Trang 1
CULTURE OF VIET NAM
Tạp chí xuất bản 02 kỳ/tháng
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT
Và số 41/GP-SĐBS
Giấy phép quảng cáo số 1187/BC
TÒA SOẠN TRỊ SỰ
27 Hương Viên, Q. Hai Bà Trưng ,Hà Nội
ĐT & Fax: (84.4).39764693
CHỦ NHIỆM
GS Hoàng Chương
TỔNG BIÊN TẬP
NỘI DUNG
Nhà văn – TS Phạm Việt Long
Phó tổng biên tập thường trực
NB Nguyễn Thế Khoa
Phó Tổng Biên tập
Số 6 (176) - 2011
TS Nguyễn Minh San
NB Trần Đức Trung
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
4. Kiên trì và kiên đònh con đường mà
36. Công ty Vật tư công nghiệp quốc phòng:
Trưởng Ban Trò sự
Bác Hồ và Đảng ta đã chọn
Vững bước trong nền kinh tế thò trường
NB Nguyễn Hoàng Mai
thư ký tòa soạn
NB Trần Thu Hiền
NB Từ My Sơn
Giám đốc điều hành
NB Võ Thành Tân
PGĐ: NB Lê Hải Châu
Giám đốc vppt văn hiến việt nam
Phan Tôn Tònh Hải
Hội đồng biên tập
GS Vũ Khiêu - Thượng tướng Nguyễn Nam
Khánh - GS Trần Bảng - GSTS Trần Văn Khê
- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - NS Vũ Mão
- NNC Tôn giáo Nguyễn Hữu Oanh - GSVS
Hồ Só Vònh - GS Trường Lưu - GSTS Thái Kim
Lan - TS.NSND Phạm Thò Thành - NSND
Đặng Nhật Minh - TS Hoàng Hải - TS Đoàn
Thò Tình - GSTS Nguyễn Thuyết Phong
Ban chuyên đề
Văn phòng Ban Biên tập
Số 64 Trung Hòa (Số 6 - Lô 12B cũ) Khu ĐTM
Trung Yên - Hà Nội
ĐT: (84.4).37. 831 961 - 37. 831 962
E-mail:
Văn phòng quảng cáo và
phát hành
Nguyên TBT Lê Khả Phiêu
Hiền Trần
9. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền
38. Công ty dược phẩm thương mại Đức
Thông Lê Doãn Hợp: Sẽ đưa Việt Nam
Hà: Coi trọng yếu tố cá nhân trong sự
cất cánh
phát triển chung
Kim Thanh
Đại Miêu
12. Báo chí Việt Nam với việc Bảo tồn
40. Công ty CP Hội thú y Việt Nam:
và phát huy di sản văn hóa dân tộc
Thành công với thực phẩm chức năng
Đỗ Hoài
Mộng Huệ
14. Đạm Phương nữ sử - Một nhà báo tài
42. Công ty CP Xây dựng đê kè và phát
năng
triển nông thôn Hải Dương: Luôn đề
TS.Vũ Ngọc Thanh
cao chất lượng công trình
17. GS.VS Đặ n g Vũ Minh: Nhà khoa
Thu Thu
họ c hiể u biế t và đồ n g cả m vớ i tri
44. Công ty TNHH Sitto Việt Nam: Luôn
thứ c Việ t Nam
vì quyền lợi bà con nông dân
Trần Thu
Hữu Hưng
DOANH NHÂN TÂM TÀI
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
46. Nhà thuốc Đông y gia truyền Long
20. Trạng nguyên Vũ Duệ
Phú Thọ
22. Người phụ nữ được một nhà máy
Lâm: Chuyện một nữ lương y giàu lòng
nhân ái
Số 404 Đường Bưởi, Q. Ba Đình - TP. Hà Nội
ĐT: 04. 3 7717665 * Fax: 04. 3 7718875;
Mobile: 0989.186661
nước ngoài mang tên
Nguyễn Sỹ Long
48. GĐ Công ty Bệnh viên đa khoa
Văn phòng đại diện tại
TP. Hồ Chí Minh
25. Nghệ só nhân dân Tào Mạt với dấu
quốc tế Vũ Anh: Nữ doanh nhân luôn
ấn nghệ thuật chèo
đề cao yếu tố con người
288B An Dương Vương - Q.5 - TP. Hồ Chí Minh
ĐT: 08. 3 8353878
Bùi Thọ
NSƯT Nguyễn Thế Phiệt
Quang Hòa
27. Nghệ só Nhân dân Thu Hiền: Còn
50. Phó Hữu Phúc - một Lương y tâm
Tầng 5 khách sạn Eiffel - 117 Lê Độ - Đà Nẵng
ĐT: 0511.647 529 * Fax: 0511. 811 972
sống một ngày là còn hát
tài
Trình bày
Hoa Việt media
30. Phan Quang - nghề báo nghiệp văn
Tài trợ phát hành
TỪ TRONG DI SẢN
52. Gạch men Hoàng Gia – Thương
33. Văn miếu Xích Đằng: Một biểu
hiệu hội nhập quốc tế
Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng
GS.VS Hồ Só Vònh
De. Đặng Phúc Đạt
Doanh nghiệp sách Thành Nghóa
TP. Hồ Chí Minh
In tại
THƯƠNG HIỆU NHÃN HIỆU – Từ GÓC
NHÌN VĂN HÓA
Anh phương
tượng của Văn hiến Hưng Yên
Nguyễn Kông
54. Công ty cp Tập đoàn Tân Cương
35. Xây dựng tính dân tộc trong xiếc thú
Hoàng Bình: Không ngừng đầu tư phát
của Việt Nam
triển thương hiệu
Nhà máy in Quân đội I
GIÁ: 22.000 VNĐ
Thu Hiền
Thanh Thuận
NSND Tâm Chính
Tử đơn
ĐỜI SỐNG QUANH TA
VIETNAMEST TALENT
56. Vũ Thò Thu Sợi: Cô bé hát xẩm chợ
20. Anecdotes of Vu Due
TRADE MARK AND BRANDNAME
52. Hoang Gia Brick: The brand
Phu Tho
Rồng Ninh Bình
Yên Ninh
VĂN HÓA GIAO THÔNG
Binh An
25. People Artist Tao Mat with Cheo stamp.
62. Tai nạn giao thông “tiếng bom” thời
last day of life
56. Vu Thi Thu Soi: little girl sing folk
Prof. Dr. Sc Ho Si Vinh
65. Lễ đúc đại hồng chung chùa Nôm
song in Ninh Binh
Yen Ninh
30. Phan Quang with his written work
TIN TỨC
Ngân Anh
Tu Dong
LIFE AROUND US
Thanh Thuan
64. Động lực mới trong sáng tạo nghệ thuật
development
27. People Artist Thu Hien: sing till the
hòa bình
Hồng Lónh
jsc. Continously invest in trademark
Nguyen The Phiet
60. Cùng nhau xây dựng văn hóa giao thông
Choi go ara
Anh Phuong
54. Tan Cuong Hoang Binh Group
named by a foreign Factory
58. Cái đẹp và văn hóa giao thông
TS. Hà Huy Phượng
intergrated international
22. The woman who her name has been
TRAFFIC CULTURE
58. The beauty and traffic culture
INSIDE HERITAGE
Dr Ha Huy Phuong
33. Xich Dang Temple of Literature - an
culture part of Hung Yen province
60. Building traffic culture together
Choi go ara
Nguyen Kong
– Hưng Yên
Anh Phương
BÌNH CHỌN GIẢI THƯỞNG
35. Bulding folk-custom in Vietnamese
62. Traffic accident: a “bang” in peace
Hong Linh
animal circus - People Artist.
Tam Chinh
Danh sách các đơn vò đạt giải thưởng
NEWS:
64. New motive force for writer creation
“Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN”
FOR THE COMMUNITY
Danh sách các đơn vò đạt giải thưởng
DEVELOPMENT
“Thương hiệu nổi tiếng ASEAN”
36. Army industrial Material Company:
65. Starting casting the Great Bell
Danh sách doanh nhân đạt cúp vàng
Keep stable in market economy
ceremony
Ngan Anh
Hien Tran
“Doanh nhân Tâm Tài” 2011
38. Give prominence
to
Dai Mieu
No.6 (176) - 2011
typical enterprises” Award
List of units awarded with the “ ASEAN
Mong Hue
42.
Uncle Ho and our Party had been
and
choosen
prominence to work’s quality
Hai
Duong
rural
development
dyke struction jsc.: Always give
The former General Secretary of Vietnam
Thu Thu
Le Kha Phieu
44. Sitto Viet Nam Ltd.: Always forward
will
leed
Vietnam
Kim Thanh
12. Vietnamese Press with nation
legacy
List of individuals awrded with the “
Talent Bussinessmen” golden cup
Tran Thu
HEART - TALENT BUSINESSMEN
46. Head of- Long Lam Oriental medicine
developping very fast
culture
famous Trade mark” Award
Vietnamese Farmers’ benefit
of Information and Communications:
Project
List of units awarded with the “ ASEAN
Success with function food
4. Firmly and standing with the way
The
AWARD SELECTION
40. Vietnam Vetenitary Association jsc.:
PEOPLE AND EVENTS
9. Interview Mr. Le Doan Hop - Minister
Anh Phuong
individual
element in general development
CONTENTS
in Nom Pagoda in Hung
Yen
preserving
and
House: story about an compassionate
physician women
Bui Tho
48. Head of Vu Anh international Polyclinic
developping job
Do Hoai
14. Dam Phuong Historic Woman – a
Hospital Jsc.: a busninesswoman always
give prominence to human element
Quang Hoa
talent writer
Dr. Vu Ngoc Thanh
17. Prof. Dr. Sc Dang Vu Minh: One
hearted professor always support the
50. Physician Pho Huu Phuc: story about
a compassinate talent physician
Thu Hien
CULTURE FROM VIEWPOINT OF
intelligentsia
Huu Hung
Ảnh bìa 1:
Lương y Phó Hữu Phúc - Chủ Phòng chẩn trò
y học cổ truyền dân tộc Phó Hữu Phúc
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
KIÊN TRÌ VÀ KIÊN ĐỊNH
CON ĐƯỜNG MÀ BÁC HỒ VÀ ĐẢNG TA ĐÃ CHỌN
l Lê Khả Phiêu
Nguyên Tổng Bí thư BCHTƯ Đảng Cộng Sản Việt Nam
LTS: Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011), tại
Thành phố mang tên Bác, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương,
Học viện Chính trò-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lòch
phối hợp tổ chức Hội thảo Khoa học về sự kiện này. Đồng chí Lê Khả Phiêu – Nguyên Tổng
Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã tham gia Hội thảo với bản tham luận
gồm 4 phần: 1. Con đường cứu nước – Con đường đến với chủ nghóa cộng sản và trở thành
đảng viên; 2. Hồ Chí Minh với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; 3. Hồ Chí
Minh với giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghóa; 4. Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và
nhân dân lựa chọn. Tạp chí Văn hiến Việt Nam xin trân trọng trích đăng phần 1 và phần 4
của bản tham luận này. Tên bài viết là của Tạp chí Văn hiến Việt Nam.
Con đường cứu nước – Con đường đến với
chủ nghóa cộng sản và trở thành đảng viên.
Sau khi tham gia phong trào nổi dậy chống
sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908, chàng thanh
niên Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn và từ bến
Nhà Rồng ra đi, giữa lúc các cuộc đấu tranh của
Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám thất bại, kế
sách cứu nước còn mờ mòt chưa có đường ra.
Có người thì muốn dựa vào Nhật, nhưng Nhật là
4
một “đế quốc da vàng”, có tham vọng lớn về đất
đai, đã thỏa hiệp với Pháp đuổi hết những người
Đông du ra khỏi Nhật. Có người muốn dựa vào
Pháp để chống Pháp bằng đường lối bất bạo
động... Dựa vào đế quốc để đánh đuổi đế quốc
chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa
sau” mà thôi!
Điều kỳ lạ đầu tiên ở con người Hồ Chí Minh
mà ngày nay và mai sau chúng ta còn cùng nhau
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Tôi vẫn học và ôn lại những điều Bác dạy, những lời Bác
viết, lắng nghe những kỷ niệm của đồng bào, đồng chí và
bà con cả nước về Bác Hồ. Cho đến giờ phút này tôi nghiêm
khắc tự thấy rằng tôi chưa học hết, chưa thấm nhuần đầy đủ
những lời Bác dạy, những điều Bác viết, tình thương và sự
gửi gắm của Bác đối với chúng ta, thế hệ hôm nay và các thế
hệ mai sau.
Bởi vậy, lời phát biểu của tôi sau đây chỉ là những điều học
được, hiểu được, những thu hoạch ít ỏi ban đầu về tư tưởng
và đạo đức của Bác Hồ, với tinh thần tự phê bình và phê bình
mà Bác thường nhắc tới.
Lê Khả Phiêu
Nguyên Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam
tìm hiểu mãi, ấy là: Khi có người hỏi: Lấy gì mà
ra đi, dựa vào đâu mà đi, thì Người đã giơ hai bàn
tay: - Đây!
Từ đó, với hai bàn tay lao động và ý chí cứu
nước mãnh liệt, chàng thanh niên Nguyễn Tất
Thành đã làm bồi tàu, phụ bếp, rửa chén từ 4 giờ
sáng đến 9 giờ tối, sau đó học ngoại ngữ đến 11
giờ đêm, để 4 giờ sáng hôm sau lại bắt tay vào
lao động. Người đã quét tuyết, đốt lò, làm thợ
ảnh, quần quật làm thuê.
Từ một thanh niên trong một gia đình nhà nho
nghèo thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội thời
ấy, Nguyễn Tất Thành chấp nhận sống một cuộc
đời cùng khổ, bán sức lao động để kiếm sống và
học tập trong một hoàn cảnh cực kỳ cay nghiệt
trên đất người. Từ một kẻ mất nước, bơ vơ, trơ
trọi, không nhà cửa, không gia đình, mẹ thì mất
sớm, cha thì tha phương, Nguyễn Tất Thành trở
thành một công nhân đích thực, có học vấn, tự
tin và kiên cường bước vào hàng ngũ đấu tranh
của các chiến só xã hội. Từ một người dân thuộc
đòa chỉ biết đế quốc xâm lược và phong kiến bạo
tàn, Nguyễn Tất Thành đã nhận ra rằng: Đâu
đâu cũng có hai loại người, những người bò bóc
lột và những kẻ bóc lột, dù khác màu da, khác
tiếng nói, lớp người cùng khổ tất cả các nước đều
là anh em. Nhờ sống với giai cấp công nhân và
lớp người cùng khổ trong xã hội tư bản, Nguyễn
Tất Thành hiểu được thực chất cái gì ẩn sau lá
cờ “tự do, bình đẳng, bác ái” và không để cho
những cái bên ngoài phô trương hào nhoáng lừa
dối mình. Nguyễn Tất Thành đã tự mình chiến
đấu vượt qua những hạn chế để khẳng đònh
mình, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp,
đem tiếng nói tràn đầy sức sống, làm cho người
nghe đồng cảnh ngộ yêu mến, buộc những kẻ
cơ hội xu thời phải nể trọng. Không ai giới thiệu
Nguyễn Ái Quốc vào Đảng. Chính cuộc đời lao
động, học tập, chiến đấu bất khuất suốt 10 năm
tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc
đến với chủ nghóa cộng sản, đến với Đảng Cộng
sản, làm nền tảng đònh hình bản chất cộng sản
của Người, đào tạo Người trở thành một chiến só
quốc tế của giai cấp công nhân và của các dân
tộc bò áp bức.
Giữa lúc dân tộc ta như một kiếp người cơm
vãi cơm rơi, biết đâu nẻo đất phương trời mà đi,
Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra chân lý vó đại: Muốn
cứu nước, không có con đường nào khác, ngoài
cách mạng vô sản.
Nguyễn Ái Quốc là hiện thân con đường hình
thành Đảng cộng sản Việt Nam, con đường cách
mạng Việt Nam.
Người đã tự mình chứng kiến và không chỉ
chứng kiến mà đã phải sống dưới “lưỡi lê của
nền văn minh tư sản”, phân rõ dân tộc và thuộc
đòa, tư bản và vô sản. Tin tưởng vững chắc ở
thắng lợi cuối cùng của cách mạng, Người là tấm
gương mẫu mực phấn đấu trở thành một người
cộng sản suốt đời trung thành với lý tưởng yêu
nước và xã hội chủ nghóa.
10 năm cực kỳ gian khổ, vật lộn trong chế độ
áp bức bóc lột, kiếm sống và học tập, Người đã
kiên cường đấu tranh phê phán những xu hướng
cơ hội đang lũng đoạn trong hàng ngũ cách
mạng. 10 năm nung nấu ý tưởng yêu nước và
5
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Nhà Bác ở làng Sen
chủ nghóa xã hội, chính 10 năm đó đã đặt nền
móng để trở thành, để có được một Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh kiên đònh, chung thủy, trước
sau như một, từ thủa mới làm cộng sản cho đến
phút cuối cùng của cuộc đời, một lòng vì giai
cấp công nhân, nông dân, trí thức cách mạng và
những người cùng khổ, vì nhân dân và dân tộc.
Con đường cứu nước mà Người tìm đến cũng
là con đường rèn luyện tư cách cách mệnh, tư
cách của người cộng sản. Điều đó gợi cho ta con
đường tu dưỡng bản thân để trở thành, để giữ
vững, để xứng đáng là đồng chí của Người, chiến
só cộng sản.
Với riêng tôi, điều đó đã giúp tôi hàng ngày tự
hỏi: Mình đã phấn đấu để trở thành một người
cộng sản như thế nào? Thái độ của mình với
giai cấp công nhân, nông dân, những người lao
động, những trí thức cách mạng, bà con dân tộc
ít người, tầng lớp nền tảng của xã hội đang phải
sống vất vả, đau ốm, thiếu kiến thức và nghề
nghiệp như thế nào? Mình phải tiếp tục rèn luyện
như thế nào để mãi mãi giữ vững tư cách cách
mệnh của người chiến sỹ cộng sản nồng nàn
yêu nước?
Không có tư cách cách mệnh của người chiến
6
sỹ cộng sản thì không thể nào đi tiên phong trong
sự nghiệp cứu nước, không thể nào vì dân, vì giai
cấp công nhân và lớp lớp cần lao bần hàn đau
khổ, tận tâm và đến cùng.
Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân
dân lựa chọn
Khai phá được con đường độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghóa xã hội là nhờ Đảng ta, từ
những tổ chức tiền thân cho đến ngày nay, đã
ráo riết học tập, kế thừa và phát triển chủ nghóa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng
tư tưởng, Kim chỉ Nam cho mọi hoạt động. Cho
nên, để kiên đònh và kiên trì con đường mà Bác
Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt
động của Đảng, phải lấy chủ nghóa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng
và Kim chỉ Nam.
Không thực hiện điều quan trọng này thì sa vào
vũng bùn của chủ nghóa cơ hội “tả khuynh” hoặc
“hữu khuynh”, lâm vào nguy cơ chệch hướng,
tự phát hay tự giác phản bội lại thành quả cách
mạng mà mồ hôi và xương máu chiến đấu hy
sinh của nhiều thế hệ xây đắp nên.
Hiện nay, nhờ có hòa bình, độc lập, thống nhất,
kinh tế phát triển, giao lưu văn hóa và khoa học
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Bến Nhà Rồng, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước
mở rộng, chúng ta được học tập nhiều gấp bội so
với trước. Bằng cấp, chức danh, cấp quân hàm
nhiều hơn trước, cao hơn trước. Điều đó rất quý.
Nhưng, một vài lớp bồi dưỡng chính trò, một bằng
cử nhân, một chức danh tiến só, một chức vụ
trung cấp, cao cấp trong Đảng và chính quyền...
chưa thể đảm bảo là đã am tường sâu sắc chủ
nghóa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Không thể hiểu chủ nghóa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh một cách thô thiển, không có
gốc, không có hệ thống, sơ lược và chắp vá. Có
hiện tượng chỉ hiểu câu chữ mà không nắm được
sự tinh túy và nguyên lý có tính chất phổ quát; có
hiện tượng cắt xén lý luận cơ bản, dẫn theo sách
vở phương Tây, sách vở chống cộng. Không dày
công lăn lộn nghiên cứu thực tiễn. Có hiện tượng
lợi dụng phát huy dân chủ, tự do dân chủ để
truyền bá những quan điểm sai trái trên báo chí,
trên mạng, trên các diễn đàn nghiên cứu.
Những hiện tượng ấy là miếng đất cho xu hướng
giáo điều mới và xu hướng xét lại mới phát triển,
ngăn trở việc nắm vững và vận dụng chủ nghóa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực
tiễn một cách đúng đắn.
Bác Hồ dạy: “Đảng muốn vững thì phải có chủ
nghóa làm cốt”.
Tôi nghó rằng, chúng ta cần khắc phục một
cách nghiêm túc những khuyết điểm về dạy và
học chủ nghóa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cho cán bộ, đảng viên. Cần lấy việc học
tập chủ nghóa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm một tiêu chuẩn rèn luyện đảng viên và
bồi dưỡng cán bộ.
Phải kết hợp nghiên cứu chủ nghóa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc học tập, soạn
thảo các Nghò quyết của Đảng.
Phải rà soát chương trình học tập chủ nghóa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các
trường học.
Phải coi trọng đào tạo một thế hệ giáo viên
truyền giảng chủ nghóa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh có đạo đức và tài năng cao.
Phải quan tâm tổng kết tình hình thực tiễn.
Tổng kết thực tiễn là dựa trên nền tảng chủ
nghóa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để
soi rọi tình hình và thực tiễn để kiểm tra đường
lối chính sách và từng bước hoàn thiện đường lối,
chính sách.
Trình độ hiểu biết và khả năng vận dụng chủ
nghóa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là
7
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
một tiêu chuẩn để tuyển chọn công chức, đào
tạo, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.
Cần kiên quyết chống lại các quan điểm sai
trái trong nội bộ Đảng và trong xã hội, các quan
điểm chống phá của các thế lực thù đòch, các
khuynh hướng cơ hội, cố tình bôi bác chủ nghóa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đang tạo
ra nguy cơ “tự diễn biến” rất nguy hiểm.
Học tập đi đôi với rèn luyện. Học tập chủ nghóa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rèn luyện
đạo đức, nâng cao ý chí chiến đấu phục vụ nhân
dân, phục vụ Tổ quốc, tác phong lãnh đạo và
tác phong làm việc, tác phong lao động, nền nếp
công tác và sản xuất, tinh thần đoàn kết thương
yêu lẫn nhau giữa các thế hệ và trong mỗi gia
đình. Đặc biệt là cán bộ, đảng viên cần nêu cao
các tấm gương tốt, “một tấm gương tốt còn có giá
trò hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, như
Bác Hồ dạy. Thoái hóa về đạo đức sẽ dẫn đến
thoái hóa về chính trò.
Cần nâng cao đạo đức cách mạng và lối sống
lành mạnh trong nhân dân và thanh niên, thiếu
niên. Có chiến lược thực hiện lời Di chúc của
Bác Hồ: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau, vừa hồng vừa chuyên, thế hệ kế thừa sự
nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghóa.
Cần nhớ mãi lời dạy của Người: “Muốn xây
dựng chủ nghóa xã hội, trước hết cần có những
con người xã hội chủ nghóa”, “không có tư tưởng
xã hội chủ nghóa thì không làm được công việc
của chủ nghóa xã hội”. Tập trung khắc phục bằng
được tình hình thoái hóa biến chất về lý tưởng xã
hội chủ nghóa. Không thể để đến Đại hội Đảng
lại lặp lại nhận đònh: “một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng”
Hàng ngày, hàng ngàn vạn trang sách và trang
báo mấy chục năm qua đã nói nhiều về tệ tham
nhũng, quan liêu.
Đảng đã đề ra nhiều biện pháp. Tôi chỉ xin
nhấn mạnh một điểm: thực thà tự phê bình và
phê bình từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới,
đặc biệt từ cấp lãnh đạo, các đồng chí lãnh đạo
cao nhất của Đảng và nhà nước, trong cán bộ
cao cấp, trung cấp.
Không xây dựng được tinh thần và nền nếp
thực thà tự phê bình và phê bình thì không thể
nào xây dựng Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
chính trò trong sạch và vững mạnh. Sức mạnh
8
của một Đảng bộ, mỗi đảng viên không chỉ ở chỗ
phát huy ưu điểm, mà còn là nhận ra, nhận rõ và
kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình.
Việc thật thà tự phê bình và phê bình nên bắt
đầu từ đợt học tập các văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ XI, nằm trong quá trình xây dựng chương
trình hành động của Đảng bộ và đảng viên thực
hiện Nghò quyết Đại hội XI.
Cùng với thật thà tự phê bình và phê bình là
kiên quyết và thực hành rộng rãi dân chủ trong
Đảng và ngoài xã hội. Bác Hồ dạy: “Thực hành
dân chủ là cái chìa khóa vạn năng để có thể giải
quyết được mọi khó khăn”.
Cùng với mở rộng dân chủ là phải tăng cường
kỷ luật, giữ vững chuyên chính. Bác Hồ dạy:
“Chế độ nào cũng có chuyên chính, vấn đề là
chuyên chính với ai?...Như cái hòm đựng của cải,
thì phải có cái khóa. Nhà thì phải có cửa....Dân
chủ là cái quý báu nhất của nhân dân, chuyên
chính là cái khóa, cái cửa đề phòng phá hoại...
Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính
để giữ lấy dân chủ.”
Để thực hiện mở rộng dân chủ, đề cao kỷ luật,
thì một biện pháp rất quan trọng là phải kiểm tra,
thanh tra và giám sát.
Bên cạnh ưu điểm, hiện nay thanh tra, kiểm tra,
giám sát còn né tránh, còn thỏa hiệp để giữ ghế,
giữ ôn hòa, “nín thở qua sông”, chờ qua khỏi các
kỳ đại hội, các kỳ bầu cử. Vậy thì làm sao phân
biệt được cán bộ tốt xấu, làm sao đưa được cán
bộ tốt vào bộ máy lãnh đạo và quản lý? Rốt cục
“đảng viên, cán bộ là công bộc của nhân dân”
chỉ là một khẩu hiệu. Thanh tra đi, thanh tra lại
vẫn không phát hiện được vấn đề. Đến khi đổ bể
mới biết. Thanh tra xong, có kết luận rồi, nhưng
do nhân nhượng, thỏa hiệp với nhau nên không
giải quyết được dứt điểm. Động đến chức càng
cao, càng khó thanh tra, kiểm tra. Vậy sức chiến
đấu của Đảng có còn hiệu lực nữa không?
Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây
dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù
hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt
Nam. Chúng ta khẳng đònh quyết tâm không gì
lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường
cách mạng vinh quanh đó tới đích. Chúng ta biết
rằng: Thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội là một
thời kỳ dài, nhưng không phải là vô hạn. Chủ
nghóa xã hội nhất đònh sẽ giành được thắng lợi
cuối cùng. n
SẼ ĐƯA VIỆT NAM
CẤT
CÁNH
l Kim Thanh
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp
Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông” đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết đònh số 1755/QĐ-TTg
ngày 22/9/2010. Mục tiêu của đề án là đến năm 2020 Việt
Nam sẽ nằm trong số 55 nước đứng đầu thế giới và tỷ
trọng công nghệ thông tin và truyền thông đóng góp vào
GDP đạt từ 8 – 10%. Phóng viên đã phỏng vấn Bộ trưởng
Bộ Thông tin & Truyền thông Lê Doãn Hợp xung quanh
đề án này.
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Bộ trưởng có thể cho biết,
ý nghóa của Đề án?
Có thể nói, Đề án là trí tuệ,
trách nhiệm, quyết tâm của
những người làm công nghệ
thông tin nước nhà; của thế
hệ trẻ Việt Nam; của hệ thống
chính trò Việt Nam; của nhân
dân, đồng chí, đồng bào cả
nước. Đề án được triển khai
là nhiệm vụ trung tâm và bao
trùm của đất nước ta từ nay
đến năm 2020.
Đây cũng là khát vọng của
thế hệ trẻ Việt Nam muốn
thay đổi thứ hạng của dân tộc
Việt Nam trên trường quốc tế
trong nhiều lónh vực, trong
đó có công nghệ thông tin.
Thực hiện tốt đề án là thực
hiện tốt mong muốn của Bác
Hồ “ Sớm đưa Việt Nam sánh
vai với các cường quốc năm
châu”.
Với ý nghóa to lớn và bao
trùm như vậy, có thể hiểu
thế nào là nước mạnh về
công nghệ thông tin và
truyền thông?
Liên minh Viễn thông quốc
tế ( ITU) phân chia sự phát
triển công nghệ thông tin và
truyền thông ở các quốc gia
thành 3 nhóm: Nhóm các
nước dẫn đầu; nhóm các
nước trung bình và nhóm các
nước phát triển chậm hơn.
Hiện nay, Việt Nam đang ở
nhóm các nước trung bình.
Chúng ta phải phấn đấu ở
nhóm các nước đi đầu.
Sáu mục tiêu trở thành
nước mạnh trong lónh vực
này và có thể gọi là sáu trụ
cột của Đề án bao gồm: Phát
triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin; phát triển hạ
9
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
tầng viễn thông băng rộng; sản
xuất công nghiệp công nghệ
thông tin; phổ cập và ứng dụng
công nghệ thông tin; xây dựng
doanh nghiệp và phát triển thò
trường công nghệ thông tin và
truyền thông.
Nội dung chủ yếu của sáu
trụ cột này?
Về nguồn nhân lực công
nghệ thông tin. Đến năm 2015,
30% số lượng sinh viên công
nghệ thông tin, điện tử, viễn
thông sau khi tốt nghiệp ở các
trường đại học có đủ khả năng
chuyên môn và ngoại ngữ để
có thể tham gia thò trường lao
động quốc tế. Tỷ lệ người dân
sử dụng Internet đạt trên 50%.
Đến năm 2020, tổng số nhân
lực tham gia hoạt động trong
lónh vực công nghiệp công nghệ
thông tin đạt 1 triệu người, trong
đó bao gồm nhân lực hoạt động
trong nước và nhân lực tham
gia xuất khẩu. Tỷ lệ người dân
sử dụng Internet đạt trên 70%.
Về công nghiệp công nghệ
thông tin. Đến năm 2015, các
doanh nghiệp Việt Nam có đủ
năng lực thiết kế, sản xuất thiết
bò, thay thế dần các chi tiết nhập
khẩu, đẩy mạnh nghiên cứu
chế tạo vi mạch tích hợp, làm
chủ thiết kế và sản xuất được
một số sản phẩm phần cứng
công nghệ thông tin và truyền
thông mang thương hiệu Việt
Nam, đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu. Việt Nam
nằm trong số 15 nước dẫn đầu
về cung cấp dòch vụ gia công
phần mềm và nội dung số.
Quy mô và tính chuyên
nghiệp của các doanh nghiệp
phần mềm, nội dung số và
10
dòch vụ công nghệ thông tin
Việt Nam được nâng cao, đủ
sức cạnh tranh trên thò trường
nội đòa. Hình thành được một
số sản phẩm phần cứng,
phần mềm, nội dung số mang
thương hiệu Việt Nam phục vụ
thò trường trong nước, hướng tới
xuất khẩu.
Đến năm 2020, hình thành
được các tổ chức nghiên cứu
và phát triển công nghệ thông
tin và truyền thông mạnh, đặc
biệt là các tổ chức nghiên cứu
và phát triển công nghệ của
doanh nghiệp, đủ năng lực
nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới có công nghệ cao.
Công nghiệp phần mềm và
dòch vụ gia công của Việt Nam
phát triển mạnh mẽ, Việt Nam
nằm trong số 10 nước dẫn đầu
về cung cấp dòch vụ gia công
phần mềm và nội dung số. Các
doanh nghiệp phần mềm, nội
dung số và dòch vụ công nghệ
thông tin Việt Nam làm chủ thò
trường trong nước và tham gia
xuất khẩu. Nhiều sản phẩm,
giải pháp phục vụ ứng dụng
công nghệ thông tin của Nhà
nước và doanh nghiệp do Việt
Nam nghiên cứu, phát triển
hoặc bản đòa hóa từ các phần
mềm tự do mã nguồn mở.
Công nghiệp công nghệ thông
tin, đặc biệt là công nghiệp
phần mềm và dòch vụ trên nền
công nghệ thông tin trở thành
một ngành công nghiệp có tốc
độ tăng trưởng nhanh nhất.
Về hạ tầng viễn thông băng
rộng. Đến năm 2015, cơ bản
hoàn thành mạng băng rộng
đến các xã, phường trên cả
nước, kết nối Internet đến tất cả
các trường học; phủ sóng thông
tin di động băng rộng đến 85%
dân cư; Việt Nam nằm trong số
65 nước trong bảng xếp hạng
của Liên minh Viễn thông quốc
tế (ITU).
Đến năm 2020, hoàn thiện
mạng băng rộng đến hầu hết
số thôn, bản; phủ sóng thông
tin di động băng rộng đến 95%
dân cư; Việt Nam nằm trong số
55 nước trong bảng xếp hạng
của ITU (thuộc nhóm 1/3 nước
dẫn đầu).
Về phổ cập thông tin. Đến
năm 2015, 20 - 30% số hộ gia
đình trên cả nước có máy tính
và truy cập Internet băng rộng;
trên 90% số hộ có máy thu hình,
trong đó 80% xem được truyền
hình số bằng các phương thức
khác nhau.
Đến năm 2020, hầu hết các
hộ gia đình trên cả nước sử
dụng các dòch vụ số; 50 - 60%
số hộ gia đình trên cả nước có
máy tính và truy cập Internet
băng rộng, trong đó 25 - 30%
truy nhập băng rộng sử dụng
cáp quang; hầu hết các hộ
gia đình có máy thu hình xem
được truyền hình số bằng các
phương thức khác nhau.
Về ứng dụng công nghệ
thông tin. Đến năm 2015, cung
cấp hầu hết các dòch vụ công
cơ bản trực tuyến tới người dân
và doanh nghiệp mức độ 2 và
3 (nhận mẫu hồ sơ trên mạng
và trao đổi thông tin, gửi, nhận
hồ sơ qua mạng). 80% doanh
nghiệp và tổ chức xã hội ứng
dụng công nghệ thông tin trong
quản lý, điều hành, sản xuất
kinh doanh. Phổ cập ứng dụng
công nghệ thông tin trong hệ
thống giáo dục, y tế. Đẩy mạnh
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
ứng dụng công nghệ thông tin
trong quốc phòng, an ninh.
Bước đầu ứng dụng công
nghệ thông tin để giải quyết
các vấn đề kinh tế - xã hội
quan trọng, phạm vi ảnh hưởng
rộng, bao gồm: ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý
giao thông đô thò, ứng dụng
công nghệ thông tin trong
công tác vệ sinh, an toàn thực
phẩm, ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác dự
báo thời tiết,…
Đến năm 2020, Chính phủ
điện tử Việt Nam thuộc loại khá
trên thế giới. Việt Nam nằm
trong nhóm 1/3 nước dẫn đầu
trong bảng xếp hạng của Liên
hiệp quốc về mức độ sẵn sàng
Chính phủ điện tử.
Hầu hết các dòch vụ công cơ
bản được cung cấp trên mạng
cho người dân và doanh nghiệp
ở mức độ 4 (thanh toán phí dòch
vụ, nhận kết quả dòch vụ qua
mạng). 100% các ngành công
nghiệp then chốt của đất nước,
các doanh nghiệp và tổ chức xã
hội ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý, điều hành,
sản xuất kinh doanh.
Về xây dựng doanh nghiệp và
phát triển thò trường công nghệ
thông tin và truyền thông. Nâng
cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và tập đoàn công nghệ
thông tin và truyền thông của
Việt Nam như Tập đoàn VNPT,
Viettel, Tổng công ty Truyền
thông đa phương tiện (VTC),
FPT, Công ty cổ phần tập đoàn
CMC… trên cả hai lónh vực dòch
vụ và sản xuất công nghiệp.
Hình thành Tập đoàn Truyền
thông đa phương tiện Việt Nam
(VTC).
Hỗ trợ, khuyến khích việc
ra đời của các doanh nghiệp
công nghệ thông tin và truyền
thông vừa và nhỏ, thúc đẩy
hình thành các doanh nghiệp
công nghệ thông tin và truyền
thông lớn, kinh doanh hiệu
quả, năng lực cạnh tranh cao,
trở thành các tập đoàn kinh tế
mạnh, từng bước mở rộng ra
thò trường khu vực và thế giới,
hình thành thương hiệu “Công
nghệ thông tin và truyền thông
Việt Nam”.
Đến năm 2015, phát triển các
doanh nghiệp và tập đoàn công
nghệ thông tin đạt trình độ, quy
mô khu vực ASEAN, có các
hoạt động kinh doanh trên thò
trường quốc tế, trong đó một số
doanh nghiệp có tổng doanh
thu đạt trên 10 tỷ USD.
Đến năm 2020, nhiều doanh
nghiệp và tập đoàn công nghệ
thông tin của Việt Nam hoạt
động sản xuất kinh doanh hiệu
quả, đạt trình độ, quy mô thế
giới, trong đó một số doanh
nghiệp có tổng doanh thu đạt
trên 15 tỷ USD.
Cơ sở nào để tin vào tính
khả thi về các mục tiêu của
Đề án? Kỳ vọng về sự đóng
góp của các doanh nghiệp
cho sự phát triển chung này
xuất phát từ đâu?
Năm 2011 là năm Bộ Thông
tin & Truyền thông chỉ đạo
quyết liệt đưa các mục tiêu của
Đề án sớm đi vào thực tiễn.
Quý I khởi động và 3 Quý còn
lại là hành động.
Trong quý I, Bộ đã và đang
tổ chức các hội nghò chuyên đề
với các hiệu trưởng, chủ nhiệm
khoa công nghệ thông tin, các
doanh nghiệp hoạt động trong
lónh vực công nghệ thông tin,
các đòa phương triển khai Đề án
toàn quốc. Đây là sự phối hợp
giữa Nhà nước, Nhà trường,
Nhà doanh nghiệp.
Khi thực hiện, phải có sự ra
tay của doanh nghiệp thì tính
khả thi mới cao. Hiện nay, các
tập đoàn đang được kỳ vọng
như VNPT, Viettel doanh thu
năm 2010 đạt khoảng 5 tỷ
USD. Tiến tới năm 2015 sẽ
đạt 10 tỷ USD và 2020 đạt trên
15 tỷ USD như đã cam kết.
Các tập đoàn khác như VTC,
FPT… đang đăng ký phấn đấu
vươn lên. Các cơ quan truyền
thông đa phương tiện như VOV,
Thông tấn xã Việt Nam , Đài
truyền hình Việt Nam ngoài
nhiệm vụ truyền thông cũng bắt
đầu hướng vào sản xuất công
nghiệp công nghệ thông tin và
sẽ có những bước phát triển
nhanh chóng trong thời gian
tới. Bên cạnh đó có sự tham
gia của các doanh nghiệp nước
ngoài và các doanh nghiệp liên
doanh.
Chúng ta cũng có thế mạnh
là giới trẻ rất đam mê công
nghệ thông tin. Đây là nguồn
tài nguyên quý giá góp phần
vào thành công của Đề án.
Những gì chúng ta đặt ra
hoàn toàn có cơ sở trở thành
hiện thực. Giai đoạn này chính
là thời cơ vàng cho chúng ta tập
hợp tất cả thành sức mạnh dân
tộc. Cơ hội này chỉ còn trong
15-20 năm. Nếu không làm
được chúng ta sẽ có lỗi với dân
tộc, với mai sau.
Cảm ơn Bộ trưởng! n
11
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Báo chí
với việc bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa
l Đỗ Hoài
Chùa Láng (Chiêu Thiền Tự), ngôi chùa được dựng từ thời Lý, thế kỷ 12
N
ước ta có một kho tàng
di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể đồ sộ,
trong đó có nhiều di sản được
UNESCO công nhận là di sản
thế giới. Một vấn đề lớn đang
đặt ra là làm thế nào để bảo tồn
và phát huy giá trò những di sản
đó. Báo chí giữ vai trò rất quan
trọng trong vấn đề này. Trước
hết, báo chí tuyên truyền quảng
12
bá những giá trò của di sản đến
mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi di
tích đều gắn liền với lòch sử văn
hóa của dân tộc. Nhưng không
phải ai, ngay cả người dân ở
vùng có di tích cũng hiểu thấu
đáo đến những giá trò của nó.
Trước đây tình trạng người dân
đến di tích thắp hương cúng lễ
chỉ biết nơi đó là thiêng còn sự
tích của nó như thế nào, tại sao
nó thiêng hầu như không biết là
rất phổ biến. Ấy là chưa kể đến
giá trò kỹ thuật , mỹ thuật của
các công trình kiến trúc từ thời
Lý, Trần, Lê…lại càng khó cảm
nhận. Các công trình nghiên
cứu về các di sản văn hóa rất
ít người đọc và biết tới. Những
năm gần đây, nhờ phát triển du
lòch, phát triển các lễ hội truyền
thống, các đòa phương đã chú ý
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
giới thiệu các di tích bằng tuyên
truyền, cổ động, biển, bảng và
các ấn phẩm như tờ rơi, sách
bỏ túi…
Báo chí góp một phần không
nhỏ trong việc giới thiệu các
di tích. Các di tích nổi tiếng
của nước nhà thường xuyên
được giới thiệu rộng rãi trên
các phương tiện thông tin đại
chúng. Mỗi người dân giờ đây
đến mỗi di tích đã được giới
thiệu khá kỹ càng tỉ mỉ, trong
đó có phân tích những cái hay,
cái đẹp cùng lai lòch của mỗi di
tích. Việc tuyên truyền quảng
bá ấy có ý nghóa rất quan trọng
trong việc nâng cao ý thức của
người dân đối với di sản văn
hóa mà ông cha ta để lại càng
tăng thêm lòng yêu nước, tự
hào dân tộc. Từ đó, mỗi người
có ý thức bảo vệ và phát huy
các di sản. Đã có thời kỳ vì
quan niệm sai lầm chỉ nhìn thấy
di tích là nơi diễn ra cúng bái,
mê tín dò đoan khiến cho đền
đài, miếu mạo hương tàn khói
lạnh, nhiều di tích bò xuống cấp
hoang phế do tác hại của thiên
nhiên, bão lũ. Trong công cuộc
đổi mới của đất nước, với cách
nhìn đúng đắn với di sản, việc
bảo vệ và phát huy di sản văn
hóa dân tộc đã trở thành phong
trào của quần chúng, phong
trào toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa. Nhiều
nơi nhân dân đã tự nguyện
đóng góp sức người, sức của
để tôn tạo các di tích, có những
công trình hàng tỷ đồng. Nhân
dân chính là người đứng ra bảo
vệ các đình chùa, đã phát hiện
và ngăn chặn những vụ trộm
cổ vật tại các di tích.
Cùng với việc tuyên truyền,
cổ vũ việc bảo vệ di tích, báo
chí cũng góp tiếng nói ngăn
chặn sự xâm hại đến di tích.
Tốc độ đô thò hóa nhanh, “tấc
đất tấc vàng”, nhiều di tích bò
lấn chiếm đất đai, nhiều công
trình xây dựng vi phạm Luật
Di sản, phá vỡ cảnh quan môi
trường đã được báo chí phanh
phui kòp thời.
Có thể nói việc ngăn chặn
xây dựng động giả, chùa giả ở
Chùa Hương, gây ô nhiễm môi
trường ở Chùa Yên Tử…có sự
đóng góp của báo chí. Ngay cả
việc trùng tu, tôn tạo các di tích
không tôn trọng nguyên gốc,
không đúng quy cách, báo chí
cũng đăng tải những ý kiến phê
bình xây dựng của các chuyên
gia trong lónh vực này.
Trong mùa lễ hội vừa qua, đã
có hàng trăm bài báo, nhiều
chương trình phát thanh, truyền
hình đã nêu bật bản sắc văn
hóa dân tộc với các hình thức
độc đáo của các lễ hội truyền
thống, nêu bật ý nghóa tích
cực của nó là tôn vinh các anh
hùng dân tộc, những người có
công với dân với nước hướng
mọi người tìm về cội nguồn,
tăng cường khối đoàn kết cộng
đồng. Những nét hay, nét đẹp
của nghệ thuật dân gian được
đề cập đậm nét và phân tích
kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, báo chí
cũng vạch ra những tồn tại yếu
kém của công tác tổ chức quản
lý kéo dài năm này sang năm
khác.
Nhiều hiện tượng tiêu cực
trong lễ hội đã được nêu ra
khá cụ thể và chi tiết như: Nạn
đốt vàng mã, cúng tế linh đình
mâm cao cỗ đầy, nạn mê tín dò
đoan, buôn thần bán thánh…
Nhiều bài báo đã chỉ rõ: Một số
đòa phương đã lợi dụng lễ hội
để kiếm lợi, thương mại hóa
lễ hội đã làm che lấp bản sắc
văn hóa dân tộc của lễ hội. Ý
thức của người tham gia lễ hội
còn nhiều bất cập như xả rác
bừa bãi, gây mất vệ sinh môi
trường, có nhiều hành vi cử chỉ
vô văn hóa ở nơi công cộng,
nặng về cầu lộc cầu tài cho cá
nhân và gia đình mà quên mất
ý nghóa lớn lao của lễ hội, quên
cả không khí sinh hoạt văn hóa
chung của cộng đồng. Các tác
phẩm báo chí đã gây thành dư
luận góp phần bảo vệ và phát
huy những giá trò của lễ hội,
góp phần xây dựng nếp sống
văn minh trong lễ hội, thực hiện
chỉ thò của Bộ Chính trò và Thủ
tướng Chính phủ về việc xây
dựng nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang và lễ hội.
Cuộc sống hiện đại đang
sôi động, gấp gáp từng ngày
không thể để tầng sâu văn hóa
dân tộc im lìm dễ rơi vào quên
lãng mà ngược lại phải đánh
thức nó dậy trong tiềm thức mỗi
con người, vì ở đó là cội nguồn,
là bản sắc dân tộc, là nền tảng
của sự phát triển bền vững.
Bác Hồ đã dạy: Văn hóa phải
soi đường cho quốc dân đi.
Có rất nhiều vấn đề cụ thể
đang đặt ra cho sự nghiệp bảo
tồn và phát huy di sản văn
hóa dân tộc: Làm thế nào để
giữ được các di tích qua thời
gian, qua sự hủy hoại của thiên
nhiên? Làm thế nào để giữ gìn
và phát huy các di sản phi vật
thể qua quá trình hội nhập? Làm
thế nào vừa phát huy vừa bảo
vệ được di sản trong quá trình
phát triển du lòch?... Báo chí sẽ
đồng hành cùng các nhà văn
hóa, các nhà nghiên cứu để có
những câu trả lời thỏa đáng cho
những vấn đề bức xúc đang đặt
ra – Chúng ta hy vọng và chờ
đợi những tác phẩm báo chí
13
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
xuất sắc trong lónh vực này. n
ĐẠM PHƯƠNG NỮ Sử
Một nhà báo tài năng
l TS.Vũ Ngọc Thanh
Đạm Phương nữ sử (1881-1947) “sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, văn hoá
nghìn xưa của dân tộc đang buổi tàn đông, văn hoá ngoại lai thì xâm lấn thô
bạo” (GS Hoàng Như Mai) là một người nổi tiếng, “nhiều “nhà” trong 1” (nhà
báo, nhà thơ, nhà hoạt động văn hóa, xã hội) nổi tiếng đầu thế kỷ XX, trong đó,
hoạt động báo chí đáng khâm phục và tài năng ký giả đáng ngưỡng mộ đã góp
phần làm nên tầm vóc văn hoá của bà.
Hoàn cảnh bước vào nghề báo
Báo chí Việt Nam ra đời năm 1865 với tờ Gia
Đònh báo báo hiệu sự lên ngôi của chữ quốc
ngữ, đồng thời là một động lực đưa quốc ngữ
mau chóng trở thành một thành tố đắc lực của
văn hiến Việt Nam. Tuy vậy, đầu thế kỷ XX, báo
tiếng Việt còn rất non yếu. Đúng như nhà báo
cách mạng Trần Huy Liệu nhận xét: “Có miệng
không được nói, có tư tưởng không được giãi
bày, đó là cái số kiếp của 25 triệu đồng bào ta,
mà cũng là cái đặc ân chính phủ Pháp ban cho
25 triệu đồng bào ta. Lòch sử báo giới ta trải qua
mấy chục năm nay, những người làm báo hoàn
toàn là những người miệng câm, tai điếc…Mỗi khi
ta cầm đến ngòi bút, cầm đến tờ báo không khỏi
bầm gan tím dạ, thẹn ruột đau lòng” (Pháp Việt
nhất gia, 1927).
Đạm Phương nữ sử đã bước vào “nghề báo”
trong hoàn cảnh như thế.
Hoạt động báo chí đa dạng
Quãng đời làm báo không dài (khoảng từ 191814
1930) song bà Đạm Phương đã chứng tỏ là cây
bút sung sức, tự tin, có mặt đều đặn với năng
suất cao, cộng tác viên “ruột” của nhiều tờ báo
nổi tiếng thời bấy giờ tại cả ba trung tâm là Hà
Nội, Sài Gòn và Huế. Cùng lúc, bà giữ chuyên
mục “Lời đàn bà” của nhật báo Trung Bắc tân
văn, góp bài đều đặn cho mục “Văn đàn bà” tạp
chí Hữu thanh, cộng tác thường xuyên với một
số cơ quan khác nữa với sức làm việc thật đáng
kính phục.
Với những tờ báo cộng tác, bà Đạm Phương
luôn bảo đảm đủ và kòp thời bài vở. Và nếu so
sánh những bài đầu tiên ký Đạm Phương đăng
tạp chí Nam phong (1918) với những bài bà viết
về sau, vào những năm 1929-1930 trên báo Phụ
nữ tân văn có thể nhận rõ bước tiến của tác giả
cả về nội dung lẫn hình thức. Nếu các bài văn
xuôi đăng tạp chí Nam phong nhiều hơi văn biền
ngẫu, thi thoảng điểm xuyết mấy vần thơ cảm
hoài thì các bài viết đăng báo Trung Bắc tân văn,
Phụ nữ tân văn đề cập nhiều vấn đề xã hội, văn
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
chương mạch lạc, sắc sảo, nhất là khi bà tham
gia luận chiến. Tư tưởng và văn phong của bà
theo thời gian ngày càng “hiện đại hóa” so với
mặt bằng báo chí hồi bấy giờ.
Nữ sử Đạm Phương nổi lên như một nữ ký
giả tiên phong, tung hoành trên nhiều mặt báo
suốt từ Bắc tới Nam trong cả một thập kỷ. Theo
Lê Thanh Hiền, người biên soạn cuốn Tuyển
tập Đạm Phương nữ sử (NXB Văn học, 2010),
chưa kể số bài đăng trên Lục Tỉnh tân văn, Đạm
Phương nữ sử đã viết gần 200 bài báo, trong đó
có 129 bài đăng trên Trung Bắc tân văn.
Đạm Phương nữ sử đã thực sự dùng báo chí
như một công cụ đấu tranh đắc lực cho quyền tự
do, dân chủ của con người và quyền bình đẳng
của phụ nữ Việt Nam. Không dừng lại ở viết báo
tháng 5/1929, Đạm Phương còn nhiệt tình vận
động cho ra đời thêm tờ Phụ nữ Tùng san ở Huế.
Không chỉ là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết
báo bằng chữ quốc ngữ, Đạm Phương còn đóng
góp đáng kể vào quá trình xây dựng nền quốc
văn bằng cách liên tục cho xuất hiện trên báo chí
thời đó nhiều bài viết ở các thể loại văn chương
khác nhau như khảo cứu, nghò luận, ký...
Các bài báo với chủ đề, đề tài phong phú
Với nhiều chủ đề, đề tài “hot”, Đạm Phương
luôn bàn đến những vấn đề gần gũi, thiết thân,
“lưỡng quan” (được quan tâm và liên quan đến
độc giả), những mối bận tâm muôn thû của con
người…nên mặc dù gần một thế kỷ đã qua, nhiều
tác phẩm của bà đến nay vẫn có ý nghóa. Có thể
thấy rõ điều đó khi đọc qua tiêu đề các bài báo
của Đạm Phương viết trên Lục Tỉnh tân văn như
Đờn bà đối với nghề nghiệp, Có biết dại mới nên
khôn, Tính thực thà, Phẩm hạnh người đàn bà,
Cái tính quen, Đức hạnh, Bàn về thực phẩm nước
ta, Cái hại nói láo, Tính ghen tuông của người đàn
bà, Đạo làm con…
Nhưng điều đáng quý không chỉ là số lượng,
phong cách chuyên nghiệp mà còn là giá trò các
bài báo, đúng như nhà văn Nguyễn Khắc Phê
nhận đònh: “Điều đáng nói hơn là trong hàng trăm
bài báo đó, Đạm Phương nữ sử đã kiên trì mục
đích phê phán những quan niệm lạc hậu, những
lề thói xấu, gợi mở cách sống tốt đẹp, biết trọng
danh dự và giá trò tinh thần hơn là vật chất…, góp
phần xây dựng đời sống văn hóa, đạo đức lành
mạnh với đối tượng chính là người phụ nữ và nhi
đồng” (Phụ nữ TP.HCM, 7/3/2011).
Đọc lại chuỗi bài báo của Đạm Phương từ 1918-
1926 có thể tiếp cận được trong rất nhiều bài
những tia sáng rực rỡ, khi bà phản đối mạnh mẽ
việc trói buộc sự tự do, dân chủ, bình đẳng giữa
con người với con người. Trong bài phi lộ cho số
ra mắt tờ Phụ nữ Tùng san (tháng 5/1929), Đạm
Phương phân tích, lên án và đòi vứt bỏ những
quy tắc phi nhân bản, bất bình đẳng của chế độ
phong kiến áp đặt cho người phụ nữ “cha mẹ
đặt đâu con ngồi đấy”, “đàn bà phải thủ tiết thờ
chồng sau khi chồng chết”, “phụ nữ không được
học hành nhiều vì chỉ có bổn phận sinh con đẻ
cái, cơm nước, quanh quẩn trong nhà”... Trong
khi phản đối những điều phi lý, bất công đó đối
với phụ nữ, Đạm Phương không quên lưu ý phụ
nữ thực hành tốt những chức năng gia đình của
người phụ nữ. Những phẩm chất tinh thần mà
con người cần hướng tới hoặc tránh xa được Đạm
Phương chỉ đích danh trong các bài giáo dục dành
cho các bậc cha mẹ như cần ngăn ngừa cho trẻ
các thói xấu như tham lam, nói dối, tin nhảm...và
cần rèn cho trẻ các tính tốt như lòng trung hậu,
tính kiên nhẫn, lòng thương người...
Theo GS Trần Ngọc Vương, “những chủ đề ưu
tiên dưới ngòi bút của bà những năm tháng ấy
chính là những chủ đề đạo đức, giáo dục, thực
nghiệp với khát vọng rõ ràng: làm thế nào để
dân được “khôn ra”, được giàu lên, đời sống xã
hội phần nào có văn hóa hơn, bắt nhòp được với
“thời nay”.
Nhưng rồi trên đường hướng chung, ngòi bút
của bà nhanh chóng trở nên “ráo riết” hơn,
“chụm” hơn”.
Những vấn đề giáo dục gia đình
Trong mọi trước tác của mình, Đạm Phương nữ
sử đều đặt vấn đề giáo dục lên đầu, coi là khâu
then chốt. Từ những năm 30, nhà phê bình văn
học Thiếu Sơn đã nhận xét: “Đạm Phương nữ
sử là một bậc nữ sử tiên giác đã biết rõ cái hoàn
cảnh mình, cái xã hội mình, muốn kiếm những
phương thuốc để sửa đổi lấy nó, và muốn nêu ra
những lý tưởng hoàn thiện làm mục đích cho sự
cải cách này”.
Bà từng viết loạt bài Gia đình giáo dục, Phép
giáo dục cho trẻ con trong nhà, Xã hội giáo dục…
trên các báo. Đặc biệt, năm 1942, trong “Lời
nói đầu” của công trình Giáo dục nhi đồng tâm
huyết, Đạm Phương đã viết: “Quyển sách này lại
là công trình kinh nghiệm của cả một gia đình. Vì
tôi là mẹ của một gia đình 11 con và bà của một
đại gia đình trên 30 cháu vừa nội vừa ngoại. Sự
15
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
kinh nghiệm giữa bầy con cháu ấy đã đem đến
cho tôi nhiều tài liệu rất thiết thực về giáo dục”.
Điều đáng chú ý trong hàng loạt bài báo mang
tính giáo dục phụ nữ của Đạm Phương chính
là bà luôn nhấn mạnh đến bổn phận, nghóa vụ,
lương tâm và trách nhiệm của con người. Bởi,
theo bà “đóng góp cho xã hội là một nét đạo đức
của người biết bổn phận và có lương tâm” không
riêng gì nam giới mà cả phụ nữ. Trong bài Muốn
cho nữ lưu biết chức nghiệp, phải có học hội nữ
công (Trung Bắc Tân văn, 1926), bà viết: “Nước
mình đàn bà con gái không phải không có óc
thông minh, cũng không phải không có tài năng
song không biết cách cùng nhau mà mưu sự
nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về
đường nữ công là cái phận sự của mình, phải nên
chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn
toàn mới mong mở mặt mở mày với người ta”.
Tư tưởng dân chủ tiến bộ, mang tính xã hội
Tư tưởng dân chủ tiến bộ của Đạm Phương
được chuyển tải rõ ràng, sắc sảo, đầy thuyết
phục trong tất cả các bài báo của bà. Là một tiểu
thư đài các xuất thân trên nhung lụa, được bao
bọc trong quyền hành vọng trọng của hoàng tộc
nhưng đồng thời cũng từng bước qua những đònh
kiến nặng nề của xã hội phong kiến đương thời
để bươn chải kiếm sống nuôi chồng con lúc gia
cảnh khó khăn nên Đạm Phương cảm nhận hết
sức sâu sắc ý nghóa của tự do, dân chủ và bình
đẳng đối với sự phát triển năng lực và hạnh phúc
riêng tư của người phụ nữ.
Nếu thời gian đầu Đạm Phương nữ sử nặng
về giáo dục các em nữ theo mô hình gia đình
nền nếp “công, dung, ngôn, hạnh” thì dần dà cái
nhìn của tác giả cởi mở, tiến bộ, sát cuộc sống
hơn, khi quan tâm đến toàn thể nhi đồng, nam
cũng như nữ, đến giáo dục gia đình nói chung.
Bà coi trọng các ngành nghề thủ công, kể cả
nghề chân tay vất vả như nuôi tằm ươm tơ, miễn
là làm ra thu nhập. Trên báo Trung Bắc tân văn,
(ngày 21/6/1926), bà cổ vũ phụ nữ tham gia công
tác xã hội: “Nữ công chẳng những giúp cho đàn
bà về đường tự lập, mà lại về đường sinh kế, và
thứ nữa là cái mầm mống của sự công nghệ thực
nghiệp nước nhà sau này” và “Để bước lên cái
bước thành nam nữ bình quyền, nữ giới cần có
học thức rộng”. Như vậy, tư duy và hành động
của bà Đạm Phương càng về sau càng mang
tính xã hội rõ rệt.
16
Tranh đấu cho nữ quyền, bình đẳng giới
Có thể khẳng đònh Sương Nguyệt Anh và bà Đạm
Phương là hai nữ ký giả đầu tiên lên tiếng đấu tranh
vì nữ quyền và bình đẳng giới ở Việt Nam. Quan
điểm về vấn đề nữ giới, nữ quyền, dân chủ, bình
đẳng giới và bình đẳng xã hội của bà là “Con người,
nữ cũng như nam, sinh ra trên đời ai cũng đều có
thể chất và tâm hồn, không ai là cây cỏ, không ai là
thú vật. Về thể chất, phụ nữ không mạnh mẽ bằng
nam giới song lại có thiên chức làm vợ, làm mẹ,
giáo dục con cái từ thû nằm nôi, thậm chí từ khi cái
thai còn trong bụng mẹ”. Tâm đắc ý kiến của nhà
cách tân Trung Quốc Lương Khải Siêu “Cuộc vận
động nhân quyền theo nghóa rộng tức là vận động
nữ quyền”, trên báo Phụ nữ tân văn (ngày 6/3/1930)
bà đã viết: “Cái thiên chức ấy tùy theo thời thế hoàn
cảnh mà cải tạo gia đình dính liền với xã hội, để gây
hạnh phước cho quần chúng”.
Theo bà Đạm Phương, “Muốn bình quyền, bình
đẳng với nam giới, trước hết người phụ nữ phải
có những khả năng cần thiết nhất là đức hạnh và
tài năng. Đức hạnh và tài năng đó trước hết phải
được giáo dục và rèn luyện trong gia đình từ tuổi
ấu thơ đến tuổi trưởng thành. Song song với giáo
dục gia đình, người phụ nữ phải được tiếp nhận
từ nhà trường một nền học vấn cơ bản tối thiểu là
học hết bậc tiểu học (thời Pháp). Với vốn tri thức
cơ bản đó, người phụ nữ phải học lấy một nghề
để có thể sống tự lập và góp phần phát triển kinh
tế, không phụ thuộc và ỷ lại vào nam giới, không
ăn bám chồng con”...
Nhận rõ thân phận của người phụ nữ lúc bấy
giờ (tuyệt đại bộ phận mù chữ do không được
học hành, bò khinh rẻ, bò chà đạp…), ngòi bút
của Đạm Phương thường hướng mạnh về việc
giải phóng phụ nữ, làm cho phụ nữ được bình
quyền, bình đẳng với nam giới. Trong bài Bàn về
giáo dục con gái trên tờ Trung Bắc Tân văn Đạm
Phương viết: “Giáo dục phụ nữ là một vấn đề rất
quan hệ cho một dân tộc tương lai. Phải giáo dục
cho họ có cái gì làm chuẩn đích để sau này ra
đời họ biết đạo xử thế. Vì cuộc đời như một cái
bể rộng mênh mông mà cuộc đời mỗi con người
như con thuyền đi trên mặt nước, có vững tay lái
chèo mới mong lướt sóng ra khơi”.
Với những cống hiến trong lónh vực báo chí trên
đây có thể khẳng đònh Đạm Phương nữ sử là nhà
báo chuyên nghiệp có bản lónh, có tay nghề. Bà
là một trong những ngôi sao sáng của Việt Nam
đầu thế kỷ XX. n
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
GIÁO SƯ, VIỆN SĨ ĐẶNG VŨ MINH
Nhà khoa học hiểu biết
&
đồng cảm với
tri thức Việt Nam
l Hữu Hưng
M
ột nhà báo viết về
GS.VS. TSKH Đặng
Vũ Minh như sau:
“Tiếp xúc với ông, mọi người
đều có cảm nhận chung, rằng
ông là người điềm đạm, ân cần,
chu đáo và tôn trọng những
người đối thoại với mình”. Tôi
nghó, đây là một nhận xét tinh
tế và chính xác.
Có lần tôi tới thăm một nhà
vật lý lão thành thì được ông
cho xem bức thư tay chữ viết
nắn nót của GS. VS Đặng Vũ
Minh bày tỏ sự trọng thò đối với
ý tưởng do ông đề xuất về dự
án xây dựng nhà chiếu hình vũ
trụ tại Thủ đô. Nhà khoa học
này tâm sự: Tuy mình chưa
thực hiện được ý nguyện bấy
lâu nay song sự quan tâm, chia
sẻ của vò Chủ nhiệm Uỷ ban
Khoa học, Công nghệ và Môi
trường của Quốc hội cũng đã
động viên mình khác nào được
nghe những lời tri kỷ.
GS.VS Đặng Vũ Minh là vậy.
Trong ứng xử hằng ngày ông
luôn coi trọng chữ Tín và đồng
cảm, giúp đỡ mọi người. Tôi
cho rằng, bản chất tử tế trong
ông là kết quả bẩm thụ từ sự
giáo dục của một gia đình trí
thức có bề dày văn hóa.
Thû ấu thơ, khi Đặng Vũ
Minh mới chưa đầy một năm
tuổi, tháng 12 năm 1946, Toàn
quốc kháng chiến chống Pháp
bùng nổ, thân phụ ông là Giáo
sư Đặng Vũ Hỷ, người từng
giành được tấm bằng bác só nội
trú sáng giá ở Trường đại học
Y Paris, trở về nước đã sớm gia
nhập Vệ quốc đoàn và được
cử phụ trách Trạm quân y tiền
phương ở Cổ Lễ, Nam Đònh;
sau đó phụ trách Viện quân y ở
Thư Điền, Ninh Bình.
Trong hồi ký GS. Phạm Khuê
nhớ lại hình ảnh người anh rể
của mình trong những ngày đầu
kháng chiến: “Đóng ở nhà dân
tại thôn Thư Điền, tối nào anh
em cũng thắp đèn dầu học đến
tận khuya mặc dầu cả ngày đã
làm việc mệt lử…Hình ảnh người
thầy thuốc bận áo quần xanh –
công nhân, chống gậy, xách cái
hòm cấp cứu, na ná như hòm
thợ cạo, đi khắp hang cùng ngõ
hẻm để cứu chữa người bệnh
và huấn luyện cho các “Thầy
thuốc chân đất” rất quen thuộc
với đồng bào đòa phương…”
Chắc hẳn nhiều người đã biết,
cố Giáo sư bác só Đặng Vũ Hỷ
là chuyên gia đầu tiên của Việt
Nam về bệnh phong và bệnh
da liễu, Chủ nhiệm môn Da liễu
Bệnh viện Bạch Mai, giáo sư
Trường đại học Y Hà Nội, nhà
khoa học đã được trao tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt
đầu tiên, năm 1996, và được
dựng tượng tưởng niệm ở Trại
phong Quy Hòa (Bình Đònh).
Dưới chân tượng có khắc dòng
chữ: “Cuộc đời tận tụy vì người
bệnh, y đức trong sáng của
GS Đặng Vũ Hỷ để lại những
nét sâu đậm trong lòng người
mắc bệnh phong và những thầy
thuốc chuyên khoa”.
Xuất thân trong một gia đình
17
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Gs.Vs. Đặng Vũ Minh tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII
trí thức yêu nước, Đặng Vũ
Minh được giáo dục đào tạo
thấu đáo, lại có trí thông minh,
nên liên tiếp đạt được các thành
tựu khoa học xuất sắc. Ông
tốt nghiệp Đại học Tổng hợp
Matxcơva năm 1968, bảo vệ
thành công luận án Phó Tiến
só năm 1978, rồi luận án Tiến
só khoa học năm 1984 tại Viện
Hàn Lâm Khoa học Liên Xô.
Công trình khoa học của
Đặng Vũ Minh được các nhà
khoa học Liên Xô lúc bấy giờ
đánh giá là một phát minh
xứng đáng mang tên ông. GS
Lep Conxtantinnovich Lepxki ở
Trường đại học Tổng hợp Xanh
Pêterbua nhận xét: “Công trình
khoa học của Đặng Vũ Minh mở
ra một trang mới trong nghiên
cứu phân hạch của u-ra-ni trong
thiên nhiên. Tác giả công trình
đã phân tích một cách hệ thống
và kỹ lưỡng các sản phẩm phân
hạch dây chuyền của u-ra-ni
xảy ra cách đây 2 tỷ năm tại
một mỏ u-ra-ni lớn ở Ga-bông
(Châu Phi) song còn để lại dấu
18
vết trên Trái đất. Đặng Vũ Minh
đã làm sáng tỏ rất nhiều đặc
tính quan trọng của một số sản
phẩm phân hạch dây chuyền
của u-ra-ni trong thiên nhiên;
đặc biệt là việc khí xê-non đã
được tạo thành trong quá trình
phân hạch có thành phần đồng
vò quan sát thấy trong các lò
phản ứng hạt nhân hiện đại.
Sau rất nhiều thực nghiệm, tác
giả đã đưa ra một số giả thuyết
giải thích nguồn gốc khí xê-non
có thành phần đồng vò bất bình
thường trong sản phẩm phân
hạch của một nguyên tố hóa
học nặng hơn u-ra-ni”.
GS.TSKH Iuri Alêchxanđrơvich
Xucôlicôp, nhà khoa học hàng
đầu trong lónh vực đòa hóa đồng
vò và cũng là người thầy trực
tiếp hướng dẫn nghiên cứu
sinh Đặng Vũ Minh hoàn thành
bản luận án thì nhìn nhận học
trò của mình dưới góc độ nhân
văn: “Đặng Vũ Minh có trí thông
minh và óc suy tưởng bẩm sinh,
có lòng vò tha, với phông văn
hóa rộng. Anh yêu văn học
Việt, văn học Nga, nói thạo bốn
ngoại ngữ. Với kết quả nghiên
cứu xuất sắc của anh, tôi tin
tưởng Đặng Vũ Minh khi trở về
Tổ quốc sẽ tiếp tục đạt được
những thành tựu lớn”
Không phụ lòng tin của
thầy, trở về Việt Nam trong
điều kiện khó khăn, thiếu thốn
của đất nước vừa trải qua hai
cuộc chiến tranh, Đặng Vũ
Minh đã tập trung nghiên cứu
về các nguyên tố đất hiếm –
một nguồn nguyên liệu quý và
có trữ lượng đáng kể ở nước
ta. Có thể nói, đất hiếm chỉ
có giá trò lớn khi được tách
chiết và làm sạch tới độ tinh
khiết cao. Trong hàng chục
công trình nghiên cứu về đất
hiếm tiến hành cùng với các
cộng sự, GS Đặng Vũ Minh
đã nghiên cứu tỷ mỉ và có hệ
thống các phương pháp tách
chiết và làm sạch các nguyên
tố đất hiếm. Lần đầu tiên ở
Việt Nam, nhóm nghiên cứu
của ông đã áp dụng thành
công phương pháp chiết xuất
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
nhiều bậc để tách các nguyên
tố đất hiếm . Các đề tài cấp
Nhà nước do GS Đặng Vũ Minh
chủ trì đã được đánh giá xuất
sắc, một số kết quả nghiên cứu
đã được triển khai vào sản xuất
và đời sống. Mùa hè năm 1999,
tại phiên họp toàn thể của Viện
hàn lâm khoa học Nga được tổ
chức tại Mát-xcơ-va, GS Đặng
Vũ Minh được bầu làm Viện só
nước ngoài Viện hàn lâm khoa
học Nga. Năm 2005, cùng với
bốn đồng tác giả, ông đã được
tặng Giải thưởng Nhà nước
về khoa học và công nghệ về
những công trình nghiên cứu
trong lónh vực công nghệ và
ứng dụng đất hiếm.
Từ năm 1994 đến 2004, ông
làm Giám đốc Trung tâm khoa
học tự nhiên và công nghệ
Quốc gia. Từ 2004 đến 2008,
ông làm Chủ tòch Viện Khoa
học và công nghệ Việt Nam.
GS.VS Đặng Vũ Minh được
tín nhiệm giữ những chức vụ
Đảng và chính quyền không chỉ
vì ông giàu tâm huyết và trách
nhiệm nghề nghiệp, giàu tài
năng sáng tạo mà còn ở thái
độ chân thành trong đối xử,
giúp đỡ mọi người, lôi cuốn mọi
người bằng sự gương mẫu, chí
công vô tư. Nhiều cán bộ khoa
học đã từng làm việc ở đấy vẫn
còn nhớ lãnh đạo của Trung
tâm Khoa học tự nhiên và
Công nghệ Quốc gia lúc bấy
giờ do ông đứng đầu đã công
khai việc phân bổ kinh phí của
nhà nước; khuyến khích cán bộ
học tập để nâng cao trình độ;
áp dụng quy chế để lựa chọn
và bổ nhiệm những cán bộ có
đức, có tài, ưu tiên dành biên
chế thu nhận cán bộ trẻ có
năng lực; tăng cường đáng kể
trang thiết bò nghiên cứu khoa
học cho các viện…
Hiện tại, GS.VS Đặng Vũ
Minh là Uỷ viên Ban chấp hành
Trung ương Đảng, Uỷ viên Uỷ
Ban Thường vụ Quốc hội, Chủ
nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công
nghệ và Môi trường của Quốc
hội. Tại Đại hội VI Liên hiệp
các hội khoa học và kỹ thuật
Việt Nam vừa qua, ông được
bầu làm Chủ tòch Liên hiệp hội
Việt Nam.
Trong bài trả lời phỏng vấn
của phóng viên Bản tin KCP số
4/2010 trước thềm Đại hội VI
của Liên hiệp hội Việt Nam, với
nhan đề “Mỗi nhà khoa học phải
có Tổ quốc của mình”, GS.VS
Đặng Vũ Minh tâm sự: “Tất cả
những gì mà tôi đã trải nghiệm
trong những năm làm việc, tôi
nhận thức sâu sắc rằng: Đại đa
số trí thức Việt Nam có lòng yêu
nước, yêu dân tộc, có truyền
thống hy sinh cho cách mạng,
gắn bó với đất nước từ những
năm tháng khó khăn nhất và
đã có những đóng góp to lớn
trong sự nghiệp đổi mới. Đấy
là tài sản vô giá của dân tộc…
Cần hiểu biết, đồng cảm với
trí thức Việt Nam và có chính
sách nhằm khuyến khích và tạo
ra môi trường, không gian sáng
tạo…”
Nói về việc đào tạo – giáo
dục thế hệ trẻ và tạo dựng sự
nghiệp khoa học, GS.VS Đặng
Vũ Minh rất lấy làm tâm đắc với
những dòng ghi chép ở chiến
khu Việt Bắc của cố Giáo sư
Hồ Đắc Di, nguyên Hiệu trưởng
Trường đại học Y Hà Nội, vốn
là bạn đồng nghiệp của thân
phụ ông:
Nếu cuộc đời mà từng giây
phút trôi qua đều có ý nghóa thì
đó là cuộc đời cống hiến cho
tương lai con em chúng ta;
Đào tạo các nhà khoa học
phải chú trọng phát triển cả về
trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả
khoa học và nghệ thuật;
Tinh thần học thuật không có
chỗ cho việc lạm dụng quyền
hạn. Chỉ khi đó, thông qua mối
quan hệ không áp đặt, năng
lực phán xét mới có thể nở rộ đó là bông hoa đẹp nhất trong
vườn hoa trí tuệ nhân loại, một
yếu tố vô cùng quan trọng đối
với khoa học;
Khi học thì phải biết nghi ngờ
và khi làm thì phải có niềm tin;
Trong khoa học, sự tiến bộ gắn
liền với sự kết hợp chặt chẽ giữa
nghiên cứu và giảng dạy…;
Nghiên cứu khoa học tạo nên
sự nhiệt tình cho những người
trẻ tuổi. Và thực sự chúng ta
mang ơn họ vì rất nhiều phát
minh quan trọng từ các nhà
khoa học trẻ;
Chỉ sau khi học hỏi từ những
nhà tiền bối, chúng ta mới có
thế đứng trên vai họ để nhìn
qua bên bức tường, nơi cất dấu
những điều chưa biết…
Nhắc lại những lời nêu trên
của GS Hồ Đắc Di, GS.VS
Đặng Vũ Minh muốn nhấn
mạnh đến công tác tập hợp,
phát huy trí thức trẻ của Liên
hiệp hội Việt Nam trong thời
gian tới, song ông cũng không
quên nói về vai trò của các
nhà khoa học lão thành, đặc
biệt là đối với các ngành khoa
học xã hội - nhân văn, ở độ
tuổi 70 vẫn là độ tuổi có cống
hiến to lớn.
Ông tin rằng, trong thời gian
tới, Liên hiệp hội Việt Nam
sẽ là tổ chức chính trò - xã
hội vững mạnh của trí thức
khoa học và công nghệ trong
và ngoài nước, đó là nhân tố
quan trọng góp phần đưa khoa
học - công nghệ trở thành
động lực phát triển bền vững
của đất nước.n
19
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
Trạng nguyên
Vũ Duệ
l Phú Thọ
T
rạng nguyên Vũ Duệ người
làng Trình Xá huyện Sơn
Vi phủ Lâm Thao, nay là
làng Lời Trònh xã Vónh Lại huyện
Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Thủa
nhỏ hàn vi và hay ốm yếu nhưng
cực kỳ thông minh, nhờ dùng trí
xóa được nợ cho cha, nên ông
được đi học.
Số là có một ông phú hộ ở làng
bên cho bố Duệ vay khá nhiều
tiền thóc. Lần đó phú hộ đến có
một mình Duệ ở nhà. Ông khách
hỏi: “Bố mẹ cháu đi đâu”. Duệ
trả lời: “Bố cháu đi giết người,
mẹ cháu đi cứu người”. Vò khách
nghe giật mình, hỏi lại: “Sao lại có
chuyện kỳ quái thế, cháu nói rõ
cho ta nghe xem nào”. Duệ hỏi:
“Cháu nói ra thì ông có thưởng
gì không”. “Ta mua bánh cho
mà ăn”. “Bánh thì nước non gì,
cháu chả nói”. Ông khách trông
thấy áo Duệ có miếng vá, mới
bảo: “Thì ta may cho bộ quần áo
mới”. Duệ lại cười: “Ông thưởng
thế hãy còn ít lắm”. Ông khách
sốt ruột bảo: “Thì tao xóa nợ cho
bố mày vậy”. Duệ sung sướng
chạy ra bờ ao lấy cục đất nhão
vào thưa: “Ông in tay vào đây đi,
cháu sẽ nói ngay”. Ông khách
chiều lòng, bèn đưa bàn tay in
20
vào cục đất. Lúc đó Duệ cười
vang: “Ông ơi, đấy là bố cháu
đi nhổ mạ, mẹ cháu thì đi cấy”.
Ông khách đờ người, nghó bụng
“thằng bé này giỏi quá, về sau ắt
sẽ làm to”. Vừa lúc đó thì bố mẹ
Duệ đi làm về. Duệ chạy ra cổng
khoe: “Con vừa xóa được nợ cho
bố rồi”. Ông khách vui vẻ làm
chứng luôn: “Nó nói đúng đấy,
tôi đã in bàn tay vào cục đất cam
đoan xóa nợ”. Đoạn ông khách
kể câu chuyện thú vò vừa rồi cho
bố mẹ Duệ nghe. Trước khi ra
về, ông nhà giàu nói: “Thằng bé
khẩu khí rất thông minh cần cho
đi học, nhất đònh nó sẽ làm quan.
Món nợ cũ tôi đã xóa rồi, nếu lúc
nào thiếu thì sang tôi giúp tiếp”.
Bố mẹ Duệ nghe vậy nở nang
từng khúc ruột, càng cố gắng
làm lụng nuôi con ăn học.
Năm 23 tuổi Vũ Duệ đi thi Hội
rồi thi Đình đỗ Trạng nguyên
khóa Canh tuất niên hiệu Hồng
Đức thứ 21 đời vua Lê Thánh
Tông (Dương lòch 1490). Năm
sau Trạng Duệ được đi theo
nhà vua về Thanh Hóa bái yết
Sơn lăng. Vua làm 6 bài thơ
cảm khái, sai ông họa lại. 6 bài
họa của ông được học giả Lê
Quý Đôn chép vào cuốn “Toàn
Việt Thi Lục” lưu ở đời.
Nhận xét về Vũ Duệ, có lần
vua Lê Thánh Tông nói trước
quần thần rằng: “Ngày sau
nước nhà có biến cố, hẳn người
này đương nổi”.
Ông làm quan trải 6 đời vua
(Thánh Tông, Hiến Tông, Túc
Tông, Uy Mục, Tương Dực, và
Chiêu Tông), được thăng tới
chức Thượng thư Bộ Lại, phẩm
hàm tới Tòng nhò phẩm, tước
phong Trình Khê hầu. Ông
được triều đình chiểu lệ cấp
cho 12 mẫu ruộng thế nghiệp
(cha truyền con nối), 50 mẫu
ruộng và 10 mẫu bãi dâu tứ
(cho hưởng một đời ông), 40
mẫu ruộng tế.
Mùa hạ năm Tân Tò Quang
Thiệu thứ 6 (1521) vua Lê
Chiêu Tông sai ông viết văn bia
tiến só cho khoa Giáp Tuất. Bài
văn ấy có đoạn nói về phẩm
chất của kẻ só như sau: “... Các
tiến só khoa thi ấy vốn đã được
tùy tài sử dụng, đều ở hàng liêu
thứ, người thì theo hầu cương
ngựa trong khi hoạn nạn, kẻ thì
giúp bàn kế hoạch trong buổi
trò bình, người thì trò dân coi
việc, người thì khởi thảo văn
từ, phẩm hạnh tài năng cũng
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
có thể thấy được đại khái. Đến
nay lại đội ơn được tô điểm,
tấm lòng cảm kích biết đến
dường nào. Tất phải trong sạch
để hưởng phúc, tất phải thuỷ
chung lo báo đền. Trước lấy
khí thức sau mới đến tài nghệ,
trước là đức hạnh rồi mới đến
văn chương. Là sao sáng, mây
lạ, làm điềm lành cho đương
thời, là vàng ngọc thiên nhiên
làm của quý cho thế gian, là
gươm Can Tương Mạc Gia để
dẹp loạn, là gỗ Biền Nam Kỷ
Tử để vững cột rường, là thóc
lúa vải lụa để nuôi sống dân, là
sâm linh chi truật để dưỡng thọ
mạch nước, để cuộc trò nước
đến chỗ phồn vinh và đặt thiên
hạ vào thế bình yên như Thái
sơn bàn thạch, mới có thể trên
không phụ sự biểu dương của
đức thánh, dưới không phụ vốn
học vấn của đời mình...”
Làm tới Thượng thư Bộ Lại
nắm quyền chọn bổ, xét hạch,
thăng giáng và các việc có liên
quan tới bổng lộc của các hàng
quan chức, nhưng ông rất liêm
khiết giản dò, về nhà vẫn mặc
quần áo nâu sồng. Nhân buổi
thong thả, ông vác cuốc ra thăm
đồng, đi đến gần cầu Xa Lộc
thì gặp viên Tri huyện Sơn Vi
ngồi trên cáng võng. Thấy ông
không chào, viên Tri huyện bèn
bắt phạt phải khiêng cáng. Khi
đến cổng nhà ông Bảng nhãn
Nguyễn Mẫn Đốc, ông gọi to
“Bảng Dòng đâu, ra khiêng
cáng quan thay cho thầy”.
(Ông Mẫn Đốc là học trò của
Trạng nguyên Vũ Duệ, cũng
đang làm quan Thò thư trong
triều. Dòng là tên cổ làng Xuân
Lũng). Ông Mẫn Đốc nghe
tiếng vội chạy ra, thấy vậy thất
kinh, quát mắng viên Tri huyện:
“Sao ngươi dám to gan bắt cụ
lớn Trạng nguyên Thượng thư
Bộ Lại khiêng cáng cho ngươi
thế này”. Viên Tri huyện lăn
đùng từ trên cáng xuống run
như cầy sấy khóc lóc sụp lạy
hai ông như tế sao, nghó rằng
phen này chắc chết. Trạng Duệ
biết vậy liền bảo: “Anh đợi đấy,
ta vào chơi một lát, rồi cõng ta
về nhà thì ta tha cho”. Thế là
dân chúng hai bên đường được
một mẻ cười no xem quan cõng
trạng.
Xã Vónh Lại và các xã Cao
Xá, Bản Nguyên ở bên bờ
sông Thao, cầy cấy trồng mầu
trên đất bãi. Mỗi năm mùa lũ
lụt phù sa bồi lên mất nấm, lại
tranh cãi nhau về bờ cõi kiện
tụng liên miên. Cụ Thượng
bèn sai Tri huyện Sơn Vi triệu
tập toàn thể các hộ ven sông
về họp, phán rằng: “Từ nay cứ
đến tháng bốn trước mùa lũ lụt,
nhà nào cũng phải đem cọc tre
ra đóng giữ cõi. Sau lũ lụt đã
có cọc làm cõi mà đắp lại bờ,
cấm xâm lấn nhau. Ai làm trái
sẽ phải phạt”. Thế là chấm dứt
được nạn đánh cãi nhau, dắt
nhau đễn cửa quan kiện cáo,
vừa mất tình hàng xóm vừa tốn
tiền lót quan, dân rất biết ơn.
Cuối đời vua Lê Chiêu Tông,
trong triều đình xuất hiện bè
đảng của Thái phó Nhân quốc
công Mạc Đăng Dung, hé lộ âm
mưu cướp ngôi. Tháng 7 năm
Nhâm Ngọ (1522), nhà vua rời
kinh thành ra ngoài lên vùng
Minh Nghóa Sơn Tây cho người
đi đưa mật chiếu Cần Vương.
Tháng 8 năm ấy Mạc Đăng
Dung lập em nhà vua là hoàng
đệ Xuân lên làm vua bù nhìn.
Sau đó một tướng là Trònh Tuy
đón nhà vua vào Thanh Hóa.
Trước tình hình đó, Thượng
thư Vũ Duệ và Thò thư Nguyễn
Mẫn Đốc mộ được 300 quân
hương dũng đi theo vua, đến
huyện Lạc Thổ Ninh Bình thì
vua tôi gặp nhau vô cùng mừng
rỡ. Đi vào đến huyện Cẩm Thuỷ
Thanh Hóa thì bò quân Mạc truy
đuổi kòp, hai bên đánh nhau kòch
liệt. Rồi vua tôi lạc nhau không
biết đâu mà tìm. Vũ Duệ quá
mệt mỏi, mà quân Mạc đang
lùng bắt, ông trỏ gươm lên trời
kêu to: “Tôi cúc cung liều chết
để đền nợ nước, nay đã đến lúc
sức cùng lực kiệt mất rồi”. Đoạn
ông và ông Nguyễn Mẫn Đốc
hướng về Lam Kinh bái lạy, và
lao đầu vào đá tự vẫn.
Sau khi dẹp xong nhà Mạc,
nhà Lê trung hưng, năm Bính
Ngọ Cảnh Trò thứ 4 đời vua Lê
Huyền Tông (Dương lòch 1666),
triều đình bàn luận công lao,
xếp ông Vũ Duệ đứng đầu 13
người công thần tử tiết, di cốt
ông Mẫn Đốc đứng thứ 3. Di
cốt ông Vũ Duệ được đặt trong
hòm gỗ bọc bằng bạc, ông Mẫn
Đốc đặt trong hòm gỗ bọc bằng
đồng đem từ Thanh Hóa về quê
mai táng.
Đền thờ Trạng nguyên Vũ
Duệ đầu tiên làm ngay trên mộ
của ông, được vua ban cho 3
chữ “Tiết nghóa từ” ghi ở cổng
đền, và tấm biển gỗ khắc 4 chữ
“Vương thất huân lao” đặt trong
đền. Sắc phong là Thượng
đẳng phúc thần, xuân thu nhò
kỳ tế lễ. Kỳ tế xuân đònh lệ chi 8
quan 20 đồng tiền. Huyện quan
đứng ra giao cho xã tổng mua 1
con trâu, 1 con dê, 1 con lợn, 8
mâm xôi, 4 chónh rượu, 4 mâm
oản quả, 4 mâm cá thòt, gạo
thơm 10 đấu, 40 nén hương to,
4 đôi nến, 1000 tờ giấy tiền.
Thực hiếm thấy có vò đại thần
nào được Nhà nước phong kiến
và xã hội vinh danh thượng
thặng, cả khi còn sống lẫn khi
đã qua đời như Trạng nguyên
Vũ Duệ. n
21
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
được một nhà máy
nước ngoài mang tên
l Nguyễn Sỹ Long
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, huyện Điện Bàn (Quảng Nam) đã
đi vào lòch sử đấu tranh cách mạng với
những con người kiên trung như Nguyễn
Văn Trỗi, Trần Thò Lý, Trần Thò Chính,
Huỳnh Thò Thanh…Trong số đó, có một
người con gái được vinh dự gặp Bác Hồ
2 lần, tên của chò được đặt cho một nhà
máy ở Liên Xô (cũ). Người con gái đó
nay đã ngoại bát tuần, hiện đang sinh
sống tại Khu phố 6, Thò trấn Vónh Điện,
huyện Điện Bàn.
BA LẦN BỊ BẮT VẪN LÀ …SỐ “0”
Trần Thò Vân, sinh năm 1930 tại thôn Phú
Đông, xã Điện Quang là một trong 3 xã vùng
Gò Nổi (Điện Bàn, Quảng Nam), trong một gia
đình nông dân nghèo. Chế độ hà khắc, sự bóc
lột tàn bạo của bọn thực dân phong kiến đã thổi
bùng lên lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần
yêu nước của người dân nơi đây. Trong đó có
Trần Thò Vân. Được sự dìu dắt của các anh, chò
đã tình nguyện tham gia hoạt động cách mạng từ
tuổi 12 tuổi. Nhớ lại những năm tháng hào hùng
của quê hương, bà Vân tâm sự: “Lúc đó lũ trẻ
như bọn tui đâu biết sợ là chi, chỉ thấy tức lũ giặc
tận máu, nên hăng hái tham gia vào để diệt hết
lũ ác ôn như chúng mà thôi”. Bốn năm sau đó,
Vân nhận nhiệm vụ phụ trách phong trào thiếu
nhi của xã Điện Quang, cán bộ phụ nữ cứu quốc
của thôn, kiêm đội trưởng đội du kích của thôn
Phú Đông. Những ngày tranh đấu sôi nổi giúp chò
trưởng thành nhanh chóng. Niềm vinh dự lớn đến
với Vân năm 20 tuổi, chò được kết nạp vào Đảng.
Khi cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp sắp đi
22
vào hồi kết, năm 1951, Trần Thò Vân được phân
công đi xây dựng cơ sở ở xã Điện Hồng, vùng
thực dân Pháp tạm chiếm. Những năm tháng trụ
bám hoạt động cùng với đồng chí, đồng đội trên
quê hương, bà được bầu làm Ủy viên BCH Hội
phụ nữ xã, rồi Trưởng hội Phụ nữ xã Điện Hồng.
Đầu năm 1952, chò bò thực dân Pháp và tay sai
đòa phương vây bắt ở Vónh Điện và bò đưa về giam
tại đồn Vân Ly (Gò Nổi). Đòch điên cuồng dùng
nhiều cực hình tra tấn, nhốt chò suốt 1 năm trong
hầm tối, nhưng kết quả chúng mong muốn vẫn
là con số không. Đầu năm 1954, bộ đội ta đánh
giải phóng đồn Vân Ly, Trần Thò Vân được về lại
với quê hương, đồng đội. Chò tiếp tục hoạt động
trong phong trào phụ nữ của xã Điện Hồng. Hơn
một năm sau, Vân tạm biệt Điện Hồng, trở lại
Điện Quang với chức danh bí thư chi bộ xã.
Lần thứ hai Trần Thò Vân bò bắt là khi chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm lê máy chém đi
khắp Miền Nam, thẳng tay đàn áp khủng bố
phong trào cách mạng với những thủ đoạn dã
man, tàn bạo. Chúng giam chò tại các đòa điểm:
khu Kỳ Lam, nhà lao Vónh Điện, lao Thông Đăng
- Hội An. Mặc dù bò đòch tra tấn vô cùng dã man,
với đủ những ngón đòn tra khảo như: điện giật,
dùi đâm, kim chích...nhưng người con gái Gò Nổi
vẫn cắn răng chòu đựng, cương quyết không khai
báo, bảo vệ tuyệt đối tài liệu và cơ sở bí mật của
Đảng. Nhớ lại những ngày tháng bò giam cầm,
tra tấn, bà Vân xúc động: “Đòch bắt tui, giam vào
một căn phòng nhỏ xíu. Chúng bắt tui ngồi quỳ
xuống đất, bẻ quặt hai tay ra phía sau và trói lại,
dùng dùi sắt nung đỏ và dí vào khắp nơi trên cơ
thể. Tui chết đi sống lại không biết bao lần mà
kể. Song, mỗi lần như vậy, nghó đến Bác Hồ, nghó
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
Bà Trần Thò Vân (áo dài, đứng thứ 7 từ trái qua) cùng các bạn bè tại Liên Xô (Ảnh do nhân vật cung cấp)
đến Đảng, nghó đến các đồng chí, đồng bào của
mình, nhớ đến tấm gương trung kiên, bất khuất
của chò Lý, tui quyết ra sức chòu đựng...”.
Không thể khai thác gì được, năm 1960, đòch
đành phải trả tự do cho người nữ đảng viên kiên
trung. Về với quê hương, không đợi sức khỏe
hồi phục sau những năm tháng trong lao tù, chò
nhận nhiệm vụ phụ trách đường dây bí mật của
tỉnh, trên các tuyến đường từ Điện Bàn đến Hòa
Vang, Đà Nẵng, Duy Xuyên. Bất kể khó khăn
hiểm nguy, chò thường xuyên giữ liên lạc thông
suốt.
Vuốt nhẹ khung Kỷ niệm chương Chiến só cách
mạng bò đòch bắt tù, đầy, bà Vân nhớ lại: “Tui bò
bắt lần thứ 3 trong một đợt tố cộng của đòch ở đòa
phương vào năm 1962, đây cũng là lần tui bò đòch
tra tấn tàn bạo nhất”. Theo lời bà, khi đó bà cùng
các chiến só: Mẫn, Tẩn và một người chò chưa
nhớ được tên phải chạy trốn khỏi sự truy lùng gắt
gao của đòch ở Gò Nổi. Họ phải bơi dưới sông,
lợi dụng những bụi lau để ẩn mình, lâu lâu ngửa
mặt lên khỏi mặt nước để thở. Cả đêm dầm mình
dưới dòng nước lạnh buốt, nên sáng hôm sau
kiệt sức, mọi người đành phải bò lên bờ, dùng
cây lau để ngụy trang. Bò mật thám chỉ điểm, lần
lượt cả 4 người bò bắt. Chúng giam các anh chò
vào một phòng chật ních ở nhà lao Hội An. Tay
chỉ những vết thương chằng chòt trên thân thể,
bà Vân cho biết đó là dấu tích của thời gian ở
nhà lao Hội An. Bà bò bọn cai ngục cùng với tên
quận trưởng liên tục dùng nhiều hình thức tra tấn
kéo dài hàng tháng trời. Bà nói: “Mục đích của
bọn tra tấn là bắt tui phải nhận là “thân cộng, là
hoạt động chống lại “Chính phủ quốc gia”, phải
vu cáo những người kháng chiến cũ…”. Trước sự
điên cuồng của những tên đồ tể, Trần Thò Vân
vẫn lẳng lặng với cái tên Trần Thò Tám. Bất lực
trước người con gái xinh đẹp bò đánh đến tàn tạ,
đòch chuyển chò ra kho đạn tại Đà Nẵng để tiếp
tục tra tấn. Nhưng mọi sự cố gắng của chúng
đều vô vọng. Năm 1964, đòch buộc phải thả chò.
Vân được cơ sở đưa về vùng Gò Nổi, chạy chữa
các vết thương. Trở lại sống trong lòng nhân dân,
giữa vòng tay đồng chí, đồng đội, Trần Thò Vân
tiếp tục hoạt động cách mạng.
KỶ NIỆM HAI LẦN ĐƯC GẶP BÁC HỒ
Đầu năm 1967, Trần Thò Vân được cấp trên
chọn làm đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam ra miền Bắc báo công và gặp
Bác Hồ. Khi đoàn vừa đến Hà Nội thì được một
đồng chí cán bộ Trung ương cho biết: ngày mai
Bác sẽ đến thăm. Thế là giấc mơ ấp ủ bao năm
được nhìn thấy Bác, được gặp Bác trực tiếp của
bà sắp trở thành sự thật. Bà Vân bồi hồi nhớ lại:
23
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
“Cả đêm hôm đó tui trằn trọc mãi, không ngủ
được mà chỉ mong thời gian nhanh đến sáng để
được gặp Bác”. Phút giây thiêng liêng được gặp
người Cha già kính yêu của dân tộc đã đến. Sau
khi ân cần hỏi thăm sức khỏe của từng người,
Bác hỏi thăm tình hình chiến sự ở miền Nam.
Trần Thò Vân may mắn được ngồi bên cạnh Bác.
Kỷ niệm sâu sắc ấy không bao giờ phai trong
kí ức người con gái Gò Nổi kiên trung. Bà Vân
tâm sự như thuật lại câu chuyện vừa mới diễn
ra hôm qua: “Khi được bác Phạm Văn Đồng,
nguyên Thủ tướng Chính phủ, hỏi : “Vân, con có
gì thưa với Bác?”, lúc đó, khắp người tui nóng
ran lên. Ấp úng hồi lâu, tui mới thưa rằng: “Thưa
Bác, con thấy mình thật may mắn khi được gặp
Bác...”. Bác đặt tay lên vai tui, nhẹ nhàng: “Con
còn sống để được gặp Bác là may mắn lắm rồi
đó. Biết bao đồng đội, đồng chí của chúng ta đã
hi sinh anh dũng...”. Sau đó, Bác cùng đoàn ngồi
coi lại đoạn băng ghi cảnh Bác đang cưỡi trên
lưng ngựa tại Pắc Pó”.
Lần thứ hai bà được gặp Bác là tại Khu nhà
nghỉ K5 (Hà Nội). Lúc đó, Bác hỏi Vân : “Thế
cháu ra Hà Nội cha mẹ cháu có biết không?”.
Trần Thò Vân xúc động trả lời: “Dạ thưa Bác, ba
mẹ con bò đòch bắt và tra tấn đã mất hết rồi ạ”.
Chò thấy Bác cũng rơm rớm nước mắt. Sau đó,
Bác bảo mọi người ra chụp chung với Bác một
tấm hình lưu niệm. Ai cũng cố gắng chen nhau
để được đứng gần Bác. Khi thấy chỗ Bác đứng
bò khuất dưới bóng cây, người thợ ảnh đã mời
Bác đứng qua bên chỗ khác. Bác đã cầm tay chò
Vân bảo: “Cháu Vân cùng qua với Bác”. Lúc đó,
Trần Thò Vân cảm thấy hạnh phúc biết bao. Tuy
đã qua tuổi xưa nay hiếm, nhưng kỉ niệm hai lần
24
được gặp Bác Hồ luôn tươi mới trong lòng bà.
TÊN BÀ TRÊN ĐẤT BẠN
“Đó là sự may mắn và cũng rất vinh dự cho tui,
khi biết tên mình được đặt tên cho nhà máy Vô
Sản Đỏ của Liên Xô (cũ)”, bà Vân tâm sự.
Sau lần gặp Bác Hồ, Trần Thò Vân được tổ
chức cho đi thăm Liên Xô (cũ) cùng với một số
đồng chí khác. Thật bất ngờ, khi vừa đặt chân lên
đất nước của Lê-nin, Vân được những người bạn
Nga mời đi thăm một nhà máy trước đó có tên
Vô Sản Đỏ - bây giờ đã mang tên mới: Nhà máy
Trần Thò Vân. Càng bất ngờ và xúc động hơn,
khi trước cổng nhà máy bức tượng chân dung
Trần Thò Vân bằng đá được đặt nghiêm trang.
Nhân dòp chò sang thăm, Đại sứ quán Việt Nam
tại Liên Xô và lãnh đạo nhà máy đã long trọng
làm lễ kết nạp Trần Thò Vân vào một tổ sản xuất
của nhà máy.
Trò chuyện về việc vì sao tên mình vinh dự
được lựa chọn để đặt tên cho nhà máy này, bà
Vân trải lòng: “Khi sang Liên Xô, được gặp những
người bạn, người đồng chí, những người cộng
sản, và các người công nhân của nhà máy Vô
Sản Đỏ, họ cho tui biết: “Dù ở cách xa đất nước
Việt Nam, nhưng chúng tôi vẫn luôn dõi theo tin
tức về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của
nhân dân Việt Nam. Biết được biết bao con người
đã trở thành những anh hùng trong cuộc chiến
đấu này và bà là một trong số những người đó
mà chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ”. Các bạn nghó
rằng tui đã hi sinh trong những trận đòn roi “thừa
sống thiếu chết” và bom đạn hung ác của kẻ thù.
Do đó, Ban Giám đốc nhà máy Vô Sản Đỏ đã xin
phép lấy tên tui để đặt cho nhà máy. Nhưng sau
đó, khi đọc bài viết của nhà báo Thép Mới viết
về tui, mọi người vô cùng bất ngờ và xúc động
biết rằng tui còn sống mạnh khỏe. Lúc ấy, tui
đã là Ủy viên BCH Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Đà,
Phó chủ tòch UBND huyện Điện Bàn”. Kìm nén
niềm xúc động dâng trào, bà Vân tiếp tục chia
sẻ: “Đây là niềm vinh dự không chỉ cho riêng tui,
mà cho cả quê hương, đất nước tui, cho đồng
bào, đồng chí đã và đang ngày đêm cống hiến,
hi sinh vì cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ
mà chính nghóa của dân tộc Việt Nam”.
Trần Thò Vân người con gái Gò Nổi quê hương
Điện Bàn kiên trung trong hai cuộc kháng chiến
vì độc lập, tự do cho dân tộc mãi là tấm gương
cho thế hệ người Việt Nam.n
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
Ông sinh ngày 23 -11 – 1931 tại làng Vũ Hữu Bằng
(xã Hữu Bằng) huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây cũ
(nay là Hà Nội), tên thật là Nguyễn Duy Thục, tên
thường gọi là Nguyễn Đăng Thục, bút danh Tào Mạt.
Tham gia cách mạng từ năm 1942, được kết nạp
Đảng 1946, hoạt động hơn 40 năm trong quân đội
từ công tác liên lạc rồi trưởng thành được phong
quân hàm đại tá. Bộ chèo ba tập Bài ca giữ nước
của ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật.
NGHỆ SĨ NHÂN DÂN TÀO MẠT
Với dấu ấn
nghệ thuật
T
ào Mạt là một nhà viết kòch xuất sắc có
nhiều sáng tạo độc đáo đóng góp quan
trọng cho sân khấu chèo trên bước đường
kế thừa và phát huy những tinh hoa nghệ thuật
truyền thống. Ông còn là một nhà văn sắc sảo
đã sáng tác hơn 700 bài thơ phần lớn là thơ viết
bằng chữ Hán với nét bút tài hoa để tặng những
người mà ông kính trọng và thân thiết. Ông có
một vốn văn hóa dày dặn với sự hiểu biết sâu
rộng về triết học, tôn giáo phương Đông, văn hóa
cổ Việt Nam, những lời nói, bài viết, bài thơ của
ông lúc nào, ở đâu cũng “rút từ gan ruột” thể hiện
lòng nhân ái, sự thao thức trước cuộc đời cho
nên rất giàu ý nghóa.
Tôi may mắn được làm việc với ông khi được ông
giao cho sáng tác âm nhạc tập 1 và tập 2 (anh Đôn
Truyền viết nhạc tập 3) của Bài ca giữ nước. Ông
luôn căn dặn chúng tôi làm sân khấu phải luôn có
cái cho khán giả xem, phải diễn tả được cái hay cái
độc đáo của nghệ thuật chèo để nó sống mãi với
không gian và thời gian. Ông đặc biệt coi trọng việc
Chèo
l NSưT Nguyễn thế phiệt
dạy cơ huấn cho diễn viên làm sao cho diễn viên
hát to, hát khỏe, tròn vành rõ chữ, lấy hơi từ bụng
không lệ thuộc vào micrô…Một thời gian dài kiên trì
dạy cơ huấn, trình độ hát, múa, diễn xuất của diễn
viên có tiến bộ rõ rệt. Có được yếu tố cơ bản ấy ông
mới phân vai hướng dẫn một cách cụ thể chi tiết để
diễn viên nhập vai và sáng tạo. Sự truyền dạy công
phu ấy là bước chuẩn bò chu đáo cho việc dựng vở
Bài ca giữ nước.
Một thời gian dài vắng bóng trên văn đàn và sân
khấu, NSND Tào Mạt đã dành tất cả tâm huyết cho
bộ chèo ba tập Bài ca giữ nước. Với vở này có thể
nói lần đầu tiên nghệ thuật chèo có “Chèo pho” tức
là chèo nhiều tập.
Qua bộ ba chèo này ông đã gửi gắm tất cả những
suy nghó nung nấu của mình về một triều đại trong
lòch sử nước nhà, về phẩm chất vua quan, về mối
quan hệ giữa quan và dân, về việc nước với việc
nhà từ đó thể hiện lòng yêu nước, gắn bó với nhân
dân và những bài học lòch sử.
Chính vì vậy Bài ca giữ nước có nội dung sâu sắc,
25