ngựa đàn để cao độ dây đàn cho phù hợp.
Kỹ thuật của đàn Chapi không phức tạp, tuy nhiên
cũng cần phải có tư thế phù hợp và có sự phối hợp
nhòp nhàng hai tay thì mới đem lại hiệu quả hay. Thông
thường, khi đàn nghệ nhân đặt dọc cây đàn, đầu trên
của đàn hướng ra phía ngoài, đầu dưới của đàn hơi
nghiêng vào bụng vừa là để cộng hưởng âm thanh, vừa
làm cho âm thanh được ấm hơn. Hai tay của nghệ nhân
giữ lấy que tay cầm, các ngón tay ôm tròn ống đàn,
luân chuyển các ngón gẩy trên phím đàn.
Đối với loại đàn không có bộ phận tay cầm thì việc
sử dụng cũng cần phải khéo léo, đàn được đặt lên đùi,
hai tay vừa đỡ ống đàn và vừa gẩy.
ÂM THANH VÀ VAI TRÒ DIỄN TẤU
Âm thanh của đàn Chapi nhỏ, mặc dù vậy vẫn làm
cho người nghe liên tưởng đến tiếng vọng của núi rừng,
tiếng róc rách suối chảy, tiếng rộn ràng của âm hưởng
Mã la (một loại chiêng bằng của người Raglai) trong
ngày hội. Theo như nhiều nghệ nhân nói rằng, chỉ cần
một người chơi đàn Chapi là có thể mô phỏng lại âm
thanh của cả một dàn Mã la.
Người Raglai rất trân trọng cây đàn Chapi, bởi lẽ đó
là sản vật được sinh ra từ núi rừng, nương rẫy, nơi đã
gắn bó với họ suốt cuộc đời. Tuy là nhạc cụ nhỏ bé với
âm lượng “khiêm tốn”, song đàn Chapi vẫn được người
Raglai sử dụng rộng rãi trong nhiều trường hợp.
Ở người Raglai có nhiều nghi lễ- lễ hội truyền thống
như Lễ khai sinh đặt tên, Lễ cưới, Lễ mừng nhà mới, Lễ
đền ơn đáp nghóa mẹ cha, Lễ hội ăn mừng lúa mới, v.v..
Trong các nghi lễ - lễ hội, sau phần nghi lễ là phần hội,
đồng bào thường diễn tấu đàn Chapi và các nhạc cụ
khác để chúc mừng. Ngay cả trong Lễ bỏ mả, sau phần
lễ là đến phần hội, lúc này những người dự lễ ăn mừng
sự tái sinh từ những hạt giống mới, đàn Chapi hòa nhòp
cùng lời ca và các nhạc cụ để cầu mong cho mưa thuận,
gió hòa, cầu cho sản xuất nông nghiệp cây bắp, cây lúa
bội thu, cầu cho xóm làng được ấm no.
Anh Cao Dy (Khánh Vĩnh - Khánh Hòa) biểu diễn đàn Chapi
loại 6 dây đơn, khơng có bộ phận tay cầm
Ơng Mấu Điệp (Khánh Sơn - Khánh Hòa) biểu diễn đàn Chapi
loại 6 dây đơi, có bộ phận tay cầm
Người Raglai yêu âm nhạc, không chỉ trong các lễ
hội mà trong những ngày thường, hễ có cuộc vui là dân
làng lại cùng uống rượu cần, nói chuyện vui và chơi
nhạc cụ, họ thể hiện tình cảm cũng như tài năng của
mình bằng việc độc tấu đàn Chapi mà mình yêu thích.
Trong gia đình, ông bà, cha mẹ có thể sử dụng một
cây đàn Chapi để thay lời dạy bảo con cháu, kể cho con
cháu nghe những câu chuyện thần thoại hay áng sử thi
bằng âm thanh của đàn Chapi.
Ở nhà hay trên nương, trên rẫy, người mẹ ru con
ngủ không chỉ bằng tiếng hát mà có nhiều khi là những
giai điệu truyền cảm của đàn Chapi.
Bên bờ suối hay trên đồi cỏ, dưới đêm trăng, người
con trai bộc lộ tình cảm của mình với cô gái bằng tiếng
đàn Chapi.
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC
Với những xúc cảm chân thành và mộc mạc của
mình, đồng bào Raglai từ bao đời đã sáng tác nhiều bài
bản để phản ánh cuộc sống. Có thể kể ra một số bài bản
của đàn Chapi như: Ru em, Mời ông Táo về, Múa ma,
Đối đáp, Gặp gỡ, Mãn tang, Lễ bỏ mả, Tiễn chân, Nhớ,
Cầu mùa, Người phụ nữ đảm đang, Tài đức, Hội mùa…
Qua nghiên cứu cho thấy, hầu như cấu trúc các bài
bản nhạc đàn Chapi đều có chung đặc điểm là từ một
giai điệu sau đó được nhắc lại nhiều lần với những biến
hóa đơn giản. Khuôn khổ của các bài bản độc tấu phụ
thuộc vào số lần nhắc lại giai điệu.
Các bài bản nhạc đàn Chapi được sử dụng ở thang
3 âm và 6 âm, trong đó thang 6 âm là phổ biến.
Lối diễn tấu có nhòp được người Raglai sử dụng phổ
biến trong các bài bản nhạc đàn Chapi, trong đó chủ
yếu là loại tiết nhòp chẵn.
Đàn Chapi là nhạc cụ với bài bản có cả bè giai điệu
và bè đệm.
Chapi là sản vật văn hóa tinh thần của người Raglai,
nhạc cụ này đã đóng góp vào sự phong phú trong kho
tàng nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, hòa chung những
giai điệu tinh tế của nền âm nhạc truyền thống dân tộc.
Vùn Hiïën 39
viïåt Nam
CÁI MÀU ĐỎ ẤY
ĐOÀn TỬ DIỄn
N
gày ấy phố Nguyễn Bỉnh Khiêm yên tónh
vô cùng. Đó là con phố nhỏ khuất sau hồ
Thiền Quang, công viên Thống Nhất. Nơi
đây, tại số nhà 19 là Nhà xuất bản Phổ thông. Tôi
đã đến ngôi nhà này nhiều lần khi bạn tôi là Trần
Vũ Mai và nhà thơ Nguyễn Mỹ còn làm việc ở
đây trước khi vào chiến trường miền Nam.
Cũng chỉ thảng hoặc thôi, tôi với Nguyễn Mỹ,
Trần Vũ Mai, mỗi người xách một cặp lồng nhôm
xếp hàng mua cơm ở khu tập thể Liên Cơ Vân Hồ
với một can bia nho nhỏ, mấy miếng đậu phụ rán,
nem cuốn xương sông. Vậy là có một buổi chiều
vui vẻ. Đó là những năm chiến tranh, bom đạn
dội lên đầu Hà Nội vào thời khốc liệt. Buổi trưa
Hà Nội náo loạn vì còi rúc báo động liên hồi. Máy
bay chưa kòp ngưng, tốp sau đã đến. Loa phóng
thanh lại ráo riết ,”Đồng bào chú ý...”. Nhưng
chiều đến thì thư thái, nhởn nhơ như thể chẳng
có gì. Âu đó cũng là nét riêng, đặc biệt của người
Hà Nội chăng.
40 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Cũng chính vào những ngày đạn bom đó, một
bài thơ nổi tiếng đã ra đời trên gác xép ngôi nhà
19 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ “Cuộc chia li
màu đỏ” của Nguyễn Mỹ. Nhà thơ lúc đó còn khá
trẻ, em trai nhạc só Nhật Lai tập kết ra Bắc từ năm
1954. Tứ thơ ấp ủ trong anh từ rất sớm, vào năm
1964, nhưng đối với anh dường như lúc nào nó
cũng đang là phác thảo. Anh đọc, anh suy ngẫm
thêm. Bài thơ được đăng báo và ngay lập tức có
tiếng vang đặc biệt trong lớp trẻ thời bấy giờ. Một
cảm xúc mang hơi thở Đất Nước, cảm giác lãng
mạn tạo nên vẻ lung linh, ngời sáng cho mỗi câu
thơ. Ngày ấy, mỗi chàng trai vào chiến trường,
dường như ai cũng chép bài thơ vào cuốn sổ con
và coi như quà tặng của nhà thơ cho riêng mình.
Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ...
Trong quầng sáng mờ của ngọn đèn dầu hoa
kỳ, chúng tôi nghe anh, giọng Phú Yên đã pha
chút Bắc, khàn và ấm. Chính cái giọng khàn chậm
rãi hơi hướng thuốc lào ấy lại có sức truyền cảm
lạ. Một câu chuyện kể, kể về giây phút chia li.
Nhưng là cuộc chia li trong nắng vàng rực rỡ mùa
thu, trong chói ngời sắc đỏ.
Vườn cây xanh và chiếc nón kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che nổi nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời
Cháy trên làn môi đang hé giữa làn môi...
Nỗi xúc động lặng lẽ tràn vào trái tim trai trẻ
chúng tôi, yêu đời, chớm hé một tình yêu vụng
dại đầu đời. Chính cái bình minh của Nguyễn Mỹ
là nỗi khát khao cháy bỏng của chúng tôi. Khi
mang ba lô vào chiến trường, bên tai như nghe
thầm thì đâu đó.
Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau...
Tôi còn nhớ, trước khi chính thức đặt dấu dép
vào cửa ngõ Trường Sơn, có hai cô gái đi tiễn
người yêu. Họ đều là sinh viên, một ở trường
Tổng hợp và một nữa ở trường Sư phạm. Trong
đêm khuya vắng, hai cô từ Hà Nội lặn lội vào
tận sông La, Hà Tónh, trạm đầu tiên trong chuyến
hành quân lặng lẽ dài ngày. Nhưng trên xe chỉ
có tiếng ồn ào, cười nói. Một người nào đó nhìn
gương mặt hai cô gái rơm rớm nước mắt, nổi hứng
đọc to lên mấy câu thơ Nguyễn Mỹ.
Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã toả sáng những tâm hồn tươi đẹp
Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si
Hai cô gái giấu đi những giọt nước mắt sắp
rơi, e lệ một nụ cười che giấu.
Thế rồi những năm tháng tuổi đôi mươi, tôi
đi qua nhiều cánh rừng bạt ngàn săng lẻ. Trong
ký ức chiến tranh mang nặng dòng sông Xê Ban
Hiêng, Sê rê Pok, những thác trắng Tu Mơ Rông
ầm ào, những đường rừng thẳm dốc không nhớ
hết. Bỗng một lần ngước nhìn bầu trời hẹp giữa
rừng già, bên bờ con suối nhỏ Nước Oa: Một rừng
chuối hiện ra. Những búp hoa chuối đỏ chói ẩn
hiện trong ánh vàng nắng sớm. Tôi chợt nhớ đến
Nguyễn Mỹ, nhớ thơ anh.
Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là màu hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh non cao vẫy gọi đoàn người...
Lòng như xôn xao, dư vò ngọt ngào, tôi lại nhớ
về Hà Nội. Tôi nhớ đến con phố nhỏ duyên dáng
Nguyễn Bỉnh Kiêm, nhớ cánh cổng mở vào số
nhà 19 giấu mình dưới hàng cây xanh. Nơi đó nhà
thơ Nguyễn Mỹ đã sống và anh đã mang theo cả
“màu đỏ ấy” vào chiến trường. Từng bước đi trèo
non lội sông suối dọc dài Trường Sơn mấy tháng
trời ròng rã, tôi lại nhủ lòng, sắp gặp anh rồi,
Nguyễn Mỹ ơi. Sắp được nghe lại cái giọng khàn
đặc thuốc lào để rồi cùng lặng lẽ nhớ Hà Nội, lo
cho Hà Nội những đêm, những ngày bom đạn.
Nhưng vào những ngày cuối tháng 5 năm 1971,
khi chỉ còn một thôi đường rừng nữa để được
nhìn anh cười trên dốc núi Ngọc Linh như hồi nào
hồn nhiên, ấm áp, chúng tôi bỗng lặng người khi
hay tin anh đã mất trong một trận càn, cùng với
tin Trần Tiến - Chu Cẩm Phong hy sinh tại mặt
trận Quảng Đà. Đêm đó Trần Vũ Mai không ngủ.
Tôi trăn trở trên chiếc võng dù nhớ tới những
vườn hoa, công viên Hà Nội. Vườn hoa Chí Linh,
công viên Thống Nhất, vườn hoa Tây Hồ, Bách
Thảo... ở đó có những cuộc chia li bất chợt. Nhớ
anh, nhớ Hà Nội, nhớ những ngày sống và hỳ hục
làm thơ. Mỗi lần nhớ Hà Nộâi tôi lại lặng lẽ đọc
thơ anh, cái màu đỏ ấy...
Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hết chiến tranh được ít lâu tôi trở về Hà Nội.
Thăm lại con phố cũ. Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm
vẫn như hồi nào, yên ả, dòu gió hàng cây xanh.
Chỉ tiếc là không còn Nguyễn Mỹ trên căn xép
phía sau như hồi nào. Anh đã cho tôi cái màu đỏ
ấy để cùng bạn bè trai trẻ sống những ngày đẹp
đẽ nhất của cuộc đời mình. Từ trong sâu xa, tôi
thầm nghó con phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi đó
đã từng ẩn giấu những giấc mơ, là chứng nhân
một thời tuổi trẻ của tôi cùng với những người
bạn mà tôi yêu mến.
Vùn Hiïën 41
viïåt Nam
của cô cầm chắc nguy cơ… ế, vì lấy đâu ra số
người nghe chòu khó tónh tại cùng âm nhạc cổ
điển trong những ngày hội hè miên man?
Ý tưởng về sự kết hợp piano với các nhạc cụ
cổ truyền như đàn tranh, sáo, bầu, đàn cò, đàn
nhò… nhanh chóng ra đời, kết quả là những đêm
trình diễn của cô ở Hiển Lâm Các luôn chật kín
khán giả đến vì tò mò lẫn thích thú.
Dù chưa thể nói về một mùa gặt tốt tươi,
nhưng một khi hạt mầm sáng tạo đầu tiên đã
được gieo, chúng không chỉ mang lại cho người
gieo hạt một suối nguồn cảm hứng mới, mà còn
mở ra con đường tiên phong, ít nhiều thi vò và có
thể tiềm ẩn rủi ro.
Từng hào hứng về nước để được cống hiến, để
rồi đối diện với đời sống nhạc cổ điển buồn tẻ,
có rất ít buổi trình diễn trong một năm, đến mức
phải vứt cá tính nghệ só qua một bên để đi… buôn
đồ gỗ, hơn ai hết, My hiểu rõ cứu cánh của con
đường sáng tạo nghệ thuật riêng biệt và độc đáo.
Giữa đám đông, rất dễ nhận ra cô cháu gái của nhạc
só “Chảy đi sông ơi” Phó Đức Phương bởi mái tóc bờm
xờm và cái đầu thích lắc lư. Phong thái có vẻ không coi
điều gì là to tát khiến cô dễ gần với những người xung
quanh, dù lý lòch của cô chẳng nhỏ bé chút nào: Sinh
năm 1977 trong một gia đình có nhiều thế hệ làm nghệ
thuật ở Hà Nội, lên 5 tuổi, My đã làm quen với đàn dương
cầm; 13 tuổi, sang Đức theo học trường âm nhạc E.M.
Phillips Bach và tốt nghiệp loại xuất sắc.
Phó An My
sẽ không còn
cô đơn
Con đường độc đạo và thách thức
MInh ChÁnh
Nụ cười Phó An My
Hạt mầm ý tưởng
Phó An My trình diễn “Bóng” cuối tháng 5 tại Hà Nội
42
Vùn
Không được công nghệ của giới showbiz bơm thổi thành ngôi sao, nhưng My
đang khiến giới âm nhạc phải chú ý đến
mình bằng một ý tưởng “điên điên” mà
cũng rất khả dụng: kết hợp khí nhạc cổ
điển phương Tây với một số hình thức âm
nhạc cổ truyền Việt Nam như hát Tuồng,
Chèo, Chầu văn.
Làm thế nào có thể kết hợp được các
loại nhạc cụ mà âm sắc rất khác nhau này?
“Tôi nghó là được”, nhạc só Dương Thụ nói
ngắn gọn. Vò nhạc só có tiếng am hiểu nhạc
cổ điển phương Tây đã bò thuyết phục sau
khi nghe Phó An My lần đầu tiên kết hợp
giữa piano với hò Huế và sau đó là với
Tuồng.
Có những sáng tạo nghệ thuật chỉ được
gieo mầm khi nghệ só đứng trước sự thúc
bách của thực tế khách quan. Ý tưởng giao
hòa dương cầm với âm nhạc cổ truyền của
Phó An My là một trường hợp như vậy.
Mùa hè 2006, khi được mời tham gia
trình diễn ở Festival Huế, cô bối rối đứng
trước lòch trình diễn dày đặc của các nghệ
só trong nước và quốc tế. Buổi trình diễn
Điều may mắn cho My trên con đường độc
đạo của sự sáng tạo là cô đã tìm được người bạn
đường tâm đầu ý hợp – nhạc só Đặng Tuệ Nguyên,
sinh năm 1981, chuyên viết cho piano theo khuynh
hướng cận đại, phù hợp với sở trường của My.
Họ làm thành một cặp đôi theo nguyên tắc:
Nguyên viết, My diễn. Nhưng diễn theo cách nào thì
My nhất đònh coi đó là “đặc quyền” của mình. “Thật
may là Nguyên đồng ý phần lớn”, My cười vui.
Bởi dùng sáng tác khí nhạc theo ngôn ngữ cận
đại (không lấy chất liệu dân gian) để đặt cạnh
những bài bản dân nhạc cổ truyền, nên họ muốn
gọi những buổi trình diễn của mình là cuộc đối
thoại giữa đương đại và truyền thống. Nguyên
nói: “Đây là con đường mà chúng tôi đã chọn,
như đã từng làm piano với Tuồng, hò Huế, nay là
hát Chầu văn, và có thể sắp tới là Chèo”.
Sau đêm diễn mang tên “Bóng” kết hợp piano
với chầu văn hồi tháng 5/2011 ở rạp Công Nhân
(Hà Nội), được người nghe hào hứng đón nhận,
My và Nguyên sẽ chính thức phổ biến rộng rãi
“Bóng” bằng hai đêm hòa nhạc ở Hà Nội vào
ngày 22/8 và TP.HCM 31/8 tới.
Có thể hình dung những khó khăn mà họ sẽ
phải đối mặt trong lần dốc túi để làm cuộc trình
diễn âm nhạc hoàn toàn mới mẻ, có bán vé như
những chương trình giải trí khác.
Bất cứ ai thủ cựu, câu nệ vào truyền thống
đều dễ cảm thấy họ đang “xúc phạm” hát Chầu
văn (một hình thức hát múa còn gọi là Lên đồng,
hay Hầu bóng) khi bóc tách nó ra khỏi không gian
diễn xướng vốn có trong sinh hoạt cộng đồng để
đưa lên sân khấu.
Nhất là khi buổi trình diễn “Bóng” lại trùm
lên một hình thức khiến người ta liên tưởng đến
buổi lên đồng, người trình diễn piano vào vai một
ông đồng - bà cốt, sống cùng các nhân vật khác
nhau ở mỗi giá đồng.
Với tất cả sự cẩn trọng, cả Nguyên và My tin
rằng họ chỉ bóc tách phần âm nhạc trong tổng
thể di sản văn hóa mà cha ông để lại, đem nó lên
trình diễn trên một sân khấu mà các nhạc cụ được
bố trí theo chuẩn mực của một buổi hòa nhạc
đúng nghóa.
Trước mặt họ còn là bài toán thách thức khi
vé phải được bán hết thì chương trình mới… hòa
vốn. Nếu ở Hà Nội, hai nghệ só dễ tìm thấy sự kết
nối với lượng người nghe yêu thích hát Chầu văn;
thì tại TP.HCM - thành phố nằm trong không gian
âm nhạc đờn ca tài tử Nam bộ, người dân ưa thích
tìm những âm thanh ồn ào, sôi động - tìm được
người nghe chòu bỏ tiền mua vé quả là nan giải.
Nhưng trên tất cả, nói như nhạc só Dương Thụ,
họ là hai nghệ só đang đi trên một con đường độc
đạo, bởi chưa ai đi cùng. Với My, dù có phải đi
buôn đồ gỗ để nuôi lấy con đường sáng tạo như
một nhu cầu tất yếu của nội tâm, cô vẫn thấy
mình thật hạnh phúc.
Chiều ngày 2-9 năm nay, người nghệ só trong
Phó An My hẳn sẽ không còn đơn độc, bởi cô sẽ
trở lại với khán phòng Nhà hát Lớn Hà Nội cùng
ngón đàn piano và một trích đoạn “Bóng” trong
chương trình hòa nhạc “Điều còn mãi 2011” - nơi
hội tụ của những giai điệu tinh túy, cất lên với
tình yêu tha thiết quê hương Việt Nam.
Năm 2009, Phó An My xuất hiện và trình diễn tác phẩm
“Bồng bềnh” trong chương trình hòa nhạc Điều còn mãi do
VietNamNet tổ chức
Vùn 43
Thơ
Thủy Anh
Tơi đọc thơ Thủy Anh từ năm 1974, khi chị là phóng viên báo Giải phóng
Quảng Nam về dự trại sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng khu 5 trên
chiến khu Trà My. Lúc ấy, một số bài thơ của chị đã được các anh Nguyễn
Chí Trung, Ngun Ngọc, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Khắc Phục…chú ý. Tơi
cũng ấn tượng với những câu thơ hay như “Khẽ khàng thơi nhé mưa ơi/Gói
dùm cho ta hơi thở”. 37 năm sau, tơi lại được đọc hai tập thơ “Suy tư trắng”,
tập hợp thơ Thủy Anh từ năm 1965 đến nay, lúc chị đã hơn 60 tuổi.
Thơ Thủy Anh là thơ của một tâm hồn phong phú, nhạy cảm, ln cháy
bỏng tình u và ngổn ngang nỗi mình, nỗi đời. Có cảm giác chị là một
phụ nữ đa đoan, lúc nào cũng suy tư, lo lắng, lúc nào cũng thấp thỏm chờ
đợi điều gì đó với một niềm tin thật ngây thơ trong sáng sau rất nhiều trải
nghiệm đớn đau. Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nhận xét thơ Thủy Anh là “một
giãi bày dồn nén, vừa thật lại vừa ảo, các thi tứ, thi ảnh, thi điệu, thi từ đều
được chắt lọc từ một trái tim rơm rớm tình u”.
Xin giới thiệu một số bài thơ Thủy Anh mong được sự sẻ chia của những
tâm hồn đồng vọng.
Ru mình
Tự cảm 2
Lông chông lông chông
bãi cát nắng chiều
một đời quay tít
Lông chông lông chông
tình vô vọng
sao mãi hoài tìm
Ầu ơi
cho giấc nồng sâu
xua làn gió rét
mưa ngâu đừng về
Ầu ơi
xa xót nỗi quê
bờ tre còn đó
bồn bề dậu nghiêng
Lông chông lông chông
gió cuốn đi
bỏ lại dấu chân
rát bỏng
Lông chông lông chông
quay tít một đời
hư không!
Nhớ quê xa
Thanh Quế
Uống chiều
vào xuân
Em đi
mưa níu thời gian
sóng chao gió nổi
đò ngang chồng chềnh
Anh đi
biển nhớ lênh đênh
bão xô sóng dậy
chênh vênh đêm ngày
Anh về
phố Cảng ngất ngây
Tiên Sa sóng dậy
xuân say đất trời
Hàn Giang
thắm mặn tình người
câu hò khoan
đẫm ướt lời trao duyên
Em về
Non Nước thôi miên
Ngũ Hành mây nổi
Thái Phiên gió nhiều
Chân đi
lòng chợt liêu xiêu
hồng quần điên đảo
uống chiều vào xuân
44 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Nắng trong
Cởi áo
Nhớ ngày còn thơ dại
Mẹ quay nắng tháng năm
Nắng tròn ngưng giọt ngọc
Trán mẹ sáng lung linh
Nắng chẻ tơi sợi tóc
Mẹ phơi trắng đời mình
Sân vàng ươm hạt thóc
Mẹ chín đỏ mưu sinh
Tháng năm trời thưa nắng
Con ôm cả vào lòng
Mặc gió mưa vần vũ
Mẹ mãi là nắng trong
Mai vàng
Trước ngõ đong đưa nắng
Ô cửa
Chia đôi hai mảng nhà
Xóm nhỏ
Mẹ về thơm hương mạ
Thương mình
Gác vắng nhớ quê xa
Hàng rong
Đường dài
Mỏi gánh hàng rong
Da đen sạm mắt sâu muốn nói
Dấu chân chim hằn kiếp trần ai
Nón lá cũ bung vành như khóc
Có điều chi
Khói bốc bờ vai
Thơm ngan ngát vào đời lặng lẽ
Ấm lòng ai
Sớm lạnh trưa nồng
Tháng năm đi áo nâu bạc phếch
Nắng mưa qua son trẻ gội màu
Chân chai sần già nua mòn dép
Gánh đời nặng nhọc nhằn cay đắng
Tiếng rao xa
Thao thiết nao lòng
Chênh vênh chợ đời
Còm cõi gánh hàng rong
Ve sầu
cởi áo cầu kinh
Phượng khoe
yếm đỏ
Tụi mình
thương nhau…
Phía gió xôn xao
Chiều tàn
Chiều như hơi thở xa
Vội vàng
nóng bỏng
Mong manh
Lá mỏng
Lả mình trong nắng gió
Như không
Như có
Một đời cỏ hoa
Mặt trời thắm đỏ
mờ xa
Nắng nhàu vội tắt
Một chiều hoa cúc thôi vàng
Một chiều em đã sang ngang mất rồi
Hoàng hôn tím ngắt trong tôi
Nắng chiều đã tắt thì thôi
Cũng đành!
Tìm chi về lại ngày xanh
Tìm chi câu hát mong manh thû nào
Em về phía gió xôn xao
Ở bên ấy có lúc nào
Em thương?
Thương về một buổi tan trường
Thương vạt cỏ
Thương con đường năm xưa
Thương về một kẻ đón đưa
Để bây giờ hóa người thừa
Trong em
Vùn Hiïën 45
viïåt Nam
Cảm
nhận
CHÂN DUNG MỘNG MỊ
NGUYỄn Anh TUẤn
Xưa nay, những giấc mơ thường được miêu tả trong văn chương,
và nhiều khôn xiết. Nhưng miêu tả giấc mơ trong hội họa thành cả
một phòng tranh thì theo hiểu biết của tôi, mới chỉ có mình nữ họa
só trẻ Nguyễn Lý Phương Ngọc với phòng tranh mà em đặt tên “Chân
dung mộng mò” tại 218A Pasteur TPHCM cuối năm 2010 vừa qua.
P
hương Ngọc đã hồn nhiên
kể về lai lòch của séri tranh
đó như sau: "Có một dạo
tôi rất hay nằm mơ vào ban đêm,
gặp những khuôn mặt tôi vừa mới
nhìn thấy hoặc sẽ nhìn thấy sau
giấc mơ đêm ấy vài giờ... Trong
số ấy, có chân dung của mẹ tôi,
người đàn bà tuyệt vời nhất mà
tôi chưa bao giờ mở miệng nói
Con Yêu Mẹ lắm, có ba tôi, một
phần quan trọng của đời tôi, và
46 Vùn Hiïën
viïåt Nam
có nhiều nhiều người khác mà
tôi đã tiếp xúc, đã tình cảm...."
Lai lòch này rất quan trọng,
nhất là đối với một người muốn
tìm hiểu cặn kẽ về tranh của
em như tôi, kẻ vốn là bạn vong
niên của ba mẹ em từ khi tôi
còn một sinh viên văn khoa, khi
đó em còn chưa ra đời, mà tôi
lại mất liên lạc suốt nhiều năm
với song thân của em, hai nhà
thơ đã có danh từ mấy thập kỷ
để em có thể bơi lội, tưới tắm
và trưởng thành một cách đầy
tự tin trên đường đời chông gai
và trên đường nghệ thuật cũng
chông gai không kém!
Phương Ngọc vừa thoát
khỏi tuổi vò thành niên, nhưng
bên cạnh sự tươi tắn hồn hậu
chưa mất của trẻ thơ, em đã có
những suy nghó khá già dặn:
"Không phải ai trong giấc mơ
cũng là thiên thần. Trong cái
nhập nhằng hỗn độn của ý
thức, những chân dung hiện ra
thật kì dò...". Tranh của Phương
Ngọc cho thấy nhận thức của
họa só trẻ đã vượt xa khỏi cái
nhìn cuộc đời chỉ như một món
có những cách cảm nghó tưởng
chừng xa lạ với đời thường,
nhưng chắc chắn đó không phải
là "một sản phẩm vô nghóa của
hoạt động bò nhiễu của tâm
linh", mà ngược hẳn lại, đó là
kết quả của "sức chống đối giữa
cái tôi đã thức tỉnh và cái vô
thức bò chèn ép", nói như nhà
phân tâm học nổi tiếng người
Áo Sigmund Freud.
Hãy nghe chính Phương
Ngọc nói về nội dung những bức
Chân dung mộng mò của mình:
"Tôi vẽ những trạng thái cảm
xúc của người hoạ só. Những lúc
bế tắc, những lúc xấu xí, những
lúc hoảng loạn, những lúc thăng
mơ, khi cầm một khuôn mặt để
làm gương soi, Phương Ngọc
phải chăng muốn tìm lại "sự
nhẹ nhàng vui vẻ" ấy qua ký ức
êm đềm của tuổi thơ?
Điều khiến ta nể trọng ở
họa só này là, mặc dù em vẽ
như hết sức thoải mái, tưởng
chừng không gò bó câu thúc về
cách thể hiện, không quan tâm
chúng có vô tình lặp lại phong
cách của một họa só nào trong
nước hay quốc tế hay không,
song thực ra, em đã có những
cân nhắc suy tính kỹ lưỡng
trước khi cầm cọ. Họa só từng
tâm sự: "Làm sao có thể chuyển
tải những mờ ảo của giấc mơ
quà thi vò - theo cách nói của
nhà văn Nga K. Pautovski, mà
đã bắt đầu thấm đượm sự lo
âu, sự cảnh giác, thậm chí cả
sự phẫn nộ trước cái xấu cái ác.
Tôi chắc có một điều mà
không ít người xem phòng tranh
phải tự hỏi: vì sao nữ họa só lại
chọn những giấc mơ để diễn tả
ý tưởng và cảm xúc của mình?
Nhưng, có một điều chúng ta
có thể khẳng đònh được ngay là:
mặc dù tranh em có đầy rẫy sự
kỳ bí, hỗn độn, khó hiểu, có sự
thay đổi vò trí một cách kỳ quặc,
hoa..."- "Tôi đưa những mờ ảo,
những sng khói không thực
của mộng mò hòa cùng các phụ
nữ khỏa thân, để họ đïc bay
lên, đïc tan ra, và đïc tung
hoành theo kiểu của riêng tôi..."
Thi hào Đức Goethe từng
viết: "Trong đời tôi có nhiều
lần đau khổ, nuốt nước mắt.
Nhưng sau khi tôi lên giường
nằm, cảnh mộng có thể dùng
mọi hình thức dẫn dắt và an ủi
tôi, làm cho tôi siêu thoát khỏi
nỗi bi thương mà đổi lại được
sự nhẹ nhàng vui vẻ...". Trong
từ không gian 3 chiều lên mặt
tranh 2 chiều? Làm sao có thể
diễn tả những chân dung mộng
mò kì quặc một cách hội họa
nhất? Làm sao nêu lên những ý
tưởng của mình cho người xem
một cách rõ nhất, để người xem
có thể tiếp nối mạch cảm xúc
và ngẫm nghó thêm?"
Những suy tính như thế chỉ
có thể có ở một họa só chuyên
nghiệp đã từng kinh qua một
quá trình học tập bài bản lâu
dài và căng thẳng, rồi sau đó lại
theo học hội họa ở nước ngoài.
trước: Nguyễn Nguyên Bảy và
Lý Phương Liên! Thật thú vò,
Phương Ngọc đã cho biết: ba
mẹ em chính là nguyên mẫu
(prototif) quan trọng cho bộ sưu
tập mới của em! "Người đàn bà
tuyệt vời" và "một phần quan
trọng của đời tôi" đó đã giúp
cho Phương Ngọc một cội nguồn
thật phong phú và sâu sắc về
văn hóa, về nghệ thuật, hơn
thế, về phẩm cách làm người
Vùn Hiïën 47
viïåt Nam
Dự án “Sân khấu học đường”
giúp thế hệ trẻ hiểu về nét đẹp
văn hóa nghệ thuật truyền thống
NGỌc Anh
Sáng ngày 12/8/2011, hội nghò tổng kết Dự án “Sân khấu học đường” do Bộ Văn hóa, Thể thao & Du
lòch, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn
hóa Dân tộc VN đã diễn ra tại Hà Nội. Đây là dự án được Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa Thông tin (nay
là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lòch), Bộ Giáo dục - Đào tạo và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát
huy văn hóa Dân tộc VN thực hiện. Bộ Văn hóa Thông tin giao cho Cục Nghệ thuật Biểu diễn phối hợp với
Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam triển khai từ năm 2001 - 2010.
Nhưng đáng trân trọng hơn cả
là người họa só trẻ ấy đã biết tìm
đến cội nguồn văn hóa dân tộc
cho sáng tác của mình, coi đó là
nguồn cảm hứng chính, nguồn
nguyên liệu chính, và coi đó là
những người Thầy cho cả đời
mình. Em đã "Tìm về cội nguồn
màu sắc để thấy men tranh Việt
khác với men tranh các tộc người
khác, để tiếp thu, kế thừa và
nuôi dưỡng chất men ấy trong
nền hội hoạ đương đại Việt
Nam, mà giấc mơ theo đuổi."
Phương Ngọc lý giải điều này
như sau: " Không thể trộn lẫn
hay hoà tan men Việt thành men
dân tộc khác. Men Việt ấy ẩn
sâu trong ánh mắt thoảng buồn
và nụ cười hoa gió. Men Việt
ấy tự xưa đã chạm khắc trên
trống đồng Ngọc Lũ, trên vách
đá Động Người Xưa, rừng Cúc
Phương và trong các tích chèo
cổ. Và sau này, trăm năm lại đây,
men Việt ấy hoạ vào tranh Đông
Hồ, tranh Hàng Trống...". Trong
bài thi tốt nghiệp, chẳng phải là
em đã dựng lên không ít những
Gương Mặt chèo cổ, gian nònh
48
Vùn
có, trung nghóa có, đau khổ có,
tươi vui có, chúng sẽ là nguyên
mẫu, là sự gợi ý trực tiếp cho
các Chân dung mộng mò đó sao?
Trong loạt tranh Chân dung
mộng mò, tôi đặc biệt chú ý đến
những bức tranh mà các nhân
vật (chủ yếu là nữ) được chìm
trong nước- và theo tôi đó là
những bức tranh đẹp nhất, gợi
nhiều suy nghó nhất. Phương
Ngọc có bài viết Ma trận mầu
sắc, em cho biết: "Theo lộ trình
Kinh Dòch với Âm Dương - Ngũ
Hành tôi tìm về cội nguồn màu
sắc tranh Việt." Em đã phân tích
kỹ các màu sắc theo ngũ hành,
và dành cả một phần nói về Sinh,
vượng và kiêng kỵ của màu sắc
Thủy qua các mùa. Hãy ngắm
nhìn những Giấc mơ chìm trong
nước... Những dáng hình người
được dung dưỡng, được mơn
man, được chở che trong nước...
sao mà quyến rũ, sao mà gợi nhớ
thương và trìu mến đến vậy!
Lúc này, chắc Phương Ngọc
lại đang chật vật và phóng túng
tìm kiếm những Chân dung
mộng mò mới của em, không cần
biết tới những thuật chiêm mộng
thời cổ đại, những máy thăm dò
các giấc mơ của Mỹ, những lý
thuyết hiện đại rắc rối về Giấc
mơ, em đào sâu vào nội tâm
mình, kích thích trí tưởng tượng,
giải phóng năng lượng Tâm linh
để có thể tiếp tục chiêm nghiệm
về cuộc đời thông qua những
Gương Mặt- những Dáng Người
chất chứa năng lượng của thơ ca,
âm nhạc, triết lý- đó cũng là một
thứ lòch sử của thế giới có khả
năng giúp con người sống gần
với chất Người hơn...
T
rước khi diễn ra hội nghò, vào tối ngày
11/8/2011, tại Nhà hát Lớn (Hà Nội), đại
diện các đơn vò tham gia dự án đã biểu diễn
báo cáo các trích đoạn tiêu biểu và một số làn điệu
cơ bản của các loại hình nghệ thuật truyền thống,
dân ca của một số vùng miền. Trích đoạn Cải
lương “Trần Quốc Toản ra quân” (trường THCS
Lê Chân - Hải Phòng), trích đoạn Tuồng “Kim Lân
biệt mẹ”, “Đổi hồn Đát Kỷ” (TP. Đà Nẵng), trích
đoạn “Chò Minh Khai gửi con đi hoạt động cách
mạng” (tỉnh Nghệ An), trích đoạn “Mẹ Thuận”
(trường THCS Ngô Quyền - tỉnh Quảng Nam),
trích đoạn “Bông sen trắng” (trường THCS Lai
Vung - Đồng Tháp)… do các em học sinh thể hiện
rất xúc động đã gây nhiều bất ngờ đối với khán
giả thủ đô. Trong lớp áo bà ba, khăn rằn, những
trang phục cổ trang, mũ mão cân đai đầy màu
sắc, các em đã thể hiện được những vai diễn tạo
xúc động cho người xem với nét diễn trong sáng,
hồn nhiên, giọng ca trong trẻo, đúng nhòp, đúng
bài bản. Đặc biệt, tiết mục Cải lương “Trần Quốc
Toản ra quân” do trường THCS Lê Chân - Hải
Phòng và bài vọng cổ “Cháu nhớ Bác Hồ” do hai
em học sinh lớp 6 trường THCS Lai Vung - Đồng
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Huỳnh Vĩnh Ái, GS Hồng Chương - TGĐ Trung tâm NCBT&PHVHDT chúc mừng các đơn vị tham gia dự án
Vùn 49