A.
MỞ ĐẦU
Tiền công là một trong những yếu tố quan trọng nhất để tăng năng suất lao động vì
tiền công là mục đích chính của người lao động. Tuy nhiên, tiền công mà người lao
động được hưởng ở Việt Nam vẫn còn ở mức thấp, chưa đáp ứng được mức sống tối
thiểu của người lao động. Việc nâng cao tiền công thực tế của người lao động ở Việt
Nam là một nhiệm vụ cấp bách, cần được thực hiện triệt để. Trên cơ sở lí luận về tiền
công của C. Mác và thực trạng tiền công của người lao động ở Việt Nam, chúng ta sẽ
cũng nhau phân tích và đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng cao tiền công của
người lao động cũng chính là tạo tiền đề phát triển vững mạnh nền kinh tế.
B.
I.
NỘI DUNG
Lý luận của C. Mác về tiền công trong chủ nghĩa tư bản.
1. Hàng hóa sức lao động.
1.1.
Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.
Theo C.Mác: “ Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một
con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con ngườ phải
làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”
Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử sau đây:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức
lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất và tư liệu
sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản”, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của
mình để sống.
Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới
trở thành hàng hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triền đến một mức độ nhất định
nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá
vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự
xuất hiện của hàng hóa sức lao động làm cho sản xuất hàng hóa có tính phổ biến, đã báo
hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội-thời đại của chủ nghĩa tư bản.
1.2.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
Giá trị hàng hóa sức lao động, cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất sức lao động quyết định. Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực
sống của con người. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng
một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, học nghề v..v.. Ngoài ra người lao
động còn phải thỏa mãn những nhu cầu về gia đình và con cái anh ta nữa. Chỉ có như
vậy, thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ra một các liên tục.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động. Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị
mà còn có giá trị sử dụng như bất kì hàng hóa thông thường nào. Giá trị sử dụng của
hàng hóa sức lao động, cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là
quá trình lao động của người công nhân. Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng
hóa sức lao động khác với tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông
thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều
tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó lại là
quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị
mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị
lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn công thức chung
của tư bản. Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở
thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
2. Tiền công trong chủ nghĩa tư bản.
2.1. Bản chất kinh tế của tiền công:
Biều hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một
thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào
đó thì nhà tư bản phải trả cho công nhân một số tiền nhất định gọi là tiền công. Hiện
tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động. Sự thật thì
tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động không phải là hàng
hóa. Sở dĩ như vậy là vì:
- Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình
thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản
xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do
mình sản xuất ra chứ không pahir bán “ lao động”.
- Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận
sau đây:
Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản
không thu được lợi nhuận ( giá trị thặng dư); điểu này phủ nhận sự tồn tại của quy luật
giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang giá để có giá trị
thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
- Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cùng phải có giá trị. Nhưng lao động là
thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao độngt hì không có giá trị. Vì
thế lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính
là sức lao động. Do đó tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân chính là giá cả
của sức lao động.
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền
của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài
thành giá cả của sức lao động.
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động hành thời gian lao
động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động
không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
a. Hai hình thức trả công.
Tiền công tính theo thời gian, là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít nhiều tùy
theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.
Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công tháng. Tiền
công ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó là cao hay thấp, vì nó
còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó, muốn đánh giá chính xác mức tiền công
không chỉ căn cứ vào tiền công ngày, mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và
cường độ lao động. Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công
tính theo thời gian.
Tiền công tính theo sản phẩm, là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc
vào số lượng sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn
thành.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công được xác
định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số
lượng trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn
giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền
công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời gian.
b. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động
của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền
công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và
dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên có thể tăng lên hay giảm xuống
tùy theo sự biến đổi của cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường. Trong một
thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng
và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên.
Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến
đổi giá trị của sức lao động. Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố
tác động ngược chiều nhau. Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như: sự nâng
cao trình độ chuyên môn của người lao động, sự tăng cường độ lao động và sự tăng lên
của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội. Các nhân tố tác động làm giảm giá trị sức
lao động, đó là sự tăng năng suất lao động làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ đi. Sự tác
động qua lại của các nhân tố đó dẫn tới quá trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao
động, do đó dẫn đến sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế.
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa
không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy. Bởi lẽ
trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng
lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp mức tăng của giá cả tư liệu tiêu
dùng và dịch vụ; đồng thời thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên khiến cho cung về lao
động làm thuê vượt quá cầu về lao động, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động
dưới giá trị của nó, vì vậy tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp.
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra theo một xu hướng, vì có
những nhân tố chống lại sự hạ thấp của tiền công. Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giap
cấp công nhân đòi tăng tiền công. Mặc khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày
nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ nên nhu cầu về sức lao
động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao
động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một nhân tố
cản trở xu hướng hạ thấp tiền công.
II.
Khảo sát thông tin về tiền công của người lao động ở Việt Nam những năm
gần đây.
1. Thực trạng về tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế của người lao
động ở Việt Nam hiện nay.
Theo điều 91 Bộ Luật Lao động 2012 (Luật số: 10/2012/QH13, có hiệu lực từ
1.5.2013), theo đó, 'Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm
công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu
sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ'. Điều này đồng nghĩa, mức tiền công
danh nghĩa các doanh nghiệp chi trả cho người lao động không thấp hơn mức lương tối
thiểu vì là tiền lương danh nghĩa phải đủ sức để chuyển hóa thành tiền công thực tế mới
có thể đáp ứng để người lao động tái sản xuất sức lao động.
Theo quy định của Nghị định số 103/2014/NĐ-CP, mức tiền công tối thiểu theo vùng
cho lao động làm các công việc giản đơn nhất từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 trở đi như sau:
3.100.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I;
2.750.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng
II; 2.400.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc
vùng III; và 2.150.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn
thuộc vùng IV. Nghị định mới cũng tiếp tục quy định mức tiền công tối thiểu của người
lao động đã qua đào tạo phải cao hơn mức tiền công tối thiểu vùng ít nhất là 7%. Mức
tiền công đối với người lao động làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm phải cao hơn mức tiền công tối thiểu vùng ít nhất là 5% (7% đối với điều kiện
lao động đặc biệt nguy hiểm).
Trong những năm qua, kể từ khi nhà nước có những quy định cụ thể về mức lương tối
thiểu theo vùng cho người lao động, công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta đạt được
nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, với mức lương này theo các nghiên cứu thì chỉ
mới đáp ứng được 75% mức sống tối thiểu. Khi tiền lương không đủ trang trải cuộc
sống, sức khỏe không bảo đảm, công nhân khó hoàn thành định mức công việc trong 8h
quy định. Về lâu dài, sẽ tạo ra lớp người nghèo mới ảnh hưởng nghiêm trọng đến an sinh
xã hội.
Sau đây là ví dụ về Tổng công ty hàng không Việt Nam VietNam Airlines- công ty
được đánh giá là một trong những công ty có mức tiền công cao.
Vietnam Airlines vừa công bố bản báo cáo tài chính 5 năm trước khi chuẩn bị IPO vào
ngày 14/11 tới. Dù đã giảm so với thời kỳ đỉnh cao năm 2011, mức lương phi công của
Vietnam Airlines vẫn cao hơn nhiều so với mặt bằng chung. Hiện nay, trung bình mỗi phi
công của hãng nhận gần 75 triệu đồng mỗi tháng. Tính đến cuối năm 2014, dự kiến hãng
có 734 phi công, trong đó 535 người Việt. Đội ngũ tiếp viên của Vietnam Airlines hiện
nhận lương trung bình 18,7 triệu đồng một tháng, cao gấp đôi so với cách đây 5 năm.
Nếu không tính hai nhóm đặc thù nêu trên, những lao động còn lại của Vietnam Airlines
nhận mức lương 10,3 triệu đồng trong năm 2013. Sau 5 năm, lương của người lao động
(không kể phi công và tiếp viên) không thay đổi nhiều. Tiền công của người lao động ở
công ty này được tính theo một công thức chung là:
Tổng lương = Gía trị sức lao động + Các khoản phụ cấp + Lương thưởng.
Tiền lương nhận được = Tổng tiền lương – Sinh hoạt phí – Thuế - Bảo hiểm.
Ta có thể nhận thấy, tiền công danh nghĩa được chi trả phải dựa trên mức tiền công tối
thiểu thì mới có thể đáp ứng được tiền công thực tế. Khi họ sử dụng tiền công danh nghĩa
của mình để chi tiêu các khoản phí trên thì nó đã là tiền công thực tế. Như vậy, mức tiền
công thực tế của họ là khác nhau tùy thuộc vào tiền công danh nghĩa.
Tiền công theo khu vực kinh tế.
Theo báo cáo mới công bố về tiền công và thu nhập năm 2015 của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), tiền công của khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn
dẫn đầu, cao hơn khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Kết quả điều tra tiền công tại 2.000 doanh nghiệp do Bộ LĐTBXH thực hiện tại ba
loại hình doanh nghiệp gồm 100% vốn doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân cho thấy, tiền công và thu nhập năm 2015
của cả 3 khối tăng khá so với năm 2014.
Theo đó, tiền công tháng bình quân năm 2015 ước đạt 5,53 triệu đồng/người, tăng
khoảng 8% so với năm 2014, trong đó doanh nghiệp nhà nước dẫn đầu với mức tiền công
trả cho người lao động là 7,04 triệu đồng/tháng, tăng 8% so với năm 2014. Tiếp đến là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5,47 triệu đồng/tháng, tăng 9% so với năm
2014, và cuối cùng là doanh nghiệp tư nhân đạt 4,99 triệu đồng/tháng, tăng 6% so với
năm 2014.
Xét theo tổng thu nhập năm 2015, Bộ LĐTBXH ước tính mức bình quân của lao
động đạt thu nhập 5,91 triệu đồng/người/tháng , tăng khoảng 7% so với năm 2014, trong
đó doanh nghiệp Nhà nước vẫn dẫn đầu về mức chi trả thu nhập cho người lao động, đạt
7,59 triệu đồng/tháng, tăng 7% so với năm 2014. Tiếp đến là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân, lần lượt đạt 5,89 triệu đồng/tháng (tăng 9%) và
5,33 triệu đồng/tháng (tăng 6%).
Sau nhiều năm đổi mơi chính sách tiền công cho người lao động, thì mức tiền công
hiện nay đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, đây lại là
vấn đề mà mọi người đặt ra, với mức tiền công như vậy nhưng tại sao ở khu vực Nhà
nước, nhiều người lao động vẫn than đang sống với mức lương chết đói.
Từ những phân tích trên cho thấy,khoảng cách giữa tiền công danh nghĩa và tiền công
thực tế còn khá là xa, tuy một số khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có chút
khởi sắc hơn nhưng phần chung vẫn chưa thực hiện đúng quy định của nhà nước đặt ra
về mức lương tối thiểu và chưa phục vụ đủ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người lao
động.
2. Hạn chế của thực trạng trên.
Nhà nước ta đã thực hiện rất nhiều chính sách tăng lương từ năm 1993 cho đến nay để
xóa bỏ tình trạng bao cấp, sắp xếp lại hệ thống lương trong cả nước. Các chính sách này
có rất ưu điểm so với hệ thống tiền công của thời kì quan liêu bao cấp tuy nhiên vẫn có
những hạn chế nhất định như sau:
• Thứ nhất, tiền công danh nghĩa của người lao động thấp hơn tiền công thực tế.
Hiện nay, tiền công trả cho người lao động không đủ chi trả một phần chứ không
nói là hoàn toàn phí sinh hoạt của họ. Theo 1 khảo sát nhỏ của new zing người lao
động cho biết, cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn. Có 19,9% người lao động
được hỏi trả lời thu nhập không đủ sống; 31,3% phải chi tiêu tằn tiện và rất tiết
kiệm; 40,7% vừa đủ trang trải cho cuộc sống; chỉ có 8% là có dư và có tích luỹ.
• Thứ hai, mức lương hiện nay còn chưa khuyến khích người lao động tăng năng
suất sản xuất. Hiện nay, vẫn còn tình trạng lương cao dần theo thâm niên làm việc,
không có chính sách lên lương vượt cấp, trước niên hạn, công nhân phải thi nâng
bậc để được tăng lương. Mô hình chung đã làm người lao động trở nên phụ thuộc,
không thể tăng năng suất cho công ty. Nhiều công ty trả tiền công cho người lao
động của mình theo giờ 15.000/giờ khiến cho công nhân không làm hết năng lực
của mình, vì công ty không quy định tặng doanh thu theo sản phẩm nên người lao
động không cần làm nhiều, vì làm nhiều hay ít thì mức lương của họ vẫn như thế.
•
Thứ ba, tồn tại tình trạng bất hợp lí, không công bằng về tiền công. Mức tiền công
còn phụ thuộc vào ngành nghề, khu vực mà người lao động sống. Ngoài ra khoảng
cách giữa các bậc lương quá ngắn, phấn đấu 2 năm mới lên được 18,9 nghìn đồng
(bậc cán sự) cùng với thời gian lên bậc quá dài.
Có thể nói rằng, cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ công chức viên chức từ
năm 2003 đến nay chưa thành công và vẫn không thoát ra được vòng luẩn quẩn: Đó là
chính sách tiền lương thấp không đủ sống, nhưng thu nhập ngoài lương lại rất cao, mỗi
lần tăng lương tối thiểu làm cho gánh nặng của ngân sách nhà nước càng tăng. Chính
sách tiền lương dù đã “cải cách” vẫn chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng
lương phát huy tài năng và cống hiến. Tiền lương thấp không kích thích được cán bộ
công chức viên chức gắn bó với Nhà nước, không thu hút được nhân tài; ngược lại, người
làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước,
nơi có tiền lương và thu nhập cao, có xu hướng tăng. Mặt khác, lương thấp cũng là
nguyên nhân quan trọng của tiêu cực, tham nhũng.
III.
Nguyên nhân của thực trạng trên.
• Thứ nhất, do sức ép về việc làm đối với người lao động Việt Nam. Trong 6 tháng
đầu năm 2015, tính trung bình cả nước, tỉ lệ thất nghiệp là 2,31%, tỉ lệ thiếu việc
làm là 2,5%. Ở khu vực thành thị tỉ lệ thất nghiệp là 3,29%, ở nông thôn là 1,83%,
tỉ lệ thiếu việc làm ở thành thị là 1,29%, ở nông thôn là 3,11%. Từ những số liệu
cụ thể này có thể thấy cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao động, người
lao động phải cạnh tranh nhau gay gắt để có cơ hội việc làm, chính điều đó tạo
điều kiện thuận lợi cho nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó, và người
lao động buộc phải chấp nhận vì cơ may việc làm. Do đó, tiền công thực tế của
giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp.
• Thứ hai, do Chính sách Thuế của Nhà nước chưa phù hợp.
Nếu nhìn từ góc độ kinh tế học, về thống kê tổng thể Việt Nam là một trong
những nước mà Chính phủ, Trung ương có nguồn thu từ người dân tính trên tổng
thu nhập của xã hội rất là cao, có thể nói là cao nhất so với các nước mức thu nhập
và cùng trình độ phát triển.
Các loại thuế: Thuế quốc gia và thuế địa phương, thuế trực thu và thuế gián thu,
thuế nội địa và thuế quan, thuế định ngạch và thuế định lệ, thuế thông thường và
thuế đặc biệt; từ đó lại phân ra thuế thu nhập, thuế cổ tức, thuế chuyển nhượng,
thuế môn bài, thuế VAT, thuế tiêu thụ, thuế lạm phát,…ngoài ra còn các khoản
thuế phụ thu. Các loại thuế chồng chất lên nhau, cùng đổ vào đầu người lao động.
Ví dụ: “Bên cạnh các loại thuế cơ bản như thuế thu nhập doanh nghiệp, xuất
nhập khẩu, môn bài, GTGT, tiêu thụ đặc biệt, lệ phí trước bạ (trường hợp doanh
nghiệp bán tài sản)…, nhiều khoản thuế đang bị đánh chồng chéo, thuế trùng thuế.
Chẳng hạn, DN đã thực hiện các nghĩa vụ thuế kể trên và người lao động cũng đã
•
IV.
đóng thuế thu nhập cá nhân nhưng đến khi nhận cổ tức (Là cách doanh nghiệp
phân phối lại lợi nhuận sau khi huy động được vốn đầu tư từ cổ đông, bởi chúng
đánh giá mức độ hấp dẫn khi đầu tư vào cổ phiếu) bằng tiền mặt, cổ đông lại tiếp
tục đóng thuế thu nhập cá nhân. Như vậy là thuế chồng thuế.
Thứ ba, do giá cả hàng tiêu dùng lạm phát. Lạm phát là hiện tượng kinh tế - xã
hội, theo đó mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ không ngừng tăng lên. Lạm
phát cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến những người có thu nhập không tăng kịp mức
tăng của giá cả nghĩa là tiền công thực tế của người lao động bị giảm.
Một số giải pháp nâng cao tiền công thực tế của người lao động ở Việt Nam
hiện nay.
Thứ nhất, tăng tiền công danh nghĩa. Đây là một trong các biện pháp quan trọng
nhất trong việc tăng tiền công thực tế của người công nhân. Sở dĩ là do tiền công
danh nghĩa là căn cứ để người lao động mua số lượng hàng hóa và dịch vụ để phục
vụ cho nhu cầu cuộc sống thường ngày của mình. Mặc dù tiền công danh nghĩa
không phản ánh đúng mức sống của người lao động, vì với số lượng tiền công
danh nghĩa đó, ngoài việc mua tư liệu sinh hoạt, người lao động còn phải bù vào
các khoản thuế, bảo hiểm và nhiều khoản khác theo quy định. Tuy nhiên, muốn
tăng tiền công thực tế, phải tăng tiền công danh nghĩa, điều này là đương nhiên và
được chứng minh rất rõ bởi nếu không tăng tiền công danh nghĩa nhiều bất lợi sẽ
xảy đến với người lao động trong một nền kinh tế với giá cả ngày càng leo thang,
số lượng tiền công thực tế lại tỉ lệ nghịch với điều này, nó càng ngày càng giảm
xuống. Điều ấy tương ứng với việc, số lượng tư liệu sinh hoạt trong dó có các loại
hàng hóa và dịch vụ mua được ngày càng ít, không đáp ứng được nhu cầu cuộc
sống, đương nhiên, chất lượng cuộc sống giảm xuống.
Thứ hai, về phía nhà nước cần có những chính sách thuế phù hợp với thu nhập của
bình quân của người lao động. Điều này đem lại lợi ích trên thực tế cho người lao
động, mức giá thuế hợp lí với bình quân thu nhập của họ, không tạo ra nhiều thứ
thuế vô lí và không phù hợp với người lao động là những biện pháp thiết thực giúp
đảm bảo cho người công nhân có thể sử dụng hợp lí số tiền công thực tế của mình.
Thấy rõ ở việc người lao động không còn phải đóng những thứ thế vô lí, những
loại thuế vượt quá thu nhập của bản thân, từ đó số hàng hóa, tư liệu sinh hoạt dùng
cho cuộc sống hằng ngày sẽ tăng lên tương ứng với việc lượng tiền công thực tế
của người lao động sẽ đáp ứng đầy đủ hơn cho nhu cầu cuộc sống của họ. Hiện
nay nhà nước ta đã có từng mức thuế rõ ràng với thu nhâp người dân và cũng đưa
ra những đối tượng miễn giảm thuế. Đó là đối tượng nộp thuế bị thiên tai, tai nạn
làm thiệt hại đến tài sản và đời sống thì có mức xét miễn giảm, giảm thuế tương
ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thế phải nộp.
Thứ ba, điều hòa cung - cầu. Cung - cầu cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp
đến tiền lương thực tế của người công nhân.Có nhiều giả thuyết được đặt ra để
chứng minh cho giải pháp này:
Thứ nhất, nếu cung lớn hơn cầu, tức người sản xuất hàng hóa sẽ sản xuất ra
nhiều hàng hóa so với nhu cầu của thị trường, số lượng hàng hóa nhiều dẫn đến
tiêu thụ khó khăn, giá cả sẽ giảm xuống, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho
người lao động khi mua tư liệu sinh hoạt phục vụ cho cuộc sống. Tuy nhiên, vấn
đề không đơn giản như vậy, khi cung lớn hơn cầu, đồng nghĩa với việc hàng hóa
của nhà sản xuất bị tồn đọng, khó tiêu thụ,nhà sản xuất khó xuay vòng vốn nhanh,
vấn đề tái sản xuất gặp khó khăn. Trong giai đoạn khó khăn như thế, nhà sản xuất
đương nhiên sẽ cắt giảm tiền công của người lao động, dẫn đến việc không ổn
định trong thu nhập, gây khó khăn cho người lao động.
Thứ hai, nếu cung thấp hơn cầu, điều này đã quá rõ ràng. Hàng hóa sẽ thiếu hụt
so với thị yếu của xã hội, đương nhiên nhà sản xuất sẽ đẩy mạnh giá cả hòng
chiếm lợi nhuận cao hơn nhưng việc này không đồng nghĩa sẽ tăng tiền công cho
người lao động. Chính vì thế, như đã phân tích ở trên, người công nhân cũng sẽ
gặp khó khăn trong chi tiêu cho sinh hoạt bởi giá cả leo thang mà tiền công thực tế
tụt giảm.
Điều hòa cung cầu để ổn định giá thị trường là một biến pháp hiệu qủa để giải
quyết vấn đề này. Nếu như cung bằng cầu, điều này tức là giá cả luôn ở mức hợp
lí, người lao động có thể dễ dàng chấp nhận trong việc sử dụng tiền công thực tế
để mua hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu hằng ngày và người sản xuất có
thể tái sản xuất.
Thứ tư, chống lạm phát. Chống lạm phát để giữ cho mức giá cả ổn định để tiền
công danh nghĩa vẫn có thể mua được nhiều hàng hóa tiêu dùng là một biện pháp
hiệu quả. Bởi lẽ, vấn đề lạm phát đang xảy ra khá phổ biến hiện nay, lạm phát xuất
hiện kéo theo giá của tư liệu sinh hoạt sẽ đồng loạt tăng lên. Trong khi đó, tiền
công danh nghĩa không thể ngày một ngày hai điều chỉnh để phù hợp với việc tăng
giá như vậy được, điều này dẫn đến tiền công thực tế giảm xuống, người lao động
không mua được tư liệu sản xuất, không đảm bảo được cuộc sống của mình, việc
tái sản xuất sức lao động khó đảm bảo. Vì thế, chống lạm phát là một biện pháp
khá phổ biến và đang được áp dụng rộng rãi với nhiều loại mặt hàng hiện nay.
Thứ năm, tăng năng suất lao động. Biện pháp này đặc biệt hiệu quả khi được áp
dụng đối với các nhà sản xuất trả lương theo hình thức trả lương theo sản phẩm.
Bởi lẽ, điều này sẽ tạo điều kiện cho lao động làm được ra nhiều sản phẩm hơn
trong một thời gian lao động không đổi, từ đó ảnh hưởng đến mức lương cho nhân
công. Một trong những biện pháp tăng năng suất lao động hiệu quả đó là cải tiến
khoa học kỹ thuật. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội, đòi hỏi ngày càng phải nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ
văn hóa,...thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Khoa học xã hội càng
phát triển thì càng tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng của người dân, rút ngắn được thời gian lao động của người lao
động. Đồng thời các doanh nghiệp cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn, tiền công
thực tế của người lao động cũng được tăng lên.
Thứ sáu, quan tâm đào tạo chất lượng người lao động. Hiện nay, số lượng lao động
đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kĩ thuật lành nghề của nước ta chỉ chiếm
trên 20%, số còn lại là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo. Điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng lao động của nước ta, dẫn đến mức lương họ nhận được
chưa đủ để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của họ.Có thể dễ dàng nhận thấy, nhiều vị
trí chủ chốt trong các doanh nghiệp hiện nay đều do người nước ngoài đảm nhiệm
dẫn đến thực trạng người lao động của chúng ta làm công trên chính đất nước của
mình. Một khi tiền công thực tế của họ không đủ để mua tư liệu sinh hoạt và tái
sản xuất sức lao động. Giải pháp này được đề ra để giúp cho trình độ người lao
động được tăng lên, từ đó, mức lương của họ cũng được tăng lên, tiền công thực tế
tăng lên, cuộc sống cũng như sinh hoạt của người lao động trên cơ sở của tiền
công thực tế cũng được đảm bảo tốt hơn.
Thứ bảy, Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng, vạch ra quy định, những nguyên tắc
chung nhất về thang lương, bảng lương cho các doanh nghiệp vận dụng. Theo đó,
doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp
phù hợp với quy mô, tổ chức sản suất và lao động, tự lựa chọn mức lương tối thiểu
do Nhà nước quy định, hình thành các phương pháp trả lương và thu thập gắn với
năng suất, chất lượng, hiệu quả sản suất kinh doanh.
C.
KẾT LUẬN
Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sách tiền
công để phù hợp với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập. Dù đạt được những thành công nhất định, song vẫn còn rất nhiều hạn chế,
nhất là cơ chế tạo nguồn chưa được tháo gỡ dẫn đến việc cải cách tiền công bị rơi vào
vòng luẩn quẩn.
Trên đây là toàn bộ ý kiến của nhóm em về đề tài. Do trình độ am hiểu cũng như lượng
kiến thức có hạn của bản thân cho nên trong bài làm sẽ còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Em
kính mong sẽ nhận được những ý kiến phê bình và nhận xét của các thầy cô. Em xin
chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn đã ân cần giảng dạy trong các tiết học,
cũng như giờ tư vấn để giúp em hoàn thành bài tập này.
MỤC LỤC:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Leenin _ Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia.
2. Hệ thống tiền lương và tiền công _ Nhà xuất bản trẻ.
3. Internet.