Vùn Hiïën
viïåt Nam
CULTURE OF VIETNAM
Tạp chí xuất bản 03 kỳ/tháng
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT
và số 41/GP-SĐBS
Giấy phép quảng cáo số 1187/BC
Trong söë naây
Toà soạn - Trị sự
27 Hương Viên - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
ĐT&Fax: 04.39764693
Chủ nhiệm
GS Hoàng Chương
Tổng biên tập
TS Phạm Việt Long
Tháng 5 - 2011
Phó Tổng Biên tập Thường trực
NB Nguyễn Thế Khoa
Phó Tổng Biên tập
TS Nguyễn Minh San
NB Trần Đức Trung
Trưởng ban Trị sự
NB Nguyễn Hoàng Mai
Thư ký tòa soạn
NB Từ My Sơn
NB Thu Hiền
Giám đốc điều hành
NB Võ Thành Tân
PGĐ: ND Lê Hải Châu
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
TỪ TRONG DI SẢN
4. Xứng đáng là tiếng nói của Đảng, Nhà
39. Bát Tràng - Điểm sáng văn hóa Thăng
nước và Nhân dân Việt Nam
Long - Hà Nội
Đ/C Trư ơng Tấn Sang
Th.S Phạm Ngọc Quang
6. Hồ Chí Minh - Con người của nền Văn
42. Lễ hội Minh Thệ và ý nghĩa giáo dục tư
hoá ngày mai
tưởng đạo đức “Chí công vô tư”
GSAHLĐ Vũ Khiêu
8. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa Vĩnh
cửu
Nhà văn Thiếu tướng Hồ Phương
Giám đốc VPPT Văn hiến Việt Nam
Phan Tôn Tịnh Hải
12. Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu
Hội đồng Biên tập
GS Vũ Khiêu , Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh,
GS.NSND Trần Bảng, GSTS Trần Văn Khê,
Nhà thơ Nguyễn KHoa Điềm, NS Vũ Mão, NNC Tôn
giáo Nguyễn Hữu Oanh, GSVS Hồ Sĩ Vịnh, GS Trường
Lưu, GSTS Thái Kim Lan, NSND. TS Phạm Thị Thành,
NSND Đặng Nhật Minh, TS Hoàng Hải, TS Đoàn Thị
Tình, GSTS Nguyễn Thuyết Phong
16. Hồ Chí Minh “Người thủy thủ nhỏ của
Ban Chuyên đề
Văn phòng Ban Biên tập
Số 64 Trung Hòa (Số 6 Lô 12B cũ) Khu ĐTM Trung
Yên - Hà Nội
ĐT: (84.4).37. 831 961 - 37. 831 962
Email:
23. 60 Năm Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam:
Văn phòng quảng cáo và phát hành
Số 404 Đường Bưởi, Q. Ba Đình - TP. Hà Nội
ĐT: 04. 3 771 7665 *Fax: 04.3 771 8875
Mobile: 0989 186661
Trương Hoàng
thủy quân Việt Nam
19. Thấy gì qua liên hoan Tuồng toàn quốc
2011
GS Hoàng Chương
Nguyễn Thu Hiền
25. Nghệ sỹ giữ vững vị trí chiến sỹ dưới sự
NSND Chu Thuý Quỳnh
Doanh nhân tâm tài
46. Uy tín quan trọng hơn lợi nhuận
Thu Thu
DIỄN ĐÀN
48. Việt Nam và công tác quản lý di sản
văn hoá
PGS. TS Trương Quốc Bình
50. Vấn đề bầu chọn Nghệ nhân Dân gian
Nhân dân và Nghệ nhân Dân gian Ưu tú
Minh Hằng
54. Văn hóa đọc trong cuộc sống hiện đại
Đỗ Hoài
HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT
già càng cay
Giá: 22.000VNĐ
NSƯT Hoàng Hà
lãnh đạo của Đảng
Văn phòng đại diện tại đà nẵng
Tâng 5 khách sạn Eiffel - 117 Lê Độ - Đà Nẵng
ĐT: 0511. 647 529 *Fax: 0511. 811 972
In tại
Nhà máy in Quân đội I
đương đại Việt Nam
Tỏa sáng trên nền nghệ thuật dân tộc
27. Người phụ nữ được sông núi mang tên
Tài trợ phát hành
Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa
TP. Hồ Chí Minh
44. Múa dân gian - Cái gốc phát triển múa
GS. Bs Trần Hữu Tước
Văn phòng đại diện tại
tp. Hồ chí minh
288B An Dương Vương - Q.5 - TP. Hồ Chí Minh
ĐT: 08. 3 835 3878
Trình bày
Từ My Sơn - Đặng Ngọc Quang
Chu Xuân Giao
TS Nguyễn Minh San
56. Kinh nghiệm bảo tồn “Bảo tàng sống” Bài học từ huyện Hoàng Su Phì
Thiên Thanh
30. Giáo sư Hoàng Chương - Gừng càng
Lê Hải Châu
32. Bảy đời giữ lửa Ca Trù
Đắc Phong
34. Vốn nhà ta giữ lắm người thương
GS. TS Trần Văn Khê
VĂN HÓA GIAO THÔNG
58. Tâm lý - Giáo dục và văn hoá giao
thông
GS.TS Phạm Minh Hạc
60. Văn hóa giao thông và tinh thần, ý
thức thượng tôn pháp luật
38. Niềm tin tỏa sáng
Tôn Nữ Hỷ Khương
Nhữ Thành
Vùn Hiïën 1
viïåt Nam
Contents
MAY- 2011
PEOPLE AND EVENT
INSIDE HERITAGE
4. Speech of Mr. Truong Tan Sang
6. Ho Chi Minh: People of tomorrow’s
Culture
Prof. Labour Hero Vu Khieu
8. Ho Chi Minh’s Mausoleum: An eternal
Calyx
Writer – Major-General Ho Phuong
12. Ho Chi Minh, "The little sailor of
Vietnam navy"
Prof. Dr. Tran Huu Tuoc
16. Uncle Ho with Stage Art
Prof. Truong Hoang
19. What seen in the 2011’s Tuong
National Festival
Prof. Hoang Chuong
23. 60 years of Vietnam Performance
Dance and Music Theatre: Brightening on
National Arts
Nguyen Thu Hien
25. Artists continue to play as soldiers
under the leadership of the Party
People's Artist Chu Thuy Quynh
39. Bat Trang - The Highlight of Ha Noi-
TALENTS OF VIETNAMESE LAND
27. The woman named after Mountainriver place name
Dr. Nguyen Minh San
30. Professor Hoang Chuong: The Ginger More older, more hotter...
Le Hai Chau
32. Seven generations to keep the Tru
Singing passion
Dac Phong
34. Being loved thanks to traditional
custom preservation
Prof. Dr Tran Van Khe
38. The shining faith
Ton Nu Hy Khuong
Thang Long Culture
Ma. Pham Ngoc Quang
42. Minh The Festival and educational
meaning of ethic thought "Justice Impartiality"
Chu Xuan Giao
44. Folk Dance - The origin of Vietnam
development to contemporary dance
Artist Hoang Ha
BUSINESSMAN HEART – TALENT
46. Prestige is more important than profit
Thu Thu
FORUM
48. Vietnam and the management of
cultural heritages
Asso. Prof. Dr. Truong Quoc Binh
50. The issue of selection of People’s folk
craftsman and outstanding folk craftsman
title
Minh Hang
54. reading culture in modern life
Do Hoai
56. Experience of conservation of "Living
museum" - Lesson learned from the
suburban district of Hoang Su Phi
Thien Thanh
TRAFFIC CULTURE
58. Psychology - Education and traffic
culture
Prof. Dr. Pham Minh Hac
60. Traffic culture and executing awareness
to law
Nhu Thanh
2 Vùn Hiïën
viïåt Nam
CON NGƯỜI & SỰ KIỆN
Xứng đáng là tiếng nói của Đảng,
Nhà nước và Nhân dân Việt Nam
Đ/c Trương Tấn Sang
Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
6
Đ/C Trương Tấn Sang trao tặng báo Nhân Dân bức trướng chúc mừng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
0 năm qua, kế tục sự nghiệp vẻ vang của các tờ
báo Thanh Niên, Tranh Đấu, Cờ giải phóng, Sự
Thật, báo Nhân Dân đã hoàn thành tốt vai trò cơ
quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam,
tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam,
là tờ báo hàng đầu của đất nước. Trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước, tập thể những người làm Báo
Nhân Dân đã đem hết sức lực và trí tuệ, vượt qua muôn
ngàn gian lao, thử thách, như một đội quân chiến đấu,
góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Nhiều tác phẩm báo chí đã ghi lại, phản ánh kịp thời
những chiến dịch, những trận đánh, những thời khắc lịch
sử quan trọng trên chiến trường, ở hậu phương, trên mặt
trận đấu tranh chính trị, ngoại giao. Nhiều bài báo được
các nhà báo - chiến sĩ viết trong bom đạn, trong khói lửa
của cuộc chiến đấu làm xúc động lòng người. Trong sự
nghiệp đổi mới đất nước 25 năm qua, báo Nhân Dân đã
thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, tích cực tuyên truyền,
giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư trưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyên
truyền, cổ vũ các cuộc vận động lớn, các phong trào thi
đua, những mặt tích cực trong đời sống xã hội. Đồng
thời, có nhiều bài phê phán, đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, chống sự phá
hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn
hóa, có tác dụng tốt.
Báo Nhân Dân đạt được những thành tựu to lớn đó
là do được sự chăm sóc, giáo dục, rèn luyện, chỉ đạo trực
3 Vùn Hiïën
viïåt Nam
tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại, Người
sáng lập, Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam;
sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Bộ Chính trị, Ban Bí
thư Trung ương Đảng và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng
và Nhà nước qua các thời kỳ; sự cộng tác, ủng hộ nhiệt
tình của đông đảo cộng tác viên và bạn đọc. Trong đó,
trực tiếp và quan trọng nhất là do sự rèn luyện, nỗ lực
phấn đấu của các thế hệ cán bộ, phóng viên, công nhân
viên của Báo, xây dựng nên truyền thống tốt đẹp tuyệt
đối trung thành, kiên định với sự nghiệp cách mạng của
Đảng, của dân tộc; đoàn kết, đổi mới, sáng tạo của báo
Nhân Dân. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung
ương Đảng, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương các
thế hệ cán bộ, phóng viên, công nhân viên báo Nhân Dân
đã bền bỉ phấn đấu, trưởng thành, xây đắp nên truyền
thống vẻ vang trong 60 năm qua.
Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập
quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa trong bối cảnh có những thời cơ và thuận
lợi hết sức to lớn, song những thách thức và khó khăn
cũng không nhỏ. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp đó đòi
hỏi sự phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta, trong đó có sự góp sức của báo chí cả nước nói
chung, báo Nhân Dân nói riêng. Báo chí với chức năng
là người “tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức
tập thể” như V.I Lênin từng chỉ rõ, phải góp phần tạo nên
sự thống nhất về tư tưởng, sự đồng thuận trong xã hội,
tạo nên sức mạnh to lớn của đất nước. Báo chí là công cụ
Vùn Hiïën 3
viïåt Nam
đắc lực tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng thế
giới quan, phương pháp luận khoa học; củng cố nền
tảng, tư tưởng vững chắc cho cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân. Báo chí là kênh thông tin quan trọng
phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của các tầng
lớp nhân dân, góp phần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý
luận. Đồng thời, kịp thời cổ vũ, động viên các phong trào
thi đua yêu nước, phát hiện, nêu gương các nhân tố mới,
điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt; chủ động đấu tranh
mạnh mẽ chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện
tiêu cực; đấu tranh chống lại sự chống phá, “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa. Đối với báo Nhân Dân, tôi đề nghị sắp tới cần
tập trung làm tốt một số vấn đề sau đây:
Thực hiện tốt Quyết định số 107-QĐ/TW, ngày 2111-2007 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ của
báo Nhân Dân: “Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân
chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công
nhân, giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, lối sống lành mạnh, truyền thống tốt đẹp của dân
tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại trong cán bộ, đảng
viên và nhân dân; góp phần xây dựng con người mới
Việt Nam… Tham gia phát động, chỉ đạo và tổ chức các
phong trào hoạt động cách mạng của quần chúng”. Cùng
với báo chí cả nước, báo Nhân Dân phải đi đầu trong
công tác tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng,
luật pháp, chính sách của Nhà nước, mà trước mắt là tập
trung tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XI của Đảng sâu
rộng trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân; góp
phần tổng kết thực tiễn, hoạch định chính sách, tham gia
quá trình giám sát và phản biện xã hội, quản lý đất nước.
Thông tin trên báo cần nhanh nhạy, kịp thời hơn nữa, có
những bài điều tra, phân tích, dự báo tình hình, những
bài bình luận sâu sắc về các sự kiện chính trị, kinh tế lớn
trong nước và trên thế giới, đáp ứng nhu cầu thông tin và
định hướng dư luận xã hội.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, ráo riết thực hiện
âm mưu “diễn biến hòa bình”, đặc biệt là trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa. Báo Nhân Dân đã có những kinh nghiệm
tốt trong việc đấu tranh, phản bác những quan điểm sai
trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị,
sắp tới các đồng chí cần phát huy tinh thần chủ động tiến
công, có nhiều bài viết có tính chiến đấu cao, kịp thời và
sắc bén hơn, có sức thuyết phục cao hơn.
Trong tuyên truyền về kinh tế, Báo cần chú trọng các
vấn đề trọng tâm, như đổi mới mô hình tăng trưởng và
cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển
kinh tế nhanh và bền vững; tiếp tục tạo nền tảng cho một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao khả
năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế; kịp thời có những
thông tin, bài bình luận sát tình hình, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội.
Trong tuyên truyền về Đảng và công tác xây dựng
Đảng, Báo cần có những tin, bài viết hay, kịp thời, giới
4 Vùn Hiïën
viïåt Nam
thiệu những cách làm hay, những kinh nghiệm tốt, những
bài mang tính nghiên cứu, tổng kết về các nội dung lớn
mà Đại hội XI của Đảng đã xác định, như tăng cường
xây dựng Đảng về chính trị, tư trưởng, tổ chức, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tiếp tục
đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống
chính trị; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi
mới công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, công
tác dân vận của Đảng… Tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa
cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; tăng cường tuyên
truyền, giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm, ý thức tu
dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng
viên, nhân dân, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất
đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nhân dân.
Đồng thời, báo Nhân Dân cần phải tuyên truyền sâu
rộng, góp phần tích cực vào nâng cao dân trí, xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường,
mở cửa, hội nhập, càng cần phải hết sức coi trọng việc giữ
gìn, phát huy những giá trị đạo đức, truyền thống, bản
sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời với chọn lọc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa thế giới để sáng tạo ra các giá trị văn hóa
mới, hình thành và phát triển nhân cách, lối sống, đạo
đức tốt đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ đó, cán bộ, phóng
viên, nhân viên báo Nhân Dân cần thường xuyên học
tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ văn hóa,
tích lũy vốn sống, trau dồi nghiệp vụ, rèn luyện bản lĩnh
chính trị, quan điểm, đạo đức nghề nghiệp để không
ngừng nâng cao tính chân thật, tính chiến đấu, tính giáo
dục của tờ báo. Mỗi người làm báo Nhân Dân cần tích
cực, chịu khó đi vào đời sống, gắn bó với nhân dân, lắng
nghe và học hỏi cách nghĩ, cách làm, lời ăn, tiếng nói của
nhân dân. Báo Nhân Dân phải thật sự là chuẩn mực về
văn phong, ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt. Những lời dạy ân cần của Bác Hồ, mỗi khi viết một
bài báo, hãy tự hỏi: “Viết cho ai xem, viết để làm gì, viết
như thế nào” vẫn nóng hổi tính thời sự. Báo phải quan
tâm hơn nữa việc xây dựng khối đoàn kết thống nhất
trong Đảng bộ, trong cơ quan; đào tạo đội ngũ cán bộ,
phóng viên, biên tập viên, công nhân viên của Báo có đủ
phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị, khả năng tiếp cận
các phương tiện làm báo hiện đại; đồng thời có kế hoạch,
giải pháp cụ thể để thu hút cộng tác viên, bạn đọc tham
gia viết báo, phê bình báo.
Kỉ niệm 60 năm Ngày Báo Nhân Dân ra số đầu, vui
mừng, tự hào với truyền thống vẻ vang của Báo Nhân
Dân 60 năm qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tin tưởng rằng
báo Nhân Dân sẽ tiếp tục phấn đấu vươn lên, hoàn thành
xuất sắc sứ mệnh cao cả của mình, đạt nhiều thành tựu
mới; đóng góp ngày càng xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc…
(Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Báo Nhân Dân ra số
đầu tiên và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ II. Đầu
đề do VHVN đặt)
Vùn Hiïën 4
viïåt Nam
HỒ CHÍ MINH
CON NGƯỜI CỦA NỀN VĂN HÓA NGÀY MAI
GS.AHLĐ Vũ Khiêu
T
ừ năm 1923, nhà thơ Xô
Viết Mandenxtam với
đôi mắt “tinh đời” đã
“giữa trần ai” nhận ở Hồ
Chí Minh con người của nền văn
hóa ngày mai.
Văn hóa ngày mai đang đến
với nhân loại. Lịch sử sẽ thực sự
kết thúc cuộc sống đen tối của bạo
tàn để bước sang cuộc sống rực rỡ
của văn hóa.
Ngày mai thế giới không
còn bóc lột và áp bức. Ngày mai
khoa học trở thành sức mạnh kỳ
diệu để đổi mới cả thiên nhiên
và xã hội. Ngày mai của cải vật
chất và tinh thần sẽ dồi dào như
suối chảy. Trong ngày mai ấy, con
người sẽ sống ra sao và văn hóa sẽ
như thế nào?
Tôi không nghĩ rằng bước vào
thế kỷ XXI nhân loại sẽ không còn
gặp những khó khăn, vất vả và
trong cuộc sống sẽ không còn ưu
tư. Tuy nhiên, ưu tư ngày mai sẽ
chẳng còn giống như ưu tư hôm
nay. Cuộc sống đổi mới sẽ đề ra
những nhiệm vụ mới còn vẻ vang
hơn nữa. Con người lúc đó vẫn
phải có đầy đủ sức mạnh và nghị
lực để vượt qua những trở ngại
mới.
Có lẽ Hồ Chí Minh đã nhìn
trước được những diễn biến phức
tạp trên những chặng đường sắp
tới của nhân loại, nhìn trước được
những đòi hỏi của nền văn hóa
sau này nên đã chuẩn bị cho mình
những phẩm chất và tinh thần mà
cả hôm nay và ngày mai cần tới.
1. Văn hóa ngày mai là văn
hóa của một xã hội thực sự bình
đẳng, dân chủ và nhân đạo. Cách
mạng xã hội chủ nghĩa về nguyên
tắc phải đảm bảo độc lập của dân
5 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Vùn Hiïën 5
viïåt Nam
tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho
con người. Để bảo vệ thành quả
của cách mạng, việc xây dựng một
nhà nước mới là tất yếu nhưng
nhà nước ấy phải khác về bản chất
với mọi kiểu nhà nước trước đây.
Hồ Chí Minh xuất phát từ
quyền tự do của nhân dân, luôn
luôn nhấn mạnh tính chất dân
chủ của nhà nước mới. Người
luôn lo lắng về khả năng nảy sinh
những thói hư tật xấu như tham
ô, lãng phí quan liêu, sản phẩm tất
yếu của các nhà nước trước đây.
Người luôn luôn nhắc nhở cán
bộ phải là “đầy tớ của nhân dân”
chứ không phải là “ông quan cách
mạng”. Suốt đời, Người đã chiến
đấu cho một xã hội mà mọi quyền
lực phải thực sự thuộc về nhân
dân. Thương nhân dân thì mọi tôn
giáo, mọi đạo đức đều có. Nhưng
tôn trọng nhân dân, tin tưởng
tuyệt đối vào nhân dân đó là đặc
điểm của Hồ Chí Minh, là nét nổi
bật của xã hội có văn hóa.
2. Trong xã hội ngày mai
những giá trị văn hóa sẽ được nêu
lên hàng đầu. Sự dư thừa trong
đời sống vật chất chưa đủ để đem
lại hạnh phúc cho con người.
Nếu như con người không
còn những hoài bão để theo đuổi,
không có những vấn đề cần giải
quyết thì sự tê liệt của đầu óc
sẽ biến con người thành cái xác
không hồn chỉ biết có hưởng thụ.
Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá
cao những giá trị văn hóa trong
cuộc sống. Suốt mấy chục năm
làm nguyên thủ một quốc gia,
Người có đầy đủ mọi điều kiện để
xây dựng một cuộc sống vật chất
cao nhất. Nhưng Người đã sống
thanh đạm trong một nhà sàn, với
một bộ quần áo kaki và đôi dép
lốp. Người gạt bỏ mọi thứ cám dỗ
về vật chất đã từng nô dịch bao
nhiêu người đứng đầu nhà nước
từ xưa đến nay. Ở con người tự do
ấy, cuộc sống giản dị về vật chất
lại vô cùng phong phú về tinh
thần. Người tìm thấy hạnh phúc
hoàn chỉnh trong sự hiểu biết và
say mê sáng tạo, trong tình yêu
thương rộng lớn, trong niềm say
6 Vùn Hiïën
viïåt Nam
mê phấn đấu cho tương lai của cả
dân tộc và nhân loại.
3. Văn hóa ngày mai là văn
hóa của những con người được
phát triển về mọi mặt.
Con người ngày mai là con
người sáng suốt nhất trong suy
nghĩ và hành động. Ngày mai,
khoa học sẽ hòa nhập vào cuộc
sống của họ. Khoa học trở thành
nhân tố bên trong của sản xuất vật
chất, của tổ chức xã hội và của mọi
hoạt động tinh thần.
Chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ
không ngừng đổi mới để mãi mãi
là thế giới quan tiến bộ nhất.
Với sự phát triển của khoa
học, loài người sẽ chứng kiến
sức mạnh ngày một kỳ diệu của
kỹ thuật. Một mặt, nó nâng cao
đời sống vật chất của con người,
một mặt nó phá hoại cuộc sống
đó. Nó tạo ra hai khả năng: hoặc
nó thống trị con người hoặc con
người thống trị nó. Từ mấy chục
năm nay, các xã hội phương Tây
bên cạnh những thành tựu của kỹ
thuật đã lên án những biểu hiện
tiêu cực của nó. Kỹ thuật thúc đẩy
sự phát triển vô chính phủ của xã
hội tư bản tạo ra sự ô nhiễm môi
trường, sự tàn phá thiên nhiên. Nó
đe họa về sự huỷ diệt của bom hạt
nhân, nó dẫn đến một cuộc sống
đô thị chật chội về nhà ở, trì trệ về
giao thông. Nhiều thanh niên và
trí thức phản ứng cuộc sống trên
cơ sở kỹ thuật này bằng cách trở
về thời gần gũi với thiên nhiên,
trở lại với quá khứ, luyến tiếc thời
tiền công nghiệp.
Hồ Chí Minh như đã nhìn rõ
những điều đó. Sống giữa những
đô thị lớn nhất của thế giới, như
Paris, London, New York...Hồ Chí
Minh đã trực tiếp nhìn thấy mặt
trái của cái xã hội gọi là văn minh
kỹ thuật. Trong các cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ
cũng như đi vào xây dựng đất
nước, Người đòi hỏi phải nhanh
chóng nắm vững và vận dụng
được những thành tựu cao nhất
của khoa học kỹ thuật. Nhưng
trong cuộc sống, Người lại tạo
cho mình một cuộc sống riêng,
gần gũi với thiên nhiên giữa ao cá,
vườn cây, trăng trong, gió mát...
4. Điểm nổi bật trong nền văn
hóa của ngày mai, theo Hồ Chí
Minh, có lẽ là tình yêu thương
giữa người và người.
Sự phát triển về mọi mặt của
khoa học kỹ thuật và kinh tế xã
hội ở thời đại ngày nay đã chuẩn
bị những điều kiện khách quan
cho sự gần gũi và thống nhất của
toàn nhân loại. Mọi sự thù địch,
chia cắt giữa người và người, giữa
dân tộc sẽ dần dần được xóa bỏ
để chuẩn bị cho một tương lai mà
tình thương và tiếng hát sẽ trùm
lên thế giới.
Hồ Chí Minh ngay từ bước
đầu hoạt động đã đặt hết trí tuệ
và nhiệt tình vào cuộc chiến đấu
cho những mục tiêu nói trên. Có lẽ
vì thế mà ngay từ thời còn trẻ, Hồ
Chí Minh đã xuất hiện trước Mandenxtam như một nhà văn hóa
của ngày mai. Có lẽ Mandenxtam
đã thấy ở Người không chỉ nghị
lực kiên cường của một chiến sĩ
đấu tranh cho tự do mà còn thấy
ở trong cái nhìn của Người, tấm
lòng bao la đối với cả nhân loại.
“Ôi! Người Cha, đôi mắt mẹ
hiền sao!” (Tố Hữu)
Ôi! Đôi mắt Hồ Chí Minh với
cái nhìn bất diệt!
Cái nhìn xóa đi mọi sự ngờ
vực, lật đổ đi mọi sự chia ngăn!
Cái nhìn tin cậy làm tiêu tan
mọi điều phiền muộn!
Cái nhìn gắn bó yêu thương
với mọi người làm mở rộng những
trái tim, nở tươi những nụ cười.
Ôi cái nhìn từ con người của
nền văn hóa ngày mai!
Năm nay kỷ niệm 100 năm
ngày Hồ Chí Minh lên đường
cứu nước (1911 – 2011), chúng
ta không chỉ quay về quá khứ
để tưởng nhớ người Anh hùng
giải phóng dân tộc, Danh nhân
văn hóa thế giới, mà còn nhìn về
tương lai để thấy Người từ đỉnh
cao của Tự do và văn hóa, mỉm
cười và vẫy gọi chúng ta.
Vùn Hiïën 6
viïåt Nam
LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Đài hoa vĩnh cửu
Nhà văn, Thiếu tướng Hồ Phương
Sau cuốn tiểu thuyết Cha và Con đề tài về Bác Hồ,
Nhà văn, Thiếu tướng Hồ Phương mới cho ra mắt
cuốn ký sự văn học, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đài hoa vĩnh cửu viết về quá trình chuẩn bị và xây
dựng Lăng Bác Hồ. Nhân dịp kỷ niệm Ngày sinh
của Bác (19-5) chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng
bạn đọc đoạn kết của cuốn sách này.
T
hấm thoát đã hơn 35 năm, Lăng Bác được khánh
thành, đón nhân dân trong nước và khách Quốc tế
đến viếng Người.
Năm 2010, Hà Nội cùng cả nước chào đón Đại lễ
1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Lăng Bác – Công trình kiến
trúc có ý nghĩa chính trị, văn hóa to lớn, sâu sắc, một biểu
tượng của thời đại Hồ Chí Minh giữa Ba Đình lịch sử, càng nổi
bật, càng như thiêng liêng, cuốn hút.
Nhớ lại những ngày đầu đón Bác về Lăng, sự nghiệp bảo
vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn và lâu dài thi hài Bác chuyển sang
một giai đoạn mới, với những yêu cầu mới, chưa có tiền lệ ở
Việt Nam. Thi hài Bác được bảo vệ và giữ gìn trong một khu
Vùn Hiïën 7
viïåt Nam
vực rộng lớn, hàng ngày có hàng nghìn lượt người
đến viếng Bác. Đồng thời, phải tổ chức lực lượng
quản lý, vận hành các thiết bị kỹ thuật phục vụ công
tác y tế đặc biệt và phục vụ thăm viếng, bảo đảm an
ninh khu vực, tổ chức gác tiêu binh danh dự.
Trước yêu cầu nhiệm vụ nặng nề đặt ra, Quân ủy
Trung ương thấy cần phải có một tổ chức có đủ năng
lực và quyền hạn để lãnh đạo, chỉ huy thống nhất
các lực lượng quân đội làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Trong phiên họp ngày 18 tháng 12
năm 1975, sau khi nghe đồng chí Lê Quang Đạo, Ủy
viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Thường
vụ Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị báo cáo về phương án tổ chức bảo vệ Lăng,
Thường vụ Quân ủy Trung ương đã quyết định thành
lập Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lấy phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 969. Nhiệm vụ của Bộ
Tư lệnh 969 được Thường vụ Quân ủy Trung ương
xác định: Trước hết là trực tiếp chăm lo giữ gìn thi hài
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thứ hai, quản lý, sử dụng các
thiết bị máy móc và các công trình kỹ thuật ở khu vực
Lăng. Thứ ba, tổ chức gác danh dự và bảo vệ an toàn
khu vực Lăng. Thứ tư, hướng dẫn các đoàn khách và
nhân dân vào viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thứ năm,
quản lý điều hành sở chỉ huy, các hệ thống kỹ thuật.
Căn cứ vào nhiệm vụ Bộ Chính trị giao cho Quân
ủy Trung ương và Bộ Quốc Phòng, trên cơ sở Quyết
định vủa Thường vụ Quân ủy Trung ương, ngày 14
tháng 5 năm 1976 Bộ Quốc Phòng đã ra Quyết định
số 109/ QĐ – QP thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ Tư Lệnh gồm các đồng chí:
Lương Soạn, quyền Tư lệnh; Lưu Công Tiền, quyền
Chính ủy.
Sự ra đời của một đơn vị quân đội làm nhiệm
vụ chính trị đặc biệt là một sự kiện lịch sử đánh dấu
bước trưởng thành quan trọng và là sự tin cậy, đánh
giá rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với
quân đội ta, đó cũng là một vinh dự to lớn, một sứ
mệnh thiêng liêng cao cả, hết sức vẻ vang của Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Lực lượng cán bộ, chiến sĩ, công nhân kỹ thuật
sau thời kỳ xây dựng Lăng được lựa chọn ở lại phục
vụ tại Lăng làm nhiệm vụ quản lý, vận hành các hệ
thống máy móc, thiết bị kỹ thuật đảm bảo thông số
nhiệt ẩm và quản lý phần kiến trúc. Nhiều cán bộ,
chiến sĩ có vinh dự bảo vệ Bác từ những ngày đầu ở
Đoàn 69 nay được lựa chọn cùng với số cán bộ, chiến
sĩ ưu tú, nòng cốt của Trung đoàn 144 thành lập Đoàn
tiêu binh danh dự làm nhiệm vụ tại Lăng.
Từ căn cứ K84 trở về, Đoàn 69 tổ chức thực hiện
nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Cán bộ,
chiến sĩ vẫn phải ăn ở trong những căn nhà tạm có
8 Vùn Hiïën
viïåt Nam
từ thời bắt đầu thi công công trình Lăng. Với truyền
thống và kinh nghiệm đã tích luỹ được trong 6 năm
chiến tranh phải sơ tán, đơn vị vừa ổn định tổ chức và
đời sống vừa tích cực triển khai học tập nghiên cứu
cùng với các chuyên gia Liên Xô bảo đảm nghiệp vụ
kỹ thuật công trình Lăng và nhiệm vụ y tế giữ gìn
tuyệt đối an toàn thi hài Bác.
Ngày 11 tháng 7 năm 1976, Bộ Chính trị ra Quyết
định số 14 – TB/ TW về tổ chức bảo đảm nhiệm vụ
giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quản
lý Lăng và Quảng trường Ba Đình; Quyết định thành
lập Ban Phụ trách Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sau
này được đổi tên là Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh). Ban Phụ trách Lăng trực thuộc Hội đồng
Chính phủ. Các lượng lượng thuộc Ban Quản lý Lăng
gồm: Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Đoàn 375 (Bộ Công an), Ban Quản lý Quảng trường
Ba Đình (Ủy Ban nhân dân thành phố Hà Nội). Các
đồng chí được Thủ tướng bổ nhiệm: Thiếu tướng
Trần Kim Chi, Trưởng ban; Lê Hòa và Nguyễn Việt
Dũng, Phó trưởng ban.
Ban Phụ trách Lăng có nhiệm vụ thống nhất kế
hoạch hoạt động, điều hòa phối hợp công tác của
các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý, vận hành thiết bị
của Lăng, Quảng trường và các công trình có liên
quan nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn
nguyên vẹn, lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo
đảm tốt mọi hoạt động trong khu vực Lăng và Quảng
trường Ba Đình.
Nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn tuyệt đối an toàn và lâu
dài thi hài Bác là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt mọi hoạt động của đơn vị. Từ lãnh
đạo, chỉ đạo đến tổ chức thực hiện cụ thể, từ xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ khoa học kỹ thuật đến
việc đầu tư trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ chuyên
môn đều phải tập trung vào thực hiện nhiệm vụ trung
tâm và phải tiến hành theo một quy trình nghiêm
ngặt, không được phép xảy ra một sơ suất nhỏ nào.
Bằng ý chí độc lập tự chủ, chúng ta đã vượt qua
được những chặng đường khó khăn ban đầu. Từ chỗ
lực lượng chỉ có 3 bác sĩ với những hiểu biết bước đầu
về nhiệm vụ y tế đặc biệt, quy trình khoa học hoàn
toàn do chuyên gia nắm giữ bí mật, đến nay ta đã có
một đội ngũ cán bộ khoa học có khả năng nghiên cứu
chuyên sâu. Từ chỗ cơ sở vật chất thiếu thốn, đến nay
ta đã có một cơ sở nghiên cứu với những trang thiết bị
tương đối hiện đại. Những kết quả nghiên cứu khoa
học đã cho phép ta rút ra những kết luận làm sáng tỏ
nhiều vấn đề liên quan tới nhiệm vụ y tế giữ gìn thi
hài Bác.
Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đơn vị đứng
trước những khó khăn thử thách lớn trong tổ chức
thực hiện nhiệm vụ chính trị. Liên Xô sụp đổ, ta mất
đi nguồn viện trợ không hoàn lại. Nhiều lần gián
đoạn chuyên gia không sang giúp ta làm thuốc cho
thi hài Bác. Trước tình hình đó, đơn vị đã xin ý kiến
chỉ đạo của trên sử dụng số dung dịch đã được Bạn
bàn giao làm thuốc cho Bác đảm bảo an toàn tuyệt
đối. Cũng trong giai đoạn khó khăn này, ta khai thông
được mối quan hệ hợp tác trực tiếp với Viện Cấu Trúc
sinh học Liên Bang Nga hợp tác nghiên cứu và tổ chức
việc pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Đặc biệt
là vào năm 2004 ta đã tự pha chế được dung dịch đặc
biệt phục vụ làm thuốc cho Bác đảm bảo độ tin cậy
cao về khoa học. Đây là một thành công lớn thể hiện
sự cố gắng và trưởng thành vượt bậc của đội ngũ cán
bộ khoa học Việt Nam, ước mơ của nhiều thế hệ cán
bộ khoa học Viện 69 đã thành hiện thực, ta đã nắm
được một trong những bí mật công nghệ quan trọng
nhất, làm cơ sở để vươn lên làm chủ khoa học công
nghệ giữ gìn bảo quản thi thể phục vụ nhiệm vụ giữ
gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác.
Lăng Bác ngày nay khang trang, đẹp đẽ, một vẻ
đẹp kiến trúc giản dị mà hiện đại, gần gũi mà cao quý,
là nơi hội tụ của những tấm lòng yêu kính Bác. Thế
giới còn có những đổi thay khó lường nhưng những
giá trị tư tưởng nhân văn cao cả, đạo đức sáng trong
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc và nhân
loại tiến bộ còn sống mãi với thời gian.
Nhân dân ta đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh
là để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, nguyện đi theo con
đường của Đảng và Bác đã lựa chọn. Bạn bè năm
châu đến viếng Người, được chiêm ngưỡng Người
anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt
xuất, người bạn thân thiết của các dân tộc bị áp bức
đấu tranh vì tiến bộ, hòa bình và công lý.
Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”,
Lăng Bác cũng như Đền Hùng và Đền thờ các Anh
hùng dân tộc là nơi thiêng liêng thành kính nhất để
các thế hệ cháu con bày tỏ tri ân, hướng về cội nguồn.
Bên Lăng Người vẫn tỏa ngát hương sắc của mọi
miền quê. Những đóng góp to lớn trước đây bao gồm
hàng trăm loài cây hoa quý của các tỉnh, thành phố
trong thời kỳ xây dựng Lăng Bác vẫn được giữ gìn
chăm sóc. Hàng năm các địa phương vẫn tiếp tục gửi
các loại cây hoa quý dâng tặng Lăng Bác, như: Mai
vàng của TP Hồ Chí Minh, Mai chiếu thuỷ của tòa
thánh Tây Ninh, Trúc Cao Bằng, Ban Sơn La, Râm Bụt
(Bông bụt) Nghệ An, Đào Nhật Tân – Hà Nội, Vạn tuế
Nam Định, cây Si thế Đồng Nai, Đồng Tháp, Phong
Lan Huế,... Năm 1995, công ty S.A.S của Thái Lan đã
gửi tặng 500.000USD để tôn tạo Lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Chính phủ đã cho phép sử dụng số tiền trên để
trồng lại cỏ và lắp đặt hệ thống tưới phun trên Quảng
trường Ba Đình.
Đặc biệt là hàng năm các địa phương còn gửi con
em mình về bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác, đứng canh
cho giấc ngủ ngàn thu của Người.
Nhân dân ta và khách quốc tế đến viếng Bác ngày
một nhiều hơn. Trung bình mỗi ngày có vài nghìn
người, ngày khách viếng đông nhất lên tới gần bốn
chục nghìn người. Tính đến nay đã có hơn 40 triệu
lượt người về Lăng viếng Bác, tham quan Lăng, trong
đó có hơn 7 triệu lượt khách quốc tế.
Từ khi khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
đến nay, vào những ngày lễ lớn, ngày tết cổ truyền
của dân tộc, đã hình thành một nghi thức trọng thể
tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp nhà nước.
Đây là dịp lãnh đạo Đảng, nhà nước thay mặt cho
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bày tỏ lòng kính yêu
vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyện suốt
đời học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người,
giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà Bác đã dày
công vun sới và Người chính là linh hồn của khối
đoàn kết dân tộc.
Đồng chí Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Đảng,
nguyên Trưởng ban Phụ trách xây dựng Lăng trong
một lần về thăm Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: Công trình Lăng Bác là công trình tượng
trưng lòng kính yêu không bờ bến của nhân dân cả
nước đối với Bác Hồ, là công trình kiến trúc vĩ đại
nhất, từ công trình Lăng Bác mà ta có những công
trình vĩ đại của đất nước. Thật hạnh phúc cho Đảng
ta, dân tộc ta có Bác. Không một thế lực nào có thể
chia rẽ khối đại đoàn kết của toàn dân tộc mà Đảng ta
là ngọn cờ lãnh đạo, là hạt nhân đoàn kết.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất
sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những dòng sau
đây vào sổ lưu niệm của Ban Quản lý Lăng:
“Ước mong của tôi cũng như của toàn dân ta là
bảo vệ được thi hài Bác mãi mãi”.
Có người là trí thức, có người là nghệ sĩ, có người
là thương gia, có người chỉ là chủ của những gia đình
bình thường nhưng có nền nếp, gia phong...Có cả
những cựu chiến binh từ xa xôi mỗi khi ghé về Hà
Nội cũng nhất định lại phải đến Lăng Bác. Một số sinh
viên đi học ở nước ngoài tranh thủ về thăm nhà, cũng
không quên lên Lăng để báo cáo và tạ ơn. Khách quốc
tế từ các châu lục và vùng lãnh thổ những năm gần
đây tới thăm Lăng nhiều hơn. Xúc động hơn là các trẻ
em tàn tật phải đi xe lăn, cũng đã xin được vào Lăng
viếng Bác. Các em đều khóc khi nhìn thấy Bác làm cho
tất cả cán bộ đi cùng và cán bộ tiêu binh danh dự của
Lăng cũng không thể cầm được nước mắt. Bà con Việt
kiều về thăm quê, hầu như trong chương trình nếu
không nói là hầu hết đều có buổi vào Lăng viếng Bác.
Vùn Hiïën 9
viïåt Nam
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong Lăng giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Sổ vàng ghi cảm tưởng của khách 35 năm qua, nay đã
cao gần bằng đầu người, mà Ban Quản lý Lăng nay
vẫn còn lưu giữ. Trong hàng triệu lời của khách ghi
lại, có những dòng cảm động của Đoàn Phụ nữ Mỹ:
“Chúng tôi yêu mến đất nước Việt Nam, vì có lãnh
tụ Hồ Chí Minh... Chúng tôi coi Cụ là người của hòa
bình, của tinh thần nhân đạo và trí tuệ lớn lao, cũng
coi Cụ như lãnh tụ của nhân dân tiến bộ của nước
Mỹ...”. Đoàn đại biểu của Ê-ti-ô-pi-a cũng đã viết:
“Bác Hồ không chỉ là lãnh tụ của Việt Nam mà là của
các dân tộc bị áp bức trên thế giới này cũng đang đấu
tranh quét sạch chủ nghĩa đế quốc ra khỏi đất nước
mình”.
Và một mùa xuân nữa đã tới – xuân Kỷ Sửu. Mưa
bụi lại bay bay như rắc phấn trên bầu trời Hà Nội.
Những gánh hàng hoa, những xe hoa lại nườm nượp
nối nhau vào thành phố. Cũng như một số người vẫn
thường lên thăm Lăng Bác, tôi không thể ngồi viết mãi
trong không khí xốn xang này, đã tạm gác công việc,
cũng lên Lăng Bác trong chốc lát cho đầu óc được thư
giãn, và cũng để ngắm “thiên hạ” chuẩn bị vào xuân.
Cũng lạ, lần nào lên đây, lại nhớ tới những bài thơ hay
của nhiều nhà thơ đã viết hồi Bác mới qua đời. Trong
đó có bài thơ mà tôi cho là bất hủ của Viễn Phương –
nhà thơ miền Nam - viết ngay từ cuối năm 1975 khi
nhà thơ ra viếng Bác:
Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa xa đứng thẳng hàng
Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
10 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Mai về miền Nam nhớ Bác khôn nguôi
Muốn làm con chim hót quanh Lăng Bác
Muốn làm bông hoa thơm ngát đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này...
Cũng lại nhớ tới mấy câu thơ hết sức ngắn, mà
đầy rung động sâu xa của một nhà thơ Nhật Bản - một
cao tăng đã trên 100 tuổi - Cụ Ri-ô Ô-mi-si:
Trời xanh đón người cứu nước đi xa
Đau lòng chúng sinh trên đường mê
Thế gian này mất lão anh kiệt
Lá thu rụng rơi, đời ủ ê...
Tất nhiên tôi cũng không quên mấy khổ trong một
bài thơ dài của Tố Hữu – Nhà thơ lớn của chúng ta:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa...
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười....
Mưa vẫn bay bay và hoa đào vẫn tiếp tục vào
thành phố. Tôi ngắm nhìn tòa Lăng mờ ảo trong bụi
mưa như khói, như sương mà với biết bao cảm xúc.
Trong nắng sớm, tòa Lăng đã rất đẹp với vẻ vững
bền, bề thế, uy nghi, lúc này trong mưa xuân lại có
vẻ đẹp khác: Lung linh tựa như một lâu đài trong cổ
tích. Nhưng tôi cũng hiểu cảm nghĩ ấy không phải là
chỉ do vẻ đẹp của kiến trúc cộng với vẻ đẹp của thiên
nhiên, mà vẻ đẹp hồn cốt của Lăng chính là vì Bác
đang ở đó. Bác mãi mãi hiện diện với cuộc đời này, với
dân tộc, với con cháu... Lăng Bác – Đài hoa vĩnh cửu.
Không còn mưa nữa. Mặt trời đã ló ra, rạng rỡ, ấm
áp đến nồng nàn. Những gương mặt chung quanh tôi
đều như sáng cả lên. Mùa xuân. Mùa xuân sắp tới rồi!
Vẫn còn không ít người đứng đó trên các con đường
quanh Lăng. Lúc này màu đá hoa cương như không
còn là màu xám xanh. Lăng nổi bật lên như một tòa
lâu đài hồng tươi trong nắng vừa được lọc sau mưa.
Và từng đoàn người xa gần, vẫn nối tiếp nhau vào
Lăng viếng Bác như bất tận...
BÁC HỒ VỚI NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU
Trương Hoàng
Sự kiện UNESCO ra quyết
định công nhận Hồ Chủ
Tịch là anh hùng giải
phóng dân tộc của Việt
Nam và là danh nhân văn
hoá thế giới, đã làm cho
chúng ta, những con cháu
của Bác Hồ vô cùng phấn
khởi, niềm tự hào dân tộc
lại được nhân lên. Các nhà
nghiên cứu trong nước và
thế giới đang cố gắng làm
sáng rõ hơn nữa bức chân
dung của danh nhân văn
hoá Hồ Chí Minh. Một con
người đã hoà quyện giữa
hai con người mà tưởng
chừng như khác biệt, đó là
lãnh tụ cách mạng và nhà
văn hoá, nhà nghệ sỹ lớn,
đồng thời Bác Hồ cũng
là một con người đã kết
hợp hài hoà giữa hai nền
văn hoá phương Đông và
phương Tây. Ở đây, trên
lĩnh vực riêng của mình,
chúng tôi chỉ tách biệt trên
một khía cạnh khác trong
con người vĩ đại Hồ Chí
Minh. Đó là chất nghệ sỹ,
tâm hồn nghệ sỹ của Bác,
hoặc nói cụ thể hơn là sự
quan tâm của Bác Hồ với
nghệ thuật sân khấu.
S
inh thời, Hồ Chủ Tịch rất
yêu thích sân khấu. Thời
thơ ấu, Bác đã từng tắm
mình trong cái biển dân
ca Nghệ Tĩnh, trong cái nôi của ca
nhạc dân gian ở Huế - Trị Thiên.
Đặc biệt, Bác còn theo cha, là cụ
phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, làm
quen, tiếp cận với người nghệ
sỹ tuồng lỗi lạc – Quan thượng
thư Đào Tấn, Bác không những
đã xem tuồng Đào Tấn ở Vinh, ở
Huế mà còn đến tận quê hương
của Đào Tấn để xem… (theo tài
liệu của Sơn Tùng trong tác phẩm
“Búp sen xanh”), Bác Hồ đã từng
viết kịch bản “Con Rồng tre” và
nhiều truyện ngắn mang đầy chất
sân khấu như chuyện “Vi hành”
đăng trên báo Nhân đạo. Bác Hồ
cũng đã từng là diễn viên trong
đội kịch câu lạc bộ ngoại ô Paris. Bác rất thích kịch cổ điển của
Pháp, của Anh, của Ý, đặc biệt là
kịch của Sêchxpia. Sau khi xem vở
kịch Ôtenlô, Bác Hồ đã có những
nhận xét rất sâu sắc.Với tâm hồn
nghệ sỹ phong phú, với lòng yêu
sân khấu tha thiết, nên Bác Hồ
đã làm quen với nhiều nghệ sỹ
nổi danh ở Châu Âu, trong đó có
nghệ sỹ S.Sáp – lin, ông vua hề mà
cả thế giới biết tiếng và vừa tưng
bừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh
của ông.
Từ khi trở về nước lãnh đạo
cách mạng, dù bận trăm công
nghìn việc, Hồ Chủ Tịch vẫn dành
sự quan tâm đặc biệt tới sự nghiệp
phục hồi và phát triển sân khấu
dân tộc.
Ai cũng biết, nếu Bác Hồ
không có tầm nhìn xa, trông rộng,
không thật sự coi các di sản văn
hóa dân tộc là tài sản quý của
nhân dân thì các loại hình nghệ
thuật sân khấu truyền thống như
Tuồng, Chèo đã xếp vào “bảo
tàng” theo nhận thức ấu trĩ và
sai lầm của một số cán bộ lãnh
Bác Hồ lên sân khấu với các nghệ sỹ Nhà hát Cải lương TW sau khi xem xong vở diễn
Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài (năm 1955)
Vùn Hiïën 11
viïåt Nam
đạo ở Trung ương và địa phương trong thời kỳ đầu
cách mạng. Bác Hồ luôn luôn coi trọng và khuyến
khích các loại hình sân khấu dân tộc và rất quý trọng
các nghệ sĩ dân tộc. Theo ông Lê Văn Hiến, nguyên
Bộ trưởng Bộ Tài chính, vốn là một kép hát tuồng
ở Quảng Nam cho biết là trong những năm ở chiến
khu Việt Bắc mỗi lần họp TƯ, họp chính phủ, trong
lúc giải lao, Bác Hồ đều bảo ông Hiến lên diễn tuồng.
Ông Hiến kể: “Cũng có khi tôi dè dặt vì thấy có người
thích, kẻ không thích. Nhưng Bác lại thích nghe và
nghe rất hào hứng khiến tôi mạnh dạn trình diễn với
tất cả nhiệt tình đối với Bác. Tôi hát cho Bác nghe khá
nhiều lần, thậm chí làm cho Bác nhớ một đoạn Trại Ba
Hoa tự đấu tranh với bản thân để theo chồng là Địch
Thanh.
Trại Ba: Thà đó đành phụ nghĩa
Đây há dám vong tình
Giục vó lừa chỉ dặm non xanh
Cắp bửu kiếm dò lần dặm tía
Dặm tía hiểm nguy nào ngại
(Đó có vong ân bội nghĩa thì
mặc đó, chứ lòng em đây)
Giữ niềm trọn nghĩa tòng phu.
Nữ tỳ: thấy thầy, tớ cũng đeo sầu
Chim cưu ngao ngán, Hà Châu một mình
Hát đến đó, tôi ngừng lại vì cho là đã dài rồi. Bác
liền hát tiếp theo, cũng lời của Trại Hoa:
Hữu tình mà hóa vô tình
Bơ vơ thân thiếp, linh đinh nỗi chàng...
Cử chỉ của Bác đã làm cho mọi người hết sức ngạc
nhiên và khâm phục. Từ đó trong các hội nghị khác,
nhiều người lại yêu cầu tôi lên diễn vào các giờ giải
lao...
Cũng theo ông Lê Văn Hiến kể thì khi Bác Hồ đi
thăm các nước xã hội chủ nghĩa (năm 1956), ông Hiến
là thành viên trong đoàn của Bác. Đến đâu, sau khi
các nghệ sĩ của nước bạn biểu diễn chào mừng Đoàn,
thì Bác Hồ lại bảo ông Hiến đáp lại bằng diễn tuồng
và ông luật sư Phan Anh lên ngâm thơ.
Ở Hà Nội, trong những cuộc tiếp các đoàn khách
quốc tế, Bác Hồ thường cho mời các nghệ sĩ sân khấu
dân tộc tới biểu diễn. Bác muốn cho bạn bè ở năm
châu được làm quen, được thưởng thức những đặc
sắc nghệ thuật dân tộc Việt Nam. Đồng thời Bác cũng
muốn chứng minh rằng ở Việt Nam, có một nền văn
hóa nghệ thuật lâu đời và phong phú không kém gì
các nước khác. Những điều suy nghĩ và tiên đoán của
Bác về giá trị của nghệ thuật dân tộc ngày càng sáng
tỏ và chính xác, nhất là trong những năm gần đây, các
chính khách, các nhà văn hóa và khán giả phương Tây
đã bị cuốn hút bởi các thể loại Tuồng, Chèo và Múa
rối. Nghệ thuật sân khấu dân tộc Việt Nam đã hiện
diện gần hầu khắp các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây ở nhiều nước Tây Âu và đã gây được tiếng vang
12 Vùn Hiïën
viïåt Nam
rộng lớn trên thế giới.
Một đặc điểm rất đáng chú ý ở tâm hồn nghệ sĩ và
lòng yêu thích nghệ thuật sân khấu của Hồ Chủ Tịch
là ở đâu Bác cũng giành thì giờ tiếp xúc, thăm hỏi các
nghệ sĩ sân khấu. Tôi đã làm một bản thống kê khá dài
về những cuộc tiếp xúc của Bác Hồ với các nghệ sĩ sân
khấu. Không những ở Hà Nội mà cả ở các địa phương
và trong quân đội. Chúng tôi cũng đã sưu tầm và
lưu giữ hàng chục bức ảnh có giá trị của Bác gặp gỡ,
tiếp xúc với các đoàn nghệ thuật sân khấu. Hầu như
không có một nghệ sĩ nổi tiếng nào không được gặp
Bác ít nhất là một lần. Từ Tú Mỡ, Trùm Thịnh, Cả
Tam, Diệu Hương, Kim Liên, Lê Huệ… (chèo), đến
Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu, Bạch
Trà, Minh Đức, Đàm Liên (Tuồng), Ái Liên, Thanh
Hương, Tám Danh, Ngọc Thạch…(Cải lương), Lệ Thi,
Khánh Cao, Nguyễn Tường Nhẫn, Bích Liên…(Bài
chòi), Song Thao, Xuân Năm…(Dân ca Nghệ Tĩnh)
đều được diễn cho Bác xem và đều được nghe những
ý kiến của Bác. Ví dụ, khi xem vở tuồng “Chị Ngộ”
(do đoàn Tuồng LK5 diễn năm 1954), Bác đã xúc động
đến ứa nước mắt. Cuối buổi diễn, Bác khen các nghệ
sĩ diễn tốt, nhưng dặn diễn viên đóng vai quan tây lần
sau không được đánh thật để người đóng vai du kích
đỡ đau. Bác nói đại ý, sân khấu là thật nhưng lại giả,
đóng giả, nhưng phải làm cho người xem tin như thật,
không nên tự nhiên chủ nghĩa…
Một lần khác, sau khi xem vở cải lương “Lương
Sơn Bá – Chúc Anh Đài” (do Đoàn Cải lương TƯ
diễn). Bác đứng dậy vỗ tay rồi bước nhanh lên sàn
diễn, vui vẻ hỏi các nghệ sĩ:
- Các cô, các chú, các cháu diễn hay rồi… Bây giờ
các cô, các chú muốn biết ý kiến của Bác về vở này
không?
- Có ạ! – mọi người đồng thanh trả lời và nín lặng
chờ nghe ý kiến của Bác. Bác đi lại mấy bước rồi cất
tiếng đọc rõ từng câu:
“Một đôi Sơn Bá – Anh Đài”
Chữ tình đáng trọng, chứ tài đáng thương
Chỉ vì ông già dở dở ương ương…
Bác dừng lại, chỉ tay vào chị Hồng Liên, người
đóng vai Chúc ông, bố Chúc Anh Đài:
Làm cho đôi lứa uyên ương không thành!
Bác ngừng đọc, đi đi, lại lại, rồi một tay nắm chặt
giơ lên, nghiêm giọng đọc tiếp:
Đánh cho phong kiến tan tành
Cho bao nhiêu Anh Đài, Sơn Bá được thành lứa đôi…
Rõ ràng cách góp ý kiến của Bác cũng thể hiện
tâm hồn và phong cách của Bác, vừa vui vẻ, có đôi
chút dí dỏm vừa sâu sắc làm cho người nghe dễ tiếp
nhận và nhớ lâu.
Cũng phong cách đó, một lần tại Đại sứ quán ta
ở Bắc Kinh (năm 1956) trên đường công tác. Bác Hồ
gặp đoàn nghệ thuật dân tộc của ta gồm các nghệ sĩ
Tuồng, Cải lương vừa đi biểu diễn ở Đông Âu về qua
Trung Quốc, Đại sứ ta tổ chức cho đoàn diễn phục vụ
Bác Hồ. Trong chương trình có tiết mục “Lý ngựa ô
do nghệ sĩ Tám Danh biểu diễn. Sau buổi diễn, Bác
Hồ khen các nghệ sĩ diễn rất hay, rồi lấy kẹo thưởng
cho từng người – mỗi người một chiếc. Riêng nghệ
sĩ Tám Danh được hai chiếc. Nghệ sĩ Đinh Quả liền
“thắc mắc”:
- Thưa Bác, tại sao chúng cháu chỉ được một mà
anh Tám Danh được hai chiếc? Bác Hồ cười rất hiền
và nói:
- Một chiếc thưởng cho chú Tám Danh còn một
chiếc thưởng cho “con ngựa ô”…
Mọi người sung sướng vỗ tay vì câu trả lời rất vui,
rất tình cảm của Bác.
Một lần khác đến thăm khu văn công (ở Cầu
Giấy) Bác ngồi ngay ở thềm nhà của Đoàn Tuồng LK5.
Hàng trăm diễn viên của các đoàn đến quây quần lấy
Bác để nghe Bác kể chuyện về các nước mà Bác vừa
đi thăm, Anh Lý lùn (diễn viên hề của Đoàn xiếc TƯ)
len vào ngồi cạnh Bác và đưa tay vuốt chòm râu bạc
của Bác…Bác không gạt tay anh Lý lùn ra mà nói vui:
- Khéo chớ dứt râu Bác! Một sợi râu là một xâu
bánh.
Mọi người đều cười. Anh Lý lùn cũng cười và thôi
không vuốt râu Bác nữa.
Chúng tôi nêu ra đây mấy mẩu chuyện nhỏ để
thấy được phong cách và tấm lòng của Bác ưu ái đối
với các nghệ sỹ sân khấu như thế nào. Đặc biệt Bác
luôn luôn quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần
của anh chị em nghệ sĩ diễn viên. Năm nào Bác cũng
đến thăm khu văn công, Bác cũng xem nơi ăn, chốn
ở của diễn viên. Bác nói: là người làm văn hóa nghệ
thuật thì phải luôn luôn thể hiện phong cách sống có
văn hóa cao. Bác nhắc mọi người phải trồng chuối,
trồng mít để có bóng mát và để có quả cải thiện. Bác
luôn luôn nhắc nhở anh chị em diễn viên là phải
thường xuyên nâng cao nghề nghiệp, phải học tập
văn hóa và học tập chính trị vì Bác hiểu rằng những
người làm nghệ thuật thường say mê nghề nghiệp mà
ít chú ý tới chính trị.
Tôi nhớ kỹ, một lần Bác đến thăm khu văn công
vào mùa hè năm 1959. Hôm đó trời nắng nóng, chúng
tôi phải ra bóng cây để tập cho mát. Bỗng một chiếc
xe Bô – bê – đa màu trắng xuất hiện, rồi tiến vào sân
khu tập thể của các đoàn Tuồng, Chèo, Cải lương, Ca
múa… xe dừng lại, Bác Hồ bước ra như một ông tiên,
râu tóc trắng phau, da dẻ hồng hào nổi lên trong bộ
quần áo ka ki bạc màu quen thuộc. Chúng tôi reo lên:
Bác Hồ!Bác Hồ! Phút chốc, hàng trăm diễn viên từ các
đoàn đổ ra vây chặt lấy Bác. Bác tươi cười nói:
- Hôm nay, Bác đến thăm trường múa. Cháu nào
biết trường múa ở đâu thì đưa Bác đi.
Hàng chục cánh tay giơ lên: Cháu biết, cháu biết!
Chọn ai bây giờ khi mọi người đều biết trường múa
ở ngay trong khu văn công. Bác đưa mắt hiền từ qua
một lượt, rồi chỉ thẳng vào tôi và nói (có lẽ Bác nghe
tiếng tôi là người miền Nam):
- Cháu này đưa Bác đi!
Tôi sung sướng vô cùng, liền tiến vào nắm tay
Bác và đưa Bác về phía trường múa cách đấy hơn
100 mét. Nhưng mọi người cứ vây chặt lấy Bác làm
cho cuộc đi của Bác rất chậm, có lúc trượt đến suýt
ngã. Tôi và đồng chí bảo vệ của Bác phải vất vả lắm
mới đưa Bác vào tới phòng tập múa của trường. Gian
phòng rộng khoảng 100 m2, nhưng người dự thi thì
quá tải. Bác phải khoát tay nhiều lần thì các diễn viên
và học sinh mới chịu ngồi yên để lắng nghe Bác nói.
Bác ân cần thăm hỏi sức khỏe, về học tập, về ăn
ở của học sinh trường múa. Đồng chí hiệu trường
Hoàng Châu báo cáo với Bác là các em đều chịu khó
học chuyên môn. Bác gật đầu và hỏi:
- Các cháu có học chính trị không?
- Có ạ! mọi người đồng thanh.
Bác hỏi tiếp:
- Vậy chính trị là gì?
Nhà biên đạo múa Kỳ Thanh nhanh nhẩu trả lời:
- Dạ, chính trị là cái chìa khóa ạ!
Bác cười và hỏi lại:
- Chìa khóa đồng hay chìa khóa sắt?
Một phút im lặng dường như cả hội trường đều bí
và đang suy nghĩ tìm câu trả lời. Bỗng nhạc sĩ Trương
Đình Quang đứng lên trả lời đầy vẻ tự tin:
- Dạ, chính trị là thống soái ạ!!!
Bác Hồ lại cười và hỏi lại:
- Thống soái là gì?
Hội trường im lặng dường như ai cũng nghĩ và
cũng không tìm ra câu trả lời. Bác biết là anh em nghệ
sĩ hay thích nói chữ nên ôn tồn giải thích:
- Chính trị không phải là chìa khóa, không phải
là thống soái, mà là đường lối, chính sách của Đảng
và Chính phủ. Khi đã nhận thức đúng đắn đường lối
chính sách của Đảng thì sẽ học tốt, sẽ sáng tạo tốt. Mọi
người như vỡ lẽ và sung sướng vì đã được Bác Hồ chỉ
giáo rất rõ ràng. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm.
Sau lần thăm này của Bác, phong trào học chính
trị ở các Đoàn nghệ thuật sân khấu lại sôi nổi. Có thể
nói Bác Hồ rất quý trọng các nghệ nhân , nghệ sĩ cao
tuổi, đồng thời cũng hết sức quan tâm tới việc đào tạo
diễn viên trẻ. Chính vì vậy, mà cũng trong năm này
(1959) Bác lại đến thăm trường Nghệ thuật sân khấu
dân tộc, cũng tại khu Văn công Cầu Giấy. Tại đây Bác
đã xem các học sinh Tuồng, Chèo, Cải lương... biểu
diễn và động viên các em nên học tập thật kỹ, thật
nhiều vốn quý của cha ông – đó là nghệ thuật truyền
thống của dân tộc mà Bác rất quý, rất yêu thích.
Là lãnh tụ thiên tài, là nhà văn hóa lớn, Bác Hồ
luôn luôn có cái nhìn sáng suốt và toàn diện vào các
môn nghệ thuật khác. Tháng 3 năm 1956 khi xem
Vùn Hiïën 13
viïåt Nam
Đoàn múa rối Ra – đốt (Tiệp Khắc) tại Hà Nội, Bác
Hồ liền nói với các đồng chí lãnh đạo Bộ Văn hóa ta
là: “Vì niềm vui và tiếng cười của các cháu thiếu niên,
nhi đồng mà nên thành lập Đoàn múa rối”. Thế là từ
đó Đoàn múa rối chuyên nghiệp đầu tiên ở Việt Nam
ra đời, để mấy năm sau các tỉnh và thành phố khác
noi theo, thành lập nhiều đoàn múa rồi cạn và múa rối
nước. Cũng chính Bác Hồ là người đến thăm nghệ sĩ
Xiếc Tạ Duy Hiền tận nhà riêng và động viên ông nên
đào tạo và phát triển ngành Xiếc Việt Nam. Sự quan
tâm của Bác Hồ đã thúc đẩy ông Tạ Duy Hiền cùng
các nghệ sĩ khác phát triển ngành Xiếc rất nhanh, để
đến hôm nay, ngành Xiếc Việt Nam đã vững mạnh và
đã có tiếng vang trên thế giới.
Trong những thập kỷ 60,70, nhờ có sự quan tâm
đặc biệt của Bác Hồ mà hầu hết các nghệ sĩ sân khấu
dân tộc có tài năng trong khắp đất nước đều được
tập hợp về thủ đô Hà Nội để khai thác các vốn vô
cùng phong phú và quý giá của Tuồng, Chèo, Cải
lương và việc khai thác gắn liền với đào tạo. Các nghệ
sĩ bậc Thầy như Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô
Thị Liễu, Minh Đức, Đinh Quả, Văn Bá Ánh, Ngọc
Căn…(Tuồng), Trùm Thịnh, Năm Ngữ, Cả Tam, Diệu
Hương, …(Chèo), Tám Danh, Ba Du, Ngọc Thạch,
Ái Liên, Thanh Hương,…(Cải Lương). Sau những
lần được gặp Bác, được Bác động viên đã phấn khởi
ngày đêm khai thác và dựng lại được hàng chục vở
cổ, hàng trăm trích đoạn và vai diễn mẫu mực có giá
trị. Để làm cơ sở cho việc đào tạo diễn viên trẻ, đến
nay hàng trăm nghệ sĩ diễn viên xuất sắc đang làm
nòng cốt trong các đoàn sân khấu dân tộc trong cả
nước, tiếp tục làm nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nghệ
thuật dân tộc.
Với tầm nhìn xa thấy rộng, Bác Hồ biết trong việc
phục hồi và phát triển sân khấu dân tộc đang xảy ra
các khuynh hướng, bảo tồn và cách tân lệch lạc, do
đó Bác thường nhắc nhở các nghệ sĩ phải thận trọng
và nắm vững các quy luật các nguyên tắc trong lúc kế
thừa phải phát triển. Có lần gặp nghệ sĩ tuồng Nguyễn
Nho Túy (nguyên đại biểu quốc hội khóa III), Bác nói:
“Tuồng tốt đấy nhưng phải cải tiến, đừng dẫm chân
tại chỗ, cũng đừng gieo vừng ra ngô”. Câu nói nổi
tiếng của Bác đã cho những người làm sân khấu dân
tộc của chúng ta đã xảy ra hai khuynh hướng “bảo
thủ” và “cách tân” cực đoan. Hai khuynh hướng này
có lúc đã mâu thuẫn với nhau gay gắt. Từ trong các
nhà hát, trên các diễn đàn, trên các trang báo, những
từ “phá tuồng”, phá chèo”, hoặc “bảo thủ”, “cổ hủ”,
“lạc hậu”..v.v. được tung ra từ cửa miệng các nhà nghệ
thuật: đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ… Cuộc tranh luận
sôi nổi và gay gắt này kéo dài cho tới hôm nay. Khi thì
ầm ĩ, khi thì bùng lên, nhất là khi một số vở cổ được
trình chiếu ở các rạp nhưng vắng khách như: Quan
âm Thị Kính, Chu Mã Thần, Lưu Bình Dương Lễ (Chèo),
Sơn Hậu, Ngọn lửa Hồng Sơn, Đào Tam Xuân loạn trào…
14 Vùn Hiïën
viïåt Nam
(Tuồng)… hoặc khi một số vở mới ra đời được đông
đảo người xem hoan nghênh như: nàng Sita, Ngọc Hân
công chúa, Đêm hội Long Trì…(Chèo).
Trong những lúc nổ ra các cuộc tranh luận về hai
khuynh hướng “bảo thủ” và “cách tân” các nhà lý luận
thường nhắc lại lời dạy của Bác Hồ đối với sân khấu
dân tộc là “Cần phải cải tiến nhưng không gieo vừng
ra ngô”. Và rõ ràng, ở đâu thấm nhuần câu nói của
Bác là ở đó có những hướng đi đúng đắn. Việc khán
giả thích và chấp nhận những vở diễn như: Quang
Trung đại phá quân Thanh, Mặt trời đêm Thế Kỷ, Nàng Sơ
– Kun – Tơ – La, Thanh Gươm hát Bội, Hoàng Hôn Đen,
Người con gái kinh Bắc…(Tuồng). Những người nói thật,
Đêm hội Long Trì, Hồ Xuân Hương, Cô gái làng Chèo, Lý
Nhân Tông kế nghiệp…(Chèo) bởi vì trong những vở
diễn này đã thể hiện sự kết hợp khéo léo, hài hòa giữa
truyền thống và hiện đại, giữa kế thừa và phát triển,
có cải tiến nhưng không “gieo vừng ra ngô”.
Dĩ nhiên cũng có những hiện tượng phá cách
“biến vừng ra ngô”. Ở những vở diễn này người xem
không còn nhận biết nó là hình thức gì do đó các tác
giả của nó phải liều đặt cho nó cái tên lập lờ là “ca
kịch mới”. Tôi tin rằng, nếu Bác Hồ còn sống, khi xem
những vở diễn biến dạng này chắc chắn Bác sẽ không
vui.
Tấm lòng yêu thích nghệ thuật sân khấu, quý
trọng nghệ sĩ sân khấu của Bác thể hiện không chỉ với
nghệ thuật trong nước và nghệ sĩ trong nước mà cả với
nước ngoài. Bác Hồ đã kết bạn với nghệ sĩ S.Saplin,
Bác nhận nghệ sĩ D.Kirilencô (Liên Xô) là con nuôi. Ở
Việt Nam cũng như Trung Quốc, Bác đã tiếp thu và
xem nhiều lần Kinh kịch. Đặc biệt Bác rất quý nghệ
sĩ Hồng Tuyến Nữ, tại Quảng Đông Bác đã khóc khi
xem các nghệ sĩ Trung Quốc biểu diễn tiết mục “Rừng
dừa căm thù”, nói về cuộc đấu tranh anh dũng của
nhân dân Miền Nam ta. Nhà lý luận sân khấu Cộng
hòa DC Đức Chu makhơ, sau hai lần được tiếp xúc
với Bác Hồ đã làm một bài thơ ca ngợi Bác, và tại trụ
sở hội Sân khấu Việt Nam ông đã nói một cách hình
ảnh rất sân khấu “Hồ Chí Minh là người viết kịch bản
và Võ Nguyên Giáp là người đạo diễn trong tác phẩm:
“Việt Nam kháng chiến thần kỳ”.
Đến đây, tôi có thể tạm kết luận rằng: Phải chăng
Hồ Chủ tịch là một lãnh tụ hiếm thấy trên thế giới từ
trước đến nay đã quan tâm nhiều tới nghệ thuật sân
khấu, đã tiếp xúc nhiều với nghệ sĩ sân khấu, đã sáng
tác và biểu diễn sân khấu. Hướng vào năm 1990, kỷ
niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, giới sân
khấu Việt Nam mang một khát vọng và dự định lớn
lao là thể hiện thật đẹp hình tượng Bác Hồ trên sân
khấu để xứng đáng với tầm cỡ vĩ đại của con người
đã trở thành huyền thoại trong lịch sử Việt Nam, cũng
như trong cộng đồng nhân loại hôm nay.
HỒ CHÍ MINH
“NGƯỜI THỦY THỦ NHỎ CỦA THỦY QUÂN VIỆT NAM”
GS. Bs Trần Hữu Tước
Ngày 18/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tàu Duy mông Đuyếc vin trở về Tổ quốc
LTS: Năm 1946, sau khi thăm nước Pháp và dự Hội nghị Phôngtennơblô theo lời mời của
Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước trên chiến hạm Duy mông Đuyếc vin
của thuỷ quân Pháp. Theo hải trình, con tầu đã đưa Người đến Vịnh Cam Ranh để hội đàm
với Cao uỷ Pháp tại Đông Dương. Bác sĩ Trần Hữu Tước được Bác chỉ định đi theo Người
trong cuộc đón tiếp và hội đàm này. Mười năm tròn sau ngày Bác đi xa, Giáo sư Trần Hữu
Tước đã viết hồi ký ghi lại sự kiện này. Nhân kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác (19/5/189019/5/2011), Tạp chí Văn hiến Việt Nam xin trân trọng giới thiệu lời kể của GS Trần Hữu
Tước về sự kiện này.
15 Vùn Hiïën
viïåt Nam
Vùn Hiïën 15
viïåt Nam
“Qua vịnh Thái Lan, không
ghé vào Sài Gòn, xa xa ẩn hiện
dưới làn sóng bạc, mờ ảo bóng
đảo Côn Lôn lịch sử.
Thật đã thở trong gió, sóng,
bao nhiêu hương vị của quê
hương!
Vịnh Cam Ranh bát ngát,
hùng vĩ sao! Cả một vùng biển
nước xanh xẫm, chung quanh dẫy
núi đủ mầu, hồng, đỏ, bao vây,
riêng một dải nước trong sâu dẫn
tàu vào Vịnh.
Ở đây, năm 1905, cả một hạm
đội Nga hoàng từ biển Baltique,
mấy trăm hạm, đã vượt qua mấy
đại dương, trú tại đây, ăn than
trữ nước, tăng thêm lương thực
để sang giao chiến với thuỷ quân
vài chục tuổi của Nhật hoàng. Đế
quốc thực dân Pháp đã cưu mang
viện trợ, nhưng đến eo biển Shushi-ma đã bị đô đốc Tôgô đánh
tan tành, không còn chiếc tàu nào
thoát.
Thực quái gở, nước nhà độc
lập, mà giữa Vịnh Cam Ranh,
chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn
lại duy nhất trong hạm đội Thái
Bình Dương của Pháp, nằm ngạo
nghễ đó, với cờ ba sắc phần phật,
gió Trường Sa thổi ra như xua
đuổi, lại hai chiếc máy bay đỗ mặt
nước, đang vè vè bay lượn chung
quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị
đón Bác rất trọng thể, đúng nghi
thức để diễu võ dương oai...
Chiếc xuý hạm rửa cọ bóng
nhoáng, tăm tắp. Nghi lễ “Đại
kỳ” khắp trên chiến hạm, tất cả
các loại cờ đều treo, căng lên, tất
cả các đại bác, thần công, cao xạ,
phóng lôi đều tuốt vỏ, giương
cao nòng tua tủa và hai ngàn rưỡi
thuỷ quân đồng phục trắng tinh,
đứng nghiêm như tượng, xếp trên
bẩy tầng.
Đại thuỷ sư Đô đốc, Đặc Cao
uỷ Pháp, là con người tồn cổ đang
phục hồi tất cả những nghi thức
thời oanh liệt của Thuỷ quân xâm
16 Vùn Hiïën
viïåt Nam
lược, dọc, ngang trên các sông bể
nước người.
Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang
mời Chủ Tịch phó hội. Bác mượn
ống nhòm, nhìn qua tình thế, và
bình thản nói:
- Chỉ mình chú Tước, đi với
Bác!
Vài giây hơi lạ, giương hai
mắt kính cận, nhìn lại Bác. Bác
nhắc lại:
- Phải, một mình chú!
Thuyền máy riêng của Đô đốc
đã ghé hạm Dumont d’Urville,
Bác trong bộ quần áo ka ki, vàng
nhạt, đầu trần, tay cầm mũ và gậy
song – bình thản lặng lẽ, bước
xuống, theo liền sau là thầy thuốc
đặc biệt, quần áo chỉnh tề, cầm
một cái ô kiểu Anh, cực thon nhỏ,
mặt cũng phớt lạnh “Hồng mao!”
Hai sĩ quan thuỷ quân đứng
nghiêm chào không chớp mắt như
đôi tượng đất...
Máy tăng tốc độ, rẽ sóng lao
về Xuý hạm, chiếc thuyền riêng,
dùng để duyệt thuỷ quân, không
mui, có chỗ tựa tay, để đứng, cách
độ vài chục thước, loa phóng
thanh gầm lên một khẩu hiệu,
rồi vang lên 3 lần: “híp, híp, híp”,
theo liền, hai ngàn rưỡi họng, hô
to lên 7 lần: “Houra! Houra!...
Đó là đại lễ đón Quốc trưởng.
Và con thuyền của Xuý hạm
lướt qua mạn tầu, Hồ Chủ tịch giơ
tay chào duyệt, tất cả có mấy sĩ
quan Pháp tuỳ tùng Bác đều đứng
nghiêm, giơ tay lên trán chào,
người thầy thuốc đứng ngay sau
lưng Bác, đúng lễ nghi, giơ tay
chào.
Hồ Chủ tịch ung dung lẹ
bước, trèo lên thang, tiến vào phía
“Viên Môn” của hạm. Quả ông
Đại đô đốc này thích nghi lễ thật!
Lại một tiếng hô. Hai ngàn
thuỷ quân to lớn, đại lễ phục, răm
rắp vác kích vàng choé, đều bước
nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ,
và Đặc Cao uỷ Pháp, người loắt
choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười
cáo già trên môi, bước ra niềm nở,
đón Chủ tịch, miệng toe toét với
những vết răn nhăn nheo, nham
hiểm, thực dân. Hai bàn tay nhỏ,
ngắn, xoe tròn lấy nhau, nói:
- Thưa Chủ tịch, thật ra đến
tuổi tôi, lại được học một kinh
nghiệm quý báu, tốt nhất đi đâu,
vẫn là người thầy thuốc, có phải
không, thưa ông bác sĩ!
Bác đã trả lời gọn gàng:
- Sang thăm Đặc Cao uỷ, nên
đi với thầy thuốc!
Và đám đông đầy những sĩ
quan cao cấp, tuỳ tùng đều đại
lễ phục, ngù vàng, lon bạc, huân
chương lủng lẳng, gươm, giáo
danh dự, lách cách, lập loè, đều
theo chiều ra vẻ tán thưởng câu
mở đầu cuộc gặp gỡ. Viên Cao uỷ
lõi đời, sành sỏi đã nhận “tiếp thu
ngay bài học Bác vừa dạy cho”.
Trước nghi lễ rầm rộ uy nghi đó,
Bác chẳng coi ra gì, một mình Phó
hội, chỉ với người thầy thuốc, với
mũ gậy hàng ngày, như thể đi
thăm người quen biết đâu đấy,
trong làng, xóm thế thôi!
Vào tiệc rất thịnh soạn, Chủ
tịch ngồi đối diện với Đặc cao uỷ,
hai bên Bác là một tướng Tổng chỉ
huy lục quân Đông Dương, và
một Đô đốc thuỷ quân Thái Bình
Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại
nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng,
viên Đại đô đốc ngọt xớt:
- Kìa, thế ra Chủ tịch lại được
đóng khung giữa Lục quân và Hải
quân đấy.
Bật ra, nhưng nhẹ nhàng cười,
Người đáp ngay:
- Đại Cao uỷ biết đấy, chính là
bức hoạ mới làm cho khung có giá
trị.
Khắp bàn tiệc đều tán thưởng
câu trả lời rất chí lý chơi chữ Pháp
của Bác; đóng khung và cái khung.
Bữa tiệc rất nhiều món ăn
ngon, đặc sản của đất nước, nào
tôm hùm từ Vũng Tàu, nào xa lát
Vùn Hiïën 16
viïåt Nam
từ Đà Lạt, nhưng mải nghe những
câu đi lại, như những mũi gươm,
hai địch thủ đang thử nhau, trước
khi vào trận đo tài cân sức quyết
liệt. Bữa ăn đó, lần đầu tiên đi
theo Bác, đã không thực hiện
được lời Bác thường khuyên: ăn
bao nhiêu, lấy bấy nhiêu, lần này
lấy thật ít, mà vẫn không sao ăn
hết, còn mải nghe và suy nghĩ, hồi
hộp. Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay
từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc
cao uỷ Pháp, hắn ngạc nhiên chưa
đầy nửa giây, trấn tĩnh được ngay
và cũng ôm Hồ Chủ tịch và tất cả
chung quanh đều sửng sốt, trơ
mắt nhìn, các nhà báo Pháp, toàn
nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia
lịa, và ghi ghi chép chép. Lo lắm,
vì chỉ có một mình chứng kiến, các
nhà báo ngoại quốc xúm quanh
hỏi, đều chỉ một câu trả lời: “Các
ông muốn biết đích xác điều gì,
xin cứ hỏi thẳng Hồ Chủ tịch, và
Đại đô đốc, chúng tôi không được
phép nói gì hết!”
Lo chứ, mồm mép nhà báo
thực dân hay xuyên tạc và dễ làm
không khí đã căng thẳng, lại càng
căng thẳng giữa ta và chúng.
Quả là lo, và cũng chưa hiểu
hết Bác ôm hôn Đại Đô đốc, tên đại
thực dân này, nên trên mặt không
thể không lộ chút băn khoăn.
Trời ngà ngà về chiều...
Lúc ra về, như để trả lời một
thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ,
Bác mhẹ nhàng chỉ nói: “Ôm hôn
hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!”
Thuyền nhỏ lướt trên làn sóng
dập dềnh. Đứng ngay sau Bác,
nên có lúc như không thấy Người
đâu nữa. Mà trước mắt là núi non,
biển nước. Cả quê hương bao la,
hùng vĩ, phần phật gió Trường
Sơn đã nổi, tiếng ào ào, như cả dân
tộc đang đứng lên, quật cường
trong trận cuối cùng; rồi chớp
mắt nhìn lại, lại thấy Bác, mảnh
khảnh trong bộ quần áo bạc mầu,
tóc phong sương bao năm, đang
phấp phới, đôi mắt sáng rực tin
tưởng và quyết tâm. Người đứng
như pho tượng trước mắt thuyền,
để chèo chống trong cơn sóng gió
của biển Đông, chiến hạm chồm
lên, dập xuống, chòng chành, lắc
lư từng cơn dồn dập; tất cả đoàn,
ngay một số đông thủy thủ Pháp
cũng bị say sóng, nằm dài không
ăn uống gì được, chỉ có Bác, và
người thầy thuốc trẻ chịu được,
hầu như đã đi quen biển, đây đó,
nên đi thăm tất cả.
Nhớ lại câu của Đại đô đốc,
đặc cao ủy trong bữa tiệc thếp:
“Chủ tịch thật quen với biển cả
có lẽ xin tặng Người danh hiệu
“Người thủy thủ nhỏ” như quân
đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng
nhỏ”. Và Bác trả lời ngay: “Phải,
người thủy thủ nhỏ của Thủy
quân Việt Nam”.
Một đàn cá heo bơi lượn trước
và sau tầu, một quảng đại trong
gió bạt. Hai bác cháu đều bình
thản đứng tựa làm cho chiến hạm
lúc chồm lên, khi lắc chao nghiêng
ngả, thật đẹp mắt. Nhưng mấy
bữa cơm, chỉ còn thuyền trưởng
ngối đúng lễ nghi trước Hồ Chủ
tịch, và bên cạnh là người thầy
thuốc trẻ. Ăn uống cũng có khó
khăn, cốc đĩa tuy đã để vào trong
những giá riêng cho đỡ chòng
chành.
Nên thưa với Bác, cho vui câu
chuyện:
- Thưa Bác, Bác viết cho mấy
chữ để ném xuống biển Đông cho
đỡ sóng gió, có thể là Long Vương
kéo đến đón Bác.
Bác mỉm cười:
- Chú cũng nhớ đến điển tích
nhỉ? Trong Du Giang Nam của
Càn Long!
Chiến hạm cố dềnh dàng,
nên mãi xẩm tối, mới vào vùng
Hải Phòng! Hồi hộp làm sao! Sau
bao nhiêu năm! Bao nhiêu thuyền
chăng cờ đỏ sao vàng ra đón Bác.
Nén sao nổi nỗi xúc động như
ngọn thủy triều đang dâng lên
dào dạt. Bác vẫn có vẻ rất bình
thản, đọc sách, không sao nén nổi,
bỗng chạm tay áo Bác, thưa:
- Bác xem, bao nhiêu cờ đón
Bác!
Bác trầm lặng vài giây rồi dịu
nhẹ nói:
- Con người là hay quên, lúc
vui thì thế!
Và tiếp tục đọc.
Mấy năm sau, Bác như tiếp
tục câu chuyện còn bỏ dở hôm đó,
ở ngoài khơi, dậy dỗ: “Trong gia
đình lục đục, thiếu dưa cà, mắm
muối, hai vợ chồng cãi nhau…
người ta sẽ kêu réo Đảng. Chú có
nhận thấy thế, thì hãy vào Đảng!”
Qua lời nói Bác rất đúng! Mấy
hôm sau, về đến Hà Nội, bỗng Bác
cho gọi ngay đến, lúc đó là Bắc
Bộ Phủ (nay là nhà khách Ngô
Quyền) hồi hộp vào chào Bác,
Trân trọng Bác cười:
- Sao hôm nay chú lễ nghi thế?
Bác đưa cho một tập báo chí
tiếng Pháp ở Sài Gòn bảo đọc, xem
“Chúng sẽ thêu dệt những gì?”
đọc kỹ xong, nhìn lên, Bác bảo
“Chúng nói móc cũng hay đấy
chứ!”. Thì ra, một nhà báo đã tả tỉ
mỉ, khi Chủ tịch ôm hôn Đại cao
ủy, rồi bình luận rộng ra: “Không
biết Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhớ
đến câu thơ bất hủ của Racine: Ta
ôm hôn người, để càng bóp ngạt
người (Je t’embrasse pour mieux
t’estereindre!)”.
Quả câu này mang nhiều ý
nghĩa, nhắc lại trình độ văn học
uyên thâm của Bác, và 8,9 năm
sau, lời gần như tiên tri này, được
ứng nghiệm, khi quân đội anh
hùng chưa đầy 10 tuổi của ta, đã
bao vây thắt chặt đoàn quân tinh
nhuệ thiện chiến nhất của thực
dân Pháp ở lòng chảo Điện Biên
và mở ra một kỷ nguyên mới. Thật
đúng là ôm vào xiết chặt!”
Vùn Hiïën 17
viïåt Nam
NSND Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và
Du lịch đánh trống khai mạc Liên hoan
Trong các ngành nghệ thuật biểu
diễn, từ Tuồng, Chèo, cải lương, Dân
ca kịch, Kịch nói và Ca múa nhạc, khi
nói tới liên hoan, hội diễn thì không
khí lao động sáng tạo ở các đơn vị
nghệ thuật bỗng trở nên sôi nổi và
náo nức, bởi liên hoan là cuộc đua tài,
mà đã đua tài thì, ai cũng mong thắng
cuộc, mong được giải, mà muốn
giật được giải thì phải dày công khổ
luyện, phải vất vả công phu.
THẤY GÌ QUA LIÊN HOAN TUỒNG
TOÀN QUỐC 2011
GS. Hoàng Chương
Đ
ời con người thì dài, nhưng đời người nghệ
sĩ trên sân khấu thì ngắn, bởi thanh sắc là
yếu tố hàng đầu để thu hút công chúng, vì
thế mà những nghệ sĩ có thanh, có sắc, có
lòng yêu nghề và có nghề thì luôn luôn trăn trở, ước
mong được để lại cho đời những dấu ấn đậm nét trên
sân khấu bằng những vai diễn gan ruột của mình qua
các kỳ liên hoan, hội diễn, vì chỉ có liên hoan hội diễn,
thì mới có chấm giải, mới có huy chương vàng, bạc để
18 Vùn Hiïën
viïåt Nam
làm cơ sở cho việc phong tặng các danh hiệu: NSND,
NSUT.
Với cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá nghệ
thuật thì, việc tổ chức liên hoan, hội diễn, ngoài mục
đích khuyến khích lao động sáng tạo, còn để phát hiện
những tài năng, chọn ra những gương mặt nghệ thuật
sáng giá, nhất là tài năng trẻ, đồng thời động viên, cổ
vũ thế hệ trẻ trong sự nghiệp kế thừa và phát huy
truyền thống, vì nếu không có đội ngũ kế thừa thì
Vùn Hiïën 18
viïåt Nam
nghệ thuật của cha ông sẽ mai một, sẽ biến mất theo
thời gian, cũng như bị sự chen lấn giẫm đạp của các
loại hình nghệ thuật thương mại, nghệ thuật giải trí
đơn thuần và nghệ thuật nước ngoài đang ào ạt du
nhập vào đất nước ta mỗi ngày một nhiều trong xu
thế hội nhập hiện nay. Liên hoan nghệ thuật Tuồng
truyền thống năm 2011, còn có mục đích tập hợp và
kiểm kê lực lượng Tuồng toàn quốc, vì chỉ có qua
sân khấu biểu diễn mới thấy rõ thực trạng của nghệ
thuật Tuồng hôm nay. Điều đó đã có thể thấy được
bảy đơn vị Tuồng chuyên nghiệp đang rải đều trên
khắp ba miền đất nước đang còn nguyên vẹn, từ Nhà
hát Tuồng TƯ ở Hà Nội, đến Đoàn tuồng Thanh Hoá,
Nhà hát Cung đình Huế, Nhà hát Tuồng Nguyễn
Hiển Dĩnh (Đà Nẵng), Nhà hát Tuồng Đào Tấn (Bình
Định), Nhà hát truyền thống Khánh Hoà và Nhà hát
Nghệ thuật hát bội TP. Hồ Chí Minh, với 9 vở diễn
tham gia biểu diễn. Gần 300 nghệ sĩ, đa số là diễn viên
trẻ từ độ tuổi dưới 40 trở xuống đã hội tụ về đất tuồng
Bình Định , quê hương của Đào Tấn - Hậu tổ hát bội
(tuồng) để đua tài, để chứng minh Tuồng vẫn đang
sống trong lòng nhân dân, mặc dù phải chống đỡ rất
khó nhọc trong bối cảnh cực kỳ khó khăn về khán giả.
Dĩ nhiên, vấn đề khán giả thưa vắng không chỉ đối với
tuồng mà cả với Cải lương và Chèo...
Một điều đáng mừng là qua sân khấu liên hoan
tuồng lần này cho thấy đa số diễn viên trẻ có lòng
yêu nghề, có giọng hát hay, biểu diễn tốt, nắm khá
vững hệ thống làn điệu và động tác, vũ đạo cơ bản
của tuồng. Một số diễn viên trẻ tuy không nhiều, đã
học tập tiếp thu được những vai tuồng truyền thống
mẫu mực trong các vở kinh điển của Sơn Hậu, Tam
nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Trảm Trịnh Ân, Đào Tam
Xuân loạn trào.... mà đáng biểu dương là Đoàn Tuồng
Thanh Hoá , tuy đã hơn 50 năm kể từ các bậc thầy
ở Đoàn Tuồng Liên khu V truyền dạy trên miền Bắc
cho đến nay qua nhiều thế hệ vẫn giữ được phong
cách , đường nét tuồng truyền thống, kể cả dàn nhạc.
Đoàn Tuồng Huế tuy mới thành lập, nhưng cũng gây
được cảm tình trong người xem. Vấn đề kế thừa và
phát triển nghệ thuật Tuồng truyền thống về mặt lý
thuyết lâu nay đã có một số người nhận thức sai lệch,
vì thế mà cải biên, cải tiến không thành công, chưa nói
là đã phá vỡ truyền thống. Điều đó có thể thấy được
qua một số vở diễn truyền thống nổi tiếng, nhưng gây
hiệu ứng không cao, chưa kể có những chi tiết phản
cảm cả ở liên hoan trước và liên hoan lần này.
Đành rằng truyền thống không phải là bất biến,
nhưng truyền thống là sự tiếp nối, kế thừa, cô đúc, là
sự chắt lọc và định hình từ hàng chục, hàng trăm thế
hệ nghệ sĩ đã đồng sáng tạo ra những vai diễn mẫu
mực , hết sức có giá trị như: Kim Lân, Linh Tá, Phạm
Định Công..... cùng với những miếng diễn hết sức đặc
sắc như Kim Lân biệt mẹ, Kim Lân qua đèo, Ôn Đình chém
Tá, Phạm Định Công đề cờ... trong vở tuồng Sơn Hậu....
hoặc: Lão Tạ sai Cơ, Phương Cơ qua ải, Tạ Ngọc Lân lăn
lửa... (Tuồng Tam nữ đồ vương).
Nói tới truyền thống là nói tới những giá trị bất
biến, ngay cả cái tên vở cũng được các thế hệ nghệ sĩ
tiền bối đặt ra, trong đó đều mang một nội hàm khái
quát, một nội dung sâu sắc, đồng thời còn mang một
dấu ấn nghệ thuật xuyên suốt thời gian như Tam nữ
đồ vương, hoặc Ngọn lửa hồng sơn, Sơn Hậu, Trảm Trịnh
Ân... Vì sao có nơi gọi là Trảm Trịnh Ân mà không
gọi là Đào Tam Xuân loạn trào vì Đào Tam Xuân loạn
trào là phải “loạn” thật sự tại triều đình Triệu Khuôn
Dẫn.... Còn nếu sợ “loạn trào” là “phạm huý” là hành
động nhạy cảm, dễ làm cho người ta liên tưởng tới
vấn đề chính trị thì, nên chuyển sang một cái tên khác
như Trảm Trịnh Ân mà các thế hệ tiền bối đã đặt ra
và đã được công chúng chấp nhận. Dường như các
thế hệ nghệ sĩ ở cuối thế kỷ 20 đầu TK21, đa số chưa
được xem những vở tuồng thầy mẫu mực, những vai
diễn đặc sắc, mà cứ nhiệt tình phục hồi, phục dựng,
thậm chí cải biên những kiệt tác thì quả là dũng cảm,
bởi vì đụng vào những vở truyền thống, những tác
phẩm kinh điển như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào
Tam Xuân loạn trào... hoặc tuồng Đào Tấn như: Hộ
Sanh Đàn, Diễn Võ Đình, Trầm Hương Các...là đụng vào
những hòn đá tảng, bởi đó là những giá trị vĩnh hằng,
những di sản bất biến đã được coi là cổ điển, là bác
học, là kiệt tác của dân tộc. Việc coi thường những di
sản, những giá trị nghệ thuật đã được khẳng định
hàng 100 năm trước nên đã dẫn tới những hệ quả
đáng tiếc qua các kỳ liên hoan tuồng truyền thống
trước đây cũng như liên hoan tuồng truyền thống
toàn quốc ở Bình Định lần này, cho thấy hiện tượng
cắt xén, lắp ghép vở cổ có phần tùy tiện mà không biết
rằng những vở tuồng cổ còn lưu lại tới hôm nay là kết
quả của những bậc học rộng tài cao viết ra hàng trăm
năm trước. Viết kịch bản tuồng là cực kỳ khó như
nhận định của bà Đạm Phương nữ sử: “hơn 30 năm
sau đây (ý nói đầu thế kỷ 20) không có ai đặt nổi những
pho tuồng như trước nữa, có chăng cũng đặt được một vài
hồi tuồng vặt mà chơi. Thế mới biết cách soạn tuồng hát là
khó lắm 1. Vậy mà hiện nay vẫn có một số người tuy
chưa “biết cách soạn tuồng hát” vẫn cứ sáng tác và cải
biên tuồng thì làm gì có tuồng hay được.
1
Trích lược khảo về tuồng hát An nam của Đạm Phương nữ sử
Vùn Hiïën 19
viïåt Nam
Một điều cũng đáng quan tâm là, trong kho tàng
tuồng truyền thống có hàng trăm vở, chưa kể là có
hàng chục vở tuồng của Đào Tấn, của Nguyễn Văn
Diêu và một số tác giả khác, nhưng không hiểu sao
liên hoan Tuồng truyền thống lần nào cũng chỉ thấy
có Sơn Hậu, Ngọn Lửa Hồng Sơn, Đào Phi Phụng, Đào
Tam Xuân loạn trào (hoặc Trảm Trịnh Ân). Đặc biệt, lần
này còn xuất hiện thêm mấy vở thuộc thể loại Tuồng
dân gian, tuồng tiểu thuyết như “Chung vô Diệm”
của Nhà hát Khánh Hoà, “Thất hiền quyến” của Nhà
hát Tuồng TƯ, “Lưu Kim Đính giải giá thành Thọ
Châu” của Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà
Nẵng) trong đó cũng có vở được phục hồi một cách
tam sao thất bản, lắp ráp có phần tuỳ tiện, nên khó
nhận diện được toàn vẹn một tác phẩm cổ xưa? Xem
tuồng truyền thống cũng giống như xem đồ cổ, xem
những báu vật xa xưa, càng cổ càng nguyên vẹn, càng
có giá trị. Người Nhật hiện nay vẫn sắp hàng mua vé
xem kịch Noh nguyên xi như cách đây bảy tám trăm
năm, còn ai muốn xem kịch Noh cải tiến thì đến rạp
Kabuki. Kabuki là từ kịch Noh phát triển lên thành
một thể loại khác nặng về hình thức cách tân. Dĩ nhiên
những nghệ sĩ Kabuki vẫn giữ được nguyên tắc và
giới hạn cách tân để đảm bảo tính dân tộc của mình.
Vì chạy theo thị hiếu tầm thường mà có người đã làm
mất đi những giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc nhất vô
nhị là nghệ thuật Tuồng. Nguyên tắc thủ pháp của
Tuồng là cách điệu, ước lệ và tượng trưng, lấy nghệ
thuật biểu diễn cách điệu mà tạo ra không gian, thời
gian và tạo ra vật thể. Tuồng truyền thống làm gì có
múa cờ đông người, làm gì có chuyện viết chữ quốc
ngữ lên lá cờ xưa và làm gì có những dải lụa dài bọc
đầu Trịnh Ân để mà diễn và làm gì có đặc tả hình
tượng Trịnh Ân như một anh hùng bất tử ? Xuất phát
từ thủ pháp nghệ thuật ước lệ, cách điệu và tượng
trưng mà các nghệ nhân tiền bối đã sáng tạo ra những
miếng diễn điển hình đặc sắc như: Kim Lân biệt mẹ,
Kim lân qua đèo, Ôn Đình chém Tá, Phạm Định Công đề
cờ,Cao Hoài Đức rọi đèn, Cao Hoài Đức bê đầu, Đào Tam
Xuân đề cờ... (tuồng Trảm Trịnh Ân) hoặc Châu Xương
chắp râu (tuồng Đào Phi Phụng)...
Ngoài đời làm gì có chuyện Quan Công bảo Châu
Xương bứt râu mình cắm vào cằm Lý Vạn Chung (tức
Đào Phi Phụng) nhưng trên sân khấu qua động tác
tỉa râu, vuốt râu, bứt râu, cắm râu của diễn viên đóng
vai Châu Xương mà khán giả chấp nhận. Vì vậy đừng
tưởng nghệ thuật tả thật là đẹp hơn, hay hơn nghệ
thuật ước lệ, cách điệu. Cách điệu, ước lệ là một thủ
pháp nghệ thuật vừa có tính cổ điển, đồng thời cũng
20 Vùn Hiïën
viïåt Nam
vừa có nội dung hiện đại. Ví dụ, đèn xanh, đèn đỏ, đèn
vàng trên các đường phố tuy là công nghệ hiện đại,
nhưng lại mang một hàm lượng thông tin chính xác
có tính biểu trưng khi phát ra tín hiệu xanh, đỏ, vàng,
mà người đang tham gia giao thông bất kỳ ai cũng
đều chấp nhận và thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Nghệ thuật cách điệu, ước lệ của tuồng đã mang giá
trị thông tin rất cao thì, cần gì phải thay thế bằng tả
thực như kịch nói và điện ảnh. Trên sân khấu hội
diễn tuồng lần này vẫn thấy những bục bệ cồng kềnh,
những phông cảnh nặng nề tốn kém, kéo ra kéo vào
liên tục nhưng hiệu ứng lại không cao bằng sân khấu
ước lệ cách điệu truyền thống. Đôi hia mũi cong chỉ có
thể xiến, bê, lỉa trên mặt bằng sân khấu, chứ khó có thể
phát huy các trình thức này trên những bục bệ eo hẹp!
Vì vậy mà các bậc thầy tuồng xưa đã đúc kết:
Thốn thổ thị triều đình châu quận
Nhất thân kiêm phụ tử quân thần
Nghĩa là: Một mảnh đất (sân khấu) lúc là triều
đình, khi là châu quận
Một con người (diễn viên) một lúc có thể hoá thân
vua, tôi, cha ,con...
Bằng tài nghệ của mình, người diễn viên tuồng có
thể diễn tả được không gian, thời gian, bối cảnh, hoàn
cảnh, đồng thời diễn tả được mọi tính cách nhân vật
bằng những động tác cách điệu ước lệ cùng với câu
hát nam: vin cây, chen lá ngại gì/ đèn nên nghĩa khí, non
ghi nghĩa tình... mà khán giả hiểu được Kim Lân đang
bế hoàng tử vượt qua đèo tìm về Sơn Hậu với sự dẫn
đường của ngọn đèn (hồn) Khương Linh Tá. Trong
sân khấu tuồng truyền thống, chủ yếu là múa cá thể,
nhưng ở liên hoan tuồng lần này, lại có nhiều điệu
múa tập thể đông người như múa cờ, múa lửa, múa ra
binh, múa chúc rượu... tuy có “xôm trò” nhưng vượt
quá giới hạn của nghệ thuật tả ý, tả thần, bản chất của
nghệ thuật tuồng truyền thống.
Ở liên hoan tuồng Truyền thống lần này có đơn
vị thì dùng trang trí mềm nhiều cảnh, nhưng cũng có
đơn vị chỉ treo một tấm decor biểu trưng tuồng xuyên
suốt từ đầu đến cuối vở. Nhìn chung chưa thấy cái
đẹp về mỹ thuật sân khấu tuồng. Có lẽ các nhà hát
(đoàn) quan tâm tới nghệ thuật biểu diễn của những
diễn viên ứng thí mà xem nhẹ khâu trang trí, phục
trang và hoá trang. Ví dụ, vai Du Thị (tuồng Thất hiền
quyến) ăn mặc gần giống Chèo, vai Phương Cơ vào
dinh Kim Hùng lại mặc áo màu mà không khoác áo
chế trắng, vai Cao Hoài Đức lại đội mão kim khôi
có cắm đôi lông trĩ, hoặc vai Hàn Tố Mai trang phục
rất giống tuồng Tàu...v.v. Nghệ thuật hoá trang ở một
số đoàn cũng có phần tuỳ tiện, không theo mô hình
truyền thống . Ví dụ, vẻ mặt Trịnh Ân đen sì và dữ
tợn, mặt Lão Tạ quá nhiều nét rằn ri, mặt Đào Tam
Xuân cũng chưa thật đúng.... Mặt nạ Tuồng là một
nghệ thuật độc đáo đã trở thành mô hình từng nhân
vật mà các thế hệ nghệ sĩ từ xa xưa đã dày công sáng
tạo và đúc kết thành hình mẫu. Cho nên việc tiếp thu,
kế thừa truyền thống phải đồng bộ từ vở diễn đến vai
diễn, từ miếng diễn, hát, múa cho đến hoá trang, phục
trang và âm nhạc. Diễn tuồng mà âm nhạc không phụ
hoạ tốt cho diễn xuất, trống chiến, trống chầu, kèn,
nhị... không phát huy đúng mức thì, không khí buổi
diễn sẽ không cao, điều đó rất dễ thấy trong vở diễn
“Đào Tam Xuân loạn trào” của Nhà hát Tuồng Đào
Tấn, mặc dù đa số diễn viên trong vở này đều hát
hay, nhưng lại thiếu trống chầu, một nhạc cụ rất phổ
biến ở sân khấu tuồng Bình Định. Trong tuồng nếu
chỉ quan tâm tới diễn mà xem nhẹ hát như vở "Sơn
Hậu" của Nhà hát Tuồng TƯ thì trống chiến, trống
chầu cũng khó mà phát huy. Cũng có ý kiến biện
minh rằng , tuồng "Sơn Hậu" chỉ có nói lối mà ít có làn
điệu để hát! xin thưa rằng, nói lối cũng là một thể hát,
vì vậy mà nghệ sĩ bậc thầy Nguyễn Nho Tuý nói rằng:
“ trong hát tuồng khó nhất là nói lối” vì nếu không vận
dụng cách hát trong nói lối thì tuồng Sơn Hậu sẽ trở
thành “tuồng kịch”, tức là nói thường là chính. Trong
“Lược khảo về tuồng hát An Nam” bà Đạm Phương
nữ sử cho hay rằng: đọc tuồng ở nội đình cũng là một
sinh hoạt thường xuyên và có tính chuyên nghiệp do một
ban chức chầu tuồng ngồi đọc, nhưng nghe có vần điệu êm
tai, người ngoài thì ít biết làn điệu hát thì không thấy được
cái hay của hát tuồng 2. Rõ ràng từ xưa người ta đã rất
quan tâm tới hát trong diễn tuồng. Ngày nay, cũng có
những diễn viên ít chú ý tới hát và nhầm lẫn nói lối
là nói thường, cho nên để cho ra tuồng thì cứ cất cao
giọng nên trở thành tuồng hét, tuồng quát, đó cũng là
một trong những nguyên nhân làm cho tuồng thưa
vắng khán giả. Các bậc thầy tuồng ngày xưa khi huấn
luyện học trò thường nêu chuẩn mực là múa cho sát
bờ, sát góc, hát nói cho tròn vành rõ chữ, ngày ngày phải
luyện thanh, luyện giọng để khi bước lên sân khấu
thì mới lôi cuốn, chinh phục người xem, mới nhận
được nhiều tiếng trống chầu và nhiều tiền thưởng.
Ngày xưa không có micro sanfin nhưng diễn viên
tuồng vẫn đưa được tiếng hát của mình tới tai khán
giả trong một rạp hát rộng lớn, vì họ hát hay với âm
lượng mạnh mẽ, thanh cao.
Tóm lại, qua đợt liên hoan tuồng truyền thống
2011, liên hệ tới liên hoan tuồng truyền thống 2008
gần đây có thể thấy khá rõ thực trạng của tuồng, lực
lượng nghệ sĩ, diễn viên trong cả nước vẫn hùng hậu,
trong đó diễn viên trẻ chiếm một tỷ lệ khá cao, và thể
hiện rõ lòng yêu nghề qua từng vai diễn thổ tận can
tràng. Đó là tín hiệu đáng mừng trong bối cảnh hội
nhập văn hoá hiện nay. Nhìn chung, đa số diễn viên
trẻ đều có thanh, có sắc, có khả năng diễn được những
vai tuồng truyền thống (vai mẫu)nhưng một số ít mới
chỉ là bản sao về mặt hình thức, còn lại chiều sâu của
nhân vật thì chưa thật rõ nét, vì thế mà cần có thời
gian tiếp tục nghiên cứu, học tập thêm những hình
mẫu nhân vật do các nghệ sĩ bậc thầy đã dày công
sáng tạo ra như Lão Tạ, Phương Cơ, Kim Hùng....
trong vở Tam Nữ Đồ Vương (hoặc Ngọn lửa Hồng
Sơn); như Kim Lân, Linh Tá, Đổng Mẫu, Phàn Định
Công.... trong tuồng Sơn Hậu, như Đào Tam Xuân,
Trịnh Ân, Cao hoài Đức, trong tuồng, Trảm Trịnh Ân
(hoặc Đào Tam Xuân loạn trào)....
Việc cải biên, phục dựng tuồng truyền thống là
cực kỳ khó khăn, khác nào chạm vào những hòn đá
tảng, đòi hỏi người thực hiện phải có một trình độ
học vấn cao để hiểu về mặt văn học cổ điển, đồng thời
phải biết nghề, giỏi nghề gần ngang tầm cỡ các bậc
thầy xưa, nếu không, sẽ dẫn tới hệ quả làm giảm sút
giá trị của những tác phẩm kinh điển. Ngày xưa Đào
Tấn muốn chữa một đoạn tuồng trong vở "Ngũ Hổ
Bình Liêu", đã làm thịt một con heo cúng thầy và xin
phép thầy mình là Nguyễn Văn Diêu rồi mới dám hạ
bút sửa mấy câu Tuồng trong lớp Địch Thanh qua ải.
Đó là một tấm gương tôn sư trọng đạo, tấm gương
ứng xử đối với những pho tuồng xưa. Qua sân khấu
liên hoan tuồng lần này, cho thấy có nhiều vở tuồng
kinh điển bị phá vỡ cấu trúc, chắp nối tuỳ tiện, như
vậy là sai với tinh thần bảo tồn và phát huy nghệ thuật
truyền thống,mặc dù thiện chí của một số đạo diễn là
muốn tạo đất cho cho diễn viên của mình dụng võ,
nhưng về nguyên tắc bảo tồn vốn cổ thì đó là phá vỡ
truyền thống, làm mai một di sản, vì nếu ai cũng cải
biên, phục dựng theo kiểu đó thì không bao lâu nữa
sẽ không còn những giá trị nguyên thuỷ, những viên
ngọc quý trong kho tàng nghệ thuật tuồng truyền
thống của cha ông
Để kết thúc bài viết này, tôi muốn nhắc lại câu nói
bất hủ của Bác Hồ với NSND Nguyễn Nho Tuý - đại
biểu Quốc hội khoá III năm 1963: “Tuồng tốt đấy!,
nhưng cần phải cải tiến, chớ dẫm chân tại chỗ, song
cũng đừng có gieo vừng ra ngô”.
2
Đạm Phương nữ sử: Lược khảo hát bội An Nam
Vùn Hiïën 21
viïåt Nam
Suốt chặng đường 60
năm xây dựng và phát
triển trên nền nghệ
thuật dân tộc, Nhà hát
ca múa nhạc Việt Nam
đã gặt hái được rất
nhiều thành cơng với
những chương trình
tiết mục đạt tới đỉnh
cao nghệ thuật. Nhà
hát được mệnh danh
là cánh chim đầu đàn
của nghệ thuật ca múa
nhạc nưóc nhà.
60 NĂM NHÀ HÁT CA MÚA NHẠC VIỆT NAM
Tỏa sáng trên nền
nghệ thuật dân
Nguyễn Thu Hiền
N
hà hát ca múa nhạc Việt Nam được thành
lập năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc với
tên gọi ban đầu là Đồn Văn cơng nhân
dân Trung ương, với sự có mặt của các
nghệ sĩ tên tuổi như: các Nhạc sĩ Nguyễn Xn Khốt,
Lưu Hữu Phước, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Văn
Thương, Mai Khanh, Trọng Bằng, Tơ Vũ, Tạ Phước, Lê
n, Nguyễn Đình Tính, Bùi Đức Hạnh…, các nghệ sĩ
múa Phùng Nhạn, Thái Ly, Chu Thúy Quỳnh,, Minh
Hiến…; Nhà viết kịch Học Phi, nhà thơ Thế Lữ…
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Đồn vừa
đi sâu vào việc sưu tầm nghiên cứu các làn điệu dân
ca, dân vũ của các dân tộc ở miền núi chiến khu Việt
Bắc, vừa phục vụ kịp thời hầu hết các chiến dịch, mặt
trận như Tây Bắc, Cao Bắc Lạng, Điện Biên Phủ…,
hầu hết các cơng binh xưởng, cơ quan, các đại hội ở
chiến khu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đồn trở
về tiếp quản Thủ đơ Hà Nội tiếp tục phát triển trong
thời kỳ mới và trải qua nhiều lần đổi tên: Đồn Ca vũ
22 Vùn Hiïën
viïåt Nam
nhân dân Trung ương, Đồn Ca múa nhân dân Trung
ương, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam (trong đó bao
gồm cả Đồn Nhạc nhẹ, năm 1979 được tách ra thành
Đồn Ca múa nhạc nhẹ Việt Nam) và Nhà hát Ca
múa nhạc Việt Nam hiện nay. Trong cơng cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, Nhà hát ln ln có mặt
ở tuyến lửa và các mặt trận, đã có nghệ sĩ hy sinh tại
chiến trường như liệt sĩ nghệ sĩ múa Phương Thảo.
Ngồi nhiệm vụ biểu diễn phục vụ sản xuất và chiến
đấu ở trong nước, Nhà hát còn biểu diễn ở nhiều nước
trên thế giới để giới thiệu đất nước và con người Việt
Nam anh hùng chiến đấu và chiến thắng, thể hiện
tinh thần “Tiếng hát át tiếng bom”. Những chuyến
lưu diễn của Nhà hát đã gây tiếng vang lớn trên thế
giới, Tốp hát nữ của Nhà hát được mệnh danh “Tốp
hát nữ tên lửa tầm xa”. Nhà hát cũng phục vụ nhiều
hội nghị quốc tế quan trọng, trong đó có Hội nghị
Pa-ri, về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ghi nhận
những thành tích đó Đảng và Nhà nước đã tặng Nhà
hát nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc
Lập (Hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Lao động
(Hạng Nhất, Nhì, Ba), một tập thể và 7 cá nhân được
Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về
văn học nghệ thuật…
Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam tỏa sáng ngay
trên nền nghệ thuật dân tộc. Chính vì đắm mình vào
hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, các nghệ
sĩ luôn gắn bó với nhân dân các dân tộc từ đó phát
hiện ra những tinh hoa của mỗi dân tộc để xây dựng
tiết mục và chương trình biểu diễn của mình. Khâu
sưu tầm, nghiên cứu và sáng tác đã đạt được những
thành tựu to lớn mang đậm đà bản sắc dân tộc. Có rất
nhiều bài hát sống mãi với thời gian: Quê hương, Xa
khơi, Câu hò bên bờ Hiền Lương, Quảng Bình quê ta
ơi, Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Tiếng đàn Ta lư, Bác
vẫn cùng chúng cháu hành quân…Có rất nhiều điệu
múa đã trở thành kinh điển khai thác từ múa dân gian
dân tộc như: Tuần đuốc, Câu chuyện bên dòng sông,
Sắc bùa, Những cô gái làng (dân tộc Việt), Mùa ban
nở, Xòe nhạc, Hương xuân (dân tộc Thái), Xòe chiêng,
Khúc dạo đàn then (dân tộc Tày), Múa chiêng, Gậy
tiền (dân tộc Dao), Khát vọng, Khúc biến tấu từ pho
tượng cổ (dân tộc Chăm), Cánh chim và ánh sáng mặt
trời (dân tộc Khmer Nam Bộ), Tiếng gọi nơi hoang dã
(dân tộc Ê đê), Múa ô, Múa Khèn của dân tộc Mông…
Điều đặc biệt là các bài hát, điệu múa đã được các
nghệ sĩ có tên tuổi tha thiết với nghệ thuật dân tộc
thể hiện cho nên đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật.
Có thể nói Nhà hát là đơn vị dẫn đầu về số lượng
người được phong tặng danh hiệu cao quý NSND,
NSƯT, GS, Nhà giáo Nhân dân: Giáo sư Nhạc sĩ Lưu
Hữu Phước, GS, NSND Nguyễn Văn Thương, Trọng
Bằng, Tô Vũ, Quang Hải, Tạ Phước, Tấn Lộc, Chu
Minh, Mai Khanh, Thái Ly. Các NSND: Quốc Hương,
Thương Huyền, Thanh Huyền, Phùng Nhạn, Chu
Thúy Quỳnh, Đỗ Tiến Định, Nguyễn Thị Hiển, Trần
Qúy, Thu Hiền, Trần Hiếu, Trung Đức, Xuân Hoạch.
Các NSƯT: Ngọc Dậu, Tân Nhân, Kiều Hưng, Thanh
Tiết mục múa Bầu trời của Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam
Đính, Bích Liên, Vũ Dậu, Minh Hiến, Mạnh Hùng,
Xuân Tứ, Cao Việt Bách, Đinh Thìn…Nhà giáo Nhân
dân Thái Thị Liên. Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm
vụ biểu diễn phục vụ nhân dân và bộ đội, nhà hát ca
múa nhạc Việt Nam còn là cái nôi đào tạo nhiều thế hệ
nghệ sĩ trở thành cánh chim đầu đàn của nghệ thuật
ca múa nhạc Việt Nam góp phần to lớn trong việc bảo
tồn và phát huy văn hóa dân tộc tỏa sáng ở trong nước
cũng như trên trường quốc tế.
Hiện nay, Nhà hát đang đứng trước những khó
khăn thử thách mới. Sự bùng nổ thông tin, mở rộng
giao lưu quốc tế nhiều sản phẩm văn hóa, công nghệ
giải trí từ bên ngoài ùa nhập vào có ảnh hưởng không
nhỏ tới đời sống ca múa nhạc nước nhà. Dòng ca múa
nhạc dân tộc gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu vắng
người xem từ đó nguồn kinh phí đầu tư trở nên hạn
hẹp, đời sống của nghệ sĩ khó khăn. Dù như thế nào
đi chăng nữa, Nhà hát vẫn không thể lùi bước vì đó
là đơn vị bảo đảm vững chắc cho nền ca múa nhạc
Việt Nam phát triển đúng hướng giữ được bản sắc
văn hóa dân tộc theo định hướng của Đảng đề ra là
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Cho nên Nhà nước cần tăng cường đầu
tư cho Nhà hát, coi đây là đơn vị trọng điểm để đầu
tư. Đến nay vẫn còn nhiều cơ chế chính sách đối với
nghệ thuật biểu diễn đã lạc hậu không sát với thực tế
nhưng vẫn chưa thay đổi được. Tất nhiên hoạt động
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi
hỏi Nhà hát và các nghệ sĩ phải năng động hơn, phải
thực hiện xã hội hóa nhiều hơn. Trong lúc này Nhà
hát cần có đủ nguồn lực về tài chính , về con người
để khai thác kho tàng nghệ thuật dân tộc có hiệu qủa
nhất để xây dựng được nhiều tiết mục đỉnh cao đậm
đà bản sắc văn hóa Việt Nam, với nhiều nghệ sĩ tài ba
chinh phục người xem trong và ngoài nước.
Nhà hát có hai đoàn nghệ thuật: Đoàn ca múa nhạc
dân tộc và Đoàn ca múa nhạc đương đại đều đang
quyết tâm thực hiện nhiệm vụ: Dàn dựng và biểu diễn
các chương trình tiết mục đặc sắc về dân gian, dân
tộc; Các chương trình ca múa nhạc Việt Nam đương
đại bảo đảm tính dân tộc, hiện đại; Các tiết mục nghệ
thuật của các nước trên thế giới phục vụ người xem
trong nước và quốc tế. Tất cả mọi sự sáng tạo đều phải
dựa trên nền nghệ thuật dân tộc, đòi hỏi mỗi nghệ sĩ
phải phát huy bản lĩnh nghệ thuật, truyền thống của
Nhà hát để vượt qua mọi tính toán tầm thường, mọi
cuộc mưu sinh mà quên mất vai trò vị trí của mình ở
một đơn vị mệnh danh là con chim đầu đàn. Chỉ thật
sự yêu nghề, thiết tha với công cuộc bảo tồn và phát
huy nghệ thuật dân tộc mới có đỉnh vinh quang mà
nhiều thế hệ nghệ sĩ đã bền bỉ rèn luyện, phấn đấu.
Vùn Hiïën 23
viïåt Nam
Nghệ sĩ giữ vững vị trí chiến sĩ
dưới sự lãnh đạo của Đảng
NSND Chu Thúy Quỳnh
H
ơn 50 năm, kể từ khi tôi
bước vào hàng ngũ những
người làm nghệ thuật cho
đến nay không bao giờ tôi
phải hỏi mình “Sáng tác và biểu diễn
nghệ thuật cho ai” bởi vì nhân dân, Tổ
quốc là đối tượng, hiện thực cách mạng
là sự gắn kết cả tâm hồn, tình cảm, cả
trái tim nghệ sĩ của tôi. Cũng như tôi,
24 Vùn Hiïën
viïåt Nam
những nghệ sĩ đã một thời cống hiến
cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng tổ quốc Việt Nam
XHCN không ai phải suy tính, băn
khoăn hoặc xác định đối tượng phục
vụ. Nghệ thuật chỉ một con đường
theo Đảng, phục vụ nhân dân, chiến
sĩ, thể hiện phẩm chất nghệ sĩ-chiến
sĩ như Bác Hồ đã từng dạy. Dưói ánh
sáng đường lối văn nghệ của Đảng, Bác Hồ nhiều
tác phẩm văn học nghệ thuật cách mạng đã đạt
tới đỉnh cao vượt thời gian sống mãi đến bây giờ.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước mở cửa, hội
nhập kinh tế thế giới hiện nay, nhiều diễn biến
trong đời sống tinh thần của con người khiến
chúng ta phải xác định chỗ đứng cho nghệ thuật,
và thái độ của người nghệ sĩ chân chính trước
hiện thực đời sống đang diễn ra nhiều chiều cảm
thụ nghệ thuật và nhận thức hiện thực của người
thưởng thức.
Trong nghệ thuật, bên cạnh chức năng giáo
dục, định hướng thẩm mỹ, giác ngộ tình cảm
thành lý trí, vun đắp hướng tới cái đẹp và nhu
cầu thưởng thức nghệ thuật, trong tình hình hiện
nay, nghệ thuật cũng phải đáp ứng nhu cầu cảm
thụ giải trí của những đối tượng khán giả có đời
sống khá giả. Nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhu
cầu giải trí diễn ra chủ yếu nơi nhà hàng, khách
sạn…; Bên cạnh đó, nghệ thuật còn phục vụ văn
hoá du lịch dành cho đối tượng khán giả nước
ngoài có nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức nền nghệ
thuật dân tộc Việt Nam. Từ những đối tượng ấy,
đội ngũ sáng tạo nghệ thuật cũng chia ra nhiều
nhánh hoặc bản thân mỗi nghệ sĩ sáng tạo cũng
có nhiều phân định để đáp ứng yêu cầu khán giả
trong mỗi tác phẩm.
Nghệ thuật múa cũng đang diễn ra như vậy.
Có các hình thức múa biểu diễn phục vụ giải trí
sinh hoạt ở nhà hàng, khách sạn, múa phục vụ
đám cưới, múa đường phố, khiêu vũ, múa lễ
hội,… Trong bối cảnh đó, để có những tác phẩm
nghệ thuật đích thực đạt tới đỉnh cao chúng ta cần
định hướng đúng và có đầu tư kinh phí thỏa đáng
cho nền nghệ thuật múa cách mạng, những tác
phẩm múa chính thống có nội dung đề tài mang
ý nghĩa giáo dục nhận thức và thẩm mỹ dân tộc.
Để có được điều đó, người nghệ sĩ phải phát huy
vai trò chiến sĩ như những năm xưa, vượt qua
khó khăn thử thách, qua những cuộc mưu sinh
để toàn tâm toàn ý dốc sức cho nghệ thuật.
Nghệ sĩ thị trường trong khách sạn, nhà hàng
đang được khuyến khích, đầu tư theo hướng
kinh doanh của tư nhân hoặc của các tập đoàn
thương mại bao giờ cũng nhiều và dễ dàng hơn
kinh phí nhà nước bỏ ra. Thực tế này đã có sức
hút và không thể phủ nhận đó là nguồn nuôi
dưỡng không ít nghệ sĩ biểu diễn hiện nay. Đơn
cử nghệ sĩ múa diễn show cho các tụ điểm kinh
doanh nghệ thuật, thu nhập gấp 7-8 lần so với
mức lương biên chế. Hệ quả là phần lớn là đội
ngũ diễn viên đã được đào tạo chính quy, cơ bản,
25 Vùn Hiïën
viïåt Nam
có trình độ chuyên môn cao, trừ số được biên chế
trong vài đoàn nghệ thuật Trung ương có sự hấp
dẫn thường xuyên của các chuyến đi biểu diễn
nước ngoài và các chương trình có quy mô lớn.
Còn hầu hết các đoàn nghệ thuật địa phương,
diễn viên “chân ngoài dài hơn chân trong”, sẵn
sàng bỏ hợp đồng biên chế nhà nước để theo vũ
đoàn kiếm sống. Múa nơi vũ trường ít cần đến kỹ
xảo, kỹ thuật. Múa trang trí khoe thân đâu cần nội
dung biểu hiện sâu sắc. Đào tạo diễn viên múa
chí ít cũng 3-4 năm tới 7 năm xong thả nổi cho thị
trường. Với hiện tượng ấy vừa hao tốn tiền của
nhà nước vừa không phát triển đúng hướng đề có
những tác phẩm đỉnh cao.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội toàn quốc
lần thứ XI của Đảng để các nghệ sĩ biểu diễn có
điều kiện giữ vững vai trò chiến sĩ trên mặt trận
tư tưởng văn hóa, chúng tôi mạnh dạn kiến nghị
bốn giải pháp:
Thứ nhất, các nhà trường, nơi đào tạo cùng
với việc đào tạo nghề cần dạy hướng nghiệp, dạy
về đạo đức diễn viên. Diễn viên nghệ thuật cần
phải thấm sâu tư cách, phẩm chất người làm nghệ
thuật. Trái tim nghệ sĩ phải tươi thắm, rung cảm
với sự nghiệp của nhân dân, đất nước. Tiến thân
vào con đường nghệ thuật phải có mục tiêu lý
tưởng cao cả và trong sáng của nghệ thuật, biết hy
sinh khổ luyện không vì những cám dỗ vật chất
tầm thường của đời sống để có được những đỉnh
cao nghệ thuật.
Thứ hai, khi tuyển diễn viên được đào tạo về
các đoàn nghệ thuật nhà nước phải có sự cam kết
thời hạn phục vụ, không thể để tình trạng người
giỏi vươn ra ngoài, người kém tài bám thắt lưng
nhà nước tránh tình trạng Nhà nước bỏ kinh phí
đào tạo xong lại để diễn viên hoạt động tự do
trong cơ chế thị trường, phục vụ cho số ít người
xem có tiền.
Thứ ba, để nâng cao đời sống của nghệ sĩ
cũng với nâng chế độ thù lao luyện tập ngoài giờ
cho hợp lý (Diễn viên múa một buổi tập ướt đẫm
mồ hôi mà chỉ được được ký nhận 15 nghìn đồng
tiền bồi dưỡng). Bên cạnh đó các danh hiệu cao
quý: Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú cũng cần
được hưởng các lợi ích vật chất tương xứng.
Bên cạnh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
thiết nghĩ, mỗi văn nghệ sĩ cũng cần xác định
đúng vị trí của mình trong bối cảnh hiện nay để
phấn đấu vươn lên quyết tâm có những tác phẩm
ngang tầm thời đại xứng đáng là chiến sĩ trên
mặt trận văn hóa tư tưởng trong tình hình mới.
Vùn Hiïën 25
viïåt Nam