Lúâi soáng
HÖÕU THÆNH
Mầu ấu thơ của biển
Nhuộm bền trên áo xanh
Chỉ vài vuông cát nhỏ
Cũng có bao thác nghềnh
Búi tóc dõi chân trời
Đùm nhau qua đói khát
Be bờ rồi đắp đập
Nước Việt ngoài khơi xa
Lăn sóng và mò đá
Tiếng Việt giữa phong ba
Vác biển đắp cho bờ
Ấm lòng người giữa biển
Trồng cây che chắn gió
Bao lần quân cướp đến
Dựng nhà trên cát khô
Nhếch nhác bao mầu cờ
Rồi thành xóm thành làng
Tiếng Việt gọi hồn Việt
Đường ngang và ngõ tắt
Giữ đất Việt ngoài khơi
Ta chẳng dễ dàng hơn
Tiếng Việt là ngọn cờ
Sau bao người đi trước
Hội quân trong đêm tối
Cây thời gian nhích đốt
Tiếng Việt để nhận nhau
Âm thầm bao tâm tư
Giữa bao nhiêu rắc rối
Nồng nã những cơn mưa
Cổ nhân vẫn còn đây
Mang hồn năm tháng cũ
Máu chưa lành vết chém
Người trước bỗng hiện về
Qua mảnh sành mảnh sứ
Cầm thời gian lên soi
Mồ hôi vẫn còn đây
Còn mặn hơn biển mặn
Nợ cũ vẫn còn đây
Đất đai mầu nguyên thủy
Biển còn nham nhở sẹo
Cầm hạt cát lên soi
Dìu đảo ngoi trên sóng
Dấu chân bao thế hệ
Nổi chìm bao kiếp người
Cổ nhân còn đâu đây
Qua tháng năm sứt mẻ
Như vừa ăn dở bữa
Giáo mác quắc đêm thần
Nhớ nhà ngồi khâu vá
Cho Tổ quốc tròn tên
Việt Nam
Hai tiếng Mẹ.
(Trích trường ca Biển)
VN HIẽậN
Trong sửở naõy
VIẽT NAM
Tp chớ xut bn 03 k/thỏng
K chớnh ra ngy 25 hng thỏng
K chuyờn Vn húa - Kinh t ra ngy 15
Chuyờn san phng Nam ra ngy 5 hng thỏng
Giy phộp hot ng bỏo chớ s 397/GP-BVHTT
s 41/GP-SBS; s 35/GP-SBS
THNG 6 - 2011
To son - Tr s
27 Hng Viờn - qun Hai B Trng - H Ni
T&Fax: 04.39764693
Website: vanhien.vn
Email:
Vn phũng Ban chuyờn
S 6 - lụ 12 B Trung Yờn - Trung Hũa - H Ni
T/Fax: 04.37831962
C quan i din ti TP.HCM
288B, An Dng Vng, Qun 5, TP.HCM
T: 08.8353878
C quan i din ti min Trung v Tõy Nguyờn
Tng 5 Khỏch sn Eiffel, 117 Lờ , Nng
T: 0511. 647529
Fax: 0511. 811972
Ch nhim
GS Hong Chng
Tng biờn tp
TS Phm Vit Long
Phú Tng Biờn tp Thng trc
NB Nguyn Th Khoa
Phú Tng Biờn tp
TS Nguyn Minh San
NB Trn c Trung
Trng ban Tr s
NB Nguyn Hong Mai
Giỏm c c quan i din ti TP.HCM
NB Vừ Thnh Tõn
Th ký tũa son
NB T My Sn
NB Thu Hin
Hi ng Biờn tp
Thng tng Nguyn Nam Khỏnh, GS V Khiờu,
GS.NSND Trn Bng, GSTS Trn Vn Khờ,
GS Trng Lu, GSVS H S Vnh, NB Phm c
Lng, GSTS Thỏi Kim Lan, NSND. TS Phm Th
Thnh, NSND ng Nht Minh, TS on Th Tỡnh,
GSTS Nguyn Thuyt Phong, NVK Nguyn Th K
Trỡnh by
T My Sn - ng Ngc Quang
Bỡa 1:
Sn sng n vi bin o
nh: Hong Anh
Ti tr phỏt hnh
Doanh nghip sỏch Thnh Ngha
TP. H Chớ Minh
In ti
Cụng ty C phn in Sao Vit, H Ni
Giỏ: 22.000
4. Duyờn n ca Bỏc vi bỏo chớ
CH TCH H CH MINH
40. ng Nht Minh: Khi ó bit khc t
thỡ t s tỡm c cỏi gỡ ú riờng cho mỡnh
6. Nhng nh bỏo i v phớa bin
HUYN CHM
8. Mt s nột vn húa trong lch s chinh
phc vựng bin o ca Vit Nam
D VN TON
NGUYN L CHI
44. S l mt bn hựng ca lóng mn
HONG HU QUYT
46. Nhc s Nguyn Thy Kha: Hu x t
nhiờn hng vi õm nhc
12. Giỏo dc trong xõy dng vn húa bin
THANH THO
14. Phớa sau nhng ngi ó ngó xung vỡ
Trng Sa
I TRANG
18. Chm ngũi bỳt vo ni au nhõn th
TNG LAI
20. Hi tho khoa hc k nim 130 nm
ngy sinh m Phng N S - nh vn
húa tiờu biu trong lch s Vit Nam
NGC ANH
49. Kh luyn trong ngh thut Tung qua
nhng tm gng tiờu biu
HONG CHNG
52. Gúp tõm huyt cho n ca ti t
NGUYN QUANG LONG
54. Bn sc dõn tc ca phim truyn Vit
Nam trong c ch th trng
NGUYN TH PHNG ANH
56. Cng chiờng x Mng
NGC ANH
24. Thng Long t trn v long mch t
kinh k
PHNGTHO
NGUYN HIU
58. Ca dao vi vn húa i
NGUYN THANH MNG
60. Tn mn v vn húa giao thụng
28. Chựa Vnh Nghiờm v nhng iu ớt k
Lấ HI
NGUYN VN HNG
62. Duy trỡ v phỏt trin mnh m quan h
i tỏc chin lc Vit - Nga
64. Tụi ó gp Tng thng Nga Dmitry
Medvedev
30. Nhng thun nghch trờn ng hc
thut ca hc gi, ngh s Mch Quang
33. Bi ca t tỡnh
LU TRNG L
36. Ba bin khỳc Vn Cao
NGUYN TRNG TO
PHAN ANH
66. Khỏm phỏ Vit Nam bo tng ngh
thut Hoa K
BA TNH
Contents
JUNE - 2011
4. The statue of President Ho Chi Minh
YANNICH VU
6. Epitaphs of Tay Son revolutionary
martyrs in Kim Son pagoda - Hanoi
PROF.HOANG CHUONG
8. The network of traditional cultural values
in innovation and integaration
PROF - PH.D NGO DUC THINH
12.The ceremory of 95 year old longevity
and cemina of reseacher, author Mich Qu
ang
PHUONG ANH
14.The excellent student of Uncle Ho in
national art
32. The way to play music by dilettanti of
farmer in the South
DANG HOANH LOAN
36. Dam Phuong – woman historian,
excellent cultural reseacher, pioneer in
studying classical drama
PROF. HOANG CHUONG
40. The custom of traditional marriage of
Thai people in Tuong Duong
DAU DUC TRUYEN
44. Produce a film or do money?
NGUYEN ANH TUAN
47. School stage runs to educate art meanly
PROF. HOANG CHUONG
16. A wise teacher and philosopher of
Vietnamese national art
NGOC ANH
50. Nguyen Van Hoc, his words penetrate
into the land
PROF.VU KHIEU
20. Learn to author Mich Quang in studying
national art
THANH VAN
52. To keep Da Nang with developed cities
in Asean and Asia
MUSICIAN THAO GIANG
22. The anecdote of Dao Tan fixing classical
drama works by Nguyen Dieu
VAN SU
24. A way of looking at character-dance in
traditional operetta by culture
NGUYEN THUY HUONG
26. Temples of village
HUYNH KIM BUU
28. The itinerary of finding the grave of
Trinh doctoral candidate
NGUYEN THUY KHA
MAI HOA
62. The plateau is orginal
PH.D LE THI BICH HONG
66. Vietnam and the decate to act of road
traffic safely in 2011 - 2020
Ministry of Communications and
TRANSPORT - HO NGHIA DUNG
68. Smallholder culture of people to join in
traffic
PH.D NGUYEN DUY HUNG
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
Duyên nợ
của Bác với báo chí
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Tại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén (8/9/1962)
C
ó đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của
Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm
ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi
học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo
Việt Nam. Còn học thì một là trong đời sống của
mình, hai là học ở giai cấp công nhân. Lúc ở Pari,
tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng
không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng
chí ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière)
cho Bác viết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin
chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì
cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài
những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin
rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa
cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy
tin đã được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều
đem tin đã đăng trên báo so sánh với bài mình đã
viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác
cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng
4 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
nữa… Cứ như thế kéo dài đến 15, 20 dòng, rồi
đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo:
“Thôi, bây giờ phải viết rút ngắn lại, cũng những
việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.
Các báo đăng bài của mình đều là báo phái
“tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền
nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá
vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của
bọn thực dân. Khi đã biết viết báo, mình lại muốn
viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ
vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ
đọc một truyện ngắn của L.Tônxtôi thấy viết một
cách rất giản dò, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng
viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.
Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo,
hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều
mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến báo Nhân
đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ:
“Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ
đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem
xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài
chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy truyện của
mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn
nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng đồng có thể
sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia
mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…
Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.
Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ
nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ
Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí người thuộc
đòa Á - Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu
công việc mình đều bao hết. Cách bán báo: bán
cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết
chữ Pháp nhưng họ vẫn thích mua vì họ biết báo
này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân
Pháp đọc cho họ nghe. Một cách nữa là: ở Pari có
những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Vì là đồng chí
với nhau cả, các anh chò ấy bán hộ cho mình mà
không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều.
Vì các số báo Pari vừa ra đều “được” Bộ Thuộc
đòa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc
đòa thì mấy chuyến đều bò tòch thu và người đưa
báo thì bò bắt bỏ tù. Về sau, nhờ anh em thủy thủ
Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việc gì.
Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng
phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi
như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các
thuộc đòa.
Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình
đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các
đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như
thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí
nào có lòng giúp báo, thì chúng tôi cảm ơn”.
Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5
phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được 10,
15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu
hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.
Khi đi qua Liên Xô, đồng chí L. phóng viên
báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết
rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào,
vv... Và phải viết ngắn gọn. Cách đó mấy năm,
mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình
viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá.
Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác,
người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn
bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy
hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.
Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung
Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy
lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo… Thấy
bài mình đã được đăng lại được đóng khung,
điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói
tóm lại, mình phải học tập không ngừng và luôn
luôn khiêm tốn.
Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng
Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại
học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm
thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người
đọc.
Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy
của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ
động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng
ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn
luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình
mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm
báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm
những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành
bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là có
một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy
số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in
cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau
cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải
đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động
chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn
ra đúng kỳ. Đòch chòu không làm gì được.
Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua
nhiều giấy đòch cũng nghi, và theo dõi. Các chò
em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối
là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.
In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít. Mà
a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghó ra
cách dùng chanh thay a xít. Chò em lại giúp mua
chanh để ủng hộ báo.
Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí
mật. Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ
đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.
Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của
mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần
chúng.
Đồng bào đòa phương rất thích đọc báo, vì báo
viết điều gì cũng thấm thía với họ. Đồng bào còn
tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa
tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm mọi cách tuyên
truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.
Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là
“đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một
“đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong
kiến đòa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ
nghóa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như
vậy đó…
(Trích bài nói ngày 16/9/1959 tại Đại hội lần thứ
II Hội Nhà báo VN. Tựa do VHVN đặt)
VÙN HIÏËN 5
VIÏÅT NAM
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
Những nhà báo
đi vềphía biển
HUYỀN CHÂM
Biển đảo Tổ quốc luôn là đề tài thu hút mạnh mẽ đối với các nhà báo. Ra với biển đảo, được làm bạn với
những ngư dân cả đời ăn sóng nói gió, chân chất, thủy chung với biển khơi, những người làm báo hôm nay càng
ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm công dân của mình để mỗi trang viết, mỗi tác phẩm báo chí ra đời thể hiện trí
tuệ, ý chí của cả dân tộc góp phần xây nên những cột mốc biên cương Tổ quốc giữa trùng khơi. Đây là đề tài
được thể hiện trong nhiều tác phẩm đạt giải cao tại Giải Báo chí Quốc gia lần thứ 5.
N
hà báo Nguyễn Đăng Lâm - Trưởng Phân
xã TTXVN tại Quảng Ngãi không thể nhớ
mình đã bao nhiêu lần ra huyện đảo Lý
Sơn để dự Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa - một
nghi lễ chỉ có ở Lý Sơn - để tri ân những người
trong Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa
năm xưa đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền biển
đảo Tổ quốc.
Nhà báo Nguyễn Đăng Lâm
6 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Qua những chuyến đi ấy, anh ý thức được
rằng, Lý Sơn này là một bảo tàng sống động về
lòch sử chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa mà không nơi nào có
được.
Đó là nhà thờ các tộc họ có nhiều người đi
Hoàng Sa, Trường Sa, những ngôi mộ gió, những
đình làng làm nơi thờ phụng và tế tự các hùng
binh Hoàng Sa, Trường Sa đã hy sinh vì Tổ quốc
từ hàng trăm năm trước…
Từ tư liệu thu thập được trong bảo tàng và
những chuyến đi thực tế cùng những câu chuyện
với ngư dân, loạt bài “Lý Sơn - Bảo tàng sống động
về lòch sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa
và Trường Sa” hình thành, tái hiện sinh động về
những giá trò văn hoá vật thể và phi vật thể tại
huyện đảo Lý Sơn gắn với lòch sử chủ quyền của
Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Nhà báo Nguyễn Đăng Lâm chia sẻ: “Vùng
đảo này là ngư trường từ bao đời nay mà nhân
dân ta vẫn gắn bó. Đặc biệt trong những năm gần
đây nhiều tàu có công suất lớn tạo thành những
tổ đội ra khơi bám biển. Đó là ý thức, trách nhiệm
trong bảo vệ vùng chủ quyền biển đảo của người
dân Lý Sơn từ nhiều đời nay”.
“Những ngư dân ngày đêm bám biển, như
những chiến sỹ canh giữ đất trời ngoài trùng
dương của Tổ quốc. Họ như những cột mốc
“sống” khẳng đònh chủ quyền trường tồn vùng
lãnh hải quốc gia. Dù có nhiều trở ngại, nhưng
với họ, vùng biển trời Tổ quốc cùng quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đã trở thành một phần
máu thòt khó có thể tách rời....”.
Đó là những dòng tâm huyết của nhóm tác
giả Hồ Minh Khánh và Bùi Thò Hương Giang của
Đài TNVN trong loạt bài “Mệnh lệnh vươn khơi”.
Mới chính thức phát sóng từ năm 2010, chương
trình Biển đảo Việt Nam của Phòng Nông nghiệp
- Hệ Thời sự - Chính trò - Tổng hợp (VOV1) được
đông đảo thính giả đón nhận.
Điều đặc biệt là đội ngũ người làm chương
trình phần nhiều là các nữ nhà báo. Vì thế, không
thể kể hết khó khăn, vất vả trong quá trình tác
nghiệp của họ. Nhưng khó khăn đến nhường nào
cũng chẳng thể ngăn bước chân họ đến với biển,
đảo, đến với ngư dân.
Nói về “Mệnh lệnh vươn khơi”, nữ nhà báo
Hồ Minh Khánh cho biết, trong tác phẩm của
mình, chò muốn thể hiện tình yêu biển, quyết tâm
bám biển của bà con ngư dân dù gặp nhiều khó
khăn, thậm chí nguy hiểm. Bởi “Vươn khơi với
ngư dân rõ ràng không chỉ là “mệnh lệnh” cuộc
sống với mục đích mưu sinh mà còn là mệnh lệnh
trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng
của Tổ quốc.
Nhà báo Hồ Minh Khánh cho biết thêm: “Ấn
tượng của tôi trên huyện đảo Lý Sơn là những
ngôi mộ gió. Những ngôi mộ đó là minh chứng
cho những khó khăn gian khổ mà bà con ngư dân
phải trải qua, cũng là minh chứng về lòch sử hào
hùng. Lý Sơn là huyện đảo có truyền thống của
cha ông cũng là để khẳng đònh chủ quyền của
Việt Nam ở Hoàng Sa”.
Không phải ai cũng có may mắn được đi thực
tế nhiều như nhà báo Nguyễn Đăng Lâm hay nhà
báo Hồ Minh Khánh. Với nhà báo Lưu Quỳ - Phó
Giám đốc Điện ảnh quân đội, khó khăn lớn nhất
đối với ông và đồng nghiệp khi thực hiện phim
tài liệu “Hoàng Sa trong lòng Tổ quốc” là không
được ra Hoàng Sa mà chủ yếu qua sưu tầm tư liệu
lòch sử, gặp gỡ nhân chứng lòch sử.
Các nhà báo tác nghiệp trên quần đảo Trường Sa
Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
Với mục đích muốn đem đến cho khán giả
cái nhìn toàn diện về lòch sử chủ quyền của Việt
Nam tại Trường Sa và Hoàng Sa, nhóm tác giả đã
dành nhiều tâm sức tìm gặp những người từng
làm nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa, các cán bộ khí
tượng…
Nhà báo Lưu Quỳ kể lại: Dù đã ở tuổi “xưa
nay hiếm”, nhưng trong câu chuyện của họ vẫn
thấy ánh lên niềm khát khao được trở lại Hoàng
Sa. Để có đoạn phim tài liệu giá trò với thời lượng
20 phút, đoàn làm phim phải thực hiện trong 5
tháng, tiến hành quay ở nhiều đòa điểm như: Lý
Sơn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội.
Nhà báo Lưu Quỳ vẫn tiếc nuối vì còn nhiều
tư liệu quý, nhưng do thời lượng có hạn chưa thể
truyền tải hết đến người xem.
Sẽ còn trở lại đề tài biển đảo và khai thác ở
nhiều khía cạnh khác nhau là tâm niệm của ông
và đồng nghiệp: “Là người viết bài cũng như làm
phim, làm sao để mọi người hiểu được và khơi
dậy được lòng tự hào dân tộc, khơi dậy được giá
trò của hoà bình và bảo vệ được toàn vẹn lãnh
thổ mà nhiều năm ông cha ta đã giữ và bây giờ
mình không thể để mất. Đó là điều mà người làm
báo cần phải nói, là thông điệp để nhắc nhở mọi
người làm thế nào để giữ được Hoàng Sa”.
“Mệnh lệnh vươn khơi” từ chính trái tim mỗi
ngư dân, đã trở thành “mệnh lệnh” thôi thúc
người làm báo bằng tình yêu, niềm tin và trách
nhiệm lớn lao cần phải đi và viết nhiều hơn nữa.
Hành trang mang theo chỉ là máy quay, máy ghi
âm, máy ảnh và cây bút, nhưng với đam mê nghề
nghiệp và tinh thần trách nhiệm vì Tổ quốc, vì
nhân dân, các nhà báo vẫn đang tiếp tục hành
trình đi về phía biển, viết tiếp những câu chuyện
biển đảo để thế hệ hôm nay và mãi mãi về sau
thêm tự hào và ý thức bảo vệ vùng biển đảo
thiêng liêng của Tổ quốc mà cha ông ta không
tiếc máu xương gìn giữ.
VÙN HIÏËN 7
VIÏÅT NAM
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
HỘI THẢO KHOA HỌC KỶ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ
Nhà văn hóa tiêu biểu
trong lòch sử Việt Nam
NGỌC ANH (tường thuật)
D
Kỉ niệm 130 năm ngày sinh Đạm Phương nữ sử (3/6/1881 - 3/6/2011) và 85 năm thành lập
Nữ công học hội (15/6/1926 - 15/6/2011), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Khoa học
Lòch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, Viện Văn học Việt Nam cùng gia đình nữ sử Đạm Phương tổ chức hội
thảo khoa học tại thành phố Huế để tìm hiểu về cuộc đời, hành trạng và nhận diện đích thực về
sự nghiệp của bà.
ự hội thảo có Phó Chủ tòch nước Nguyễn
Thò Doan, Ủy viên TƯ Đảng; các đồng chí
Hoàng Tuấn Anh, Ủy viên TƯ Đảng, Bộ
trưởng bộ Văn hóa, Thể thao & Du lòch; Hoàng
Thò Ái Nhiên, Phó Chủ tòch Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam, Hữu Thỉnh, Chủ tòch Liên hiệp các
Hội Văn học Nghệ thuật VN, Chủ tòch Hội Nhà
văn VN, Dương Trung Quốc, Phó Chủ tòch kiêm
Tổng thư ký Hội khoa học Lòch sử VN, Phan Trọng
Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học VN, Hoàng
Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN, Hoàng
Hữu Lượng, Cục trưởng Cục Báo chí, Bộ Thông
tin Truyền thông… Về phía lãnh đạo tỉnh Thừa
Thiên Huế có TS. Nguyễn Ngọc Thiện, Ủy viên
TƯ Đảng, Chủ tòch HĐND tỉnh, Nguyễn Văn Cao,
Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tòch UBND tỉnh cùng các
đồng chí trong ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường
trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh, lãnh đạo TP Huế và
các Sở, Ban, ngành của tỉnh. Hội thảo có sự tham
Quang cảnh buổi Hội thảo
8 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
dự của các nhà nghiên cứu lão thành, các nhà khoa
học đầu ngành ở Hà Nội, TPHCM, các tỉnh Thanh
Hóa, Quảng Nam và đông đảo các nhà nghiên
cứu tại Huế. Hội thảo còn có bà Nguyễn Khoa
Diệu Vân - con gái út của Nữ sử Đạm Phương,
người giáo viên cuối cùng của Nữ công học hội,
năm nay đã 94 tuổi từ TP Hồ Chí Minh dẫn đầu
đoàn hơn 20 người là con, cháu; nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm, cháu nội bà Đạm Phương cùng đông
đảo thân thuộc tại Huế và Hà Nội cùng đến dự
hội thảo.
Báo cáo đề dẫn của PGSTS Đỗ Bang, Phó Chủ
tòch Hội Khoa học Lòch sử VN, Chủ tòch Hội Khoa
học Lòch sử ThừaThiên Huế cho biết:
Công Nữ Đồng Canh, sinh năm Tân Tỵ (1881),
tự là Quý Lương, bút danh Đạm Phương Nữ sử,
cha là Hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng. Tuy
sinh ra trong bối cảnh đất nước bò thực dân Pháp
đô hộ nhưng bà vẫn được thừa hưởng lối giáo dục
truyền thống công - dung - ngôn - hạnh của Hoàng
tộc... Bà là một nhà báo, một nhà văn, một nhà
giáo dục, một nhà hoạt động xã hội xuất chúng,
một người am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc, thông
thạo nhiều ngoại ngữ, từ bỏ tư tưởng xuất thân
phong kiến để đứng vào hàng ngũ những trí thức
tiến bộ của thời đại. Bà còn là người sáng lập ra
Nữ công học hội Huế và trực tiếp làm Hội trưởng.
Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở
nước ta thời chính quyền thực dân. Hội đã đề ra
một số nội dung, chương trình để hướng dẫn, giáo
dục phụ nữ và nhi đồng; đồng thời, tạo điều kiện
cho chò em tham gia vào các hoạt động tập thể
để từ đó tham gia các hoạt động xã hội; phạm vi
hoạt động của Hội đã lan tỏa ra Hà Nội, vào đến
Sài Gòn và các đòa phương khác trong cả nước; là
chỗ dựa cho học sinh trường Đồng Khánh, trường
Quốc học bãi khóa chống thực dân, phong kiến…
Nữ công học hội là niềm tự hào của nhân dân
Thừa Thiên Huế và của phụ nữ Việt Nam. Để ghi
nhận những công lao của bà Đạm Phương nữ sử,
tỉnh Thừa Thiên Huế đã đặt tên bà cho một con
đường ở khu vực nội thành thuộc phường Tây
Lộc, thành phố Huế.
Bà Đạm Phương Nữ Sử có 6 người con, trong
đó bốn người con trai là Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn
Khoa Vy, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Nguyễn
Khoa Châu đã cống hiến tuổi xuân và hi sinh cho sự
nghiệp giành độc lập tự do và tiến bộ của dân tộc.
Là một tấm gương lớn, một nhân cách lớn nhưng
cuộc đời và sự nghiệp của bà còn nhiều điều chưa
được sáng tỏ. Đã có một quá trình nghiên cứu về
Đạm Phương nhưng chưa đúng tầm, chưa đủ tư liệu
Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Hồng Tuấn Anh, GS Hồng Chương và các đại biểu cùng con cháu
thân tộc bà Đạm Phương Nữ Sử tại Hội thảo.
VÙN HIÏËN 9
VIÏÅT NAM
SÛÅ KIÏÅN BỊNH LÅN
Bàn thờ bài vị bà Đạm Phương Nữ Sử tại chùa Ba La Mật
để đánh giá về bà. Do đó, cuộc hội thảo này đã
góp phần thẩm đònh vai trò, vò trí của bà Đạm
Phương Nữ sử đối với Nữ công học hội, đối với
văn học nghệ thuật, với giáo dục và báo chí nước
nhà và khẳng đònh bà là một nữ trí thức ưu tú
của dân tộc trong lòch sử, có tầm nhìn xa, đi trước
thời đại, là người tiên phong dùng báo chí, văn
chương thức tỉnh ý thức cho nữ giới, giành trọn
tâm huyết, tài năng đấu tranh bênh vực nữ quyền
và giáo dục trẻ thơ - thế hệ tương lai của đất
nước, của dân tộc.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tòch nước Nguyễn
Thò Doan chân thành cho biết, nếu không có cuộc hội
thảo này, bà không biết Đạm Phương nữ sử là ai.
Phó Chủ tòch nước đánh giá cao ý nghóa của hội thảo
này và đề nghò hội thảo cần làm sáng tỏ thêm những
đóng góp to lớn, nhiều mặt của bà Đạm Phương cho
đất nước và sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong
sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng con người
mới. Phó Chủ tòch nước cũng mong UBND tỉnh Thừa
Thiên Huế, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lòch, Hội Liên
hiệp Phụ nữ VN… và gia đình tiếp tục nghiên cứu,
đề xuất với Đảng và Nhà nước để công lao của Đạm
Phương nữ sử được công nhận, được lòch sử ghi
nhận để đỡ thiệt thòi cho bản thân bà, cho dòng
tộc cũng như có thể đề nghò truy tặng danh hiệu
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho bà” vì bà đã đóng
góp 4 người con là liệt só trong sự nghiệp đấu
10 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
tranh giải phóng dân tộc.. Nói về Đạm Phương
nữ sử, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lòch
Hoàng Tuấn Anh nhận đònh: “Ở bà đã hội tụ đầy
đủ một bản lónh của một phụ nữ, một tấm lòng
nhân ái, một khát vọng mãnh liệt vì sự tiến bộ
của phụ nữ, hình ảnh cao đẹp của bà vẫn còn mãi
với thời gian”.
Do khuôn khổ thời gian hội thảo chỉ được
thực hiện trong vòng 1 ngày với 42 bản báo cáo
khoa học và các phát biểu ý kiến nên Ban tổ chức
đã chia làm hai tiểu ban: tiểu ban Gia thế, Văn
hóa, Giáo dục gồm 24 báo cáo khoa học và tiểu
ban Văn học, Báo chí với 18 báo cáo. Ban tổ chức
đã giao cho các tiểu ban mời một số tác giả đại
diện cho các nhóm nội dung trình bày kết quả
nghiên cứu chính và những luận điểm mới. Các
ý kiến tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh
giá về gia thế, thời đại và sự nghiệp của bà Đạm
Phương với tư cách là người hoạt động tích cực về
các phương diện văn hóa - xã hội như đấu tranh
nữ quyền, thành lập và điều hành Nữ công Học
hội, nhà giáo dục học, nhà biên khảo Tuồng; đánh
giá về tư tưởng canh tân yêu nước và nhập cuộc
với trào lưu cách mạng; đánh giá về sự nghiệp
báo chí và thơ văn của Đạm Phương… Về hoạt
động đấu tranh nữ quyền và sự tiến bộ của phụ
nữ, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Đạm
Phương đã tìm thấy chìa khóa giải phóng phụ nữ
trong giáo dục và thông qua giáo dục”. Theo GS
Nguyễn Đình Chú, Đạm Phương là chuyên gia
viết về phụ nữ nhiều nhất, sâu sắc nhất và toàn
diện nhất. Về xây dựng con người mới, gia đình
mới, xã hội mới, Đạm Phương đã hoạt động như
một trí thức chân chính với lý tưởng xây dựng
một đất nước tự cường, một dân tộc hưng vượng.
Chính cuộc sống của bà và gia đình bà là kòch
bản về con người mới, gia đình mới trong bối
cảnh thời cận đại Việt Nam. Ở góc độ nghiên cứu
về nghệ thuật Tuồng, với tác phẩm “Lược khảo
về Tuồng hát An Nam” do Đạm Phương biên
soạn từ năm 1923, đây là công trình nghiên cứu
về tuồng đầu tiên của nước ta. Trong tham luận
duy nhất về Đạm Phương với nghệ thuật tuồng
được trình bày tại hội thảo, GS Hoàng Chương,
Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn &
Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam, Chủ nhiệm
Tạp chí Văn Hiến Việt Nam đánh giá: “Bà Đạm
Phương đã cho người đọc thấy được nguồn gốc
và đặc trưng của nghệ thuật tuồng hát bội, một
nghệ thuật ra đời ở Việt Nam và mang bản sắc
Việt Nam”. Theo yêu cầu của Hội thảo, GS Hoàng
Chương còn nói rõ thêm về “Hý trường tùy bút
của Đào Tấn. Về thơ, từ, tiểu thuyết, TS Tôn Thất
Dụng cho rằng: “Nhìn từ góc nhìn của các cây bút
nữ trong văn học hiện đại Việt Nam bà là một
trong những người đi tiên phong trong sáng tác
và thử nghiệm thể loại tiểu thuyết”. Từ kết quả
nghiên cứu sự nghiệp báo chí của Đạm Phương,
TS Hoàng Diệu Minh cũng góp tiếng nói thống
nhất: “Có thể nói bà là nữ ký giả Việt Nam đầu
tiên có bút lực tầm cỡ to lớn cũng như sức ảnh
hưởng sâu rộng trong thời kỳ mở đầu của nền
báo chí Việt Nam hiện đại”. Vì dân, vì nước và vì
sự tiến bộ của xã hội là nguồn sức mạnh vô biên
giúp cho Đạm Phương bứt phá được phong cách
“mệ” để trở thành một nhân vật của công chúng.
Qua nghiên cứu về hành trạng và sự nghiệp của
Đạm Phương trên nhiều phương diện, Hội thảo
đã đưa ra ý kiến thống nhất: Đạm Phương nữ sử
là nhà văn hóa rất tiêu biểu trong lòch sử cận đại
Việt Nam, là danh nhân văn hóa đặc sắc của đất
nước trong trào lưu canh tân yêu nước vào nửa
đầu thế kỷ XX và bà chính là người phụ nữ Việt
Nam tiêu biểu ở thế kỷ XX. Hội thảo cũng đề xuất
công tác bảo tồn và phát huy giá trò di sản văn
hóa Đạm Phương và đưa ra ý kiến đề xuất với
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói chung và Hội
Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
có chương trình sinh hoạt chuyên đề giới thiệu về
cuộc đời hoạt động của bà, cũng như những sinh
hoạt truyền thống nhân các dòp kỉ niệm liên quan
(như thi trình diễn nữ công gia chánh trong hội
viên hoặc nữ sinh viên, học sinh; phát động xây
dựng quỹ khuyến học Đạm Phương dành cho nữ
sinh viên vượt khó trong học tập…).
Để có được cuộc hội thảo này là cả một quá
trình chuẩn bò lâu dài, nghiêm túc về tư liệu của
giới nghiên cứu trong đó có nhà nghiên cứu văn
hóa đã quá cố Lê Thanh Hiền và hậu duệ của bà
(Nguyễn Khoa Diệu Biên, Nguyễn Cửu Thọ), và
gần đây là nỗ lực to lớn của nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm, người cháu nội ưu tú, đã công phu sưu tầm
các tác phẩm của bà trong các thư viện và các cơ
quan lưu trữ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
để tập hợp xuất bản. Thay mặt gia đình, nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm cảm ơn sự tham dự của các
vò lãnh đạo Trung ương, của Tỉnh, các nhà nghiên
cứu, nhà khoa học và xúc động bày tỏ: “Sự có mặt
và ý kiến của quý vò làm sáng lại những trang viết
của bà sau nhiều năm tháng và làm ấm lại tấm
lòng những con cháu trong gia đình luôn luôn
hoài vọng bóng dáng thân thiết của người…”. Sau
buổi hội thảo, những người tham dự đã tới chùa
Ba La Mật, TP Huế, một nhà rường tiêu biểu của
xứ Huế, nơi thờ bài vò của Đạm Phương nữ sử để
thắp hương tưởng nhớ bà và dự bữa cơm chay tại
chùa cùng gia đình, thân tộc của bà trong không
gian đậm hương vò của Huế đẹp và thơ...
Chùa Ba La Mật
VÙN HIÏËN 11
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
MỘT SỐ NÉT VĂN HÓA
TRONG LỊCH SỬ CHINH PHỤC
VÙNG BIỂN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
TS. DƯ VĂN TOÁN
Theo sơ đồ Nam tiến của dân tộc ta, xét theo vò trí bản đồ thì có thể đưa ra giả thuyết từ hàng nghìn năm
trước dân ta đã có thể có đi đến Hoàng Sa, 700 năm trước đã đến Trường Sa. Phân bố các dân tộc ven biển có
6 dân tộc: Kinh, Dao, Sán, Hoa, Chăm, Khơ me cùng với 5 tôn giáo: Thiên chúa, Phật, Ấn Độ, Cao Đài, Hòa Hảo...
V
iệt Nam là một quốc gia ven biển, nằm ở
khu vực trung tâm Đông Nam Á. Với vò
trí đòa lý nằm gần biển, Việt Nam có tiềm
năng phát triển một nền kinh tế toàn diện dựa
trên một phần vào công nghiệp khai thác biển và
giao thông biển.
Trên thế giới, nhiều quốc gia ven biển và nhiều
thành phố ven biển đã trở thành những trung tâm
công nghiệp và thương mại, cảng quốc tế. Đáng
lẽ Việt Nam chúng ta cũng phải có những thành
phố công thương nghiệp rất phát triển và sầm uất
nằm ven biển dọc theo bờ biển Việt Nam.
Đa số các sách sử Việt Nam như “Việt Nam
Sử Lược”, “Việt Sử Toàn Thư”, “Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư”… đều viết về lòch sử Việt Nam từ thời
thượng cổ, và bắt đầu lòch sử bằng thời Hồng
Bàng, thời điểm khoảng 3000 năm trước CN, tức
cách đây khoảng 5000 năm. Qua những sách sử
đó, người Việt Nam chúng ta thường tự hào có
5000 năm lòch sử. Nhưng chúng ta muốn biết
12 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
trước 5 nghìn năm đó, dân tộc Việt chúng ta từ
đâu đến và chúng ta đã từng làm gì để xây dựng
lên một đất nước Việt Nam từ thời Hồng Bàng
cho đến ngày nay? Có phải dân tộc Việt Nam đã
từng có một nền văn minh dựa trên việc trồng lúa
nước và những hoạt động hàng hải trên biển hay
không? Đó là những câu hỏi khó có câu trả lời
chính xác và cần được đầu tư nghiên cứu, đánh
giá bài bản.
Gần đây cuốn sách “Đòa đàng ở Phương
Đông” của tác giả Oppenheimer đã đưa ra giả
thuyết rằng nôi của nền văn minh Đông Nam Á
chính là Biển Đông, bao gồm cả Vònh Bắc Bộ và
khu vực Biển Đông Việt Nam. Nếu những giả
thuyết trên có cơ sở đúng, thì Vònh Bắc Bộ và
Biển Đông không những chứa đựng nhiều nguồn
tài nguyên thiên nhiên phong phú, mà còn có thể
chứa đựng cả những chứng cứ lòch sử về nguồn
gốc dân tộc Việt nói riêng và nguồn gốc các dân
tộc sống ở vùng Đông Nam Á nói chung. Do vậy
chúng ta cần có những nghiên cứu thích hợp để
tìm về cội nguồn dân tộc. Trong các nghiên cứu
đó, chúng ta cần có những nghiên cứu nghiêm túc
và có hệ thống về biển, lòch sử hàng hải và đóng
tàu của Việt Nam.
Cho đến nay chúng ta đã được biết 1 số thông
tin quan trọng như: Vùng biển đặc quyền kinh
tế của Việt Nam rộng hơn một triệu km vuông,
lớn hơn gấp 3 lần so với lãnh thổ. Trong đó bờ
biển dài hơn 3.260km từ Móng Cái đến Hà Tiên,
có hơn 3.000 hòn đảo mà nổi tiếng là quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Nước ta có 148 huyện
thuộc các vùng biển, đảo và ven biển (102 huyện
ven biển, 34 quận, thò xã, thành phố ven biển trực
thuộc tỉnh và 12 huyện đảo) thuộc 28 tỉnh (25 tỉnh
và ba thành phố trực thuộc Trung ương); Diện tích
tự nhiên hơn 65.000 km2, chiếm khoảng 20% diện
tích cả nước, dân số vùng biển, đảo của nước ta
là 29,2 triệu người (theo Tổng cục thống kê, 2006),
bằng 34,6% dân số cả nước.
Năm 2009 đã tìm thấy di chỉ Hòn Kê, Bàn mài
rãnh tại đảo Cô Tô, Quảng Ninh của cư dân Văn
hoá Hạ Long, có niên đại cách ngày nay khoảng
4.000 năm. Tuy nhiên, di chỉ mới được tìm thấy
này đang bò xâm hại bởi một con đường mới chạy
ngang đè qua một phần di chỉ. Trước đó, vào năm
1997, các nhà khoa học thuộc Viện Khảo cổ học
Việt Nam và cán bộ Bảo tàng Quảng Ninh đã tìm
thấy một dấu tích thuộc Sơ kỳ đồ đá mới trên đảo
Mã Cháu (Thuộc quần đảo Cô Tô). Các hiện vật
tìm thấy gồm các công cụ Ghè đẽo, được xác đònh
có niên đại cách ngày nay khoảng 20.000 năm.
Các hiện vật tìm thấy hiện đang được trưng bày
tại nhà Lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô.
Tài liệu khảo cổ học cho biết đã có những
di tích người nguyên thuỷ sinh sống ở các miền
ven biển cách đây khoảng 6.000 - 3.000 năm, hình
thành các văn hóa Khảo cổ như văn hóa Hạ Long
(Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải Phòng), Đa Bút, Hoa
Lộc (Thanh Hóa), văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An),
Thạch Lạc (Hà Tónh), Bàu Tró (Quảng Bình). Các
nền văn hóa ven biển này có nhiều yếu tố gần gũi
với văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn ở miền núi và
thung lũng, có niên đại từ khoảng 12 – 8000 năm
cách ngày nay.
Dấu tích thức ăn của con người để lại là lớp
vỏ ốc dày hàng mét trong các hang động miền
núi, vỏ sò điệp tạo thành cồn dài hàng chục mét
ven biển, trong đó còn có mộ táng, công cụ đá
mài, mảnh gốm, bếp và than tro lẫn xương thú,
xương cá… Động vật thủy sinh là nguồn thức ăn
đạm động vật phổ biến của những lớp cư dân
cổ. Những nhóm cư dân miền núi và ven biển
này là những cộng đồng cư dân sinh sống bằng
nghề trồng trọt sơ khai và khai thác sản phẩm tự
nhiên từ rừng núi, từ sông từ biển. Phải chăng sự
thật lòch sử này đã được huyền thoại hóa thành
truyền thuyết khởi nguyên của người Việt "con
rồng, cháu tiên", chia đôi con cháu nửa lên núi,
nửa xuống biển khai phá mở mang Đất - Nước?
Vào khoảng nửa sau thế kỉ thứ nhất trước
công nguyên, hoạt động giao thông đường biển
đã phát triển ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc
đi lại, tiếp xúc, trao đổi giữa các nhóm cư dân ven
biển nước ta với khu vực hải đảo Đông Nam Á.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trên mặt trống
đồng Đông Sơn có khắc hình chiếc thuyền lớn
với hình người cùng những nghi lễ, đầy đủ lương
thực, vũ khí... chính là hình dáng của những con
thuyền của tổ tiên ta vươn ra khai thác sông biển
từ rất sớm. Đảo Sulawesi, hòn đảo lớn thứ tư của
Indonesia, còn được gọi là vương quốc của những
mái nhà cao vút hình con thuyền mà cư dân ở
đây, người Toraja gọi đó là những Tongkonan.
Biển đảo Trà Cổ, Quảng Ninh
VÙN HIÏËN 13
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
Những Tongkonan xếp thành hàng chạy dài thẳng
tắp trông giống như những chiếc thuyền buồm
kiêu hãnh đang neo đậu giữa một vùng sơn cước.
Theo truyền thuyết của bộ tộc Toraja, tổ tiên họ
từng sống ở đồng bằng trong lục đòa phía bắc từ
hàng ngàn năm trước, do những biến cố xã hội
cả cộng đồng Toraja đã giong buồm vượt biển đi
tìm đất mới. Họ đã đến được vùng đất mà ngày
nay gọi là Makassar, phía nam đảo Sulawesi. Họ
quyết đònh chọn nơi đó làm quê hương thứ hai,
và những mái nhà Tongkonan hình con thuyền
lớn vượt đại dương được dựng lên và luôn hướng
về hướng bắc như để con cháu không quên cội
nguồn, quê hương…
Ở phía Nam, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung
và văn hóa Đồng Nai ở vùng cửa biển Cần Giờ
đã để lại nhiều dấu ấn của những đoàn thương
thuyền đến từ Ấn Độ, như đồ trang sức bằng ngọc,
bằng thủy tinh, bằng vàng… Dấu tích thương mại
Trung Hoa là những đồng tiền Ngũ Thù, gương
đồng, bình gốm thời Hán tìm thấy khá nhiều ở
một số di tích khảo cổ ven biển. Quan hệ buôn
bán với Ấn Độ và Trung Quốc diễn ra ở vùng
ven biển từ rất sớm, khoảng 1,2 thế kỷ trước công
nguyên. Đặc biệt đồ gốm trong mộ táng chum vò
của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai rất
giống đồ gốm trong các di tích mộ táng ở Philippine, mà các nhà khảo cổ cho rằng đó là bằng
14 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
chứng của sự trao đổi sản phẩm và kỹ thuật sản
xuất giữa cư dân vùng ven biển và hải đảo.
Đến đầu công nguyên, các vương quốc cổ
Phù Nam, Chămpa ở phía Nam hình thành và
phát triển thành những vương quốc giàu mạnh
nhờ khai thác thủy hải sản, lâm sản, nông nghiệp
và nhất là nhờ có hệ thống cảng thò ven biển để
buôn bán và làm dòch vụ cho con đường thương
mại trên biển nối liền lục đòa Ấn Độ đến lục đòa
Trung Hoa. Ở phía Bắc, từ đầu thế kỉ 10 quốc gia
Đại Việt dành được nền độc lập tự chủ. Các triều
đại Lý - Trần bắt đầu mở cảng Vân Đồn tiếp nhận
thương thuyền nước ngoài. Đến thời Lê, Dư đòa
chí của Nguyễn Trãi còn nhắc đến các cửa biển
Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh
Hoá)... Từ thế kỉ 17, chính quyền Chúa Nguyễn
đàng trong đã tiếp tục phát triển Đại Chiêm hải
khẩu thành cảng thò Fai Fố - Hội An, xây dựng
cảng Bến Nghé mở đường ra biển cho vùng Gia
Đònh - Đồng Nai. Trong thời Nguyễn nhiều đảo và
quần đảo ven biển Đông đã được khám phá, khai
thác tài nguyên và xác lập chủ quyền, trong đó
có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Về mặt
sinh kế, tại Bắc bộ và Nam bộ, người Việt ra biển
rất muộn lại vì các lý do khác. Người Việt vốn là
cư dân nông nghiệp, vấn nạn của người nông dân
Việt mãi cho tới những năm 90 của thế kỷ XX vẫn
là lương thực. Do đó trong tâm thức cũng như
trong thực tế, họ chỉ hướng về ruộng đồng. Để có
thêm ruộng trồng cấy, người Việt - nhất là người
Việt tại Bắc bộ - khi tiếp xúc với biển đều ưu tiên
khuynh hướng “quai đê lấn biển” để có ruộng
làm nông nghiệp và họ đã “kéo dài văn hóa nông
nghiệp” ra bờ biển cả. Theo hướng đó, người Việt
đã trồng sú vẹt, ngăn biển tiến, quai đê lấn biển,
khai hoang, thau chua rửa mặn... tạo nên những
cánh đồng bát ngát, những xóm làng trù phú dọc
theo ven biển. Người Việt tại Bắc bộ và Nam bộ
chỉ mới vươn ra biển đánh cá nước mặn trong thời
gian chưa bao lâu. Một mặt do kỹ thuật, thuyền
bè, chài lưới kém không thể đánh cá ngoài biển
được chưa nói đến chuyện trước đây khi dân số
chưa đông, đồng bằng Nam bộ chưa ngập nước,
lắm tôm nhiều cá, chưa có thò trường, người nông
dân chỉ khai thác cá tự cấp tự túc cho nhu cầu
thường nhật thì đánh cá biển xa bờ chưa phải là
điều bức thiết? Bởi thế mà theo một số nhà dân
tộc học thì cho tới gần đây, người Việt ở Bắc bộ
vẫn chưa có thói quen ăn cá biển - khi chế biến cá
biển họ thường sử dụng các món gia vò làm cho
cá biển mất mùi khiến món ăn này có hương vò
giống với cá đồng... Nhưng ở Trung bộ, nhất là
cực nam Trung bộ thì lại khác. Do kiến tạo, các
luồng hải lưu trên biển đã dẫn dắt các luồng cá
lớn vào gần bờ, hơn thế về mặt đòa hình, tại miền
Trung, núi ăn xuống sát biển, đất nông nghiệp
cằn cỗi và chật hẹp, sông ngòi ngắn, nước chảy
xiết, ít ao hồ, rất ít cá nước ngọt, nên khi thiên
di tới vùng đất này, người Việt đã có cách thức
lựa chọn khác: Sắm thuyền lưới vươn ra ngoài
biển cả đánh bắt cá để sinh tồn. Nếu cho rằng
sở dó người Việt đưa ra sự lựa chọn này là do họ
tiếp thu được truyền thống biển của người Chăm,
thì đó cũng chỉ là một giả thuyết. Trên thực tế,
trong toàn bộ cộng đồng người Chăm cư trú tại 2
tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận thì chỉ có 1 làng
làm nghề đánh cá biển mà nghề cá của họ cũng
không mấy được phát triển. Do đó có thể lý giải
theo cách khác: Khi di chuyển vào miền Trung, ít
ruộng đồng để trồng cấy, ít ao hồ, không có cá
nước ngọt, mà tại vùng biển này lại lắm tôm, cá
vào sát bờ nên người Việt đã lựa chọn thích nghi
với biển cả nhằm kiếm sống lâu dài. Vì vậy, tại
các tỉnh miền Trung nhất là khu vực Nam Trung
bộ, tính chất biển có thể nói là rất đậm đặc trong
văn hóa của người Việt. Bởi thế mà trong cộng
đồng ngư dân sinh sống tại khu vực Trung bộ,
nhất là cực Nam Trung bộ đã hình thành được
một nếp sống văn hóa biển.
Từ bao đời nay cộng đồng dân cư ven biển và
hải đảo đã tích lũy nhiều kỹ năng quản lý văn
hóa xã hội, và khai thác kinh tế biển. Để quản lý
biển tốt hơn chúng ta cần có nghiên cứu nhiều
hơn về xuất xứ đòa lý văn hóa và quá trình lòch sử
cư trú của các công đồng dân cư ven biển.
- Về tổng kết sự phát triển các vùng biển và
hải đảo Việt Nam với các ranh giới hiện tại. Chúng
ta đã phát triển và có 1 vùng biển và hải đảo rất
rộng lớn, cần có phương pháp tuyên truyền và
phổ biến đến tất cả nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ
để giữ gìn lãnh thổ - lãnh hải của Quốc gia.
- Cần mở ra dự án, đề tài nghiên cứu về đòa
văn hóa và lòch sử của các vùng biển Việt Nam,
giúp công tác nghiên cứu khẳng đònh chủ quyền,
phát triển kinh tế xã hội bền vững các vùng biển
Việt Nam, các mối quan hệ với các vùng đòa lý
trên lục đòa khác của Việt Nam và Thế giới.
- Trong thời kì Biến đổi khí hậu, vấn đề truyền
thống văn hóa và lòch sử biển đảo sẽ đóng vai trò
cực kì quan trọng trong ứng phó với các thiên tai,
phát triển hàng hải và đánh bắt hải sản của các
cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo.
- Quản lý Nhà nước về biển và hải đảo có dựa
vào kiến thức văn hóa lòch sử chinh phục biển đảo
giúp đạt hiệu quả bền vững hơn.
- Cần tôn vinh và ghi nhận cấp quốc gia những
Danh nhân đóng góp, có công cho quá trình chinh
phục biển, hải đảo.
- Thành lập Bảo tàng biển tổng hợp quốc gia
về lòch sử, văn hóa, nhân văn, hàng hải quân sự
và tự nhiên ghi nhận vò thế quốc gia biển của Việt
Nam trên thế giới.
VÙN HIÏËN 15
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
GIÁO DỤC TRONG XÂY DỰNG
VĂN HÓA BIỂN
THANH THẢO
N
gười ta có thể viện dẫn những tộc
người thiểu số ở những chốn rừng
thiêng heo hút cách biệt với thế giới
văn minh, con em họ không có điều kiện
đến trường, “cái chữ” với họ nhiều khi trở
thành xa xỉ, nhưng họ vẫn bảo tồn được vốn
văn hoá bản đòa qua các hoạt động thờ cúng
cũng như qua cách sống cách cảm cách nghó
về nhân sinh và vũ trụ của mình. Đúng là
có chuyện đó thật. Nhưng văn hoá, trong
cái đơn nhất (unit) đã hàm cái đồng nhất
(unity) thống nhất, hợp nhất, trong sự tách
biệt đã khao khát sự hoà đồng. Và như thế,
nếu không có văn minh, văn hoá bản đòa
sẽ có nguy cơ bò cô lập và tàn lụi. Nhất là
trong thế giới ngày nay, khi văn minh là
anh em ruột của giáo dục, thì ta có thể nói
mà không sợ nhầm, là nếu ở đâu trẻ em chỉ
được hưởng một nền giáo dục thấp, ở đâu
trẻ em không được học hành tử tế, thì cũng
16 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
đừng mong ở đó bảo tồn và phát triển được văn
hoá bản đòa của mình.Ngược lại, ở đâu con người
được hưởng một nền giáo dục phổ cập văn minh
và nhân bản, một nền giáo dục nhằm làm lộ sáng
những tiềm năng trí tuệ, phát huy khả năng sáng
tạo và hướng con người tới đời sống hài hoà giữa
lý trí và tình cảm, giữa tâm linh và đời thường,
giữa lao động và hưởng thụ, giữa cho và nhận,
thì ở đó con người có những điều kiện tốt nhất
để giữ gìn bản sắc văn hoá, sống văn hoá và làm
cho văn hoá bản đòa trở nên sống động. Chúng ta
đã có một nền văn hoá biển của người Việt vừa
độc đáo vừa có tiếp nhận nền văn hoá biển của
người Chăm và người Khơ-me cư trú trên dải đất
Việt Nam từ hàng nghìn năm trước. Nhưng hiện
nay, có lẽ trong khi quá chú mục nghiên cứu và
khai thác những tinh hoa của văn hoá biển truyền
thống, nhiều lúc chúng ta đã vô tình quên đi môi
trường và dưỡng chất nuôi sống nền văn hoá ấy:
đó là môi trường giáo dục, là dưỡng chất giáo
dục. Tôi đã có nhiều dòp về một số làng chài vùng
biển Quảng Ngãi, và cái đập vào mắt tôi đầu tiên
là: ở đó nhiều trẻ con quá! Trẻ con là tương lai
của đất nước, tương lai của một vùng đất, nhưng
tương lai ấy sẽ như thế nào thì không thể nghó một
cách đơn giản được. Những gia đình ở vùng biển
thường sinh nhiều con. Một trong những nhu cầu
tự thân đầu tiên ở một làng biển là nhu cầu nhân
lực đi biển. Và nhân lực ấy phải là con trai, là
đàn ông. Vì thế, phải sinh càng nhiều bé trai càng
tốt, và nếu chưa có con trai, thì phải đẻ tới chừng
nào có thì thôi! Từ xa xưa, cuộc sống biển giã đã
“đặt hàng” như vậy với những gia đình làng biển.
Công cuộc mưu sinh gắn liền với biển luôn đầy
bấc trắc, và người dân biển chấp nhận điều đó.
Nhưng cũng vì cuộc mưu sinh khắc nghiệt ấy mà
người dân biển rất khó có điều kiện cho con em
mình học hành tới nơi tới chốn, dù bây giờ thì
họ biết, ngay trong nghề đi biển, thì có học vẫn
hơn là ít hoặc không có học. Kinh nghiệm đi biển,
kinh nghiệm đánh cá sẽ được nhân lên nếu người
đi biển vừa có kinh nghiệm vừa có kiến thức. Với
học vấn, người đi biển còn biết cách tính toán để
không chỉ suốt đời làm “trai bạn”- tức làm thuê
mà còn vươn lên làm chủ, có tàu thuyền riêng và
đánh bắt xa bờ. Giáo dục không chỉ mang lại cho
người thụ hưởng nó những lợi thế trong làm kinh
tế, mà còn trang bò cho họ những yếu tố cần thiết
để trở thành một người có văn hoá, một người
văn minh biết hưởng thụ và biết giữ gìn bảo vệ
những gì thuộc về văn hoá truyền thống và hiện
đại. Nhưng ở đây phải cảnh báo ngay điều này:
giáo dục phổ cập ở những vùng biển Quảng Ngãi
nói riêng và cả Việt Nam nói chung đang xuống
cấp nghiêm trọng. Tôi chỉ đơn cử một đòa phương
không xa thành phố Quảng Ngãi: đó là xã Nghóa
An-một xã biển vốn xưa là một cù lao, nay là
bán đảo vì đã có cây cầu nhỏ nối với đất liền.
Xã biển này-nơi có nhiều ngư dân từng là nạn
nhân của bão Chanchu-có một trường PTCS. Theo
báo cáo tổng kết niên học 2006-2007 do thầy hiệu
trưởng trình bày thì trong số gần 1300 học sinh
của trường, niên học vừa qua đã có 130 em bỏ
học, “đạt” tỉ lệ 10%. Một “tỉ lệ” đau lòng! Nhưng
chưa hết: 90% các em còn theo học ở trường đạt
một chất lượng học tập rất thấp. Nếu có những
trường PTTH ở miền núi thi tốt nghiệp trung học
đỗ…0%, thì những trường vùng biển như thế này
cũng chẳng hơn là mấy! Khi chưa tăng học phí
mà tỉ lệ bỏ học đã như vậy, nếu tăng học phí
tình hình sẽ còn thế nào ? Nhiều em bé ở Nghóa
An mới học tới lớp 6 lớp 7 đã bỏ học. Có thể vì
nhà nghèo, có thể vì các em phải mưu sinh quá
sớm, thậm chí phải đi biển khi chưa tròn 18 tuổi,
nên tỉ lệ bỏ học mới cao như vậy. Nhìn những
ngôi nhà “nạn nhân bão Chanchu” mới mọc lên ở
Nghóa An từ tiền đóng góp của những tấm lòng
nhân ái trong cả nước, rồi nhìn lại những đứa trẻ
đội nắng đội mưa tới trường mong “kiếm ít chữ”
trong một môi trường giáo dục chất lượng thấp,
những người làm văn hoá sẽ nghó suy gì? Liệu
có thể bảo tồn được văn hoá bản đòa, có thể xây
dựng và phát triển “văn hoá mới” trong một môi
trường giáo dục như vậy? Lâu nay, những người
nghiên cứu văn hoá ở ta thường tách văn hoá khỏi
môi trường sống thực tế và trong hiện tại của
nhân dân, chỉ chú mục vào một số lễ hội truyền
thống, cố gắng “tái tạo” một số lễ hội này, và
yên tâm rằng văn hoá bản đòa, như văn hoá biển
chẳng hạn, đang tồn tại. Trong khi thực tế, “văn
hoá biển” hiện lên hàng ngày ở những làng chài
lại là “văn hoá” nhậu nhẹt, cờ bạc, lô đề, cho vay
và vay nặng lãi-một sự bần cùng hoá thật sự về
văn hoá. Khi giáo dục xuống cấp, thì làm sao giữ
gìn “tôn tạo” được văn hoá? Làm sao người dân
sống có văn hoá , khi họ chỉ được hưởng một nền
giáo dục chất lượng thấp với giá cao? Và khi họ
từ chối “mua chữ” với rất nhiều lý do, ấy là khi
văn hoá đang “đội nón ra đi” ở những vùng biển
những làng chài. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên
biển do khai thác một cách “ít học” và “thiếu văn
hoá”, thì “sa mạc hoá” trong giáo dục dẫn tới “sa
mạc hoá” trong văn hoá và lối sống văn hoá ở
nhiều vùng biển là nguy cơ có thật.
VÙN HIÏËN 17
VIÏÅT NAM
DIẽẻN AN VN HIẽậN
Phủa
sau
nhỷọng ngỷỳõi
aọ ngaọ xuửởng vũ
Trỷỳõng Sa
ẹAỉI TRANG
18 VN HIẽậN
VIẽT NAM
L th hoa tng nim
cỏc anh hựng lit s ó
hy sinh trờn qun o
Trng Sa. nh: V Hi
Trên Internet lan truyền một video/clip ghi lại hình ảnh về “Vòng tròn bất tử”
được các chiến sỹ công binh Việt Nam tạo nên xung quanh cột cờ Tổ Quốc để ngăn
cản lính hải quân Trung Quốc xông lên cướp cờ, bảo vệ chủ quyền biên cương - Đó
là hình ảnh trên bãi đá Gạc Ma những ngày tháng ba năm 1988. Trong đó, 9 chiến
sỹ bò Trung Quốc bắt giữ, 61 chiến sỹ mất tung tích và 3 chiến sỹ hi sinh. Cuộc đời
của những con người ấy sau hai mươi ba năm là những lá thư còn sót lại, những giọt
nước mắt lăn dài trên má mẹ, là sự cơ cực, vất vả trong những bon chen cuộc sống…
MẸ TRƯỜNG SA
Tôi trở lại Đà Nẵng vào một
ngày mùa đông, phố xá còn ẩm ướt
và gió rét căm căm. Hướng mắt về
phía ngoài khơi kia là Hoàng Sa,
và câu chuyện Trường Sa lại cháy
lên, như ngọn lửa ấm lòng nhưng
cũng mang đầy trăn trở.
Ngồi đối diện với mẹ Hồ Thò
Lai, đôi mắt trũng sâu của mẹ làm
sống mũi tôi cay cay, mẹ đang
khóc khi kể về liệt só Trương Quốc
Hùng - người con trai dũng cảm
của mẹ, anh nhập ngũ khi tuổi
mới đôi mươi.
Ở tuổi 21, người ta vừa mới
bắt đầu cuộc đời đã phải vội vàng
kết thúc nó. Nhưng mẹ bảo: chết
vì lý tưởng thì không có gì hối tiếc, mẹ chỉ có một
điều hãy còn thương mãi, đó là khi xưa ở nhà gạo
còn không đủ nấu cháo, bây giờ sung túc hơn thì
lại không thể nấu cơm cho con mình được nữa.
Tuổi tác không làm trí nhớ mẹ mờ đi. Biết bao
nhiêu kí ức, từ những câu chuyện cũ thû mẹ
còn thiếu nữ, cho tới những chuyện kể của nửa
thế kỷ sau - tất cả vẫn được mẹ nâng niu, cất giữ.
Đó có lẽ là "két sắt vô hạn" ngay trong chính tâm
khảm của mẹ. Đúc kết sau gần một đời người, mẹ
chưa phải ân hận với bất cứ điều gì đã làm. Chợt
nhớ tới phương châm sống của nhân vật Pavel
trong tác phẩm "Thép đã tôi
thế đấy" mà một thời thế hệ
thanh niên Việt Nam đã thuộc
nằm lòng: "Đời người chỉ sống
có một lần, phải sống sao cho
khỏi phải xót xa, ân hận vì
những năm tháng sống hoài,
sống phí" - Với phẩm chất
ấy, tôi xin được gọi mẹ là mẹ
Việt Nam anh hùng.
Khi đau thương là tột
cùng, người ta hoặc sẽ chấp
nhận nó, hoặc lãng quên nó
cho tâm tình vơi theo cát
bụi. Trong khi gia đình liệt
sỹ Trương Quốc Hùng chọn
cách thứ hai thì gia đình liệt
sỹ Lê Văn Xanh đã giữ lại tất
cả những kỉ vật của anh: từ những lá thư, những
trang nhật ký, những bộ quần áo đến cả chứng
minh nhân dân...
Nghỉ Tết, anh trở về quê hương Hòa Cường
đoàn tụ gia đình. Bao tâm tư nỗi niềm người lính,
anh được dòp trút bầu tâm sự hết với mẹ. Mẹ nói:
anh tài hoa nghệ sỹ lắm, viết- vẽ- đàn- ca đủ cả.
Đã hai mươi ba năm trôi qua, không biết ngoài gia
đình anh còn mấy ai biết được chuyện tình của
người lính tên Xanh? Thời còn ở nhà, anh quen
một người con gái, theo gia đình kể lại thì giữa họ
chắc chắn là tình yêu.
Mẹ liệt sĩ Nguyễn Phú Đồn và Phạm Văn Lợi
VÙN HIÏËN 19
VIÏÅT NAM
DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN
Tin anh hi sinh tại đảo Gạc Ma báo về quê
nhà, người con gái đau đớn khóc ròng mấy ngày
dài. Dù rằng giữa họ chưa rõ đã có hứa hẹn gì
hay chưa, nhưng bởi nỗi nhớ mong, chò xin phép
gia đình lập bàn thờ anh tại nhà riêng. Hàng năm,
người con gái ấy vẫn qua lại gia đình nhang khói
cho anh mỗi dòp lễ Tết và giỗ chạp, việc này diễn
ra cho tới khi chò quyết đònh lấy chồng. Không
biết phải nghó thương đau với chò là thế nào, hay
do đường duyên tình trắc trở mà người chồng
của chò cũng chết vì ngã trong khi thắp hương cho
anh Xanh. Có lẽ là do sự đời quá trái ngang, chò
đã mang theo chân nhang anh mà tìm đến nương
tựa cửa Phật.
Sau tất cả những đau thương, người ta sẽ cố
gìn giữ và ghi nhớ nó như một phần đã diễn ra
trong cuộc đời mình, hay sẽ tự chôn kín như một
điều gì đó riêng tư, khó chạm? Trong suốt cuộc
trò chuyện, mẹ Lê Thò Muôn không tâm sự nhiều,
nhưng gương mặt mẹ lại ẩn hiện nhiều nỗi niềm
khó nói. Người con trai của mẹ - liệt sỹ Phan Văn
Sự nhận lệnh nhập ngũ khi người anh cả đang tại
ngũ và cha bệnh nặng trên giường. Được gia đình
động viên "cứ yên tâm làm nhiệm vụ", anh Sự lên
đường. Trước khi ra Trường Sa theo chiến dòch
chủ quyền 1988 ( gọi tắt là chiến dòch CQ88), anh
được nghỉ phép về thăm gia đình. Có lẽ đến giờ
mẹ vẫn không tin, đó cũng là lần cuối gặp anh.
Cuộc hành trình tìm về những câu chuyện nơi
Trường Sa của tôi tiếp tục dừng lại ở một ngôi
nhà nhỏ quạnh vắng, chỉ có hai người tuổi đã xế
chiều ngày ngày vui vầy với nhau. Đó là cha mẹ
liệt sỹ Nguyễn Phú Đoàn. Cha anh trước đây cũng
từng là lính, cũng có biết bao tấm huân chương
ghi dấu chặng đường đấu tranh mà ông đã trải
qua. Nhưng giờ đây, tuổi già đã khiến ông không
còn đủ khỏe để chống lại bệnh tật, "cha" cứ cố
ngồi dậy nghe cho rõ câu chuyện giữa mẹ-con
tôi. Người phụ nữ mà tôi ngồi đối diện lúc ấy,
bình thường và giản dò như bao người dân thường
khác, nhưng mẹ đã hi sinh tuổi thanh xuân vò võ
chờ chồng và rồi dâng cho đất nước một chiến sỹ
quả cảm. Những chấm đồi mồi, từng nếp nhăn cứ
xếp lớp như con sóng xô bờ, đến cuối đời, mẹ vẫn
chưa hết những vất vả những lo toan. Cuộc đời
lúc này cô quạnh, vắng bóng người... có ai hiểu
vì sao? Màu áo hải quân, và giọt nước mắt người
đầu bạc khóc kẻ tóc xanh...!
Sự đánh đổi được qui từ máu - nước mắt - tự
do và hạnh phúc của nhiều người cho an lành của
muôn người. Nhưng rồi, người ta cũng vô tình bò
lãng quên...?!
20 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Cơ Mai Thị Hoa và chị Trần Thị Thủy
Đây không phải là tất cả những câu chuyện
làm thay đổi cung bậc cảm xúc trong tôi, cũng
chưa phải là tất cả những gì tôi có thể diễn tả
được như khi tôi được cảm nhận bằng mắt, bằng
tai và bằng cả trái tim. Biết là thế, tôi xin phép
được dừng lại, hi vọng có chút dấu lặng trong
lòng các bạn. Tuy vậy, tôi chắc chắn một điều
rằng, còn trải nghiệm thì tôi sẽ vẫn còn kể tiếp,
kể tiếp các bạn nghe về Trường Sa nơi Đà thành
vào một dòp khác không xa...
THEO CHIỀU DÀI TỔ QUỐC
"Lòch sử vùng III hải quân 1975 - 2005" do NXB
Quân đội nhân dân đã ghi lại: "Ngày 14 tháng
3 năm 1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội
của ta đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô
Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của
đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật
pháp quốc tế, họ đã dùng pháo lớn bắn vào các
tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao
và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo
Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây
cho chúng ta nhiều tổn thất...".
Không sợ nguy hiểm, người chiến só Trần Văn
Phương đã lao vào giành giật lá cờ Tổ Quốc và
trúng đạn. Anh để lại cho đời sau một di chúc:
"Thà hi sinh chứ không chòu mất đảo, hãy để cho
máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân
chủng hải quân anh hùng". Giây phút đó, anh
đang là Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma (thuộc
cụm đảo Sinh Tồn). Người thanh niên 23 tuổi này
đã lỡ mất lời hứa "...về trông nhà cho em" với vợ
mình.
Trở về Sài Gòn, đến bây giờ, tôi vẫn không
ngờ mình gặp vợ người anh hùng ấy ngay giữa
chốn phồn hoa đô thò này. Tôi gặp cô Mai Thò
Hoa - vợ liệt sỹ Trần Văn Phương ( Quảng Trạch
Cha, mẹ LS Hồng Ánh Đơng
Một trang lưu bút của LS Hồng Ánh Đơng
-Quảng Bình) giữa một chiều mưa gió. Nhắc tới
anh, cô vẫn nghẹn ngào như câu chuyện vừa mới
hôm qua. Trước khi theo tàu HQ 604 ra Trường Sa,
anh còn dặn dò:
- "Mẹ cho con gửi nhà con ở đây, sau này
hoàn thành nhiệm vụ, con sẽ về làm một căn nhà
nhỏ rồi con đón vợ con qua"
- " Nếu em muốn biết thông tin về anh thì cứ
nghe trên báo đài, đừng đợi thư anh"
" Sau này mà anh về, anh sẽ chỉ giữ nhà cho
em đi làm thôi, anh không đi làm đâu"...
Vẫn là một ngày cuối đông gió rét, chúng tôi
đi trên con đường xứ Thanh gập ghềnh sỏi đá,
tới một ngôi nhà đã phủ rêu phong, quạnh vắng
tiếng người. Nơi đây, chúng tôi được gặp những
người con của liệt sỹ Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng
tàu HQ604. Tiếp bước cha mình, người con trai
lớn của anh - anh Đăng hiện đang là chiến sỹ hải
quân thuộc Lữ đoàn 125 - nơi cha anh đã từng
sống và cống hiến, tiếp tục theo cha ghi dấu chân
đứng trên mũi tàu bảo vệ biên cương Tổ Quốc.
Người con trai út bây giờ đã là cựu sinh viên của
Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM.
Trái đất tròn, dòng đời xô đẩy những bước
chân vô tình chạm nhau. Đôi khi bần thần, tôi
chợt nghó: lòng Sài Gòn rất rộng, ôm trọn mọi
kiếp người, từ Đông tới Tây, từ Nam chí Bắc.
Nghe vang vọng câu ca nơi vó tuyến:
"Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"
Đất mẹ Quảng Trò anh hùng ghi dấu những
người con ra đi không hẹn ngày trở về. Gió Lào
và cát trắng, nghe như rát đến cả tâm can. Anh
trai liệt sỹ Tống Sỹ Bái (Đông Hà - Quảng Trò)
ngậm ngùi: "Không một kỷ vật, không một manh
áo, không một nấm mồ!" - 'Nghe xót xa như rụng
bàn tay'!. Cuộc nói chuyện của chúng tôi với gia
đình liệt só Hoàng Ánh Đông trở nên đầy xúc
động khi mẹ của liệt só nghẹn ngào trong nước
mắt: "Năm tháng qua lo làm ăn lăn lộn với cuộc
sống làm quên đi chứ tới những ngày này các con
về thăm, mẹ thấy đau khổ lắm!". Sống mũi cay
cay và đôi mắt nhòe đi, tôi cố gắng ghi lại những
hình ảnh giây phút đó.
Nỗi đau mất mát là nỗi đau chung của bao
người mẹ trên đất nước Việt Nam này, là nỗi đau
của cả một thế hệ đứng giữa đoạn trường mà lòch
sử phân chia. Ngày ấy, anh ra đi với tâm hồn phơi
phơi của tuổi trẻ, hẹn ngày trở về với những khát
vọng yêu thương. Dòng thơ viết nghiêng nghiêng
trong trang lưu bút nói nên những tâm tư của
buổi biệt ly: Biết khi nào gặp lại? Biết khi nào
nhìn được mẹ thương yêu? Những người chiến
só ấy lên đường, hành trang mà họ tự gói ghém
cho mình còn là niềm tin trở về. Dẫu bao gian
nan đang chờ đợi, mặc cho sóng gió bão táp giữa
biển khơi, các anh vẫn sống hết lòng cho lý tưởng,
dành trái tim mình dâng tặng quê hương.
Hai mươi ba năm trôi qua không phải là quá
dài nhưng chừng đó cũng đủ để con người ta lãng
quên nhiều thứ. Hành trình tìm lại ký ức một thời
máu lửa của những chiến só Trường Sa năm nào
của chúng tôi dẫu bò không gian đòa lý ngăn cách,
dẫu bò che mờ bởi thời gian nhưng tên tuổi của
các anh sẽ được lưu danh sử sách muôn đời.
VÙN HIÏËN 21
VIÏÅT NAM
TÛÂ TRONG DI SẪN
Chấm ngòi bút
vào nỗi đau nhân thế
GS TƯƠNG LAI
"N
hà báo là người chấm ngòi bút vào
nỗi đau của nhân loại". Người viết
câu ấy là một nhà báo từng có mặt
ở những vùng nóng bỏng nhất trên hành tinh:
Trung Đông, với Iraq, Afganistan, Pakistan...và
nay là Lybia, Yemen... Nỗi đau đang thấm đẫm
trên "vùng đất chết chóc" ấy nhưng vì sứ mệnh
cao cả của báo chí, nhiều nhà báo vẫn đang dấn
thân vào. Những ngòi bút ấy hiểu rất rõ rằng:
"viết một bài báo dở, bạn có thể mất việc, viết
một bài báo hay, bạn có thể mất mạng".
Thế nhưng, đâu chỉ nơi "vùng đất chết chóc"
ấy mới có nỗi đau. Ở khắp nơi trên trái đất này,
nỗi đau của con người chẳng có lúc nào vơi. Mà
nước mắt con người đều cùng có vò mặn, máu
con người đều cùng màu đỏ! Ấy vậy mà, nguyên
nhân làm cho nước mắt phải rơi, máu phải chảy,
thì thiên hình vạn trạng. Và có lẽ người Việt Nam
là người hiểu rõ vấn đề đó hơn ai hết trên trái đất
này. Cuộc chiến đấu cận kề về thời gian cũng như
về không gian ấy cũng là cuộc chiến đấu đầu tiên
và triền miên trong lòch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc này kể từ thời Bà Trưng Bà Triệu
cho đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn
22 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
Trãi, Quang Trung. Trong cuộc chiến không cân
sức đó phải luôn lưu giữ khí phách của một Trần
Bình Trọng hiên ngang trước kẻ thù "Ta thà làm
quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất
Bắc"! Khí phách đó lưu chảy trong huyết quản của
mỗi người Việt Nam.
Từ bao đời ông cha ta thường xuyên răn dạy
tinh thần cảnh giác trong mọi ứng xử với "thiên
triều", biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương
nhưng luôn giữ khí phách kiên cường, không bao
giờ khuất phục. Điều răn ấy không chỉ ở lời ghi
vào sử sách mà còn được tạc vào hình hài núi
sông bằng những truyền thuyết, những huyền
thoại. Chẳng hạn như 99 ngọn núi ở vùng trung
du được giải thích là tượng trưng cho 99 con voi
và một tượng trưng cho voi bò chém cụt đầu do
quay về hướng bắc! Hoặc câu chuyện về câu đối
"Đằng giang tự cổ huyết do hồng!" (Sông Bạch
Đằng từ xưa đỏ vì máu) của sứ thần Giang Văn
Minh đáp lại thái độ ngạo mạn của Sùng Trinh,
vua nhà Minh trong "Đồng trụ chí kim đài dó lục!"
(Cột đồng xưa giờ đã rêu xanh) luôn được truyền
tụng! Cọc gỗ Bạch Đằng vẫn mãi mãi trụ vững
trong khí phách Việt Nam tự bao đời.
Kênh báo chí truyền thông là kênh thông tin
trực tiếp nhất đưa những tư tưởng lớn, những tình
cảm lớn đến tận hang cùng ngõ hẻm. Báo chí vốn
đã có chức năng và lợi thế khó có gì so sánh được,
chức năng và lợi thế đó lại tăng lên bội phần với
công nghệ thông tin, kỹ thuật truyền tin của thế
kỷ XXI. Báo chí đã làm cho một tư tưởng lớn trong
đầu óc của một người đến được với nhiều người,
chuyển thành sức mạnh "tức nước vỡ bờ" trong
hành động của quần chúng nhân dân.
Đọc Mao Trạch Đông ngàn năm công tội
lại nhớ Lỗ Tấn với nhân vật Ngụy Liên Thù in
trong tập "Gào thét". Chẳng phải vì muốn thức
tỉnh người Trung Quốc mà nhà đại văn hào ấy
đã phải chấm ngòi bút vào máu của mình để viết
ra những tác phẩm bất hủ đó sao? Đừng quên
rằng tác giả của "A Q chính truyện" trước khi bắt
tay vào viết tác phẩm bất tử nhằm phê phán cái
"quốc dân tính" lạc hậu này là một nhà báo với
những chính luận vang dội một thời trên văn đàn.
Dù phải nói đến sức mạnh của những "tư
tưởng" mù quáng thì rút cuộc thì vẫn phải nói
về sức mạnh khôn lường của báo chí ở cái hướng
thuận với bước tiến của lòch sử, cho dù lực lượng
cản trở bước tiến của lòch sử vẫn đang hoành hành.
Ai đó đã gợi lên một ý thật đẹp : báo chí "là
cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực
tế hiện thực lại chảy trở về hiện thực như một
dòng thác đầy sinh khí". "Dòng thác đầy sinh khí"
ấy cuộn chảy trong mạch sống của xã hội, tiếp
nhận được sức mạnh từ mạch sống ấy, góp phần
nâng cao thêm, phát huy lên, rồi lại chuyển tải
sức mạnh ấy đến từng con người, từng gia đình,
từng cộng đồng.
Bởi lẽ báo chí là một chỉ báo sống động về
đời sống tinh thần của xã hội. Hiểu được như
vậy để có đủ căn cứ mà tin thêm vào sức mạnh
của báo chí khi "báo chí sống trong nhân dân và
trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và
nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của
họ, niềm vui và nỗi buồn của họ". Hiểu như vậy
để những người đang chiến đấu trên trận đòa báo
chí dám trải lòng mình ra để tiếp nhận nghò lực
và sức mạnh từ nguồn mạch cuộc sống của đông
đảo quần chúng nhân dân, để mỗi nhà báo chân
chính "là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân
dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với
bản thân mình".
Chỉ có thể làm được điều đó khi, cùng với việc
thực hiện chức năng chuyển tải những thông điệp
từ trên xuống, báo chí phải biết cách chuyển tải
những thông tin phản hồi từ dưới lên. Mà chuyển
tải những thông tin phản hồi từ dưới lên là trách
nhiệm xã hội quan trọng nhất của báo chí. Báo chí
thường xuyên gióng lên tiếng chuông cảnh báo
về tâm trạng quần chúng, những bức xúc, băn
khoăn, những khát khao, kỳ vọng, những buồn
vui, phẫn nộ của những "con người bé nhỏ" đang
lầm lũi nhẫn nại và kiên cường trong cuộc mưu
sinh cho mình, gia đình mình và góp phần thúc
đẩy xã hội đi tới.
Không làm được nhiệm vụ tạo nên một luồng
chảy sống động của thông tin phản hồi từ cuộc
sống "bên dưới", từ "phần chìm của tảng băng",
báo chí sẽ tự đánh mất vai trò thật sự của mình.
Trong "Những người Khốn khổ", Victor Hugo
có viết một câu bất hủ: "Hãy nhìn vào dân chúng,
bạn sẽ tìm thấy chân lý". Đúng là phải tìm chân
lý từ trong nguồn mạch bất tận ấy, trong dòng
sông cuộc sống.
Dòng sông ấy vẫn tuôn chảy không ngừng...
Nương theo đòa hình, có lúc tưởng như sông chảy
ngược. Nhưng không! Sông vẫn xuôi về biển cả.
Tốc độ dòng sông được quyết đònh ở sức cuộn
chảy từ bên dưới.
Ở những đoạn nước xoáy, nơi những khúc
sông rẽ ngoặt, sức cuộn chảy từ bên dưới đẩy
những bèo bọt rác rưởi dồn lên, dạt vào hai bên
bờ để dòng sông xuôi về biển lớn, vươn tới cái
đích ở phía chân trời! Báo chí phải tắm mình vào
dòng sông ấy mới có thể hoàn thành sứ mệnh cao
cả của mình.
VÙN HIÏËN 23
VIÏÅT NAM
TÛÂ TRONG DI SẪN
Đền Bạch Mã xưa và nay
Tượng Bạch Mã trong đền
Thăng
Longtứ trấn
và long mạch đất
kinh kỳ
PHƯƠNG THẢO (sưu tầm)
Thăng Long Tứ trấn gồm bốn ngôi đền: Đền Bạch Mã trấn phía Đông; Đền Voi
Phục trấn phía Tây; Đền Kim Liên trấn phía Nam; Đền Quán Thánh trấn phía Bắc.
Bốn ngôi đền xác đònh đòa giới Thăng Long, tạo nên ý nghóa và tầm vóc của
mảnh đất kinh kỳ. Mỗi ngôi đền thờ một vò thần có nguồn gốc và ý nghóa khác
nhau. Đây cũng là những dấu mốc đònh hình long mạch đất kinh kỳ, đã tồn tại từ
bao đời nay trong tâm tưởng người dân Việt.
24 VÙN HIÏËN
VIÏÅT NAM
VÙN HIÏËN 25
VIÏÅT NAM