Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Văn hiến việt nam 2011 07 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (41.41 MB, 75 trang )

Khi nhà lãnh đạo
thấu hiểu lòng dân

Thủ tướng
Nguyễn tấn dũng

Chủ tịch nước
Trương tấn sang

Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn sinh hùng

K

ỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 13 đã hoàn thành việc bầu những chức danh lãnh
đạo cao nhất của nhà nước. Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đắc
cử Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang đắc cử Chủ tịch
nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng.
Bài phát biểu như một tuyên thệ khi nhậm chức cùng cuộc trả lời phỏng vấn báo chí nóng
bỏng sau đó của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, vị tân nguyên thủ quốc gia, đã gây ấn tượng
thật mạnh mẽ.
Nói về chủ quyền biển đảo, tân Chủ tịch nước khẳng định đanh thép: “Chủ quyền quốc
gia, trong đó có chủ quyền biển đảo, là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”. Đề cập đến quốc
nạn tham nhũng, Chủ tịch nước kể ông đã từng nói khi tiếp xúc cử tri: “Ông bà chúng ta nói
một con sâu đã làm hỏng nồi canh, nếu phòng chống không tốt chúng trở thành bầy sâu thì
rất nguy hiểm cho đất nước này” nhưng ông cho rằng về việc này “Nghị quyết, luật pháp đã
có, văn bản giấy tờ, nhiều rồi, đầy đủ rồi, vấn đề là phải hành động, kiên quyết hành động,
phải nói ít làm nhiều”. Về việc củng cố phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch
nước Trương Tấn Sang đề nghị “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm
tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những


điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền
thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp xã hội;
đồng bào các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.
Những phát biểu thẳng thắn chân thành của tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho thấy
ông và các nhà lãnh đạo mới rất thấu hiểu lòng dân, đã nói lên được tâm tư, nguyện vọng, lo
lắng và mong mỏi từ đáy lòng người dân, đem lại cho nhân dân cả nước những niềm tin và
hy vọng lớn lao.
Tin rằng, trong nhiệm kỳ mới, tân Chủ tịch nước, tân Thủ tướng và tân Chủ tịch Quốc
hội giữ nguyên vẹn ý chí chiến đấu, tấm lòng trong sáng, trung thực, tinh thần cần kiệm liêm
chính, chí công vô tư, phát huy tài năng, trí tuệ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để lãnh
đạo xây dựng thành công một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh,
thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nhà nước được “lòng dân” như Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng mong mỏi.

Nguyễn Thế Khoa


Vùn Hiïën

Trong söë naây

viïåt Nam

Tạp chí xuất bản 03 kỳ/tháng
Kỳ chính ra ngày 25 hàng tháng
Kỳ chuyên đề Văn hóa - Kinh tế ra ngày 15
Chuyên san phương Nam ra ngày 5 hàng tháng
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT
số 41/GP-SĐBS; số 35/GP-SĐBS


Tháng 7 - 2011

Toà soạn - Trị sự
27 Hương Viên - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
ĐT&Fax: 04.39764693
Website: vanhien.vn
Email:

Văn phòng Ban chuyên đề
Số 6 - lô 12 B Trung Yên - Trung Hòa - Hà Nội
ĐT/Fax: 04.37831962
Cơ quan đại diện tại TP.HCM
288B, An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM
ĐT: 08.8353878
Cơ quan đại diện tại miền Trung và Tây Nguyên
Tầng 5 Khách sạn Eiffel, 117 Lê Độ, Đà Nẵng
ĐT: 0511. 647529
Fax: 0511. 811972
Chủ nhiệm
GS Hoàng Chương
Tổng biên tập
TS Phạm Việt Long
Phó Tổng Biên tập Thường trực
NB Nguyễn Thế Khoa
Phó Tổng Biên tập
TS Nguyễn Minh San
NB Trần Đức Trung
Trưởng ban Trị sự
NB Nguyễn Hoàng Mai
Giám đốc cơ quan đại diện tại TP.HCM

NB Võ Thành Tân
Thư ký tòa soạn
NB Từ My Sơn
NB Thu Hiền
Hội đồng Biên tập
Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, GS Vũ Khiêu,
GS.NSND Trần Bảng, GSTS Trần Văn Khê,
GS Trường Lưu, GSVS Hồ Sĩ Vịnh, NB Phạm Đức
Lượng, GSTS Thái Kim Lan, NSND. TS Phạm Thị
Thành, NSND Đặng Nhật Minh, TS Đoàn Thị Tình,
GSTS Nguyễn Thuyết Phong, NVK Nguyễn Thế Kỷ
Trình bày
Từ My Sơn - Đặng Ngọc Quang
Bìa 1:
Nhà văn Sơn Tùng
Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Tài trợ phát hành
Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa
TP. Hồ Chí Minh
In tại
Công ty Cổ phần in Sao Việt, Hà Nội
Giá: 22.000đ

4. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

39. Mình có thể bị tàn phế thân thể nhưng
đừng để tàn phế tâm hồn

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang


6. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang:
Người Việt phải sử dụng triệt để tiếng Việt
Phạm Việt Long

7. Thành nhà Hồ di sản văn hóa thế giới
Phương Thảo

10. Bao giờ từ thiện trở thành văn hóa Việt

Sơn Tùng

40. Gửi em chiếc nón bài thơ
Sơn Tùng

42. Người phụ nữ trong tranh các họa sĩ
Phú Xuyên

44. Diệp Minh Châu vạm vỡ một chân
dung…

Thạch Giản

14. Nhà thơ Trần Đăng Khoa
“Vì đó là Tổ quốc cần phải giữ gìn”

tân linh

46. Kí họa chiến tranh của Hoàng Đình Tài
Hiếu Hoàng


Lương Thị Bích Ngọc
Đông Ngàn

17. Chuối…
18. Đọc “Thủ vĩ ngâm” ở Khuyến Lương

Duy Phi

20. Nguyễn Trãi lại trở về cổ vũ con cháu
của Người
Nguyễn Anh Tuấn

23. Hai mô hình kết cấu của kịch bản
Cải lương

48. Kỉ niệm về nghệ thuật hát Xẩm
Trần Văn Khê

50. Thơ Đỗ Nam Cao
mùi rơm ngun ngút cháy
Hoài Anh

54. Đọc “Đặng Nhật Minh - Phim là đời”
chất nghệ sĩ đã làm nên thành công
Phạm Việt Long

56. Đốt vàng mã chạy đua cùng sự sùng tín

Nguyễn Thế Khoa


26. Một biểu tượng về cái tâm, cái tài của
kẻ sĩ Bình Định
Nguyễn Thanh Quang

28. NSND Sỹ Tiến, sân khấu là sự sống
Vi Thùy Linh

32. Vật đổi sao dời vẫn vẹn tình “quê hương”
Nguyễn Xuân Thủy

35. Thơ tưởng niệm các liệt sĩ Trường Sơn
Nguyễn Hữu Quý

36. Nhà văn Sơn Tùng, huyền thoại
đời thường
Thiên Sơn

Ngọc Anh

58. Bảo tồn phát huy giá trị di tích
Nhà thờ - Từ chỉ Tiến sĩ
Hoàng Trình Thanh làng Đa Sĩ - Hà Nội
Ngọc Anh

62. Củi, sính lễ hứa hôn của người
Giẻ-Triêng
Dương Văn Út – Nguyễn Thị Thu Hiền

64. Văn hóa giao thông và nhân sinh quan

mặt tiền
Bùi Văn Tiếng

66. Cái sự giao thông

Tạ Công Thắng


Contents
july - 2011

4. The statue of President Ho Chi Minh
Yannich Vu

6. Epitaphs of Tay Son revolutionary
martyrs in Kim Son pagoda - Hanoi
Prof.Hoang Chuong

8. The network of traditional cultural values
in innovation and integaration
Prof - Ph.D Ngo Duc Thinh

12.The ceremory of 95 year old longevity
and cemina of reseacher, author Mich Qu
Phuong Anh
ang
14.The excellent student of Uncle Ho in
national art

32. The way to play music by dilettanti of

farmer in the South
Dang Hoanh Loan

36. Dam Phuong – woman historian,
excellent cultural reseacher, pioneer in
studying classical drama
Prof. Hoang Chuong

40. The custom of traditional marriage of
Thai people in Tuong Duong
Dau Duc Truyen

44. Produce a film or do money?
Nguyen Anh Tuan

47. School stage runs to educate art meanly

Prof. Hoang Chuong

16. A wise teacher and philosopher of
Vietnamese national art

Ngoc Anh

50. Nguyen Van Hoc, his words penetrate
into the land

Prof.Vu Khieu

20. Learn to author Mich Quang in studying

national art

Thanh Van

52. To keep Da Nang with developed cities
in Asean and Asia

Musician Thao Giang

22. The anecdote of Dao Tan fixing classical
Van Su
drama works by Nguyen Dieu
24. A way of looking at character-dance in
traditional operetta by culture
Nguyen Thuy Huong

26. Temples of village
Huynh Kim Buu
28. The itinerary of finding the grave of
Trinh doctoral candidate
Nguyen Thuy Kha

Mai Hoa

62. The plateau is orginal
Ph.D Le Thi Bich Hong

66. Vietnam and the decate to act of road
traffic safely in 2011 - 2020
Ministry of Communications and

Transport - Ho Nghia Dung

68. Smallholder culture of people to join in
traffic
Ph.D Nguyen Duy Hung


sûå kiïån bònh lån

Bảo vệ vững chắc

độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
CHỦ TỊcH NƯỚc

TRƯƠnG TẤn SAnG
Ngay sau khi đắc cử, Chủ tòch Nước Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu quan trọng trước
Quốc hội và nhân dân cả nước về trách nhiệm và tâm nguyện của mình trên cương vò nguyên thủ
Quốc gia. VHVN xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

T

ôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã tín
nhiệm bầu tôi giữ trọng trách Chủ tòch nước
Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam nhiệm
kỳ Quốc hội khóa XIII. Tôi nhận thức sâu sắc rằng
đây là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm
nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy
giao phó. Tôi xin hứa với Quốc hội, đồng bào,
đồng chí nguyện đem hết sức mình phục vụ Tổ

quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện nghiêm túc,
đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tòch nước
được Hiến pháp và pháp luật quy đònh; không
ngừng học tập nâng cao trình độ, thường xuyên tu
dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư theo tấm gương đạo
đức của Chủ tòch Hồ Chí Minh; phối hợp và cộng
tác chặt chẽ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các ngành, các cấp, các đoàn
thể nhân dân; nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu ý
kiến, nguyện vọng của nhân dân, ý kiến đóng góp
của các vò đại biểu Quốc hội và rất mong luôn
nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của cả hệ thống
chính trò, của đồng bào, đồng chí và chiến só cả
nước, đồng bào ta ở nước ngoài để tôi hoàn thành
trọng trách được giao, không phụ lòng tin cậy của
Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII vừa qua,
trong bối cảnh có những khó khăn, thách thức
to lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ
lực phấn đấu cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
quan trọng, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời
sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện, khối

4 Vùn Hiïën
viïåt Nam


Thăm xã Tân Thơng Hội (TPHCM), đồng chí Trương Tấn Sang
nhấn mạnh: “Phải lấy sự giàu có của người dân làm mục tiêu
phấn đấu”

đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố,
chính trò - xã hội ổn đònh, độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, uy
tín quốc tế của đất nước được nâng cao. Trong
những thành tựu đó, có đóng góp quan trọng
của đồng chí Chủ tòch nước Nguyễn Minh Triết.
Tôi xin chúc mừng đồng chí đã hoàn thành trách
nhiệm cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân
giao phó, kính chúc đồng chí và gia đình luôn
mạnh khỏe, hạnh phúc, mong rằng với tri thức,
kinh nghiệm, uy tín của mình, đồng chí tiếp tục có
những đóng góp cho đất nước và hỗ trợ, giúp đỡ
tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
đã xác đònh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới.
Trên cương vò công tác của mình, tôi sẽ cùng toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, cùng với các tổ chức
trong hệ thống chính trò nỗ lực phấn đấu quyết


tâm thực hiện thắng lợi Nghò quyết Đại hội, trong
đó, tập trung vào những nhiệm vụ lớn sau đây:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghóa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, thật sự
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý

có hiệu lực, hiệu quả cao; sửa đổi, Bổ sung Hiến
pháp năm 1992; nâng cao chất lượng xây dựng và
thực thi pháp luật. Phát huy dân chủ, thực hiện
đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong mọi
lónh vực của đất nước; đồng thời tăng cường giám
sát, thanh tra, kiểm tra, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ
cương trong bộ máy nhà nước và xã hội; xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và phẩm
chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn
mới; đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, cải
cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí; bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của tổ chức và công dân.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thò trường
đònh hướng xã hội chủ nghóa; thực hiện đổi mới
mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế trí thức, nâng cao chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế nhanh, bền
vững; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong
điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế;
thực hiện thắng lợi mục tiêu tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
- Tập trung phát triển các lónh vực văn hóa
xã hội, bảo vệ môi trường đồng bộ với phát triển
kinh tế, đặc biệt là giải quyết các vấn đề gây bức
xúc xã hội trong các lónh vực này. Quan tâm giải
quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo bền vững; đổi
mới chính sách phân phối, tiền lương, thu nhập

của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động;
thu hẹp chênh lệch về thu nhập, đời sống giữa các
vùng, các tầng lớp nhân dân; bảo đảm an sinh xã
hội; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào
tạo, phát triển khoa học công nghệ, y tế, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực; giữ gìn, phát huy bản
sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân.
- Chăm lo củng cố quốc phòng, an ninh, bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh
chính trò, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống
bình yên của nhân dân. Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng

Đồng chí Nguyễn Minh Triết tặng hoa chúc mừng Chủ tịch
nước Trương Tấn Sang

quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn đònh,
thuận lợi cho phát triển đất nước; kiên trì giải
quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh
thổ, chủ quyền biển, đảo, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục đòa với các nước liên quan bằng
thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc
tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và nguyên tắc ứng xử của khu vực; góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung vì hòa

bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
trên thế giới.
- Củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc, lấy mục tiêu xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc
cảm, đònh kiến về quá khứ, thành phần giai cấp,
chấp nhận những điểm khác nhau không trái với
lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc,
truyền thống yêu nước, nhân nghóa, khoan dung
để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp xã hội;
đồng bào các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam
đònh cư ở nước ngoài.
Trên con đường phát triển, đất nước ta đang
đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn.
Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, với
bản lónh và trí tuệ của con người Việt Nam được
hun đúc trong lòch sử hàng nghìn năm dựng nước
và giữ nước, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế,
đất nước ta nhất đònh sẽ vượt qua mọi khó khăn,
thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ
công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghóa.

Vùn Hiïën 5
viïåt Nam



sûå kiïån bònh lån

CHỦ TỊcH NƯỚc TRƯƠnG TẤn SAnG

Người Việt phải sử dụng triệt để tiếng Việt
PHẠM VIỆT LONG

T

rong không khí vui vẻ tối 25 tháng 7 năm
2011 mừng đồng chí Trương Tấn Sang đắc
cử chức vụ Chủ tòch Nước, một vò giáo sư
tâm sự với Chủ tòch rằng con gái mình đang đi
nước ngoài làm MC cho một chương trình giao lưu
nghệ thuật. Chủ tòch Trương Tấn Sang hỏi đi hỏi
lại mấy lần: “Làm MC phải không?”. Vò giáo sư
nọ vẫn trả lời “Vâng, làm MC”...
Để câu chuyện chuyển sang chủ đề khác một
lúc, rồi Chủ tòch mới nhắc lại câu chuyện hồi nãy:

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp GS Hoàng Chương - TGĐ
Trung tâm NCBT và PHVHDT

- Làm MC tức là làm người dẫn chương trình.
Chủ tòch vui vẻ phát âm mấy từ “Người dẫn
chương trình” theo hai cách phát âm của người
miền Bắc và người miền Nam rồi nhắc:
- Đừng nói là MC, hãy nói là người dẫn chương

trình theo tiếng Việt chúng ta.
Chủ tòch nhắc lại những kỷ niệm khi hoạt
động trong phong trào học sinh sinh viên trong
các đô thò miền Nam thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ cứu nước:
- Khi đó, chúng tôi đấu tranh rất mạnh mẽ
chống văn hóa nô dòch! Muốn giữ được đất nước,
phải giữ được cả văn hóa, ngôn ngữ.
Chủ tòch tỏ ra không hài lòng trước sự việc

6 Vùn Hiïën
viïåt Nam

nhiều kênh truyền hình của Việt Nam lại đặt tên
theo tiếng Anh, như Info TV, Shopping TV, Invest
TV, Astro cảm xúc, Style TV…
Chủ tòch kết luận:
- Người Việt phải sử dụng triệt để tiếng Việt.
Khi những sự việc có thể diễn tả được bằng tiếng
Việt thì ta dùng tiếng Việt để diễn tả.
Tôi tin, đó là những lời nói xuất phát từ tâm
huyết của người đứng đầu đất nước. Nhớ lại, khi
còn là Thường trực Ban Bí thư, bên cạnh những
việc làm mang tính vó mô, chỉ đạo, đònh hướng về
văn hóa - tư tưởng, đồng chí Trương Tấn Sang rất
quan tâm đến các tổ chức văn hóa văn nghệ và
đã làm rất nhiều việc cụ thể để nâng đỡ các hoạt
động bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Nhiều
văn nghệ só, trí thức được đồng chí tới tận nhà
thăm hỏi, nghe ý kiến đóng góp về xây dựng đất

nước, xây dựng văn hóa. Đồng chí cũng rất quan
tâm theo dõi, cổ vũ, khích lệ hoạt động của Trung
tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân
tộc và tạp chí Văn hiến Việt Nam. Có lần, đồng
chí gọi điện trực tiếp cho doanh nhân Võ Thành
Tân, Giám đốc Doanh nghiệp sách Thành Nghóa
TPHCM, động viên Võ Thành Tân tài trợ cho các
hoạt động của Trung tâm và tạp chí Văn hiến Việt
Nam. Nhân Trung tâm và tạp chí kỷ niệm 10 năm
ra mắt hoạt động, đồng chí Trương Tấn Sang đã
trực tiếp viết thư khen những cố gắng và đóng
góp của Trung tâm và tạp chí. Sự quan tâm của
đồng chí Trương Tấn Sang đã thành một động lực
to lớn giúp tập thể cán bộ, nhân viên Trung tâm
và tạp chí phấn đấu vượt mọi khó khăn, không
ngừng vươn lên.
Chúng ta tin rằng, trong cương vò mới, Chủ
tòch Nước Trương Tấn Sang sẽ cùng tập thể lãnh
đạo Đảng, Nhà nước có sự chỉ đạo sâu sát hơn,
điều hành có hiệu quả hơn nhằm thực hiện cho
được khẩu hiệu mà chúng ta đã nêu lên từ nhiều
năm qua “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc!”.


Thành

NHÀ
H
di sản văn hóa thế giới

PHƯƠnG THẢo

Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được Tổ
chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản
văn hóa thế giới. Đây là nhóm di tích thứ bảy ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, cố đô
Huế, thánh đòa Mỹ Sơn, vònh Hạ Long, khu hang động Phong Nha Kẻ Bàng và Hoàng
thành Thăng Long được công nhận là di sản văn hóa thế giới

Vùn Hiïën 7
viïåt Nam


sûå kiïån bònh lån

T

hành Nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây
Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay
thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu
(quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên
đòa phận nay thuộc huyện Vónh Lộc, tỉnh Thanh
Hóa. Thành được xây dựng trong thời gian
ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến
tháng 3 năm 1397) và dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ
nhưng tòa thành này còn lại tương đối nguyên
vẹn. Cho đến hôm nay, kỹ thuật xây dựng
thành vẫn còn nhiều bí ẩn. Thành Nhà Hồ được
các nhà khoa học nhận đònh là một trong số
ít những thành đá còn sót lại trên thế giới. Ở
Đông Nam Á đây là tòa thành bằng đá có giá

trò nhất, độc đáo nhất và duy nhất còn lại.
Thành Nhà Hồ được xây vào năm 1397 dưới
triều Trần do Hồ Quý Ly, người không lâu sau
(1400) lập ra nhà Hồ, chủ trương và trực tiếp chỉ
huy.Thành ở vào đòa thế khá hiểm trở, có lợi thế
về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính
trò, kinh tế và văn hoá. Vò trí xây thành đặc biệt
hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non
hiểm trở, vừa có ý nghóa chiến lược phòng thủ,
vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ.
Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao gồm
thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được
đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 mét
khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một
vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao
quanh.
Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt
bằng hình chữ nhật chiều Bắc - Nam dài 870,5m,
chiều Đông - Tây dài 883,5m. Mặt ngoài của
thành nội ghép thẳng đứng bằng đá khối kích
thước trung bình 2 m x 1 m x 0,70 m, mặt trong
đắp đất. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam
- Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng tiền - hậu
- tả - hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam,
Cửa Hậu còn gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn
và cửa Tây Giai). Các cổng đều xây kiểu vòm
cuốn, đá xếp múi bưởi, trong đó to nhất là cửa
chính Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5
m, rộng 15,17 m. Các phiến đá xây đặc biệt lớn
(dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn).

Các cung điện, dinh thự trong khu vực
thành đã bò phá huỷ, di tích còn lại hiện nay là
4 cổng thành bằng đá cuốn vòm, tường thành
và đặc biệt là Di tích Đàn tế Nam Giao còn khá
nguyên vẹn. Trong các phế tích đáng chú ý có
nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất
đẹp dài 3,62 m.

8 Vùn Hiïën
viïåt Nam

Mợt sớ hình ảnh thành nhà Hờ. Ảnh: BAVN


Thành Nhà Hồ thể hiện một trình độ rất cao
về kó thuật xây vòm đá thời bấy giờ. Những
phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên
cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn
không có bất cứ một chất kết dính nào. Trải qua
hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng
vững.
Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn
đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những
cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ
động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ
còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn
minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử
sách đánh giá cao.
Khu di tích thành nhà Hồ với trung tâm là
thành nhà Hồ, nằm giữa sông Mã và sông Bưởi,

thuộc đòa giới hành chính các xã Vónh Tiến, Vónh
Thành, Vónh Long, Vónh Yên, Vónh Quang, Vónh
Ninh, Vónh Khang, thò trấn Vónh Lộc, một phần
xã Vónh Phúc (huyện Vónh Lộc) và một phần xã
Thạch Long (huyện Thạch Thành). Ngoài thành
nhà Hồ, được gọi là thành trong, khu di tích này
có: Hào thành, La Thành, Đàn Nam Giao, Đền
thờ nàng Bình Khương, Đình Đông Môn, Nhà cổ,
Đền Tam Tổng, Hồ Mỹ Đàm, Hang Nàng và núi
An Tôn, Chùa Giáng, Đền thờ Trần Khát Chân,
Chùa Du Anh, Động Hồ Công
Thành nhà Hồ đã được xếp hạng di tích quốc
gia từ năm 1962. Mặc dù có nhiều dự án tôn tạo
nhưng vẫn chưa được triển khai và thiếu công
tác nghiên cứu cơ bản, các cổ vật đang bò phân
tán và tòa thành bò tôn tạo "không đúng cách".

Vùn Hiïën 9
viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën

Theo đònh nghóa, từ thiện là sự giúp đỡ
người nghèo khổ xuất phát từ lòng đồng tình.
Sở dó phải làm từ thiện vì trong xã hội còn có
người giàu kẻ nghèo. Nước Mỹ giàu nhất thế
giới cũng có hơn 10% dân có thu nhập dưới mức
nghèo do nhà nước quy đònh. Thụy Điển giàu và
công bằng nhất thế giới cũng có hơn 6% dân

thuộc diện nghèo, dó nhiên theo chuẩn nghèo
của họ...

Bao
Giờ

từ thiện trở thành
văn hóa Việt?

Thch Giản

10 Vùn Hiïën
viïåt Nam


Ý nGHĨA cỦA TỪ THiện
Khác biệt giàu nghèo thể hiện sự bất công
trong phân phối của cải, gây tâm lý bất mãn trong
dân nghèo và do đó là nguồn gốc gây mất ổn
đònh xã hội. Làm từ thiện là để thu hẹp khoảng
cách giàu nghèo, tăng mức công bằng xã hội, do
đó tăng sự đồng thuận trong dân chúng, tăng
ổn đònh xã hội. Chính vì thế làm từ thiện không
những chỉ vì người nghèo mà còn vì chính người
giàu; bởi lẽ chẳng ai muốn sống trong một xã hội
rối ren, người giàu lại càng không muốn.
Nhưng xóa nghèo rất khó, vì trong xã hội luôn
tồn tại quần thể người thiếu năng lực lao động
(trí óc, chân tay), ốm yếu già lão, không có cơ
hội tìm được việc làm... Kinh tế kém phát triển

thì càng lắm người nghèo. Các nước thường dùng
cách đánh thuế thu nhập để lấy tiền người giàu
chia cho người nghèo dưới các hình thức trợ cấp,
cứu tế v.v...; ngoài ra còn động viên xã hội giúp
người nghèo. Song điều cơ bản nhất là phải giúp
người nghèo tự thoát ra khỏi cảnh nghèo, “không
phải chỉ cho họ con cá mà tốt nhất mang cho họ
cái cần câu cá” - đây là cách làm từ thiện hiệu quả
nhất, cần được chú trọng nhất.
Từ thiện góp phần ổn đònh xã hội trong nước,
vì thế nó là vấn đề có tầm quốc gia. Trong thời
đại toàn cầu hóa, nó trở thành một công việc quốc
tế hệ trọng, được chính phủ các nước và Liên Hợp
Quốc quan tâm. Nước giàu cần giúp nước nghèo,
không chỉ vì nhân đạo mà còn vì để giữ yên ổn
cho chính mình. Dân nước nghèo thường di cư
sang nước giàu, gây rắc rối, mất ổn đònh cho nước
giàu. Nghèo đói còn là nguồn gốc dòch bệnh và
nạn khủng bố rất khó ngăn chặn.
Hơn thế nữa, từ thiện còn là một loại hình sức
mạnh mềm - thứ sức mạnh cần nhất cho mỗi quốc
gia trong cuộc cạnh tranh khốc liệt toàn cầu ngày
nay. Sức mạnh mềm tức là sức thu hút; rõ ràng
quốc gia nào giúp đỡ các nước nghèo càng nhiều
thì quốc gia đó càng có sức thu hút nhân loại.
Trong tác phẩm Sức mạnh mềm, Joseph Nye
viết: Chính phủ và nhân dân các nước Bắc Âu
luôn luôn vui lòng giúp đỡ những người nghèo
khổ trên toàn thế giới, nhờ thế các nước này có
sức mạnh mềm vượt xa các nước khác.

Các nước Bắc Âu đều rất giàu và nhiệt tình
giúp các nước nghèo. Thụy Điển là nước phương
Tây đầu tiên viện trợ Việt Nam ngay từ thời chiến
tranh chống Mỹ với dự án nhà máy giấy trò giá
trên 1 tỷ USD. Đan Mạch với 5 triệu dân hàng
chục năm nay kiên trì giúp nước ta cải tiến hoàn
thiện ngành thủy sản.

Năm 2008, trong lần đầu tiên về thăm tổ quốc
sau ngày nhậm chức Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc,
ông Ban Ki-moon đã khuyến cáo đồng bào ông:
Để trở thành một quốc gia vó đại hơn, Hàn Quốc
nên nhiệt tình làm công việc từ thiện giúp đỡ các
nước nghèo khổ.
Từ thiện là tiêu chí đánh giá trình độ văn
minh của một dân tộc. Nó không chỉ là việc của
các tổ chức phi chính phủ, tôn giáo, đoàn thể dân
chúng và cá nhân, mà còn được chính quyền coi
trọng. Một đất nước phân hóa giàu nghèo rõ rệt
thì không thể có hình ảnh quốc tế đẹp. Chỉ khi
nào nhận thức đúng tầm mức quan trọng của từ
thiện thì mới có thể làm tốt công tác này.
 
TRUyn THnG TỪ THiện
cỦA nGƯỜi ViệT
Thương người là một trong các phẩm chất
quý giá của người Việt. Từ xưa dân ta đã có câu
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một
nước phải thương nhau cùng”, “Bầu ơi thương lấy
bí cùng/Dẫu rằng khác giống nhưng chung một

giàn”; “Lá lành đùm lá rách”... nói lên truyền
thống từ thiện của người Việt. Truyền thống đó
gắn liền với quá khứ đau thương của dân tộc: kinh
tế rất lạc hậu kéo dài hàng nghìn năm, lại thêm
thiên tai đòch họa không ngừng, đời sống đa số
dân ta rất thấp, số người giàu cực ít. Trong chế độ
thực dân, phong kiến, kẻ thống trò chỉ lo vơ vét,
không lo cứu giúp dân nghèo. Nhưng nhiều cá
nhân và tổ chức từ thiện xuất phát từ tình thương
đồng bào tự đứng ra tổ chức công tác quyên góp
cứu giúp dân nghèo và nạn nhân của các thiên tai.
Lòch sử mãi mãi ghi nhận tấm gương xả thân làm
từ thiện của cư só Phật Giáo Thiều Chửu - Nguyễn
Hữu Kha và bà Cả Mọc (bà Hoàng Thò Uyển)
trong hai đợt cứu tế nạn lụt năm Đinh Sửu và nạn
đói năm 1945. Các tôn giáo, nhất là Phật Giáo, đã
có nhiều đóng góp trong công việc từ thiện.
Thời gian qua, nhiều nhà chùa tổ chức trao
tận tay hàng tỷ đồng hàng cứu trợ cho nạn nhân
các đợt lũ lụt. Đó chủ yếu là những đồng tiền do
các thiện nam tín nữ biếu tặng nhà chùa hoặc trả
công cho một dòch vụ tôn giáo nào đó, thực chất
là tiền của dân chúng, nhà chùa đem giúp người
nghèo là rất đúng hợp lý. Đồng bào cả nước đã tự
nguyện quyên góp hàng trăm tỷ đồng cho các quỹ
từ thiện. Báo chí và các đài truyền hình tổ chức
nhiều hình thức quyên góp, như Quỹ Tấm Lòng
Vàng. Mặt khác, Nhà nước tiến hành nhiều dự án
xóa đói giảm nghèo có hiệu quả.


Vùn Hiïën 11
viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën
Nhìn chung công tác từ thiện ở ta chủ yếu
mới dựa vào sự quyên góp từ nhân dân, trong khi
đa số dân ta còn chưa giàu; phần đóng góp của
giới người giàu chưa đáng kể, chưa thành phong
trào; cá biệt còn có người giàu hứa mà không làm.
Quy mô công tác từ thiện ở ta còn rất nhỏ, chủ
yếu rộ lên khi có thiên tai, còn bình thường ít có
biểu hiện. Khi ấy từ thiện chỉ nặng tính chất “phát
chẩn” chứ chưa giải quyết được vấn đề gốc rễ của
sự nghèo. Nói cách khác, ta còn chưa có văn hóa
từ thiện.
 
KHi TỪ THiện TRỞ THÀnH vĂn HA
Trong xã hội văn minh, từ thiện trở thành một
thứ văn hoá; người ta quyên góp từ thiện như một
thói quen không cần suy tính, nhưng mặt khác lại
có những tổ chức (thí dụ các quỹ từ thiện) chuyên
trách nghiên cứu sử dụng tiền từ thiện một cách
có hiệu quả nhất. Đây là sự thể hiện độ chín của
xã hội công dân, tức xã hội trong đó người dân
thông qua hoạt động tự nguyện trong các Nhóm
công dân (như tổ chức từ thiện, think tank ...) để
cùng chính quyền quản lý xã hội một cách hợp
lý nhất.
Người phương Tây, đặc biệt người Mỹ, có

truyền thống làm từ thiện quy mô lớn, nhất là
những người giàu. Truyền thống này bắt nguồn
từ nguyện vọng sâu xa của tổ tiên người Mỹ những người châu Âu đầu tiên vượt đại dương di
cư tới Bắc châu Mỹ để tìm kiếm cuộc sống dân
chủ tự do bình đẳng, – và từ đạo Tin Lành dạy
mọi người phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Ở nước Mỹ tồn tại một nền kinh tế không
kiếm lời (non-profit economy) chuyên làm từ
thiện, có giá trò khoảng 8% GDP, sử dụng hơn 10
triệu người, tức gần 7% lực lượng lao động, hơn cả
tổng số công chức Mỹ. Năm 2009 Mỹ có 1.238.201
tổ chức từ thiện hoạt động ở trong và ngoài nước.
Tổng số vốn của 100 quỹ từ thiện lớn nhất lên
tới hơn 120 tỷ USD, một số quỹ trên 10 tỷ USD.
Có quỹ còn lập các viện nghiên cứu y học, môi
trường để giúp nước nghèo. Nhiều tỷ phú lập quỹ
từ thiện riêng để quản lý việc đưa đồng tiền của
mình đến tận tay người nghèo một cách hiệu quả
nhất, và để quyên góp từ xã hội.
Các tổ chức từ thiện dân lập xây dựng nhiều
nhà ở hoặc nhà tạm trú và cung cấp bữa ăn miễn
phí cho người nghèo, người vô gia cư; mở cửa hiệu
cung cấp thực phẩm hàng hóa cho người nghèo,
mở lớp dạy nghề miễn phí cho người thất nghiệp.
Viện trợ quốc tế do chính phủ Mỹ cung cấp
tuy đứng đầu thế giới về số lượng (khoảng 20 tỷ

12 Vùn Hiïën
viïåt Nam


USD/năm) song tỷ lệ so với GDP thì chưa đến
0,3%, mức thấp nhất trong các nước phát triển.
Bù lại, dân chúng Mỹ viện trợ rất nhiều cho các
nước nghèo; năm 2007 họ đã giúp 115,9 tỷ USD
(tương đương GDP Việt Nam hiện nay); nếu kể cả
tiền góp làm từ thiện trong nước thì rất lớn. Năm
2009 người Mỹ góp được 304 tỷ USD tiền từ thiện
(tương đương 2,1% GDP Mỹ), trong đó 75% do các
cá nhân góp, 8% là tài sản do những người già
trước khi chết hiến tặng, 4% do các công ty góp.
65% gia đình Mỹ góp tiền từ thiện, mỗi gia đình
mỗi năm bình quân góp 2213 USD.
Vua sắt thép Andrew Carnegie (1835-1919) từ
30 tuổi trở đi đã thực hiện lời hứa từ thû hàn vi
là bao giờ kiếm được mỗi năm 50 nghìn đô-la thì
phần thu nhập cao hơn sẽ tặng hết cho xã hội.
Vua dầu lửa J. D. Rockefeller Jr. (1874-1960) từng
nói Chết trong giàu sang là ô nhục. Câu này được
hiểu theo nghóa người giàu trước khi chết phải
biếu hết tài sản cho xã hội, có như vậy chết mới
thanh thản. Họ cho rằng để tài sản cho con cháu
hưởng chỉ làm hư chúng. Rất nhiều người Mỹ đã
làm như vậy, kể cả người không giàu.
Tháng 6/2010, hai người Mỹ giàu nhất Bill
Gates và Warren Buffett phát động phong trào
Cam kết Hiến tặng (Giving Pledge campain) kêu
gọi các nhà giàu cam kết trong quãng đời còn lại,
hoặc sau khi chết, sẽ hiến tặng một nửa tài sản
cho xã hội. Riêng Buffett đã hứa tặng 99%. Trước
mắt họ kêu gọi 400 người Mỹ giàu nhất tham gia

cam kết và về sau sẽ mở rộng ra toàn thế giới.
Hiện đã có 57 người ký cam kết này. Nếu 400 nhà
giàu Mỹ đều làm như vậy thì tổng số tiền từ thiện
của họ ít nhất sẽ là 600 tỷ USD, tương đương GDP
của Saudi Arabia, nước sản xuất nhiều dầu mỏ
nhất thế giới.
 
BAo GiỜ TA s c vĂn HA TỪ THiện?
Cuối tháng 9/2010, Gates và Buffett đến tìm
hiểu tình hình từ thiện ở Trung Quốc, là nước
hiện có nhiều tỷ phú đô-la nhất thế giới (189).
Một tháng trước đó họ gửi thiếp mời 50 nhà giàu
Trung Quốc dự bữa tiệc gặp mặt thân mật họ sẽ
tổ chức tại Bắc Kinh. Nhưng một số người đã gửi
trả thiếp mời, hoặc gọi điện hỏi xem đây có phải
là dòp sẽ bò mời tham gia phong trào cam kết hiến
tặng hay không.
Tin ấy làm dư luận Trung Quốc dấy lên một
đợt bàn cãi sôi nổi về vấn đề công tác từ thiện nước
này còn lạc hậu nghiêm trọng so với nhu cầu phát
triển của chính mình, tới mức phải để nhà từ thiện
nước ngoài đến “lên lớp”. Dư luận nhấn mạnh: để


chứng tỏ là một cường quốc, Trung Quốc không
những phải trở thành nền kinh tế lớn mà còn phải
chủ động giúp các nước nghèo, nếu không thì chỉ
chuốc lấy tiếng “Vi phú bất nhân” (Giàu mà không
thương người).
Khi bàn luận nguyên nhân dẫn đến tình trạng

nói trên, đa số cho rằng đó là do tư duy người
phương Đông nói chung còn hẹp hòi thiển cận,
người giàu chỉ nghó tới mình, chưa nghó tới lợi ích
quốc gia hoặc quốc tế. Tâm lý trọng gia đình khiến
họ còn lo để tài sản thừa kế cho con cháu, vì thế
giàu bao nhiêu vẫn chưa đủ, chết đến nơi vẫn lo
làm giàu, và ngại giúp kẻ nghèo.
Thực ra người giàu Trung Quốc vẫn có làm từ
thiện, song ít người nói ra, có lẽ vì họ muốn giấu
đòa vò nhà giàu của mình. “Nhà từ thiện số một
Trung Quốc” là ông Trần Quang Tiêu, Chủ tòch
công ty Tận dụng tài nguyên tái sinh Hoàng Phố,
từ năm 1998 tới nay đã góp 1,34 tỷ Nhân Dân
Tệ (1Tệ = 0,15 USD) cho xã hội, hơn 700 nghìn
người được hưởng lợi từ sự quyên góp ấy. Hôm
3/9/2010 ông công bố thư gửi hai tỷ phú Gates và
Buffett, trong có viết: “Hôm nay, khi hai ông đến
Trung Quốc, đất nước nổi tiếng thế giới bởi phẩm
chất cần lao, trí tuệ và lương thiện này, tại đây
tôi xin trònh trọng tuyên bố: tôi sẽ là doanh nhân
Trung Quốc đầu tiên hưởng ứng và ủng hộ hành
động của hai ông. Khi rời thế giới này, tôi sẽ tặng
xã hội toàn bộ tài sản của mình”.
Xã hội Việt Nam ngày nay khuyến khích mọi
người làm giàu chính đáng. Làm giàu chân chính
là một việc gian khổ, đòi hỏi nhiều phẩm chất
quý. Ngày nay người giàu được vinh danh, vì họ
góp phần làm đất nước giàu mạnh. Nhưng họ chỉ
thực sự được tôn trọng nếu biết sử dụng đúng
tài sản của mình, biết giúp đỡ đồng bào nghèo.

Người giàu chỉ lo ăn chơi thường bò gọi là trọc
phú, tức người giàu kém hiểu biết.

Cần hiểu rằng tài sản xã hội là do toàn dân
làm ra nhưng phân phối không đều; một số ít
người do có năng lực và có cơ hội nên chiếm
phần hơn, trở thành người giàu, trong khi đa số
dân vẫn nghèo hơn. San sẻ tài sản của mình cho
người nghèo là một nghóa vụ đạo đức. Con người
khi chết thì thể xác về với đất, còn tài sản thì nên
trở về với người làm ra nó - nhân dân; đây là một
hành động hợp “lẽ trời”. Để con cháu thừa kế
tài sản lớn là không hợp lẽ trời; vì không làm ra
của cải nên chúng sẽ không biết sử dụng tài sản
đó, chỉ ăn chơi phung phí. Như vậy sẽ có hại cho
chúng và cho đất nước.
Đáng mừng là nước ta hiện nay có khá nhiều
người giàu, kể cả tỷ phú đô-la. Nhưng họ đóng
góp cho xã hội còn rất ít, kể cả đóng góp qua
thuế và đóng góp từ thiện. Nhiều người giàu giấu
mặt. Tình trạng này có phần do nhà nước chưa
thi hành chế độ công khai tài sản cũng như chế
độ thuế tài sản hợp lý. Nếu cứ để tình trạng “đi
đêm” này kéo dài thì chẳng những nhà nước mất
nguồn thu mà phân hóa giàu nghèo sẽ ngày càng
sâu sắc, xã hội sớm muộn sẽ mất ổn đònh. Sự
minh bạch hóa, công khai, trong suốt về tài sản
và thu nhập của mọi công dân, trước hết là công
chức và doanh nhân, người giàu, cần được nhà
nước thể chế hóa bằng luật pháp, không được để

các nhóm lợi ích ngăn cản việc này.
Nhà nước và xã hội cần đẩy mạnh công tác
từ thiện, đưa lên thành công việc hàng ngày chứ
không nên như hiện nay, chỉ rộ lên mỗi khi có
thiên tai. Cần thành lập các quỹ từ thiện, vận động
quyên góp tiền thường xuyên từ các doanh nghiệp
và doanh nhân, nhà giàu, và tổ chức công tác này
một cách quy mô, có chiến lược lâu dài nhằm đạt
mục tiêu “Không chỉ giúp người nghèo con cá mà
quan trọng nhất phải giúp họ cái cần câu cá”.
Bản thân người giàu cần thấy làm từ thiện
không chỉ thể hiện đạo đức thương người của
mình mà còn là một công việc có tầm quan trọng
quốc gia, có ý nghóa với dân tộc; vì thế phải lập
kế hoạch làm từ thiện suốt đời và dành thời gian
tiến hành công tác này sao cho hiệu quả nhất,
không phải chỉ góp một số tiền là xong.
Muốn làm tốt công tác từ thiện, cần tạo điều
kiện để xã hội ta dần dần tiến lên thành xã hội
công dân, sao cho từng người dân thực sự làm
chủ đất nước bằng hành động tham gia cùng
chính quyền tổ chức đời sống mọi mặt của xã hội.
Chừng nào từ thiện chưa trở thành một dạng văn
hoá thì xã hội ta còn chưa thể được coi là xã hội
văn minh.

Vùn Hiïën 13
viïåt Nam



diïỵn àân vùn hiïën

Nhà thơ
Trần Đăng Khoa

“Vì đó là Tổ quốc,
cần phải giữ gìn”
LƯƠnG THỊ BÍcH NGọc
Nhà thơ Trần Đăng Khoa

K

hông ít người nói không biết lúc nào Trần
Đăng Khoa nói thật, lúc nào Trần Đăng
Khoa nói đùa, vì nhiều khi anh đùa như
thật, mà có lúc thật lại như đùa. Nhưng có một
điều, khi nói về lính, và đặc biệt về lính biển,
Trần Đăng Khoa chưa bao giờ tếu táo.
Chợt nhớ lần đầu tiên gặp anh ở bệnh viện
quân đội 103 hồi năm 1984, thời mà bài thơ “Một
chút thơ tình của người lính biển” vừa mới được
Hoàng Hiệp phổ nhạc, rất nổi tiếng. Người ta nói
anh vào viện để chữa mắt, dưỡng mắt vì “lênh
đênh trên biển lâu ngày, thiếu Vitamin C nên mắt
bò hỏng nặng”.
Ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy Trần Đăng
Khoa với bộ đồ lính, ngồi trên giường bệnh viện,
ba lô bộ đội và bộ chăn màn màu xanh gấp ngay
ngắn chẳng giống chút xíu nào với hình ảnh thần
đồng thơ trong tưởng tượng của nhiều người. Lúc

đó, hỏi về những bài thơ viết về đảo, Khoa chỉ
cười hiền hiền, nói vài câu, đại ý (mà giờ đây tôi
mới hiểu hết vì sao anh lại nói thế): “Thơ là thơ.
Thực tế còn lãng mạn và dữ dội hơn. Người chưa
ra biển, không ở đảo không thể hình dung được”.
25 năm sau, đọc lại bài thơ “Đợi mưa trên đảo
Sinh tồn”, tôi mới cảm nhận được phần nào ý chí,
tâm hồn của người lính đảo được thể hiện qua
những con chữ của lính biển - nhà thơ Trần Đăng
Khoa. Ở giữa đại dương mênh mông sóng vỗ, sự
kiên trung của người lính biển như được hun đúc
thêm bởi ý chí quật cường của dân tộc Việt hàng

14 Vùn Hiïën
viïåt Nam

ngàn năm. Và mỗi khi biển Đông không bình yên,
lại thấy những câu thơ như thế này của Trần Đăng
Khoa như là một điềm báo, và vô cùng sâu sắc:
...Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão táp chưa ngưng trong những vành
tang trắng
...Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên...
Trần Đăng Khoa là nhà văn, đồng thời cũng là
người lính biển - người cầm súng có mặt rất sớm
ở Trường Sa.
Mùa xuân 1975 có đợt tổng động viên trong

cả nước, chuẩn bò cho trận đánh cuối cùng. Khoa
đang học dở lớp 10 thì vào lính, như bất cứ mọi
thanh niên nào ở làng quê anh. Lớp anh có 54 học
sinh, thì 49 người nhập ngũ. Con trai đi, con gái
cũng đi. Sau nhiều lớp huấn luyện, sử dụng thành
thạo tất cả các loại vũ khí, Khoa được chuyển qua
Bộ tư lệnh Hải quân... Anh đã đi qua 25 đảo. Anh
là một người lính thực thụ chứ không phải là một
nhà văn đi thực tế.

- Tại sao ngày đó Trần Đăng Khoa đã chọn
đại dương là mảnh đất lập danh cho mình ở tuổi
trưởng thành?
+ Tôi đâu có chọn. Đó là việc tất yếu của người
lính mà thôi. Đã là lính thì nhiệm vụ nó chọn
mình chứ mình làm sao mà chọn được nhiệm vụ.


Biển mênh mông nước nhưng lại không có nổi
một giọt nước ngọt nuôi sống người lính. Biển
rất kỳ vó, nhưng không thể chở che. Lính bộ binh
có cây lá ngụy trang, có đất làm chiến hào, làm
những căn hầm che chở. Nhưng lính biển chẳng
có nơi nào ẩn nấp khi có đòch đến. Che chở cho
mình lại chính là lòng dũng cảm của chính mình
thôi.
Không có hình ảnh nào lãng mạn như hình
ảnh người lính hải quân trước sóng gió. Nhưng
cũng không có hình ảnh nào dữ dội như sự hi sinh
của người lính trên biển. Người ta nói chết thì mồ

yên mả đẹp nhưng với lính biển thì không. Ngay
cả khi đã chết rồi, dù chỉ còn mảnh xương tàn,
mảnh xương ấy cũng vẫn phải tiếp tục vật lộn với
sóng gió, bão táp. Tôi cũng như nhiều lính biển
khác, về hải quân, ra biển đảo là để làm lính chứ
không phải để làm thi só, văn só...
- Khi là lính biển, anh có chứng kiến sự hi sinh
nào thực sự ám ảnh không?
+ Nhiều. Sự hi sinh đa dạng lắm. Bệnh tật.
Sóng gió. Rồi những trận đánh giáp lá cà, không
nổ súng. Và hoàn toàn im lặng. Chỉ có trời biết.
Biển biết. Và người hi sinh biết mà thôi.

Ngay chuyến đi Trường Sa đầu tiên, có cả bộ
đội và một anh kỹ sư thủy sản. Anh ra đảo nghiên
cứu để nuôi và khai thác hải sâm ở Trường Sa. Tôi
còn nhớ gương mặt anh: trẳng trẻo, thư sinh, đôi
mắt ngơ ngác sau cặp kính cận. Anh đi chuyến
xuồng sau tôi và qua mép san hô thì bò lật xuồng.
Đây chính là chỗ nguy hiểm nhất. Ngoài khơi ngay
cả ngày biển lặng, vẫn có sóng ngầm húc vào vách
đảo và cuộn lên thành sóng bạc đầu ngay ở mép
san hô. Người bò lật xuồng có thể bò sóng cuốn,
hoặc sóng dội, quật vào đá san hô. Anh kỹ sư thủy
sản hy sinh như thế. Sau nhiều ngày, vẫn chưa tìm
được xác... Tất nhiên, hồi ấy yên bình hơn bây giờ.
Yên bình nhưng vẫn có tranh chấp. Nhưng là tranh
chấp hòa bình. Ví dụ, đảo của ta, ta đang giữ, vậy
mà bọn người nhái lẻn vào rồi bí mật chôn mốc
chủ quyền của họ. Rất vớ vẩn và khó chòu...

- Hồi đó, ở Trường Sa, anh có từng nghe về
trận hải chiến 1974 để bảo vệ Hoàng Sa không?
+ Khi hòn đảo này bò mất năm 1974, tôi còn
là học sinh phổ thông chứ chưa phải là lính. Tôi
biết tin đó là qua đài của Chính quyền Sài Gòn và
Đài Hoa Kỳ. Dẫu Hoàng Sa bò giành giật từ tay
ai thì vẫn là đất đai của Tổ quốc mình, vẫn là nỗi
đau xót.

Lính đảo Trường Sa. Ảnh: Vũ Hải

Vùn Hiïën 15
viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën

đã ra đi trong hai cuộc chiến, dù bên này hay bên
kia...
Tôi từng gặp không ít bà mẹ, có người con là
liệt só và một người con cũng đã chết trận ở phía
bên kia, hai tấm ảnh, cùng nằm chung trên một
ban thờ. Chỉ bà mẹ mới thấu hết nỗi xót xa đau
đớn. Nhà thơ Trần Nhuận Minh rất thấm thía nỗi
khổ cực của những gia đình ở trong cảnh giằng
xé:
Ta thì bảo theo đòch
Đòch lại rằng theo Ta
Thời nào cũng lận đận
Cũng không yên cửa nhà

Và cả đến khi đã chết, nỗi đau cũng chưa hết,
vì vẫn ở hai chiến tuyến:
Hai em trai chết trận
Chiến tranh ở hai đầu
Ảnh thờ mờ sương khói
Vẫn không nhìn mặt nhau…
(Bạn thơ mời rượu bên Sông Tiền)
Đối với bất kỳ dân tộc nào, chiến tranh cũng
vẫn là một nỗi bất hạnh. Và khi đã đủ độ lùi thời
gian, chúng ta cũng nên xóa những cách ngăn
trong lòng người để toàn dân tộc thành một khối,
toàn tâm toàn lực bảo vệ non sông, xây dựng đất
nước.
Đọc trên báo thấy năm 2001, vấn đề “tổ chức
một lễ cầu siêu cho vong linh những người đã chết
trong chiến tranh” ở cả hai phía đã được nêu lên
trong thư của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi
Chủ tòch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế
Duyệt. Rồi nhà báo, nguyên Ủy viên TƯ Đảng,
ông Hữu Thọ cũng từng nói tới điều này...
Đúng là thống nhất non sông mà chưa thống
nhất lòng người thì khó mà vui được và đâu phải
đã thống nhất hoàn toàn, Không
có biên giới trên đất đai, nhưng
lại có biên giới trong lòng người
thì đau xót vô cùng. Sự chia cắt
ấy, dù bằng cả máu xương cũng
đâu đã dễ xóa được Phải xóa cái
vết hằn ấy đi, thì dân tộc mới
mạnh lên được. Và non sông

cũng vững bền hơn. Điều này
chúng ta cũng lại phải học Cụ
Hồ thôi.
Tôi cho rằng, rất nhiều bài
toán hóc búa, cứ học Cụ Hồ, ta
sẽ tìm ra lời giải. Có những bài
toán, chính Cụ đã giải rồi, mà ta
cứ lúng túng, loanh quanh, thậm
chí có khi chúng ta còn quên.
Đảo Sinh Tồn Đơng - quần đảo Trường Sa. Ảnh: Vũ Hải

- Với tư cách là một nhà thơ, anh nghó thế nào
về những chiến só vệ quốc đã hi sinh? Nên tôn
vinh thế nào cho công bằng và xứng đáng với
những anh hùng giữ nước trong hơn 4000 năm
nay của dân tộc Việt?
+ Thì tôi nghó rằng những anh em người Việt
của chính quyền Sài Gòn đã bảo vệ Hoàng Sa
cũng cần được ghi nhận như là những người anh
hùng khác đã hi sinh vì toàn vẹn chủ quyền lãnh
thổ của dân tộc Việt Nam. Và khi chiến tranh
đã lùi xa rồi, chúng ta cũng cần có cái nhìn mới
hơn đối với những người đã khuất ở phía bên
kia. Tất nhiên bảo vệ Hoàng Sa, hi sinh vì Hoàng
Sa không chỉ có năm 1974 khi chúng ta bò mất
đảo, mà trước đó hàng chục năm, hàng trăm năm,
thậm chí từ thế kỷ 17, cha ông chúng ta đã canh
giữ Hoàng Sa rồi.
Hiện nay ở vùng đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi,
vẫn còn tục khao lề thế lính (đó là hình thức

dùng hình nhân thế mạng cho lính). Trước biển
cả, số phận con người vô cùng mỏng mảnh. Hồi
đó, đồng bào theo lệnh vua ra đảo giữ nước. Ra
Hoàng Sa vất vả nhiều bề, lại đi bằng thuyền nan,
có đi mà không có về. Nhưng vẫn đi, vì đó là Tổ
Quốc, cần phải gìn giữ.
Hoàng Sa mây nước chập chùng
Người đi thì có mà không thấy về…
Chúng ta có hàng trăm câu ca dao như thế,
nằm rải rác trong dân. Những người dân từng ở
đảo truyền kể lại, Hoàng Sa đất đai trù phú, đẹp,
có nước ngọt. Ở giữa đảo còn có một pho tượng
Phật rất kỳ vó do cha ông chúng ta đã xây dựng.
Không biết giờ có còn không?
Có một nỗi niềm trắc ẩn nào đó từ trái tim
của một nhà thơ Trần Đăng Khoa về những người

16 Vùn Hiïën
viïåt Nam


Chuối...
“Trẻ trồng na
Già trồng chuối”

1

. Cây na trên đất tốt thì sau 3 năm, còn
thường thì phải từ 4, 5 năm trở lên mới trổ
hoa cho trái. Còn chuối thì chỉ sau một năm

cho buồng. Câu ngạn ngữ đúc kết kinh nghiệm
đời sống nhà nông về chọn giống cây trồng.
Cây chuối mềm như loài cỏ cây. Tôi chưa đọc
tài liệu nào nhưng chuối có lẽ thuộc loài thân củ.
Những bẹ chuối ôm lấy nhau tạo nên thân cây.
Nếu đem bóc từng bẹ ra thì cuối cùng chỉ còn lại
củ chuối bám sát mặt đất. Những năm đói kém
củ chuối cũng có thể là món ăn cứu sống người.
Củ chuối non, loại chuối lá ít vò chát, thân non
thường được thái làm rau ghém, củ chuối thái con
cờ bóp riềng mẻ om lươn có thể coi là món đặc
sản đồng quê có chất lượng cao.
Chuối là bạn với mọi nhà. Nông thôn hầu
như nhà nào cũng có vài bụi chuối. Chuối cho
quả rồi mà thân chuối vẫn dùng thái ra nấu cám
chăn lợn. Con lợn vào ngày sắp giết mổ, người ta
chăn rau chuối nhiều lòng ruột sạch thơm và ròn.
Người hiểu cây chuối nhất vẫn là nông dân. Thân
phận cây chuối chính là thân phận người nông
dân. Cái gốc nông xưa nay sức mạnh bao giờ cũng
như cây chuối, bóc đi vài lớp bẹ là trơ củ, thứ củ
mà thời nay chẳng ai nghó tới giá trò của nó. Coi
thường nhau, vẫn bảo là đồ... củ chuối!

thẳng, rách te tua trong gió bão cũng vẫn thẳng.
Nhìn tàu lá chuối sau cơn bão trông như chiếc
lược thưa khổng lồ, răng lược chỗ to chỗ bé. Lá
chuối rách nhưng luôn rách thẳng chứ không bao
giờ cong queo thớ lợ. Đó là chất người nông dân
ta đó. Những con người nông dân làm ruộng bạn

của cây chuối có đời sống thấp nhất về kinh tế
nhưng đời sống tinh thần lại rất giống tàu chuối.
Họ sống nghèo nhưng thẳng thắn và chân chất, có
rách thì cũng rách thẳng. Tôi thật thú vò về phát
hiện của nhà đạo diễn nhận ra loài cây có tính
cách người.
3. Đạo diễn băn khoăn, đất nước ta tám chín
mươi phần trăm dân làm nông, lòng người vốn
thẳng như tàu chuối, sao mà bây giờ con người
nó lắt léo khác thường thế nhỉ. Tôi bảo anh, cây
chuối vốn trồng ở nông thôn nó thế, còn khi ra
đường nhựa phố phường kiếm ăn thì nó biến đổi
gien để thích hợp với thổ ngơi nơi mới. Nhưng
gốc thì vẫn... củ chuối thôi. Phố phường nó khác
thế nào thì anh hiểu rồi đấy. Chẳng qua bây giờ
nhiều cái tình được thay bằng tiền thì phải cong
queo tí. Thích thẳng thớm lui về nông thôn thì tàu
chuối vẫn thẳng đấy.

ĐnG nGÀn

2. Một đạo diễn điện ảnh quan sát cây chuối
bảo có thấy gì không? Tôi không hiểu. Tôi bảo
cấy chuối có dùng được từ thân đến lá, chẳng bỏ
phí cái gì. Gói bánh nếp mà không có lá chuối thì
khi bóc, bánh sẽ vỡ lung tung. Bánh nếp gói lá
chuối, khi bóc chỉ cần xé từng thớ nhỏ sẽ không
bò dính dớp, bánh nguyên dạng ngon lành. Còn
rượu cuốc lủi thì chẳng có loại nút nào hơn nút
lá chuối khô giữ được hương vò rượu. Bánh thuốc

lào Vónh Bảo gói bằng khoanh lá chuối đã như là
một biểu hiện thương hiệu. Bạn tôi cười: Tôi làm
nghệ thuật không hiểu như anh về công dụng của
lá chuối mà chỉ quan sát nó để tìm ra bản chất
sự việc thôi. Anh nói đến cái thớ lá thẳng là sờ
vào sự việc rồi đấy. Lá chuối nào thì thớ cũng

Vùn Hiïën 17
viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën

Đọc

“Thủ vó ngâm”
ở Khuyến Lương

T

ừ hồi còn nhỏ, tôi đã được đọc bài thơ Thủ
vó ngâm của Nguyễn Trãi. Năm 1960 thì tôi
được phân công về xã Cộng Hoà (nơi có
Côn Sơn) dạy học. Côn Sơn có Thanh Hư động,
nơi Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán ẩn dật.    
Từ năm 2003, sau hoàn thành bản thảo cuốn
tiểu thuyết Mọi đầm (2005), tôi ôm ấp viết tiếp
cuốn tiểu thuyết về Nguyễn Trãi (Đó chính là
cuốn Vực hiểm chốn thâm cung, 2006). Do vậy
mà tôi đã đi, đi khắp: quê gốc của Nguyễn Trãi

làng Chi Ngái - Côn Sơn Chí Linh (Hải Dương),
làng Nhò Khê Thường Tín (Hà Nội), nơi Nguyễn
Phi Khanh dạy học, Lam Kinh (Thanh Hoá), làng
Hới dệt chiếu - quê Nữ nghi Học só Nguyễn Thò
Lộ (nay thuộc Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình), Lệ
Chi viên (Đại Lai, Gia Bình, Bắc Ninh) nơi xảy
ra vụ án động trời... Đi nhiều mà tôi vẫn băn
khoăn: Góc thành Nam lều một gian là đâu? Mãi
đến năm 2004, có trong tay cuốn Lễ nghi Học só
Nguyễn Thò Lộ... của nhà giáo Hoàng Đạo Chúc,
tôi mới biết mà tìm đến Cổ Mai Đàm, Thanh Trì,
Hà Nội. 
Đó là một làng quê ven đê sông Hồng. Nơi
này xưa Nguyễn Trãi đặt tên là Khuyến Lương.
Hiện nay ở Cổ Mai Đàm còn đền thờ Nguyễn
Trãi và đền thờ Nguyễn Thò Lộ. Chữ Hán: đàm là
đầm. Vùng đất này xưa trũng, nhiều hồ đầm có
nhiều gò đất rẻo đất trồng mai (cây mơ cây mận)
nên có nhiều tên mai: Mai Động, Bạch Mai. Cổ
Mai Đàm là vùng đất trũng. Tôi đã có một buổi
trầm ngâm đi dọc làng Khuyến Lương. Ao hồ liên
tiếp. Người xưa phải đào nhiều hồ ao, vật đất lên
để làm nền nhà, làm đường cái. Song nền nhà,
nền đường vẫn thấp, mùa hạ, hầu như chỗ nào
cũng mấp mé nước. Nơi đây nay vẫn còn rặng tre,
rặng xoan. Không khí quê nhiều hơn là chất thò
thành, đô hội. Trong làng Khuyến Lương có một
nhà thờ, dân làng thường gọi là Miếu Đức Ông.
Tương truyền, nơi đây xưa Nguyễn Trãi dạy học,
tiếp khách. Cách nhà này chừng tám trăm mét, ở

ngay sát chân đê sông Hồng, có một căn nhà (lều)
nữa. Đó là nơi ăn ở chính của Nguyễn Trãi, nơi bà
Lộ ươm tơ, dệt lụa, bán chiếu.

18 Vùn Hiïën
viïåt Nam

DUy PHi

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Cổ Mai Đàm là
đòa danh xuất xứ của bài thơ Thủ vó ngâm:
Góc thành Nam lều một gian
No nước uống thiếu cơm ăn
Con đòi trốn, dường ai quyến
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn
 
Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá
Nhà quen xú xứa, ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam lều một gian...
Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi có nhiều
câu thơ về lều: Con lều mọn mọn đẹp làm sao...,
Chụm tự nhiên lều một gian..., Lều hiu ta hãy
một lều hiu..., Lều nhàn vô sự ấy lâu dài..., Chốn
ở trải gian lều lá..., Một yên sách một con lều...
Có người cho rằng những con lều ấy ở Côn Sơn?
Hồi mới đến Côn Sơn, đọc thơ Nôm Nguyễn Trãi
tôi từng tin như vậy. Sau khi đi một vòng Côn
Sơn - Nhò Khê - Cổ Mai Đàm, lại nghiên cứu sử
sách, mới rõ. Nguyễn Trãi sinh năm 1380, được

Trần Nguyên Đán - ông ngoại nuôi dạy. Đến năm
1390, Trần Nguyên Đán mất, lúc đó Nguyễn Trãi
mười tuổi, về Nhò Khê ở với cha. Ông lớn lên, nấu
sử sôi kinh tại đó. Trong triều Trần, Nguyễn Phi
Khanh thi đậu Thái học năm Giáp Dần - 1374. Vì
Phi Khanh là con nhà thường dân, lại lấy con gái
Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần nên không
được bổ dụng làm quan. Sang thời Hồ, ông mới
nhậm chức Thiếu khanh và Trung thư thò lang

Nhà thờ Nguyễn Thị Lộ ở Khuyến Lương (Hà Nội) do nhân dân lập thờ


Quốc tử giám tư nghiệp. Và cũng sang thời Hồ,
Nguyễn Trãi hai mươi tuổi, thi đỗ Thái học sinh,
được bổ làm Ngự sử đài chánh chưởng. 
Khi quân Minh sang xâm lược, Nguyễn Phi
Khanh bò bắt về Kim Lăng (T.Q), Nguyễn Trãi và
em là Phi Hùng khóc tiễn đưa cha, nhưng ông chỉ
cho Phi Hùng đi cùng, bảo Nguyễn Trãi về, căn
dặn: Hãy trở về nước để làm cái việc đại hiếu.
Trên đường về, Nguyễn Trãi bò tướng giặc bắt
đưa về Đông Quan (Thăng Long) giam lỏng... Về
kinh thành, Nguyễn Trãi sống tại Cổ Mai Đàm,
tức Góc thành Nam này. Chính tại mảnh đất này,
cuộc sống ngặt nghèo giữa bầy diều ó, Nguyễn
Trãi đã dùi mài thêm kinh sử và viết Bình Ngô
sách, dâng Lê Lợi.
Sau binh lửa, Nguyễn Trãi làm Nhập nội hành
khiển tước Quan phục hầu, bà Lộ làm Lễ nghi học

só. Không rõ thời ấy Nguyễn Trãi đã sống ở nơi
nào nữa, nhưng đọc lại sử, qua Ức Trai thi tập và
Quốc Âm thi tập, thấy gia đình ông vẫn sống ở
đây là chính. Mãi sau này, cho đến khoảng cuối
năm năm 1437, thấy triều đình nhiều phe cánh,
quyền thần nhũng nhiễu, Nguyễn Trãi mới lui
về Côn Sơn sống ẩn dật. Năm 1439, vua Lê Thái
Tông lại mời Nguyễn Trãi ra coi việc Môn hạ sảnh
và Tam quán sự, kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ.
Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442), với cương vò Hàn
lâm viện Thừa chỉ kiêm Quốc tử giám, Độc quyển
kỳ thi Hội, Nguyễn Trãi đã lấy đỗ Trạng nguyên
Nguyễn Trực, Bảng nhãn Nguyễn Như Đỗ, Thám
hoa Lương Như Hộc và 23 Đồng tiến só. Cộng lại
thời gian, Nguyễn Trãi lưu lại ở Côn Sơn không
nhiều, chủ yếu là ông sống tại Góc thành Nam,
lều một gian này. Đó là một con lều nhỏ bé (Con
lều mọn mọn), hầu như chỉ buộc lạt (Chụm tự
nhiên), không có câu đầu, có các vì kèo,  không
mấy đục đẽo. Con lều tạm, mái lợp cỏ, rạ chẳng
mấy mà mục nát. Thơ Nôm Nguyễn Trãi còn có
câu: Cửa nhà bòn ròn tổ ong tàng. Hình ảnh “tổ
ong tàng” là mượn từ câu ca dao: Còn duyên như
tượng tô vàng/ Hết duyên như tổ ong tàng trời
mưa. Hình ảnh tổ ong tàng cụ thể sinh động lắm;
cũng có thể hiểu: mái nhà lợp rạ hoặc cỏ lâu ngày
thủng lỗ chỗ, trời mưa, dột tứ phía, nhìn lên như
một tổ ong tàng đang nát rữa. Bài thơ Thủ vó
ngâm cho ta thấy rõ cảnh sống của Nguyễn Trãi
lúc ấy.Từ cảnh No nước uống thiếu cơm ăn mà

suy ra: chủ cũng đói thì sao kham nổi việc nuôi
con ở và các súc vật. Có tác giả viết: bài thơ Thủ
vó ngâm được viết trong thời kỳ Nguyễn Trãi bò
giam lỏng. Nhiều ý kiến cho rằng, lúc ấy Nguyễn
ngoài hai mươi tuổi, đầy tráng khí, đang viết Bình

Ngô sách, không thể có giọng thơ ít nhiều buồn
rầu, ngao ngán. Thủ vó ngâm phải được viết lúc
Nguyễn Trãi đã cao tuổi. Sau khi đọc đi đọc lại
cả 99 bài thơ chữ Hán trong Ức Trai thi tập, 254
bài thơ Nôm trong Quốc Âm thi tập, chúng ta
dễ đồng tình với với sự thẩm đònh thứ hai: Thủ
vó ngâm được viết ở giai đoạn sau. Nguyễn Trãi
bò nghi cùng mưu “phản loạn” với Trần Nguyên
Hãn(!), bò hạ ngục. Vua Lê Lợi nghó lại, đã thả. Lúc
này, Nguyễn Trãi đã chừng năm mươi tuổi, bò thất
sủng, bò “vô hiệu hoá”. Thơ chữ Hán, bài Ký hữu
có câu:  Thập tải độc thư bần đáo cốt (Mười năm
đọc sách nghèo đến xương); bài Oan thán còn viết:
Hư danh hoạ thực phù kham tiếu/Chúng báng cô
trung tuyệt khả liên (Danh hư hoạ thực nên cười
quá/Mình cô trung, nhiều kẻ báng bổ rất đáng
thương). Hẳn trong hoàn cảnh này, Nguyễn Trãi
viết Thủ vó ngâm, với câu Triều quan chẳng phải
ẩn chẳng phải...  Là quan thanh liêm đã nghèo
(nhà ngặt), bò biếm truất càng nghèo. Thơ Nôm
Nguyễn Trãi có câu: Quan thanh bằng nước nhà
bằng khánh, vì sống thanh bạch như nước (nước
mưa, nước suối) nên trong nhà chẳng có gì, giống
cái nhà treo khánh đá (ngoài khánh ra, bốn phía

trống hoác). Gia sản sạch bách. Con đòi đã trốn.
Các ông chủ xưa, thường gọi người ở là cái Cam
thằng Qt. Qt, Cam vẫn còn, nhưng chỉ là hai
dặng. Nguyễn Trãi có những câu thơ hài hước: Nô
bộc ắt còn hai dặng qt. Nhà nghèo, song đôi khi
vẫn có khách. Vò quan Hàn lâm viện Thừa chỉ (đã
bò biếm) đã từng có buổi tiếp khách: Ngoài cửa
mừng người dầu cái vẹt/Trong nhà thết khách
mặc con cờ...
Mỗi năm vào thu, người dân Cổ Mai Đàm,
Nhò Khê, Côn Sơn, Đại Lai, Tân Lễ... ai cũng nhớ
ngày 16 tháng Tám năm Nhâm Tuất (1442), ngày
mà Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Quốc tử giám
Nguyễn Trãi, linh hồn của khởi nghóa Lam Sơn
mắc oan, bò chu di tam tộc. Ở Cổ Mai Đàm có tục
lệ “mở hội”, nhưng đó là một hội đặc biệt, chắc
trên thế giới không có hội nào như thế. Ngày hội
mà không kèn không trống, không nói to, không
một nụ cười. Đọc bài thơ Thủ vó ngâm tại Cổ Mai
Đàm, ta càng thấy rõ một Ức Trai tâm thượng
quang Khuê tảo (Lòng Nguyễn Trãi sáng như sao
Khuê...). Tại Cổ Mai Đàm, Nguyễn Trãi đã viết
Bình Ngô sách, Dư đòa chí  và phần lớn các bài
thơ trong Ức Trai thi tập, Quốc Âm thi tập... Cổ
Mai Đàm, Khuyến Lương, Hà Nội trở thành đất
thiêng. Đọc Thủ vó ngâm tại đây, dường như linh
ứng hơn, càn khôn rộng mở, gợi cho ta nhiều suy
ngẫm về nhân tình thế thái, văn nghiệp...

Vùn Hiïën 19

viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën

NGUYỄN TRÃI LẠI TRỞ VỀ
CỔ VŨ CON CHÁU CỦA NGƯỜI
(Đọc “Gửi Ức Trai” của nhà thơ Lưu Trọng Lư)
NGUyn AnH TUẤn

Gửi Ức Trai
Lưu Trọng Lư



Người sợ đưa nhanh nhát chổi
Làm bóng hoa tan
Nhưng khi xô một tảng núi bạo tàn
Ức Trai! Người không biết sợ
Thà chòu một vừng trăng đổ vỡ
Để đổi lấy một mặt trời đại nghóa giữa
hành tinh.
Ai yêu như người, cái lẽ hiếu sinh
Một giọt nắng thanh bình
Trên đầu ngọn lúa?
Ai yêu như người, từng tia máu đỏ
Trong da tóc trẻ đẹp con người?
Thû ấy, ai hơn Ức Trai
Biết trừ bạo, diệt hung
Biết căm loài Tần Hán:

“Hiếu đại, hy công”
Cùng binh, độc vũ..?”
Ôi! Nhà chiến lược thiên tài
Người mưu só tuyệt vời
Người thơ của đội quân đất nước
Đã làm bơ phờ xơ xác
Những mũ mãng thiên triều!
Mười năm trời nằm gai nếm mật
Mười năm trời, nghóa đội, nhân đeo
Ôi! Một cung đàn tuyệt diệu
Còn dội mãi đến ngàn sau!
Người vẫn đó! Ngọn nến đêm thâu
Với vua bày lo việc nước
Và, nơi chiến đòa, viết thư cho giặc

20 Vùn Hiïën
viïåt Nam

Những bức thư, nghóa sáng tựa sao trời
Ngọn nến Ức Trai
Có bao giờ tắt được?
Một mình ôm trước nỗi lo đời
Trong chiếc chăn lạnh, choàng vai
Người dành cả hơi nồng cho hậu thế
Là một triết nhân
Người rõ lẽ:
“Làm một nước nghóa nhân nhỏ bé
Bên một nước lớn vô độ, tham tàn
Phải chòu điều cay đắng nghìn năm
Để đổi lấy hàng trăm trận thắng”

Nhưng Người ơi! Cây muốn lặng mà gió
chẳng ngừng…
Và Ức Trai với mái tóc thời gian còn thơm
trắng mãi
Vẫn nắm chặt trong tay ấn tín Liễu Thăng
Dặn cháu con:
Với hùm beo phải vững giáo, chắc thương
Nhưng Nhân nghóa ngọn cờ, đừng để lọt vào những
bàn tay dính máu
Ôi! Ngọt ngào ngọn gió
Gần 600 năm rồi mà như mới hôm qua
Ức Trai về, lững thững dưới rừng hoa
Như xem lại, một chiều trận mạc…
Hà Nội 27/11/1979
(Trong tập “Bài ca tự tình”
NXB Hội Nhà văn, 6-2011)


N

hà văn Lưu Trọng lư làm bài thơ này sau
khi đã sống nhiều ngày cùng các chiến
só trận đòa “chốt” biên giới phía Bắc tại
Lạng Sơn, Cao Bằng, “Khi trái tim ta đang vỡ làm
đôi” khiến cho “Tiếng nói của cả đời ta ùn lại”
như ông từng bộc lộ ở bài thơ “Em có nghe” viết
cũng trong thời gian đó. Trước máu xương của
quân dân ta đổ xuống chống trả sự “ma giáo côn
đồ” của bọn bành trướng để bảo vệ từng tấc đất
cha ông, nhà văn đã nhớ đến người anh hùng

dân tộc Nguyễn Trãi; và bài thơ “Gửi Ức Trai”
đã như một nén hương kính cẩn giữa đất trời Tổ
quốc thiêng liêng dâng lên hương hồn biết bao
anh hùng nghóa só Việt Nam xưa nay mà Nguyễn
Trãi là tấm gương chói lọi nhất...
Bài thơ mở đầu bằng một ý thơ rất đẹp lấy
trong Quốc âm thi tập: “Hé cửa đêm chờ hương
quế lọt/Quét sân ngày lệ (sợ) bóng hoa tan”, liền
sau đó là một hình ảnh tương phản giàu thẩm mỹ
và nặng tróu hiện thực để khái quát lên toàn bộ
tâm hồn cao khiết lẫn khí phách phi thường của
Nguyễn Trãi trong suốt cuộc đời cụ:
Người sợ đưa nhanh nhát chổi
Làm bóng hoa tan
Nhưng khi xô một tảng núi bạo tàn
Ức Trai! Người không biết sợ
Sức mạnh tinh thần của Nguyễn Trãi được
bắt nguồn từ triết lý hành động của một dân tộc
từng chòu quá nhiều đau khổ, khi “mỗi người Việt
mình nước mắt đủ chảy thành sông”, và nhà văn
đã diễn đạt điều này tựa lời thề của người nghóa
quân trước giờ vung gươm ra trận diệt ngoại xâm,
tựa đôi câu đối trang trọng thấm đẫm xúc cảm
treo nơi bàn thờ Tổ tiên anh linh:

Tồn cảnh đền thờ Nguyễn Trãi dưới chân núi Kỳ Lân

Tượng đồng Nguyễn Trãi

Thà chòu một vừng trăng đổ vỡ

Để đổi lấy một mặt trời đại nghóa giữa hành
tinh.
Từ điểm xuất phát này, nhà văn bắt đầu miêu
tả thế giới tinh thần cao quý của Ức Trai, mà cội
nguồn là tình yêu Dân, thương Dân:
Ai yêu như Người, cái lẽ hiếu sinh
Một giọt nắng thanh bình
Trên đầu ngọn lúa?
Ai yêu như Người, từng tia máu đỏ
Trong da tóc trẻ đẹp con người?
Cho dù phải chòu cảnh “Danh hư họa thực”,
nhưng nhờ có tình thương lớn lao đó, nhờ có “lòng
trung lẫn hiếu/ mài chăng khuyết, nhuộm chăng
đen” (QÂTT) mà Nguyễn Trãi đã trở thành “Nhà
chiến lược thiên tài/ Người mưu só tuyệt vời” đưa
dân tộc vượt qua bao hiểm nguy và đè bẹp giấc
mộng của bọn bá quyền:
Người thơ của đội quân đất nước
Đã làm bơ phờ xơ xác
Những mũ mãng thiên triều!
Nguyễn Trãi còn “dành cả hơi nồng cho hậu
thế”, và nhà văn như nghe thấy nỗi lo âu trăn trở
thể hiện tầm nhìn vượt nhiều thế kỷ của cụ đến
với hôm nay:

Vùn Hiïën 21
viïåt Nam


diïỵn àân vùn hiïën


Ban thờ Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ

“Làm một nước nghóa nhân nhỏ bé
Bên một nước lớn vô độ, tham tàn
Phải chòu điều cay đắng nghìn năm
Để đổi lấy hàng trăm trận thắng”
Nhưng từ hơn ba mươi năm trước, giữa những
ngày tháng Tổ quốc bò sỉ nhục đó, nhà văn đã thốt
lên hộ biết bao người Việt Nam yêu nước - ”Những
ngọn đèn không ngủ” trong hiện tại cái điều phẫn
uất này, qua cách nói dân dã: “Cây muốn lặng mà
gió chẳng ngừng!” Vì thế, Đạo nghóa làm người lớn
nhất giờ đây là “Biết cầm chắc những gì Tổ quốc
trao đưa”:
Và Ức Trai với mái tóc thời gian còn thơm
trắng mãi
Vẫn nắm chặt trong tay ấn tín Liễu Thăng
Dặn cháu con:
Với hùm beo phải vững giáo, chắc thương
Nhưng Nhân nghóa ngọn cờ, đừng để lọt vào
những bàn tay dính máu
Gần mười năm sau cái ngày “Người lính thơ
đi nhặt những mũ mãng thiên triều”, nhà văn Lưu
Trọng Lư vẫn chưa hết nỗi đau và sự trăn trở về
hành động xấc xược của bọn “ma giáo côn đồ”
bành trướng; cùng với nỗi lo lắng khôn nguôi về
sự sa sút của đạo lý, của tinh thần dân tộc chân
chính, ông viết “Thư đêm giao thừa” (năm 1988):
“Mênh mông trường dạ” nhang đèn xưa cũng

thổn thức đầy vơi
Cả lòch sử anh hùng cũng về đây trong chiến
hào sinh tử
Của dân tộc, một câu thơ, một đạo lý
Cũng về đây, sống chết với hôm nay
...Việt Nam không chỉ chết sống một lần
Việt Nam muôn đời tự làm nên vận mạng
Hãy cuốn phăng đi trăm loài xác bẩn!
Nhà văn như đang nói trực tiếp với Nhân dân
mà ông yêu thương quý trọng trọn đời và những

22 Vùn Hiïën
viïåt Nam

người có trách nhiệm đối với vận mệnh Nhân dân
giữa những ngày nóng bỏng này:
Hỡi quyền uy rộng lớn! Thái thượng Nhân dân
Ta chỉ xin quỳ trước một chữ Nhân
Cuộc Giao ban Đất Trời
Người không được phép thêm một lần lỡ hẹn!
Và Nguyễn Trãi lại về với chúng ta hôm nay,
theo xúc cảm của một nhà văn sẵn sàng “Ôm cả
tình thương mà chết”, không chỉ để tiếp tục “Tìm
mai theo đạp bóng trăng” (QÂTT) mà còn để xem
xét cháu con “Với hùm beo phải vững giáo, chắc
thương” ra sao trước sự tồn vong của Đất Nước:
Ôi! Ngọt ngào ngọn gió
Gần 600 năm rồi mà như mới hôm qua
Ức Trai về, lững thững dưới rừng hoa
Như xem lại, một chiều trận mạc…

Một dũng só trong hình dáng của một tiên ông
“lững thững dưới rừng hoa” thăm lại “vạn cổ thử
giang san”- nơi mà chỗ nào cũng có dấu vết “Kình
ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm
gãy bãi bao tầng” (thơ dòch Ức Trai Thi tập). Một
tiên ông hiền dòu có tâm hồn “ngọt ngào như
ngọn gió” mà lại quắc thước, cứng cỏi, chứ không
hề ủy mò yếu hèn trước cả một hàng tướng giặc
qua sự miêu tả gần đây của một nhà văn có tên
tuổi...
Nhà văn Lưu Trọng Lư đã cảm nhận một cách
sâu sắc và đồng cảm cao độ cái sức mạnh tinh
thần lớn lao của Nguyễn Trãi qua văn chương
chiến đấu và văn chương thế sự của cụ mà nhà
thơ Pháp Paul Éluard từng gọi là: “những vũ
khí của đau thương”... Đó cũng là nguyên nhân
quan trọng để “Gửi Ức Trai” trở thành một trong
những tác phẩm văn học hiện đại hay nhất viết
về người anh hùng vó đại dân tộc - danh nhân văn
hóa thế giới Nguyễn Trãi, và luôn luôn mang tính
thời sự nóng hổi... Vâng, Nguyễn Trãi đang “lững
thững” trở về để cổ vũ con cháu biết yêu thương,
quý trọng nhau hơn khi cùng cầm “ngọn cờ Nhân
nghóa“, không để chúng lọt vào “những bàn tay
dính máu” và dơ bẩn - có như vậy mới bảo vệ
được trọn vẹn non sông gấm vóc yêu quý...
Hà Nội, 19/ 6/ 2011

__________
Những chỗ trong ngoặc kép & in nghiêng là thơ

Lưu Trọng Lư lấy từ tập “Bài ca tự tình”


HAi m HinH kT cẤU

cỦA kỊcH bẢn CẢi lƯƠnG
NGUyn TH KHoA

N

hư chúng ta đã biết, nghệ thuật Cải
lương đã hình thành và phát triển trên
các nền tảng cơ bản là sự kết hợp giữa
sân khấu kòch nói phương Tây và sân khấu kòch
hát truyền thống dân tộc với hệ thống âm nhạc
chủ đạo dựa trên ca nhạc tài tử, dân ca và nhạc lễ
đồng bằng Nam Bộ.
Sự ảnh hưởng song trùng về phương pháp sân
khấu đã đưa đến một đặc điểm khá rõ về về nghệ
thuật biên kòch: Nghệ thuật biên kòch Cải lương
dựa trên cả hai hệ thống biên kòch của kòch nói
phương Tây và kòch hát truyền thống Việt Nam.
Qua lòch sử phát triển, hai hệ thống biên kòch này
đã tạo ra hai mô hình kết cấu cơ bản của kòch bản
Cải lương: mô hình kết cấu kòch nói pha ca và mô
hình kết cấu theo kòch hát truyền thống.

a. Mô hình kết cấu kòch nói pha ca
Đây là mô hình kết cấu dựa trên phương pháp
tả thực của kòch nói cổ điển phương Tây, mô tả

cuộc sống đang diễn ra với hình thái tự nhiên của
nó, tạo cho khán giả ảo giác như đang được xem
cảnh sống thực trên sân khấu. Trong mô hình kết
cấu này, bố cục của kòch bản Cải lương là kiểu
bố cục kòch tính chặt chẽ theo luật tam duy nhất
thống nhất về thời gian, đòa điểm và hành động
trong tiến trình: giao đãi, thắt nút, phát triển các
khủng hoảng, tạo cao trào và cởi nút, kết kòch.
Cái khác kòch nói phương Tây ở đây là các
nhân vật không chỉ đối thoại bằng lời nói thường
mà còn phải bằng các bài ca. Bởi vậy, vấn đề phức
tạp đầu tiên đặt ra trong kiểu kết cấu này là giải
quyết mối quan hệ giữa ca và nói. Theo nhà nghiên

Cảnh trong vở cải lương “Lễ mở xiêm áo”

Vùn Hiïën 23
viïåt Nam


Tûâ trong di sẫn
cứu Mòch Quang, đặc điểm cấu trúc mô hình hay
còn gọi là lòng bản của âm nhạc tài tử, dân ca và
nhạc lễ Nam bộ đã giúp các soạn giả và nghệ só
Cải lương giải quyết khá dễ dàng và thỏa đáng
yêu cầu phức tạp này. Kết cấu mô hình của các bài
bản âm nhạc Cải lương là ngoài những điểm bất
biến chúng luôn có những điểm biến, luôn có thể
tự điều chỉnh để thích ứng với nội dung mới, hoàn
cảnh mới cần thể hiện theo nguyên tắc học chết,

dùng sống hay thục giả bất vong tân chế điệu của
sân khấu Tuồng, Chèo. Ca nhạc tài tử, dân ca,
nhạc lễ Nam bộ khi đi vào sân khấu Cải lương đều
phải tuân theo những nguyên tắc sân khấu biến
thành bài bản âm nhạc Cải lương bằng sự tích hợp
nhạc điệu và ngữ khí, ngữ điệu, tiếng hát với tiếng
nói sân khấu. Các bài bản trữ tình biến thành các
bài bản không chỉ có khả năng độc thoại mà còn
có khả năng đối thoại, kể chuyện, thể hiện tính
cách nhân vật. Chẳng hạn bài Kim tiền không chỉ
có khả năng bày tỏ sự yêu thương mà còn có thể
dùng để mắng mỏ, bản Vọng cổ không chỉ có khả
năng diễn tả nỗi sầu bi, thương nhớ mà còn có thể
đối thoại nảy lửa hoặc châm biếm hài hước, Kim
tiền Trang tử khác với Kim tiền Kính Tâm, Tây thi
sư cụ khác với Tây thi thanh niên, Vọng cổ Tỷ can
khác với Vọng cổ Vọng phu…
Các kòch bản theo kết cấu kòch nói pha ca chỉ sử
dụng công cụ ngôn ngữ là lời nói thường như kòch
nói , không dùng văn vần, văn biền ngẫu, ngay cả
các lời ca trong các bài bản cũng cơ bản không sử
dụng văn vần, thơ mà dùng lời nói tự nhiên và
thường nhanh chóng chuyển ngay từ nói sang ca
và từ ca sang nói, không cần những đoạn văn vần
hoặc thơ bắc cầu như kòch hát truyền thống.
Thuật ngữ tạm dùng để gọi mô hình kết cấu
này, kòch nói pha ca, không hàm ý hoàn toàn
đồng tình với những ý kiến từng dùng thuật ngữ
trên để dè bóu, phê phán Cải lương là thứ sân
khấu có kết cấu pha tạp “đầu ngô mình sở”, “nửa

dơi nửa chuột”. Nhưng phải nói, những phê phán
trên cũng không hoàn toàn vô lý. Theo tôi, mô
hình kết cấu nàycủa kòch bản Cải lương giúp ta
thấy rõ điều ta vẫn thường nói: nghệ thuật Cải
lương là cái gạch nối giữa kòch nói phương Tây
và kòch hát truyền thống dân tộc. Sự tích hợp hệ
thống bài bản làn điệu theo cấu trúc mô hình âm
nhạc sân khấu truyền thống Việt Nam vào đã phá
vỡ kết cấu kòch nói, tạo ra một chỉnh thể nghệ
thuật sân khấu mới nhưng chưa hoàn chỉnh. Có
thể coi mô hình kết cấu này là một bước quá độ
trong việc tiếp thu và chuyển hóa kòch nói phương
Tây thành kòch hát Việt Nam.

24 Vùn Hiïën
viïåt Nam

Tuy vậy, không phải ngẫu nhiên mà mô hình
kết cấu kòch nói pha ca được các soạn giả Cải
lương sử dụng rất hiệu quả trong các loại kòch bản
tâm lý xã hội đương đại. Không thể phủ nhận mô
hình kết cấu này giúp Cải lương đi vào đề tài tâm
lý xã hội đương đại dễ dàng và rất được khán
giả Cải lương hoan nghênh nên khi viết về đề
tài tâm lý xã hội đương đại, hầu hết các soạn giả
Cải lương đều sử dụng mô hình kết cấu kòch nói
pha ca. Và mô hình kết cấu kòch bản có tính chất
quá độ này đã giúp nghệ thuật Cải lương tạo ra
hẳn một dòng Cải lương lớn đầy sức sống, được
đông đảo người xem ưa thích với nhiều vở diễn

hay, vượt qua được thử thách khắc nghiệt của thời
gian, trở thành các tác phẩm kinh điển của nghệ
thuật Cải lương như “Sân khấu về khuya” của
Nguyễn Thành Châu, “Đời cô Lựu”, “Tô Ánh
Nguyệt”, “Khi người điên biết yêu” của Trần Hữu
Trang, “Máu thắm đồng Nọc Nạn”, “Người con
gái đất đỏ” của Phạm Ngọc Truyền, “Tấm lòng
của biển” của Hà Triều, Hoa Phượng, “Cây sầu
riêng trổ bông” của Hoài Linh - Trương Bỉnh Tòng…
Người ta thường nói, trong nghệ thuật, cái gì
hay, đẹp, có sức sống đều có lý, đều tích cực. Mô
hình kết cấu kòch pha ca của nghệ thuật Cải lương
đã là bệ phóng tạo nên những cái hay, đẹp, giàu
sức sống của sân khấu Cải lương, bởi vậy, đây
hẳn là một mô hình nghệ thuật có lý, tích cực.
Cảm giác về sự pha tạp, gượng gạo, sự đứt
gãy, không liền mạch, gây sự hụt hẫng, khó chòu
cho người xem trong luân chuyển giữa hát và nói
trong nghệ thuật Cải lương có một phần do mô
hình kết cấu này tạo nên nhưng phải nói nguyên
nhân chính nằm ở trình độ, tài năng, sự tinh tế
của soạn giả, của người nghệ só. Trong các vở Cải
lương lớn của các soạn giả nghệ só lớn như Năm
Châu, Trần Hữu Trang…ta không hề thấy có sự
gượng gạo, đứt gãy, sống sượng nào. Người ta
thường nói, các nghệ só lớn bao giờ cũng biết cách
vượt qua những hạn chế của các hình thức để làm
nên các tuyệt phẩm là vậy.
Có lẽ, cần có những nghiên cứu cơ bản, toàn
diện, sâu sắc hơn về các mặt tích cực và tiêu cực

của mô hình kết cấu này khi nghiên cứu phương
pháp biên kòch của nghệ thuật Cải lương. Đây là
một thực tế kòch sử, thực tế nghệ thuật thú vò,
không thể bỏ qua. Những điều tôi trình bày trên
đây mới là những gợi ý, phác thảo, chưa có thời
gian và điều kiện để đi xa hơn…
b. Mô hình kết cấu kòch hát truyền thống dân tộc
Nếu kòch nói cổ điển phương Tây luôn muốn
trình bày trực diện cuộc sống đang diễn ra, ở thì


hiện tại, trong hình thái tự nhiên của nó, tạo cho
người xem ảo giác như đang chứng kiến trên sân
khấu cảnh sống thật ngoài đời, thì sân khấu kòch
hát truyền thống phương Đông và Việt Nam lại
luôn muốn kể cho khán giả những câu chuyện về
cuộc sống đã diễn ra, ở thì quá khứ, đã được nhận
thức, đánh giá, tổng kết. Nếu tư duy sáng tạo của
kòch nói cổ điển phương Tây là tư duy văn xuôi thì
tư duy của sân khấu kòch hát truyền thống phương
Đông và Việt Nam là tư duy thơ. Nếu hình thức
ngôn ngữ chủ đạo của kòch nói cổ điển phương
Tây là văn xuôi, văn nói trong hình thái giao tiếp
tự nhiên thì ngôn ngữ của kòch hát truyền thống
phương Đông và Việt Nam là sự tích hợp nhuẫn
nhuyễn các hình thức ngôn ngữ văn học như văn
vần, thơ, từ theo lối biền ngẫu với các hình thức
ngôn ngữ âm nhạc, vũ đạo, động tác hình thể,
kòch câm. Đây là mô hình kết cấu của tư duy sân
khấu Tổng thể mà nhà nghiên cứu Mòch Quang và

GS.NSND Trần Bảng từng phân tích.
Nếu bố cục kòch tính theo kết cấu của kòch nói
cổ điển phương Tây theo luật tam duy nhất mà
nghệ thuật Cải lương tiếp thu và vận dụng để tạo
nên kết cấu kòch nói pha ca đem đến cho khán giả
một lát cắt cuộc sống tập trung trong một thời
gian không gian nhất đònh, với hành động kòch
thống nhất phát triển theo tuyến thẳng lên đỉnh
điểm thì bố cục tự sự theo kết cấu sân khấu kòch
hát truyền thống Việt Nam lại trình diễn cho khán
giả xem một câu chuyện qua nhiều thời gian và
không gian khác nhau với hành động kòch đan xen
vận động theo kiểu làn sóng đi tới cao trào.
Ngay từ những kòch bản Cải lương đầu tiên
như “Lục Vân Tiên”, “Kim Vân Kiều”, “Phụng
nghi đình”, “Võ Tòng sát tẩu”, “Xử án Bàng Quý
Phi” mô hình kết cấu kòch hát truyền thống dân
tộc mà ở đây là Tuồng hát bội đã được các soạn
giả, nghệ só vận dụng với các yếu tố trình diễn của
nghệ thuật Tuồng chỉ thay thế hệ thống bài bản làn
điệu tuồng bằng hệ thống bài bản, làn điệu dựa
theo đờn ca tài tử và dân ca, nhạc lễ Nam bộ. Trong
suốt tiến trình phát triển của nghệ thuật Cải lương,
ngoài kòch bản về đề tài tâm lý xã hội đương đại
thường vận dụng kết cấu kòch nói pha ca trên, gần
như tất cả các kòch bản theo các đề tài khác như lòch
sử, dã sử, cổ tích, dân gian, màu sắc, hương xa… đều
học theo kết cấu sân khấu kòch hát truyền thống
dân tộc Tuồng và Chèo và có tiếp thu vận dụng
từ sân khấu Tiều Quảng của Trung Quốc. Dân dần

giới biên kòch của nghệ thuật Cải lương hình thành
nên công thức: kòch bản tâm lý xã hội đương đại
thì theo kết cấu kòch nói pha ca còn các đề tài khác

thì theo kết cấu sân khấu truyền thống Việt Nam
và phương Đông.
Cần nói rằng việc tiếp thu, vận dụng ngày
càng đầy đủ, sâu sắc, sáng tạo kết cấu kòch hát
truyền thống dân tộc đã giúp nghệ thuật Cải
lương từng bước trở thành một bộ môn kòch hát
dân tộc hoàn chỉnh. Trong phân tích phần trên,
chúng ta đề nghò không phê phán phiến diện mô
hình kết cấu kòch pha ca và công nhận một thực
tế: chính mô hình này đã tạo ra một dòng Cải
lương lớn được nhân dân ta ưa thích. Nhưng cũng
nói rằng đây chỉ là một mô hình có tính chất quá
độ từ kòch nói chuyển sang kòch hát.
Những thành tựu nghiên cứu lý luận lớn về sân
khấu kòch hát dân tộc nói chung và nghệ thuật Cải
lương nói riêng những năm 1960 -1970 trên miền
Bắc xã hội chủ nghóa đã góp phần quyết đònh cho
việc nghệ thuật Cải lương phát triển thành một
bộ môn kòch hát dân tộc hoàn chỉnh. Đó là khi,
người ta phát hiện ra sự gượng gạo, không thuần
nhất của kết cấu kòch nói pha ca. Đó là khi người
ta hiểu loại kòch nói du nhập vào nước ta và gây
ảnh hưởng lên Cải lương chỉ là kòch cổ điển Pháp
thế kỷ 18 chứ không phải là cái gì quá mới mẻ của
sân khấu thế giới, chỉ là cái “cũ người mới ta”. Đó
là khi người ta khám phá ra các vẻ đẹp có tính

hệ thống của sân khấu kòch hát truyền thống dân
tộc qua Tuồng và Chèo, nhận biết rằng sân khấu
kòch hát truyền thống phương Đông và của dân
tộc ta chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại quý giá
mà sân khấu phương Tây đang quay lại học hỏi
và hiện đại hóa không có nghóa là bắt sân khấu
truyền thống dân tộc làm theo kòch nói hay ôpera
phương Tây mà phải “từ ta mà mới”. Đó là khi
các soạn giả Ngọc Cung, Lưu Chi Lăng của Đoàn
Cải lương Nam bộ viết các kòch bản “Kiều Nguyệt
Nga”, “Nàng tiên mẫu đơn”, “Dệt gấm”…hoàn toàn
theo kết cấu Tuồng, Chèo và tạo thành những sự
kiện nghệ thuật lớn tại thủ đô Hà Nội. Đó là khi
các nghệ só Ba Du, Tám Danh, Nguyễn Ngọc Bạch
đề xướng và mạnh dạn cùng nhau hợp tác với các
nhà nghiên cứu sân khấu, nghệ só Chèo Tuồng và
múa để dày công xây dựng hệ thống vũ đạo riêng
cho đúng với phong cách sân khấu Cải lương. Đó
cũng là khi các soạn giả nghệ só Tuồng, Chèo cũng
tìm học ở nghệ thuật Cải lương khả năng luôn
tự làm mới mình để luôn luôn thu hút đông đảo
công chúng. Đó là khi chúng ta cảm nhận thật rõ:
Tuồng, Chèo, Cải lương, dù kẻ đến trước, người
đến sau, dù mỗi người mỗi vẻ, đều là những
người con tuyệt đẹp trong gia đình sân khấu kòch
hát truyền thống dân tộc Việt Nam

Vùn Hiïën 25
viïåt Nam



×