Tải bản đầy đủ (.doc) (126 trang)

TUYÊN TRUYỀN về văn hóa LÀNG TRÊN KÊNH VTC16 Luận văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (525.66 KB, 126 trang )

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Học
viện Báo chí và Tuyên truyền đã giảng dạy và giúp đỡ tôi có được những kiến
thức bổ ích về lý luận và chuyên ngành trong suốt 4 năm học vừa qua.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên tôi!
Xin cảm ơn các anh, chị phóng viên phòng Văn hóa – Xã hội, kênh
VTC16 đã cung cấp thông tin và tài liệu giúp tôi hoàn thành khóa luận.
Và đặc biệt, tôi xin gửi những lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sỹ
Đinh Thị Xuân Hòa – giảng viên khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn tôi
thực hiện khóa luận này.
Do thời gian có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo sư Sử học Việt Nam đương đại Trần Quốc Vượng cho rằng“Văn
hóa Việt Nam cổ truyền, về bản chất là một nền văn hóa xóm làng” [31, tr. 77].
Hiểu một cách nôm na, Việt Nam là một cái làng lớn bao gồm trong đó rất
nhiều cái làng nhỏ. Với đặc trưng là nền văn minh lúa nước, với hơn 80% dân
số làm nông nghiệp, văn hóa làng là một bộ phận vô cùng quan trọng trong
văn hóa Việt Nam. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc sẽ là thiếu sót vô cùng lớn
nếu bỏ qua việc giữ gìn bản sắc văn hóa làng.
Trong xu thế hội nhập, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của người
dân không ngừng được nâng cao. Các sản phẩm văn hóa “ngoại” du nhập vào
nước ta với tốc độ nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử dân tộc.
Người dân Việt Nam đang ngày càng tiệm tiến dần đến với văn minh nhân
loại. Nông thôn đang từng bước được công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời


sống của người nông dân Việt Nam đã có sự thay da đổi thịt. Khoảng cách
giữa nông thôn và thành thị đã có những nét khác xưa.
Tuy nhiên, đi cùng với những yếu tố tích cực đó, những nét văn hóa
làng cũng đang dần bị mai một đi cùng với quá trình hội nhập, phát triển kinh
tế thị trường. Hình ảnh quen thuộc đã trở thành biểu tượng của làng quê với
cây đa, bến nước, sân đình, những người mẹ, người chị cùng mái tóc dài
quyện hương bồ kết nay đã dần xa vắng. Nhà ngói cũng vơi dần, thay vào đó
là bê tông, cốt thép với đủ mọi hình dáng sao cho phô bày cái giàu có nhiều
nhất của chủ nhân ngôi nhà. Các phong tục, tập quán, các làng nghề cũng
đang nằm trong nguy cơ mai một đáng báo động. Những đứa trẻ thôn quê
quên đi những trò chơi dân gian truyền thống… Ở không ít nơi, tệ nạn xã hội
đã len lỏi vào tận lũy tre làng.
Thực tế suốt hơn mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước đã cho thấy,
dải đất hình chữ S không bị nô dịch bởi bất kỳ một thế lực tàn bạo nào là do
2


giữ được "văn hóa làng". Bản sắc văn hóa làng đã được hun đúc thành sức
mạnh nội lực để đưa nhân dân ta vượt qua biết bao thiên tai, giặc ngoại xâm,
vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Chính vì vậy mà một vấn đề được
đặt ra là cần phải gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa làng
nói riêng, dù công nghiệp hóa, hiên đại hóa có đưa nông thôn Việt Nam phát
triển giàu mạnh tới đâu.
Nhận thức được tầm quan trọng ấy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định: “Văn hóa là một mặt
trận; xây dựng, phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi
hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng” [19].
Trong công việc chung đòi hỏi nhiều nỗ lực ấy, báo chí nói chung và
truyền hình nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Báo chí với chức
năng thông tin, định hướng dư luận xã hội đã giúp công chúng, đặc biệt là các

cơ quan chính quyền cũng như người nông dân nhận thức về việc cần thiết
phải giữ gìn các nét văn hóa làng quê trong cuộc sống hàng ngày của họ. Từ
đó tác động vào chính những hành động, việc làm, đẩy mạnh sâu rộng việc
giữ gìn bản sắc làng quê ở từng địa phương.
Tháng 4/2010, kênh VTC16 - kênh truyền hình Nông nghiệp - Nông
thôn chính thức ra đời. Đây là kênh chuyên biệt cho người nông dân với các
vấn đề về thời sự, chính luận về nông nghiệp, nông thôn, đào tạo nông dân,
văn hóa giải trí ở nông thôn. Cùng với việc cung cấp các thông tin, các kỹ
thuật trong nông nghiệp, các chương trình trên kênh VTC16 như “Chuyện
trong xóm ngoài làng”, “Nhất nghệ tinh”, “Giữ gìn các làn điệu dân ca”,
“Tre xanh”, … đã giúp cho khán giả tiếp cận gần hơn với văn hóa làng quê.
Đến năm 2012, kênh VTC16 mới được hơn 2 năm tuổi nhưng đã giữ
một vị trí thân thuộc với nhiều người nông dân. Thông qua những chương
trình của kênh, người nông dân có thể hiểu thêm, hiểu sâu hơn về nơi mình đã
sinh ra và lớn lên với những nét đặc trưng về văn hóa. Từ đó nâng cao được
nhận thức của mình trong việc gìn giữ các nét văn hóa làng quê.
3


Tuy nhiên, cũng vì thời gian tồn tại của kênh còn ngắn cho nên cũng
còn không ít những chương trình nội dung, hình thức tuyên truyền về văn hóa
làng chưa như mong muốn. Việc chỉ ra thực trạng phát triển, những thành
công và hạn chế, từ đó nhận thức rõ ràng để có các giải pháp đổi mới cụ thể
góp phần để kênh truyền hình non trẻ này ngày càng chững chạc, nội dung
phong phú, thiết thực hơn đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, người viết đã chọn “Tuyên truyền về
văn hóa làng trên kênh VTC16" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu về đề tài
tuyên truyền về văn hóa làng trên truyền hình. Tuy nhiên, có một số công

trình ít nhiều liên quan đến đề tài này và có thể chia thành 2 nhóm như sau:
Nhóm 1: Là những đề tài nghiên cứu công việc tuyên truyền về nông
nghiệp nông thôn trên truyền hình. Nổi bật là các công trình sau:
- “Tuyên truyền về tam nông trên sóng truyền hình các đài phát thanh
truyền hình khu vực đồng bằng sông Cửu Long”, Ngô Thị Ngọc Hạnh (2007),
Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Tác giả luận văn đã khảo sát thực trạng tuyên truyền về nông nghiệp
nông dân, nông thôn trên sóng các đài phát thanh truyền hình Đồng Tháp,
Vĩnh Long và An Giang thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, qua đó
đưa ra những giải pháp chung cũng như cụ thể cho từng đài để nâng cao chất
lượng tuyên truyền về tam nông.
- “Vấn đề nông nghiệp nông thôn trên sóng đài THVN”, Đinh Quang
Hạnh (2005), Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
Qua việc khảo sát thực trạng tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn
trên sóng Đài truyền hình Việt Nam về nội dung cũng như hình thức tuyên
truyền, tác giả đưa ra những giải pháp để tuyên truyền về mảng đề tài này,
4


nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn.
Như vậy, những đề tài nghiên cứu này có nội dung khảo sát khá rộng.
Đó là vấn đề “tam nông” hay ngắn gọn hơn là “nông nghiệp, nông thôn”.
Trong đó, đời sống nông nghiệp, nông thôn và nông dân được nhìn nhận một
cách toàn diện và bao quát trên tất cả các bình diện về kinh tế, văn hóa, xã
hội. Như vậy việc khảo sát thực trạng tuyên truyền của các đề tài thuộc nhóm
1 không chỉ về văn hóa làng mà còn khảo sát thực trạng tuyên truyền về các
vấn đề kinh tế, xã hội ở nông thôn trên truyền hình. Do nội dung khảo sát
rộng nên việc khảo sát về thực trạng tuyên truyền về văn hóa làng trên truyền

hình không được sâu.
Nhóm 2: Là những đề tài nghiên cứu công việc tuyên truyền về văn hóa
trên truyền hình. Nổi bật là các công trình sau:
- “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương trình
âm nhạc trên sóng VTV3”, Tạ Vĩnh Thái (2008), Khóa luận tốt nghiệp đại
học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Khóa luận đã khảo sát thực trạng tuyên truyền về bản sắc văn hóa
dân tộc trong các chương trình âm nhạc trên sóng VTV3, trên cơ sở đó,
tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm, những giải pháp nhằm nâng
cao bản sắc văn hóa dân tộc trong âm nhạc trên sóng VTV3 nói riêng và
trên truyền hình nói chung.
- “Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng
truyền hình của đài phát thanh và truyền hình tỉnh Hòa Bình”, Đỗ Thanh
Phúc (2005), Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
Qua việc tìm hiểu về đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa của tỉnh Hòa
Bình với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, tác nêu ra những thực trạng về vấn đề
bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình của đài
5


phát thanh và truyền hình tỉnh Hòa Bình. Từ đó, khóa luận đã tổng kết và
đưa ra những giải pháp, đề xuất để nâng cao hiệu quả tuyên truyền nhằm bảo
tồn bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trên sóng đài phát thanh truyền hình
tỉnh Hòa Bình.
Mặc dù nhóm đề tài này đã đi vào khảo sát về lĩnh vực văn hóa. Tuy
nhiên, đối tượng khảo sát về văn hóa khá rộng. Văn hóa bao trùm trong đó có
cả văn hóa làng nên những đề tài kể trên chưa có điểu kiện đi sâu vào phân
tích được thực trạng và những giải pháp để việc tuyên truyền về văn hóa làng
một cách cụ thể và sâu sắc.

Đây chính là khoảng trống. Vậy nên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tuyên
truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, với
mong muốn lấp đầy khoảng trống đó.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, có rất nhiều chương trình tuyên truyền về nông nghiệp, nông
thôn trên kênh VTC16. Tuy nhiên, tuyên truyền một cách sâu sắc và cụ thể
nhất về văn hóa làng chỉ có 6 chương trình: “Chuyện trong xóm ngoài làng”,
“Chuyện của làng”, “Gìn giữ các làn điệu dân ca”, “Nhất nghệ tinh”, “Lá
lành đùm lá rách”, “Tre xanh”. Để có một cái nhìn tổng thể và toàn diện về
hoạt động tuyên truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16, chúng tôi lựa chọn
6 chương trình này làm đối tượng nghiên cứu.
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tập trung khảo sát 6 chương trình kể
trên, phát sóng từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2012.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, khóa luận làm rõ
thực trạng hoạt động tuyên truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16, chỉ ra
thành công và hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý, góp phần nâng
cao chất lượng, hiệu quả các chương trình trong thời gian tới.
6


4.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đề ra, cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Đây là công việc
đầu tiên và rất quan trọng, tạo cơ sở tiền đề cho việc khảo sát và nghiên cứu
các phần tiếp theo của đề tài.
Thứ hai, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích các chương trình đã
phát sóng, từ đó làm rõ thực trạng thành công, hạn chế, hiệu quả của hoạt
động tuyên truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16, Đài truyền hình kỹ thuật

số VTC hiện nay.
Thứ ba, từ những lý luận cơ bản, kết hợp với thực tiễn hoạt động tuyên
truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16, khóa luận đề xuất các giải pháp
nhằm giải quyết hợp lý, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng các chương
trình tuyên truyền về văn hóa làng trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khóa luận này được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, xã hội học, tâm lý học báo chí, … và các môn khoa học khác.
Quá trình nghiên cứu đề tài bám sát vào các quan điểm, chủ trương,
đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực báo chí, văn hóa,
nông nghiệp, nông thôn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát, tổng hợp, phân tích.
Các phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu về số lượng, tần số
xuất hiện các nội dung về văn hóa làng đã phát sóng từ tháng 1/2012 đến
tháng 4/2012 trên kênh VTC16.
7


- Phương pháp điều tra và phân tích các kết quả điều tra.
Các phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá nhu cầu của khán
giả xem truyền hình về các chương trình tuyên truyền về văn hóa làng.
- Ngoài ra chúng tôi còn trực tiếp trao đổi, phỏng vấn các phóng viên
thực hiện các chương trình văn hóa trên kênh VTC16 cùng lãnh đạo phòng
Văn hóa – Xã hội nhằm lấy ý kiến kinh nghiệm của họ rút ra khi thực hiện
chương trình.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
6.1. Ý nghĩa lý luận
Khóa luận có đóng góp nhất định vào hệ thống lý luận báo chí, đặc biệt
là báo truyền hình, đồng thời cũng có một số đóng góp trong lĩnh vực văn hóa
mà cụ thể là về việc giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa làng quê. Khóa
luận cũng làm sáng tỏ thêm một vấn đề đó là trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước, dù công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn nhưng vẫn cần
phải quan tâm đến việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền, văn
hóa làng quê.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận là cơ sở giúp kênh VTC16 nói chung và những người làm
công tác tuyên truyền về văn hóa làng quê nói riêng có điều kiện để đánh giá
một cách khách quan những đóng góp và rút ra được những bài học kinh
nghiệm trong nghệ thuật tuyên truyền, định hướng cho công chúng ý thức tự
hào và thấy được trách nhiệm của mỗi người trong nhiệm vụ thiêng liêng là
bảo tồn những giá trị văn hóa làng nói riêng và những giá trị văn hóa truyền
thống, bản sắc của dân tộc nói chung.
Đây còn là tài liệu tham khảo giúp cho những người làm công tác văn
hóa, những sinh viên báo chí nâng cao ý thức nghề nghiệp để làm tốt công
việc tuyên truyền gìn giữ cho muôn đời sau những giá trị văn hóa làng quê
đặc sắc của dân tộc.
8


7. Kết cấu khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội
dung khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: Thực trạng việc tuyên truyền về văn hóa làng trên kênh
VTC16 hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
tuyên truyền về văn hóa làng trên kênh VTC16

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Văn hóa
Ở các nước phương Tây, “văn hóa” bắt nguồn từ tiếng Latinh
“cultural” với hai nghĩa: giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt và cầu
cúng. Từ “trồng trọt” phát triển ra nghĩa “chăm sóc” (cây cối), từ “chăm sóc
cây cối” phát triển thành nghĩa “chăm sóc con người”, đồng nghĩa với giáo
dục. Theo đó “cultural” hay “văn hóa” được hiểu với nghĩa sự phát triển về
tinh thần, trí tuệ của con người, là bồi dưỡng tâm hồn con người.
Còn ở phương Đông, “văn hóa” bắt nguồn từ nguyên nghĩa tiếng Hán.
“Văn” là nét đẹp, “hóa” là giáo hóa. Hiểu một cách nôm na, “văn hóa” tức là
giáo hóa cái đẹp, để con người, xã hội ngày một tiệm tiến dần hơn đến với
Chân - Thiện - Mỹ.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được công nhận là danh
nhân văn hóa thế giới có đưa ra một quan niệm sau về “văn hóa”:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [16, tr. 431].

Năm 2002, UNESCO đưa ra định nghĩa mới về “văn hóa”:
Văn hóa được đề cập đến như là một tập hợp những đặc
trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức, xúc cảm của một xã hội hay
một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn hóa
10


và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống
giá trị, truyền thống và đức tin [24, tr. 9].
Như vậy, cuộc sống sinh hoạt của mỗi vùng miền - tức điều kiện để văn
hóa nảy sinh cũng như quan điểm về cái đẹp ở mỗi nơi có sự khác biệt đã tạo
ra nét độc đáo về văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây, giữa văn hóa
nước này với nước khác, giữa văn hóa các vùng miền. Hơn nữa, văn hóa cũng
luôn luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và cuộc
sống con người.
Với cách quan niệm và những phân tích ở trên có thể thấy, “văn hóa” là
một khái niệm mang ý nghĩa rất rộng với nhiều cách hiểu khác nhau. Tuy có
những điểm khác nhau về ngôn từ thể hiện, những quan niệm đó vẫn có
những điểm chung . Nói đến “văn hóa” là nói đến những giá trị, những truyền
thống, những nếp sống, những tư tưởng, những chuẩn mực, những thiết chế
xã hội, những biểu tượng biểu trưng.
Để có một sự thống nhất khi nghiên cứu đề tài, người viết xin được dựa
theo khái niệm “văn hóa” ngắn gọn, súc tích, khá bao quát về “văn hóa” của
PGS. TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam” như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình”[26, tr. 27].
1.1.3. Làng và văn hóa làng
1.1.3.1. Làng

“Làng” là một cái tên thân thuộc, gần gũi với hầu hết mọi người dân
Việt Nam. Từ trước đến nay, “làng” luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng
trong tất cả các vương triều, cũng như các thể chế chính trị của nước ta.
“Chính quyền đô hộ đã nắm giữ được cấp huyện nhưng không khống chế nổi
cơ sở hạ tầng của xã hội Việt cổ là những xóm làng. Người Việt mất nước
11


nhưng không mất làng!” [14, tr. 373]. Nhờ có “làng” mà Việt Nam qua biết
bao thăng trầm với bao cuộc xâm lăng của những thế lực hùng mạnh và hiếu
chiến, đã biết bao lần chịu nỗi đau mất nước lại hồi sinh trở lại và ngày càng
khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Vậy “làng” là gì? Hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất giữa
các nhà nghiên cứu. Theo GS. Từ Chi, nhà dân tộc học hàng đầu Việt Nam
thế kỷ XX thì : “làng xã là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng
và sinh hoạt cộng đồng” [3, tr. 5]. Đây là một khái niệm còn khá rộng, chưa
gắn chặt “làng” với đời sống nông thôn, nông dân. Giáo sư ngôn ngữ học
Hoàng Phê định nghĩa: “Làng là khối cư dân ở nông thôn làm thành một đơn
vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là đơn vị hành chính thấp nhất của thời
phong kiến” [21, tr. 38]. Định nghĩa của Giáo sư Hoàng Phê đã gắn liền
“làng” với đời sống nông dân,nông thôn nhưng còn khá chung chung, chưa cụ
thể: “một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt”. Đến Giáo sư sử học đương
đại Phan Đại Doãn, khái niệm “làng” đã chi tiết hơn : “Làng là một điểm dân
cư, một hình thức công xã nông thôn, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức
xã hội riêng, lễ tục riêng…rất chặt chẽ và hoàn chỉnh” [3, tr. 5]. Khái niệm
này đã nhìn nhận làng dưới 3 góc độ: kinh tế - “cơ sở hạ tầng”, xã hội - “cơ
cấu tổ chức xã hội” và văn hóa – “lễ tục riêng”. Tuy nhiên “văn hóa” là một
khái niệm rộng bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần như ẩm thực, trang
phụ, lễ hội, phong tục, tập quán, lối sống,… chứ không chỉ riêng “lễ tục”. Do
đó khái niệm này ít nhiều còn chưa đầy đủ.

Đôi khi, người ta gặp từ “làng” ở một nghĩa rộng khác như: làng văn,
làng thơ, làng chơi,… Đó là nơi tập hợp của một nhóm người cùng ngành
nghề nào đó. “Làng” còn được gọi bằng các tên khác như: “kẻ, xá, trang, ấp,
phường, vạn,…” [21, tr. 33].
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách gọi khác nhau về thuật ngữ “làng”,
những trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu về “làng” theo
12


nghĩa gốc. Theo đó, “làng” được hiểu là đơn vị định cư và cộng cư của cư dân
nông nghiệp.
Và để tiện cho quá trình nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi tổng hợp các
quan niệm ở trên và đưa ra khái niệm về “làng” như sau: “ Làng là một đơn
vị định cư, cộng cư của khối cư dân nông nghiệp ở nông thôn dựa trên một
vùng đất xác định, có cơ cấu tổ chức xã hội riêng, có đời sống văn hóa riêng
thích ứng với phương thức sản xuất nông nghiệp là chính”.
1.1.3.2 Văn hóa làng
Làng là địa điểm, là nơi người dân làm ăn, sinh sống. Nhưng để đời sống
của làng đi vào quy củ, nề nếp, ngăn nắp thì những người nông dân trong làng
phải cùng nhau xây dựng một thiết chế sinh hoạt. Đó là những quy định, những
quy ước về việc ăn, ở, đi lại; những quy ước về ứng xử; những quy ước về
phong tục tập quán,… Và nhiều những quy định, quy ước đã trở thành những giá
trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần) được lưu truyền, gìn giữ qua nhiều đời ở các
làng quê. Những giá trị này đã góp phần làm nên nét “văn hóa” của làng quê đó
– hay có thể gọi là “văn hóa làng”.
Từ sự phân tích này, kết hợp với khái niệm về “văn hóa”, về “làng” ở
trên, để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm “văn
hóa làng như sau: “ Văn hóa làng là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do người nông dân sáng tạo và tích lũy trong đời sống sinh hoạt,
sản xuất ở làng quê với những đặc trưng riêng của nó”.

“Văn hóa làng” gắn liền với người nông dân ở làng quê. Văn hóa làng
biểu hiện từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia
phả, hương ước, tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, các nghề thủ công
truyền thống, những làn điệu dân ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏi võ,...
Mỗi làng đều có bản sắc riêng. Văn hóa làng trải qua hàng ngàn năm
cùng với những biến thiên của lịch sử dân tộc có những tinh hoa được chắt
lọc và cũng có những tập tục cổ hủ lạc hậu.
13


1.1.3. Tuyên truyền về văn hóa làng
Thuật ngữ “tuyên truyền” xuất hiện vào khoảng 400 năm trước công
nguyên, được nhà thờ La Mã sử dụng để chỉ hoạt động của các nhà truyền
giáo nhằm thuyết phục người dân theo đạo Kitô.
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, “Tuyên truyền là sự truyền bá
những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học nghệ thuật nhằm
biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội thành hành động cụ thể của
quần chúng” [7, tr. 15].
Bàn về “tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích một cách rất
mộc mạc, giản dị: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó, nói cho dân hiểu, dân
theo, dân nhớ, dân làm” [17, tr. 134].
Như vậy, tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của người dân để từ
đó thay đổi hành vi, tác động vào xã hội theo nhiệm vụ, mục đích đã đề ra.
Theo đó, có thể hiểu, “Tuyên truyền về văn hóa làng là phổ biến về những giá
trị vật chất và tinh thần của làng quê giúp người dân nhận thức được những
nét đẹp cùng những mặt tiêu cực trong đời sống ở nông thôn, để từ đó có
những hành động phù hợp đem lại lợi ích thiết thực”.
Nếu như nội dung của văn hóa bao gồm hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần mà con người sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất thì văn
hóa làng bao gồm hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần mà người nông

dân sáng tạo ra trong quá trình lao động và sản xuất ở nông thôn. Người ta
biết đến những giá trị này thông qua cách gọi khác: Văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể.
- Văn hóa vật thể bao gồm: Ẩm thực, trang phục, các công trình văn
hóa ở làng quê.
- Văn hóa phi vật thể bao gồm: Lễ hội, phong tục, tập quán, nghệ thuật
biểu diễn, làng nghề truyền thống, trò chơi dân gian, nét đẹp trong văn hóa
ứng xử, lối sống của người nông dân.
14


Vậy nên, việc tuyên truyền về văn hóa làng là tuyên truyền để giúp
người dân hiểu được cái hay, cái đẹp và cả cái chưa hay, chưa đẹp trong văn
hóa ứng xử, lối sống, trong lễ hội, phong tục tập quán, công trình văn hóa,…
ở nông thôn.
1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc tuyên truyền về văn hóa làng
* Tuyên truyền về văn hóa làng giúp người dân nhận thức được những
giá trị trong cách sinh hoạt, suy nghĩ của người nông dân, qua đó hiểu và yêu
quê hương – nơi mỗi người đã sinh ra và lớn lên
Trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam luôn có một mảnh hồn quê. Dù
cho ngược xuôi theo dòng đời đua chen, nhưng trong tâm thức vẫn là “cây đa,
bến nước, con đò”, với “Hội làng mở giữa mùa thu. Giời cao gió cả, giăng
như ban ngày” [9, tr. 6]. GS.TSKH. Hoàng Đạo Kính, Phó Chủ tịch hội Kiến
trúc sư Việt Nam có chia sẻ: “Được cái tiếng người Hà Nội gốc, nhà tôi vẫn có
quê. Hình như người mình ai cũng vậy. Cho dù hôm nay đã mon men đến
ngưỡng văn minh đô thị hiện đại, ta vẫn nhận ra những sợi dây ràng buộc ta
với quê” [12, tr. 11].
Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được điều đó. Nhiều người mặc dù
mới “mon men” đến ngưỡng cửa đô thị nhưng đã cố rũ bỏ cái gốc gác nông
thôn của mình. Vì không nhận thức được đó là những nét đẹp, những giá trị

cần bảo tồn, cho rằng đó là quê mùa, lạc hậu.
Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn, ở một số địa phương chúng ta đã quá coi trọng phát
triển kinh tế mà phần nào lãng quên gìn giữ văn hóa làng quê. Chúng ta có
thể thu được phần nào chút lợi ích trước mắt về kinh tế, nhưng về lâu dài đó
lại là ăn xổi ở thì, tham bát bỏ mâm. Làng quê bị bê tông hóa, mối quan hệ
giữa người với người cũng bị … “bê tông hóa”. Những đứa trẻ con nông
thôn không biết đến đồng dao, không biết chơi ô ăn quan, những hàng xóm
láng giềng tối lửa tắt đèn không còn có nhau… PGS.TS.KTS Hoàng Đạo
Kính, Phó Chủ tịch hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng: “Dù có đứng cả hai
15


chân trong đô thị, ta hãy ngoái về quê, thành thị và văn hóa dân tộc bắt
nguồn từ đó” [12, tr. 17].
Chính vì vậy mà việc tuyên truyền về văn hóa làng có vai trò quan
trọng trong việc đem đến nhận thức cho người dân về những nét đẹp trong
sinh hoạt, suy nghĩ của người dân, để tăng niềm tự hào và có những hành
động thiết thực để giữ gìn những nét đẹp, những giá trị tích cực trong văn hóa
làng quê.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyên truyền cũng như xây
dựng về văn hóa làng, làng văn hóa nên đầu những năm đổi mới chương trình
xây dựng làng văn hóa và quy ước làng đã được ngành Văn hóa – Thông tin
triển khai trên diện rộng. Những nội dung của văn hóa làng đã được đặt ra
trong tiến trình xây dựng trên tất cả các bình diện: văn hóa xã hội, văn hóa tư
tưởng, văn hóa nghệ thuật, văn hóa tâm linh.
* Bên cạnh việc tuyên truyền về văn hóa, về những tinh hoa của làng
quê, việc tuyên truyền về văn hóa làng còn giúp người dân biết tới những hủ
tục, thói hư tật xấu trong đời sống văn hóa làng quê, từ đó có những cách
thức né tránh, ứng xử phù hợp

“Văn hóa” theo như cách chiết tự của người phương Đông là giáo hóa
cái đẹp. Bản thân “văn hóa” không có khái niệm “văn hóa xấu”, “văn hóa
tốt”. Tuy vậy, văn hóa luôn vận động cùng với sự phát triển của cuộc sống.
Không có “văn hóa xấu” mà chỉ có những giá trị đã lỗi thời, không còn phù
hợp với đời sống hiện tại. Không có “văn hóa xấu” chỉ có những biểu hiện
tiêu cực trong đời sống văn hóa.
Bên cạnh những nét đẹp văn hóa làng quê, có không ít những hủ tục lạc
hậu, những thói xấu đang len lỏi vào ngóc ngách của đời sống người dân quê.
Những điều này đã làm ảnh hưởng xói mòn những nét đẹp văn hóa vốn có ở
mỗi vùng quê từ bao đời nay. Những hủ tục, những cái xấu đó làm cản trở sự
phát triển của người dân quê hướng tới cái Chân – Thiện – Mỹ.

16


Ngoài ra, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với cơ chế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh, công tác
này càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Khi cái xấu thì dễ học, cái
tốt thì dễ quên. Nguy cơ ấy là rất lớn. Khi cái xấu dần lấn át cái những giá trị
tốt đẹp thì nguy cơ mai một, nguy cơ biến mất của những giá trị văn hóa tốt
đẹp là điều không cần phải bàn cãi. Và khi thế hệ trẻ không biết đến những
giá trị văn hóa làng quê tốt đẹp ấy thì sau này ai sẽ là người khôi phục và khôi
phục làm sao khi mỗi một ngày mới bắt đầu “cụ bô lão, già làng, trưởng bản”
lại thêm một “gần đất xa trời”?
Chính vì vậy mà việc tuyên truyền về văn hóa làng có vai trò quan
trọng trong việc đẩy lùi những cái xấu để người nông dân hiểu thêm những
giá trị tốt đẹp trong cách nghĩ, cách làm, cách sống vốn có bao đời.
* Tuyên truyền về văn hóa làng góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc
Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ 5, khóa VIII đã chỉ rõ:

Bản sắc dân tộc bao gồm các giá trị vững bền, những tinh
hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam… Đó là lòng yêu nước
nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, tinh thần nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo
trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối
sống. Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả hình thức biểu
hiện mang tính dân tộc độc đáo [25, tr.10].
Như vậy bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của
văn hóa dân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt dọc chiều dài lịch
sử đất nước.
Với đặc trưng là nền văn minh lúa nước, với hơn 80% dân số làm nghề
nông nên văn hóa dân tộc Việt Nam gắn liền với văn hóa làng. Giáo sư sử học
đương đại Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa Việt Nam cổ truyền, về bản
chất là một nền văn hóa xóm làng” [31, tr. 77].
17


Như vậy, có thể nói “làng” và “văn hóa làng” là môt nội dung chính
trong khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Mọi công trình nghiên cứu về văn
hóa Việt Nam đều đề cập đến văn hóa làng. Nếu như nước bắt nguồn từ làng
thì cội nguồn của bản sắc văn hóa dân tộc chính là văn hóa làng. Để giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết cần phải giữ gìn được văn hóa làng.
Trong lịch sử dân tộc, đất nước ta đã bị nhiều thế lực tàn bạo xâm lược.
Hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc với các vương triều khác nhau đều
muốn đồng hóa đất nước ta về mặt văn hóa. Ngày 21/8/1406, trong “sắc chỉ”
của Minh Thành tổ gửi gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng có viết:
Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở và bản in của
Đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra, hết thảy mọi sách
vở, văn tự, cho đến những ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ, loại
sách có câu “thượng đại nhân, khưu ất kỷ”… một mảnh, một chữ

đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung
Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do
An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn…[1].
Phong kiến phương Bắc luôn muốn đồng hóa văn hóa Việt để người
Việt không còn là người Việt nữa. Nhưng một điều thật may mắn là dân tộc ta
trong suốt hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc đô hộ đã không bị đồng hóa
về văn hóa. Phong kiến phương Bắc đã không chạm được đến “làng Việt”, do
đó văn hóa Việt vẫn còn, đất Việt vẫn là của người Việt. Nói như thế để thấy
rằng văn hóa làng còn là một sức mạnh có thể giúp cho Việt Nam chống lại
sức mạnh xâm lăng của các thế lực thù địch. Văn hóa làng chính là cái nôi
cứu rỗi cho linh hồn dân tộc. Do đó, tuyên truyền về tinh hoa của làng quê, về
ý chí quật cường, lòng yêu nước nồng nàn của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam chính là góp phần vào việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Việc đất nước trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa đưa Việt Nam –
cái làng lớn ra ngoài thế giới. Việc này được nhà nghiên cứu văn hóa Cao
18


Huy Thuần ví như việc cả dân tộc Việt Nam cùng đi qua cửa Thần Phù, rằng
“Toàn cầu hóa ngày nay chẳng có gì mới hơn cửa bề trong ca dao: Đi qua
cửa bể Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm” [27]. Tức là phải quay trở
lại với chính mình, phát huy những giá trị nội tại tốt đẹp và sửa những cái xấu
để tiến tới sự hoàn thiện. Triết gia cổ đại Hi Lạp Socrates có một câu nói rất
hay “Connais toi- toi même”. Tức là hãy tự biết mình. Một dân tộc không
nhận thức được giá trị nội tại của mình thì không thể tiến xa được.
Như vậy, dân tộc Việt Nam muốn đi xa thì phải trở về với bản sắc văn
hóa dân tộc, trở về với nguồn cội, với văn hóa làng. Và khi ấy, việc tuyên
truyền về văn hóa làng đóng góp không nhỏ cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa
dân tộc.
* Tuyên truyền về văn hóa làng góp phần thúc đẩy sự phát triển chung

của đất nước
Cùng với tiến trình phát triển của đời sống, văn hóa làng nói riêng và
văn hóa dân tộc nói chung góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước. Nhờ có văn hóa làng mà ngày nay chúng ta còn lưu giữ
được các di tích lịch sử văn hóa, các thuần phong mỹ tục, ca dao, dân ca, tín
ngưỡng dân gian, văn hóa ẩm thực,… Những nét đặc sắc này là cơ sở để Việt
Nam phát triển nền du lịch nước nhà, thu hút đầu tư, tăng nguồn thu ngoại tệ,
nâng cao đời sống người dân.
Với xã hội, việc tuyên truyền về văn hóa làng, trong đó có các giá trị tốt
đẹp về văn hóa ứng xử như “thương người như thể thương thân”, “lá lành
đùm lá rách” có ý nghĩa tác động vào nhận thức và thay đổi hành vi của người
dân, giúp cho xã hội phát triển lành mạnh và ổn định.
Chính vì có những vai trò và ý nghĩa to lớn như thế mà công tác tuyên
truyền về việc gìn giữ văn hóa làng cần phải được đẩy mạnh. Trong công việc
chung ấy, báo chí đóng vai trò vô cùng quan trọng để tuyên truyền, định
hướng thông tin, giúp cho công chúng, đặc biệt là những người nông dân
19


nhận thức được vẻ đẹp và ý nghĩa, góp phần vào việc giữ gìn vẻ đẹp của văn
hóa làng quê.
1.3. Thế mạnh của việc tuyên truyền về văn hóa làng trên truyền hình
* Chương trình chân thực sống động
Hình ảnh là đặc trưng và cũng là thế mạnh đầu tiên của truyền hình so với
các loại hình báo chí. “Đó là khả năng chuyển tải thông tin dưới hình thức
những hình ảnh chuyển động, có kèm theo âm thanh. Chúng ta gọi những thuộc
tính này là tính chất hiện hình trên màn ảnh của truyền hình” [4, tr.43].
Báo in chuyển tải thông tin bằng chữ viết và hình ảnh tĩnh kèm theo,
báo ảnh chuyển tải thông tin bằng hình ảnh tĩnh. Báo phát thanh truyền tải
thông tin bằng âm thanh. Tục ngữ có câu “Trăm nghe không bằng một thấy”.

Những cái gì được nhìn thấy tận mắt bao giờ cũng tạo cảm giác tin cậy và thú
vị hơn. Cái thấy của báo ảnh là thấy hình ảnh tĩnh. Cái thấy của truyền hình là
những hình ảnh sống động. Hơn nữa với truyền hình không chỉ mắt thấy mà
còn tai nghe nữa.
Chắc chắn việc ngồi đọc một bài báo về lễ hội làng quê, nghe bài phát
thanh về lễ hội làng quê sẽ khó mà thú vị bằng việc xem một chương trình
truyền hình về lễ hội đó. Và đọc cái họ miêu tả về vẻ đẹp cảnh vật, con người
của một làng quê nào đó sẽ không thể nào hấp dẫn bằng việc nhìn thấy trên màn
hình những hình ảnh sống động của làng quê với cây đa, bến nước, sân đình.
Những hình ảnh ấy sẽ giúp người xem được hòa mình vào không gian làng quê.
Khoảng cách của khán giả với câu chuyện cùng các nhân vật được đề cập trong
chương trình sẽ ngắn hơn rất nhiều nếu so sánh với báo in hay phát thanh.
* Chương trình có tính đại chúng
Tính đại chúng - “đó là khả năng của những dao động điện từ mang
tín hiệu truyền hình được máy thu hình tiếp nhận, xâm nhập vào mọi điểm
trong không gian (trong khu vực phủ sóng của đài phát sóng). Chúng ta gọi
khả năng ấy là khả năng hiện diện khắp nơi của truyền hình” [4, tr. 43].
20


Như vậy, chỉ cần nằm trong khu vực phủ sóng của kênh, đài, người dân
có thể tiếp cận với các chương trình tuyên truyền về văn hóa làng của kênh, đài
đó chỉ bằng cách ngồi trong nhà và bật ti vi. Lợi thế này nổi bật hơn khi so sánh
với báo in và báo mạng điện tử. Với báo in, do điều kiện giao thông còn hạn chế
nên người dân vùng sâu vùng xa khó có thể tiếp cận được. Với báo mạng điện tử
thì lại càng khó hơn bởi muốn đọc báo cần phải có máy tính và mạng Internet.
Điều này hiện nay chưa phải là phổ biến. Chính vì vậy mà truyền hình vẫn có lợi
thế về tính đại chúng hơn so với các loại hình báo chí khác.
Tính đại chúng của truyền hình so với các loại hình báo chí khác còn
thể hiện ở cách thức tiếp nhận của người dân. Với báo in, để đọc và hiểu được

các bài viết về văn hóa làng, người đọc phải có một trình độ nhất định. Trước
hết là phải biết chữ, sau là có khả năng cảm nhận những lời kể, diễn giải dài
dòng và đăc biệt về văn hóa. Điều này không phải ai cũng hiểu được, đặc biệt
là với nhiều đối tượng là nông dân, đa phần có trình độ dân trí chưa đều và
chưa cao. Với báo mạng điện tử lại càng khó hơn vì người dân cần phải có
hiểu biết nhất định về máy tính mới có thể tiếp nhận được thông tin. Còn với
truyền hình, công chúng có thể vừa làm một việc gì đó, vừa xem. Hình ảnh
trong các chương trình về văn hóa làng có những yêu cầu về thẩm mỹ nhưng
lại gần gũi với đời sống người dân nên việc hiểu hình ảnh không phải là việc
khó khăn. Còn lời bình trên truyền hình vốn là để bổ trợ cho những gì hình
ảnh không truyền tải hết nên thường ngắn gọn, đại chúng hơn so với báo in.
1.4. Khái quát hoạt động tuyên truyền về văn hóa làng trên truyền
hình hiện nay
Văn hóa nói chung, văn hóa làng quê nói riêng có vai trò và ý nghĩa
quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, có tác động không nhỏ đến
các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề trên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều quan tâm phản ánh
về lĩnh vực này.
21


Ở Việt Nam, các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương đều
dành những khung thời lượng nhất định cho công tác tuyên truyền về văn hóa
làng quê. Các chương trình ở các đài đã tập trung mang đến cho công chúng
những nét đặc sắc, những tinh hoa, đồng thời phê phán những hủ tục, những
tiêu cực trong đời sống ở các làng quê Việt Nam hiện nay. Không ít các
chương trình đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu của bà con
nông dân và nhiều khán giả cả nước như: “Làng Việt”, “Tạp chí Dân tộc và
phát triển”, “Câu chuyện văn hóa”, “Văn hóa Việt”, … (VTV1), “Gìn giữ
cho muôn đời sau”, “Sắc màu văn hóa dân tộc”,… (VTV2); “Hồn quê đất

Việt”, “Thương nhớ quê nhà”,… (VTV4); hay “Khám phá Việt Nam”, “Ẩm
thực Việt”, “Phim tài liệu”,… (VTC10); hoặc “Tre xanh”, “Nhất nghệ tinh”,
“Gìn giữ các làn điệu dân ca”,…(VTC16);…
Các chương trình tuyên truyền về văn hóa làng trên truyền hình hiện
nay được thể hiện với nhiều hình thức thể hiện đa dạng: từ phóng sự, tọa đàm
đến phim tài liệu, ký sự truyền hình, thậm chí ở cả những dạng chương trình
như: truyền hình thực tế, trò chơi truyền hình (gameshow). Chính sự phong
phú này đã góp phần phục vụ được đa dạng các nhóm công chúng, nâng cao
hiệu quả tuyên truyền về văn hóa làng.
Tuy nhiên, tuyên truyền về văn hóa làng là một hoạt động cần “mưa dầm
thấm lâu”. Hiện nay, trong quá trình toàn cầu hóa, lối sống phương Tây với
nhiều mặt tiêu cực tràn vào nước ta, đe dọa những giá trị văn hóa cổ truyền,
văn hóa làng quê. Báo chí nói chung và truyền hình nói riêng cần phải tiếp tục
đổi mới về nội dung và hình thức trong việc tuyên truyền về văn hóa làng đến
với công chúng.
1.5. Một số nét về kênh truyền hình Nông nghiệp – Nông thôn (VTC16)
Sau thời gian chuẩn bị, vừa kiện toàn bộ máy, tuyển dụng, đào tạo nhân
lực, chuẩn bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và lên phương án sản
xuất nội dung, ngày 22/04/2010, kênh Truyền hình Nông nghiệp - Nông thôn
VTC16 chính thức lên sóng. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị - xã hội to
22


lớn, góp phần thực hiện Chương trình Hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 26/NQ-TƯ của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Các chương trình của kênh phục vụ bốn nhóm đối tượng. Đó là nông
dân và người dân khu vực nông thôn - miền núi; nhà hoạch định chính sách;
nhà khoa học; doanh nghiệp và các tổ chức liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn. Trong đó, kênh VTC16 xác định nông dân là đối tượng quan trọng nhất

của mình.
Tổng số chuyên mục của kênh liên tục tăng qua các thời kỳ. Khi mới lên
sóng (04/2010), kênh chỉ có 16 chương trình (trong đó có 13 chương trình sản
xuất mới và 3 chương trình khai thác/hợp tác), nhưng chỉ sau 8 tháng (đến
tháng 12/2010) số lượng chương trình của kênh đã tăng gấp 2 lần (33 chương
trình, trong đó 26 chương trình sản xuất mới). Số lượng chương trình tiếp tục
tăng lên 37 chương trình (từ 30/06/2011, trong đó có 32 chương trình sản xuất
mới) và 41 chương trình tới thời điểm 31/12/2011 (trong đó có 36 chương
trình sản xuất mới).
Phát biểu sau 1 năm lên sóng, Giám đốc kênh VTC16 - bà Nguyễn Kha
Thoa cho biết: “Mặc dù mới thành lập và tập thể những người làm chương
trình đều còn rất trẻ, song bằng lòng nhiệt huyết và quyết tâm đưa những
thông tin bổ ích đến cho người nông dân, VTC16 đã khẳng định được vị trí
của mình ít nhất là trong lòng 50 triệu bà con nông dân trong cả nước” [18].
Và tính đến thời điểm hiện tại, mới được hơn 2 tuổi nhưng kênh VTC16
đã khẳng định là một kênh thông tin – truyền thông – giải trí hàng đầu chuyên
biệt về chính sách, khoa học kỹ thuật, thị trường, văn hóa, xã hội … dành cho
đối tượng khán giả là nông dân và cư dân sinh sống tại các khu vực nông
thôn, kể cả khu vực mới được đô thị hóa và đã trở thành một kênh truyền hình
thân thuộc đối với bà con nông dân ở mọi miền của cả nước.

23


Tiểu kết
Trong phạm vi chương 1, khóa luận đã giải quyết các vấn đề thuộc về
lý luận chung. Cụ thể là các khái niệm về “văn hóa”, “làng”, “văn hóa làng”.
Qua đó thấy được ý nghĩa của văn hóa làng với văn hóa dân tộc và sự phát
triển của đất nước, vai trò và ý nghĩa của việc tuyên truyền về văn hóa làng.
Khóa luận cũng đi vào khái quát những thế mạnh của việc tuyên truyền về

văn hóa làng trên truyền hình; khái quát hoạt động tuyên truyền về văn hóa
làng trên truyền hình; sơ lược về kênh truyền hình VTC16. Đây là những cơ
sở lý luận quan trọng để chúng tôi triển khai nghiên cứu các chương sau.

24


Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC TUYÊN TRUYỀN VỀ VĂN HÓA LÀNG
TRÊN KÊNH VTC16 HIỆN NAY
2.1. Sơ lược các chương trình tuyên truyền về văn hóa làng trên
kênh VTC16
2.1.1. Chương trình “Chuyện của làng”
“Chuyện của làng” - một chương trình được thể hiện dưới dạng tọa
đàm ngoại cảnh với thời lượng 30 phút, tần suất 1 số/tuần, được phát sóng
vào11h trưa chủ nhật hàng tuần.
Nội dung của chương trình đề cập đến các vấn đề văn hóa – xã hội –
đời sống của nông thôn Việt Nam. Chủ thể xuyên suốt của chương trình có
thể là những sự việc, sự kiện hoặc cũng có thể là về chân dung của những con
người điển hình, thể hiện một câu chuyện của làng quê một cách điển hình.
Xen kẽ trong cuộc trò chuyện là các phóng sự linh kiện. Trung bình mỗi
chương trình có khoảng 3 phóng sự linh kiện, chiếm thời lượng khoảng 6 – 10
phút, thời lượng tọa đàm khoảng 16 – 20 phút. Nhân vật trò chuyện của chương
trình có thể là các chuyên gia về chủ đề đề cập trong chương trình hoặc chính
những nhân vật tham gia vào câu chuyện đề cập ở trong chương trình. Số
lượng nhân vật khách mời có thể từ 1 đến 3 người. Mỗi câu chuyện “Chuyện
của làng” được thể hiện với tiêu chí nhẹ nhàng, mang tính nhân văn.
2.1.2. Chương trình “Chuyện trong xóm ngoài làng”
“Chuyện trong xóm ngoài làng” là những câu chuyện đời thường,
những hình ảnh chân thực về đời sống nông dân và cuộc sống nông thôn. Nội

dung hướng tới của chương trình là tái hiện hiện thực cuộc sống của người
nông dân tại khu vực nông thôn về công việc, sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt
hàng ngày, lề thói,…; là phản ánh sự thay đổi ở nông thôn và phản ứng của
người nông dân đối với sự thay đổi này như: đô thị hóa nông thôn, ly nông,
25


×