KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-----------------------------------
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT MÔI TRƯỜNG QUỐC TÊ
Chuyên đề 2:
Các nguyên tắc của Luật Quốc tế về Môi trường
LỚP CAO HỌC LUẬT QUỐC TÊ K19
NHÓM 2 (3&4):
Hà Nội, 6/2014
MỞ BÀI
Pháp luật với tư cách là một công cụ điều tiết xã hội luôn phải chịu sự chi phối của
nhu cầu xã hội. Khi việc bảo vệ môi trường chưa được ý thức rõ và chưa trở thành mối
thách thức của xã hội thì Luật Môi trường chưa được đặt ra. Các quốc gia sẵn sàng khai
thác hết nguồn tài nguyên để công nghiệp hóa phục vụ việc phát triển đất nước. Mặt khác,
lúc đó môi trường cũng chưa là một thử thách, khi mà vấn đề dân số chưa đạt tới sự báo
động.
Chỉ đến khi các quốc gia đối mặt với sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, mất cân
bằng sinh thái…thì vấn đề bảo vệ môi trường mới được đặt ra, và Luật quốc tế về môi
trường cũng dần hình thành.
Luật quốc tế về môi trường gồm tổng thể những nguyên tắc và quy phạm pháp luật
điều chỉnh các vấ quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường, hợp tác và phát triển bền vững vì lợi ích của cộng đồng quốc tế.
Trong phạm vi bài viết này, nhóm 2 xin trình bày vấn đề “Các nguyên tắc của
Luật quốc tế về môi trường”.
Do còn hạn chế về kiến thức và hiểu biết thực tế, nên bài làm không tránh khỏi
những sai sót, mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo để bài viết của nhóm được hoàn
thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
2
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT MÔI TRƯỜNG QUỐC TÊ
1.1. Sự hình thành luật quốc tế về môi trường
Xuất phát từ nhận thức của cộng đồng quốc tế về những tác động, ảnh
hưởng của môi trường, từ sự cần thiết phải có những cố gắng chung để hợp
tác nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường, luật quốc tế về môi trường đã
được hình thành và ra đời.
Việc xây dựng ngành luật này không chỉ là một yêu cầu cấp bách của
các quốc gia, là một tất yếu khách quan, mà đó còn là trách nhiệm của từng
quốc gia trong việc ngăn chặn, phòng ngừa các nhân tố gây ô nhiễm môi
trường.
Nhìn chung, luật quốc tế về môi trường được hình thành qua ba giai
đoạn chính:
- Giai đoạn 1: Môi trường riêng biệt (từ cuối thế kỷ 19 đến những năm
1960). Thời kỳ này xuất hiện một số Điều ước quốc tế song phương và đa
phương điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến các nguồn nước sông hồ, biên
giới giữa hai quốc gia hoặc giữa một số quốc gia trong khu vực.
- Giai đoạn 2: Môi trường con người (từ năm 1960 đến 1985). Vào
thời gian này, một loạt Điều ước quốc tế về môi trường ra đời, đáng chú ý là
tuyên bố Stockholm về môi trường con người. Bản Tuyên bố này gồm 26
nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách toàn cầu về bảo vệ và cải thiện môi
trường và là nền tảng cho sự phát triển của luật quốc tế về môi trường.
- Giai đoạn 3: Môi trường và phát triển bền vững. Giai đoạn này có
nhiều văn bản pháp lý quốc tế về môi trường hoặc liên quan đến môi trường
được ký kết. Đặc biệt, Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Công
ước về đa dạng sinh học, Công ước khung về biến đổi khí hậu, Chương trình
hành động 21 về kinh tế - xã hội, quản lý và bảo tồn tài nguyên cho mục tiêu
phát triển, đẩy mạnh vai trò của các nhóm kinh tế quan trọng, các giải pháp
thực hiện, Tuyên bố các nguyên tắc về rừng.
Điểm đáng chú ý là trong giai đoạn này, các quốc gia còn có nhiều
chương trình hợp tác nhằm bảo vệ môi trường quốc gia hay khu vực, lập ra
các ủy ban hỗn hợp ở các địa phương nhằm giải quyết tranh chấp về môi
trường.
3
1.2. Khái niệm Luật quốc tế về môi trường
Luật quốc tế về môi trường được hiểu là tổng hợp các nguyên tắc và
các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật
quốc tế phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hợp tác và phát triển bền
vững vì lợi ích của cộng đồng quốc tế.
Điều đáng chú ý là, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý quốc tế
nào ghi nhận toàn bộ các nguyên tắc và quy phạm về bảo vệ môi trường ở
mức độ toàn cầu. Hầu hết các nguyên tắc chỉ mang tính chất khuyến nghị nằm
rải rác trong nhiều văn kiện pháp lý khác nhau như Tuyên bố Stockholm 1972
về môi trường con người, Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi
trường và phát triển 1992…
1.3. Nội dung cơ bản của luật quốc tế về môi trường
1.3.1. Bảo vệ môi trường biển và bảo vệ môi trường nước trên đất
liền
a.
Bảo vệ môi trường biển
Theo khoản 4 Điều 1 Công ước Luật biển 1982, môi trường biển được
hiểu không chỉ bao gồm tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển (rừng ngập
mặn) mà còn chất lượng biển, cảnh quan biển.
Mặc dù vấn đề bảo vệ và giữ gìn môi trường biển đã được các nhà luật
học đề cập tới những năm 20 của thế kỷ này nhưng mãi cho tới những năm
50, Công ước đầu tiên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển mới được ký
kết. Cho đến nay, một số công ước quan trọng trong lĩnh vực này là:
- Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc;
- Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra năm 1973, sửa
đổi bởi Nghị định thư 1978 (Công ước Marpol 73/78);
- Công ước quốc tế liên quan đến can thiệp trên biển cả trong trường
hợp tai nạn gây ô nhiễm dầu (INTERVENTION) 1969;
- Công ước phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác
(LDC) 1972;
- Công ước quốc tế về sẵn sàng ứng phó và hợp tác trong xử lý ô
nhiễm dầu (OPRC) 1990.
b.
Bảo vệ môi trường nước trên đất liền
4
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các Điều ước quốc tế về môi
trường nước tăng lên đáng kể, mặc dù ngay từ đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một
số Điều ước quốc tế đầu tiên về vấn đề này. Một số Điều ước quốc tế chủ yếu
được biết đến là:
- Hiệp định về đường thủy trên sông St. Lawrence giữa Mỹ và Canada
1959;
- Hiệp định Harane về chương trình hành động của quốc gia hệ thống
sông Zambezi 1987.
Ngoài ra còn nhiều Điều ước khác được ký kết ở khắp các châu lục từ
châu Mỹ đến châu Âu, từ châu Phi đến châu Á và nhiều khu vực trên thế giới.
Hiện này, Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế duy nhất đang tiến hành
pháp điển hóa luật về sử dụng nước quốc tế thông qua Ủy ban Luật pháp quốc
tế.
1.3.2. Bảo vệ khí quyển và khí hậu
Xã hội càng phát triển càng làm gia tăng các loại khí gây ô nhiễm cho
môi trường khí quyển, dẫn đến các hiện tượng đe dọa đời sống trên Trái đất
như hiện tượng mưa axit, hiện tượng nước biển dâng cao gây ngập lụt cho các
vùng duyên hải của quốc gia…Những hậu quả nguy hiểm này buộc loài người
phải có những hoạt động cần thiết để hình thành một chế độ pháp lý quốc tế
ngăn ngừa và giảm thiểu các hiện tượng thảm họa nêu trên. Do đó, Công ước
Viên về bảo vệ tầng ôzôn 1985 và Công ước khung về thay đổi khí hậu 1992
đã ra đời.
- Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn 1985: Công ước này được coi là
Công ước khung quy định các nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia có liên quan
đến việc giám sát và trao đổi thông tin, ban hành các văn bản pháp luật và các
biện pháp hành chính cần thiết, thông báo các biện pháp đã được thỏa thuận,
trình tự, thủ tục và các tiêu chuẩn, cũng như sự hợp tác với các tổ chức quốc
tế nhằm hạn chế và ngăn chặn các hoạt động của con người có thể mang lại
tác động xấu tới tầng ôzôn.
- Công ước khung về thay đổi khí hậu của Liên hợp quốc 1992: đây
được coi là Công ước quốc tế toàn diện và quan trọng nhất trong lĩnh vực này.
Công ước chỉ chủ yếu tập trung vào các nguyên tắc và nghĩa vụ chung của các
quốc gia thành viên trong việc ngăn ngừa hiện tượng Trái đất nóng lên.
5
1.3.3. Bảo vệ đa dạng sinh học
Trong những năm vừa qua đã có rất nhiều loài bị tuyệt chủng, và con số
này được dự tính là sẽ không ngừng tăng lên. Ý thức được tầm quan trọng của
vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học, các quốc gia đã thỏa thuận ký kết một loạt
các Điều ước quốc tế, trong đó phải kể đến:
- Công ước RAMSAR 1971 về các vùng ngập nước có tầm quan trọng
quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước;
- Công ước CITES 1973 về buôn bán quốc tế các loài động thực vật có
nguy cơ bị đe dọa;
- Công ước về đa dạng sinh học Rio de Janeiro 1992.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TÊ
2.1. Khái niệm về những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị,
pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm và có giá trị bắt buột chung (jus cogens)
đối với mọi chủ thể của luật quốc tế và được áp dụng trong mọi điều kiện,
hoàn cảnh và trong mọi lĩnh vực của quan hệ quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản
của luật quốc tế thể hiện tập chung nhất những tư tưởng chính trị - pháp lý và
cách xử sự của các chủ thể của luật quốc tế trong quá trình thiết lập và thực
hiện các quan hệ quốc tế. Đồng thời các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
cũng chính là những tư tưởng chỉ đạo cho quá trình xây dựng và thực hiện
pháp luật quốc tế.
2.2. Cơ sở pháp ly
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận trong điều 2
Hiến chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1945 và được long trọng ghi trong
Tuyên bố "Về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh mối quan
hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hiệp
quốc ngày 24/10/1970" gọi là tuyên bố ngày 24/10/1970. Đây là tuyên bố có
chức năng pháp điển hóa các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, bởi phần
lớn các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều đã được quy định trong Hiến
chương Liên hiệp quốc, nhưng hệ thống các nguyên tắc này được ghi nhận
chính thức là "các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế" trong Tuyên ngôn
1970.
Bên cạnh hai văn kiện quy định trực tiếp trên, các nguyên tắc cơ bản
của luật quốc tế còn được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế toàn cầu và
6
khu vực khác, cũng như các điều ước quốc tế song phương và pháp luật của
các quốc gia.
2.3. Các nguyên tắc cơ bản cụ thể của luật quốc tế
Luật pháp quốc tế hiện nay ghi nhận các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh
mọi quan hệ quốc tế giữa các chủ thể của luật quốc tế bao gồm:
-
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;
Nguyên tắc không sử dung vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế;
Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia
khác;
-
Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết;
-
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;
-
Nguyên tắc Pacta sunt servanda (tận tâm, thiện chí thực hiện các
cam kết quốc tế).
a) Nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền của các quốc gia
Tất cả mọi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền. Các quốc gia bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ và là những thành viên bình đẳng của cộng đồng
quốc tế, bất chấp sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội.
Cụ thể, bình đẳng về chủ quyền bao gồm những nội dung sau:
- Tất cả các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;
- Mỗi quốc gia được hưởng các quyền xuất phát từ chủ quyền hoàn
toàn;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng tư cách của các quốc gia khác;
- Sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của quốc gia là bất khả xâm
phạm;
- Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị,
kinh tế, văn hóa và xã hội của mình;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ một cách đầy đủ và có thiện chí
các nghĩa vụ quốc tế của mình và chung sống trong hòa bình với các quốc gia
khác.
7
b) Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử
dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn
lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ
cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên hợp
quốc.
Tất cả mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập
chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bằng bất kỳ cách thức nào không
phù hợp với những mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc. Việc sử dụng
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực sẽ là sự vi phạm luật pháp quốc tế và không bao
giờ được sử dụng như là các biện pháp giải quyết các vấn đề quốc tế.
Chiến tranh xâm lược là tội ác chống lại hòa bình và phải chịu trách
nhiệm theo luật pháp quốc tế.
Tất cả các quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ mưu đồ chiến tranh xâm lược phù
hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực
nhằm vi phạm sự tồn tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc
sử dụng như là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm các tranh
chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia.
Cũng như vậy, mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe
dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm các đường ranh giới quốc tế như giới tuyến
ngừng bắn, được thiết lập bằng bởi một thỏa thuận quốc tế mà quốc gia đó là
một bên, hoặc tương tự như vậy, có nghĩa vụ phải tuân thủ. Không có bất kỳ
điều nào được đề cập ở trên sẽ được hiểu là sự gây tổn hại đến địa vị của các
bên đối với quy chế và hiệu lực của các đường ranh giới đó theo các chế độ
pháp lý đặc biệt hoặc ảnh hưởng đến trạng thái tạm thời của các quốc gia đó.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ mọi hành động trả đũa bao gồm cả việc
sử dụng vũ lực
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ bất kỳ hành động bạo lực nhằm loại bỏ
quyền của các dân tộc trong việc soạn thảo nguyên tắc về quyền bình đẳng và
tự quyết đối với quyền của các dân tộc đó được tự quyết, tự do và độc lập.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ
chức các lực lượng không chính quy hoặc các nhóm vũ trang bao gồm cả lính
đánh thuê để xâm nhập lãnh thổ của các quốc gia khác.
8
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức, xúi giục, trợ giúp hoặc
tham gia vào các hành vi nội chiến hoặc khủng bố ở một quốc gia khác hoặc
là ngầm chấp nhận những hoạt động được tổ chức ở trên lãnh thổ của mình
liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các hành vi đó, khi mà các hành vi được
mô tả trong khoản này bao hàm một sự de dọa hoặc sử dụng vũ lực.
Lãnh thổ quốc gia không thể bị chiếm đóng quân sự do việc sử dụng vũ
lực trái với những điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ quốc
gia không thể bị một quốc gia khác chiếm đoạt là kết quả của việc sử dụng
hoặc đe dọa dùng vũ lực. Không một sự chiếm đóng lãnh thổ do việc sử dụng
hoặc đe dọa dùng vũ lực nào được công nhận là hợp pháp. Không một điều
nào nói ở trên sẽ được hiểu như là sự ảnh hưởng đến: a. Những điều khoản
của Hiến chương này hoặc bất kỳ một thỏa thuận quốc tế nào khác có trước
Hiến chương này và có hiệu lực theo luật quốc tế; b. Các quyền hạn của Hội
đồng Bảo an theo Hiến chương
Tất cả các quốc gia sẽ theo đuổi với thiện chí các cuộc đàm phán nhằm
sớm ký kết một điều ước toàn cầu về giải trừ quân bị tổng thể và hoàn toàn
dưới sự giám sát quốc tế có hiệu quả và cố gắng chấp nhận những biện pháp
nhằm giảm bớt áp lực quốc tế và tăng cường lòng tin giữa các quốc gia.
Tất cả các quốc gia sẽ tuân thủ với thiện chí các nghĩa vụ của mình
những nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế được thừa nhận chung đối với
việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế và sẽ nỗ lực làm cho hệ thống an
ninh của Liên hợp quốc dựa trên Hiến chương này ngày càng hiệu quả hơn.
Không một điều nào nói ở trên đây được hiểu là sự mở rộng hoặc thu
hẹp bằng bất kỳ cách thức nào phạm vi của các điều khoản của Hiến chương
này liên quan đến các trường hợp sử dụng vũ lực được coi là hợp pháp
c. Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế
của mình bằng các biện pháp hoà bình mà không làm phương hại đến hòa
bình, an ninh và công lý quốc tế
Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc
gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa
bình, an ninh và công lý quốc tế
Mọi quốc gia do vậy sẽ sớm tìm kiếm và chỉ giải quyết các tranh chấp
quốc tế bằng đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án; sử
dụng trung gian khu vực, thỏa thuận hoặc những biện pháp hòa bình khác do
các bên lựa chọn. Trong việc tìm kiếm những biện pháp giải quyết tranh chấp,
9
các bên đồng ý rằng những biện pháp hòa bình sẽ là thích hợp đối với những
hoàn cảnh cụ thể và bản chất của tranh chấp.
Trong trường hợp không đạt được một giải pháp để giải quyết tranh
chấp bằng bất kỳ biện pháp đã nêu ở trên, các bên trong tranh chấp có nghĩa
vụ tiếp tục tìm kiếm những biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp
mà các bên thỏa thuận.
Các quốc gia trong tranh chấp cũng như các quốc gia khác sẽ từ bỏ bất
kỳ hành vi nào có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại gây nguy hiểm
cho việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, và sẽ hành động phù hợp với
những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng
chủ quyền của các quốc gia và phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn các
cách thức giải quyết tranh chấp. Sự đề nghị, hoặc sự chấp nhận về quá trình
giải quyết mà các quốc gia tự nguyện đồng ý đối với các tranh chấp đang tồn
tại hoặc trong tương lai mà các bên liên quan sẽ không được coi là vi phạm
nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền.
Không có điều nào được nói ở trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến
những điều khoản có thể áp dụng của Hiến chương, đặc biệt là những điều
khoản liên quan đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
d. Nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của
các quốc gia khác, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.
Không một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp,
trực tiếp hay gián tiếp, và với bất kỳ lý do nào, vào các công việc đối nội hoặc
đối ngoại của một quốc gia khác. Vì thế, can thiệp quân sự và tất cả các hình
thức can thiệp hoặc mưu toan đe dọa nhằm chống lại phẩm cách của quốc gia
hoặc chống lại cơ sở chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó sẽ được coi
là vi phạm luật pháp quốc tế.
Không một quốc gia nào có thể sử dụng hoặc khuyến khích việc sử
dụng các biện pháp kinh tế chính trị hoặc bất kỳ cách thức nào khác nhằm
cưỡng ép quốc gia khác để từ đó có được sự lệ thuộc vào việc thực hiện các
quyền chủ quyền của mình và bảo đảm lợi thế của mình dưới bất kỳ hình thức
nào. Ngoài ra, không một quốc gia nào có thể tổ chức, trợ giúp xúi giục, giúp
đỡ tài chính khuyến khích hoặc ngầm đồng ý các hoạt động khủng bố, lật đổ
hoặc hoạt động quân sự trực tiếp nhằm lật đổ chế độ hiện hành của một quốc
gia khác, hoặc can thiệp vào những cuộc nội chiến của một quốc gia khác.
10
Việc sử dụng vũ lực nhằm loại bỏ bản sắc riêng của các dân tộc là sự vi
phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc
không can thiệp.
Mỗi quốc gia có quyền không thể tách rời trong việc lựa chọn chế độ
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp
của các quốc gia khác
Không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là sự phản ánh
những điều khoản có liên quan của Hiến chương Liên hợp quốc trong việc gìn
giữ hòa bình và an ninh thế giới.
e. Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp
với Hiến chương
Mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các Quốc hội khác trong các lĩnh
vực của quan hệ quốc tế để gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, khuyến khích
sự ổn định và tiến bộ, lợi ích chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế mà
không có sự phân biệt về sự khác nhau về chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa.
Vì mục đích đó:
- Mọi quốc gia sẽ hợp tác với các quốc gia khác để duy trì hòa bình và
an ninh quốc tế
- Mọi quốc gia sẽ hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ các
quyền con người và tự do cơ bản trên toàn thế giới và trong việc loại trừ tất
cả các hình thức phân biệt về sắc tộc và tôn giáo
- Mọi quốc gia sẽ thực hiện các quan hệ quốc tế của mình trong các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, kỹ thuật và thương mại phù hợp với nguyên tắc
bình đẳng về chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ
Các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ hành động
tập thể hoặc riêng rẽ để hợp tác với Liên hợp quốc phù hợp với những điều
khoản tương ứng của Hiến chương Liên hợp quốc
Các quốc gia nên hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội
cũng như khoa học và công nghệ và đối với việc phát triển sự tiến bộ về văn
hóa và giáo dục trên thế giới. Các quốc gia nên hợp tác để phát triển kinh tế
trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.
f. Nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc
Bởi nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được long
trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp quốc, tất cả các dân tộc có quyền
11
tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội
và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài: tất cả
các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này, phù hợp với các điều
khoản của Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ khuyến khích sự thừa nhận nguyên tắc về
quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, thông qua các hành động tập thể
hoặc riêng rẽ phù hợp với những điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc,
và thực hiện sự trợ giúp đối với Liên hợp quốc trong việc thực hiện các trách
nhiệm do Hiến chương giao phó liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc này,
nhằm: a. Phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia; b.
Chấm dứt ngay lập tức chế độ thuộc địa, tôn trọng sự tự do thể hiện ý nguyện
của các dân tộc thuộc địa
Và nhận thức rõ rằng việc tiếp tục bị thuộc địa, phụ thuộc và bị bóc lột
bởi nước ngoài của các dân tộc sẽ là sự vi phạm của nguyên tắc này, cũng như
là sự phủ nhận các quyền cơ bản của con người, và sẽ là trái với Hiến chương
Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ khuyến khích, thông qua các hành động tập
thể hoặc riêng rẽ sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người và quyền tự do
cơ bản phù hợp với Hiến chương
Việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết
hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị
nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền
tự quyết của dân tộc ấy.
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ các hành động vũ lực nhằm tước đi sự
soạn thảo những nguyên tắc hiện tại về quyền tự quyết, tự do và độc lập của
các dân tộc. Để chống lại những hành động vũ lực nói trên và thực hiện quyền
tự quyết của mình, các dân tộc có quyền tìm kiếm và quyền nhận được sự trợ
giúp phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp
quốc
Lãnh thổ của một thuộc địa hoặc một lãnh thổ chưa tự quản, theo Hiến
chương sẽ có quy chế pháp lý độc lập và tách biệt đối với lãnh thổ của quốc
gia quản lý lãnh thổ đó; quy chế độc lập và tách biệt theo Hiến chương này
vẫn sẽ tồn tại cho đến khi nhân dân của lãnh thổ thuộc địa hoặc chưa tự quản
đó thực hiện quyền tự quyết của mình phù hợp với Hiến chương, đặc biệt là
những mục đích và nguyên tắc của nó.
12
Không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền
hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu
toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị
của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về
quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và
do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ
đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc.
Tất cả mọi quốc gia sẽ từ bỏ mọi hành động có chủ ý nhằm phá vỡ toàn
bộ hoặc một phần thống nhất dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia
nào.
g. Nguyên tắc các quốc gia thực hiện vợi sự thiện chí các nghĩa vụ
của mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của
mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của
mình theo những nguyên tắc và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của
mình trong những thỏa thuận có hiệu lực theo những nguyên tắc và quy phạm
được luật quốc tế thừa nhận chung.
Khi mà những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mâu thuẫn
với những nghĩa vụ của các Thành viên Liên hợp quốc thoe Hiến chương
Liên hợp quốc thì những nghĩa vụ theo Hiến chương sẽ có ưu thế hơn.
III. NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẶC THÙ CỦA LUẬT MÔI
TRƯỜNG QUỐC TÊ
3.1. Nguyên tắc tiếp cận tổng hợp và phối hợp
Nguyên tắc tiếp cận tổng hợp và phối hợp cho đến nay được coi là
nguyên tắc cơ bản nhất của bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Nguyên tắc này đã được đề cập đến trong tuyên bố Rio 1992 (nguyên
tắc 3, 4 và 25) và chương trình hành động 21 (Chương 8), nguyên tắc 13 của
tuyên bố Stockholm, Công ước 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển được
nêu trong lời nói đầu và hàng loạt các văn kiện quốc tế khác.
Tiếp cận tổng hợp và phối hợp được coil à việc xem xét sự phụ thuộc
lẫn nhau qua các khía cạnh xã hội, kinh tế của môi trường với quyền con
người, đảm bảo có một sự phát triển bền vững không làm tổn hại đến môi
13
trường đáp ứng yêu cầu thiết yếu về môi trường cho các thế hệ mai sau và
hiện tại, phù hợp với các nguyên tắc chung của luật quốc tế.
Tiếp cận tổng hợp phối hợp không làm mất đi tính chất đặc thù của
từng lĩnh vực mà chúng được coi như đối tượng nghiên cứu của việc tiếp cận
từ mọi phía, trong một tổng thể không chia cắt của vấn đề môi trường và phát
triển. Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia, các
chủ thể của Luật quốc tế mà còn có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực ở từng
quốc gia, đòi hỏi sự phối hợp của của tất cả các bên có cùng mối quan tâm
đến môi trường và phát triển
3.2. Nguyên tắc quyền được phát triển
Hiến chương Liên hợp quốc 1945 đã khẳng định phát triển là một trong
những mục tiêu của sự phối hợp quốc tế về kinh tế và xã hội (Điều 55). Tất cả
các nước thành viên của liên hợp quốc phải cam kết bằng hành động chung
hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với tổ chức để đẩy mạnh phát triển và tôn
trọng qyền con người (Điều 56).
Quyền được phát triển gắn liền với quyền cơ bản của con người được
sống, được học tập, làm việc, được nghỉ ngơi cũng như được phát triển các
khả năng của mình. Các quyền cơ bản này được ghi nhận trong các văn kiện
pháp lí quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, Các công ước quốc tế
về quyền con người năm 1966, Tuyên bố về quyền được phát triển của Đại
hội đồng Liên hợp quốc năm 1986. Việc thực hiện quyền được phát triển này
kèm theo nghĩa vụ phải đáp ứng những yêu cầu về môi trường và phát triển
của con người một cách bền vững và công bằng.
3.3. Nguyên tắc về quyền được sống trong môi trường trong lành
Theo Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người
(Stốckhôm - năm 1972), con người được sống trong một môi trường trong
lành là một trong những nguyên tắc trọng tâm của quan hệ giữa các quốc gia.
Nguyên tắc 1 nêu rõ: "Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và
được hưởng đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho
phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong
bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau". Nguyên tắc 1 trong
Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển (Rio de
Janeiro - 1992) cũng khẳng định: "Con người là trung tâm của những mối
14
quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc
sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên".
Môi trường trong lành là môi trường trong sạch, thuần khiết, hệ sinh thái
cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái môi trường, trong môi trường đó con
người sống bình thường, sống khỏe mạnh, thoải mái, trường thọ, sống hữu ích
và hài hòa với thiên nhiên. Ngày nay, sống trong môi trường trong lành được
coi là quyền con người quan trọng.
Quyền con người được sống trong môi trường trong lành là nguyên tắc
trụ cột, là quyền tự nhiên của con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận,
liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống. Đó là quyền con người được
sống trong một môi trường với chất lượng cho phép, cuộc sống được đảm bảo
về mặt vệ sinh môi trường, được hài hòa với tự nhiên. Hay nói cách khác, là
quyền được sống trong một vùng không bị ô nhiễm, không bị suy thoái môi
trường.
Hiện nay, sức khỏe con người đang bị ảnh hưởng ngày càng lớn do sự
xuống cấp nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái. Ô nhiễm môi trường
và hủy hoại môi trường tự nhiên đã trực tiếp tác động đến việc hưởng thụ
quyền con người. Nhu cầu của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc
sống, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức
khỏe môi trường. Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là
vấn đề của quyền con người.
Để có chính sách tốt về bảo vệ môi trường, đòi hỏi các quyền con người
phải được bảo đảm thực hiện. Thông qua việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp
cận thông tin, sự tham gia của cộng đồng trong việc ban hành các quyết định
về môi trường và tiếp cận tư pháp liên quan tới môi trường.
Dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các quyền con người đã chính
thức được các chuyên gia về nhân quyền và Luật Môi trường quốc tế trình lên
các cơ quan của Liên hợp quốc để lấy ý kiến. Trong đó đề cập đến 4 nguyên
tắc: Các quyền con người, môi trường sinh thái, phát triển bền vững và hòa
bình là phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt; Mọi người có quyền đối với
môi trường an toàn, sức khỏe và môi trường sinh thái; Quyền không phân biệt
đối xử liên quan tới các hành động và quyết định có tác động tới môi trường;
Thiết lập nguyên tắc về tính công bằng đáp ứng nhu cầu của các thê hệ.
15
Tuyên ngôn được thông qua là văn kiện pháp lý quan trọng nhất, nhằm
thiết lập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người với môi trường và phản
ánh sự phát triển hướng tới sự công nhận và bảo đảm quốc tế đối với các
quyền về môi trường.
Trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, nguyên tắc về quyền con
người được sống trong môi trường trong lành tiếp tục được thừa nhận và được
mở rộng. Mặc dù chưa được ghi nhận thành một nguyên tắc riêng, song nó
được thể hiện qua các nguyên tắc như: nguyên tắc phát triển bền vững,
nguyên tắc coi trọng phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường; nguyên tắc
sử dụng các công cụ kinh tế trong hoạt động bảo vệ môi trường; nguyên tắc
xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường hay nguyên tắc gây ô nhiễm phải trả
tiền… và được cụ thể hóa vào các quy định của Luật.
Hơn nữa, để bảo vệ được môi trường trong lành có hiệu quả, Luật Bảo
vệ Môi trường 2005 rất đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong
quá trình này. Do vậy, Luật đã quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước và các chủ thể khác trong hoạt động bảo vệ môi trường.
3.4. Nguyên tắc về xóa bỏ đói nghèo
Ở các nước đang phát triển, sự kém phát triển, nghèo đói là nguyên
nhân gây ra hầu hết các vấn đề tồn tại về môi trường, đưa đến sự tàn phá suy
thoai về môi trường và tài nguyên. Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu của Liên
Hợp quốc và là trách nhiệm của tất cả các quóc gia. Mục đích của nó là làm
cho mọi người có khả năng tốt hơn để có một cuộc sống bền vững.
Nguyên tắc 5 của Tuyên bố Rio khuyến khích tất cả các quốc gia và tất
cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ nghèo nàn như
một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững, xóa bỏ nghèo
nàn cũng được đề cập trong tuyên bố Stockholm, chương trình hành động 21,
chương 3 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Công ước
về đa dạng sinh học, Công ước 1966 về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
(Điều 11)
Trong khi các nước phát triển phải hướng mọi nỗ lực của minh cho sự
phát triển, tiến tới xóa bỏ nghèo nàn ở quốc gia của họ thì họ cũng phải luôn
có ý thức để ra những ưu tiên và phối hợp với các quốc gia khác để đảm bảo
an toàn và cải thiện môi trường chung. Để thực hiện mục đích này, các nước
công nghiệp phát triển phải có nghĩa vụ trợ giúp các nước đang phát triển,
16
giảm dần khoảng cách giữa họ, nhằm giải quyết các mối quan tâm chung về
môi trường.
3.5. Nguyên tắc bình đẳng
Cơ sở pháp lí: Nguyên tắc bình đẳng là một trong số 27 nguyên tắc
được ghi nhận tại Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển
tại Rio De Janeiro ( Tuyên bố Rio). Theo đó: “Cần được thực hiện quyền
được phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển
và môi trường của của các thế hệ hiện nay và tương lai.”
Trong lĩnh vực môi trường, nguyên tắc bình đẳng được thể hiện:
Bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng và bảo vệ môi trường ( Tuyên
bố Rio- Nguyên tắc 3)
Bình đẳng giữa các thành viên của thế hệ hiện tại: cần phải đáp ứng
quyền được phát triển và được sống trong môi trường trong lành của tất cả
các thành viên của công đồng quốc tế.
Các quốc gia có trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau ( Tuyên bố
Rio – Nguyên tắc 7). Các quốc gia cần hợp tác để bảo vệ môi trường toàn
cầu. Tuy nhiên vì có sự khác nhau trong việc làm thoái hóa môi trường toàn
cầu, các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển phải gánh vác
những trách nhiệm khác biệt nhau. Mặt khác, trách nhiệm bảo vệ môi trường
giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, có nhu cầu và ưu tiên phát
triển môi trường khác nhau, có mức độ đóng góp khác nhau đối với từng vấn
đề riêng biệt đương nhiên cũng sẽ khác nhau. Các nước phát triển phải có
trách nhiệm, nỗ lực quốc tế lớn hơn trong vấn đề phát triển bền vững, do
những áp lực xã hội và do những công nghệ mà họ gây ra cho môi trường
toàn cầu.
Sự đại diện công bằng theo khu vực địa lí cũng đã được các thành viên
của tổ chức quốc tế vạch ra và khẳng định trong chính sách liên quan đến bảo
vệ môi trường. Công ước về bảo vệ di sản văn hóa thiên nhiên của thế giới –
Paris 16/11/1972; Công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển – Điều
161.
Chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên và trách nhiệm không gây tổn
hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các vùng nằm ngoài quyền tài
phán của quốc gia cũng là một trong nội dung quan trọng của nguyên tắc bình
đẳng áp dụng đối với môi trường quốc gia.
17
Nghĩa vụ không gây hại không có nghĩa là tuyệt đối không gây hại hay
gây ra những rủi ro nào mà là ngăn ngừa và làm giảm các tác động gây hại
đáng kể hay gây ra rủi ro cho các quốc gia khác. Trong trường hợp gây tổn
hại tới môi trường các quốc gia khác, quốc gia có hành vi vi phạm luật môi
trường quốc tế phải có nghĩa vụ chấm dứt ngay các hành vi gây hại và gánh
chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế về các hành vi đó.
3.6. Nguyên tắc chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên và trách
nhiệm không gây tổn hại tới môi trường của quốc gia khác hoặc các vùng
nằm ngoài quyền tài phán quốc gia
Nguyên tắc này được ghi nhận trong bản Tuyên bố về chủ quyền vĩnh
cửu đối với tài nguyên thiên nhiên của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm
1962.1 Theo nguyên tắc này, các quốc gia được quyền tự do quản lý và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền tài phán của mình và được tự do xây
dựng, theo đuổi chính sách phát triển và môi trường của mình. Cụ thể Tuyên
bố nói rằng:
1. Quyền của các quốc gia và các dân tộc về chủ quyền vĩnh viễn đối
với tài nguyên thiên nhiên của họ phải được thực hiện vì lợi ích phát triển
quốc gia của họ và hạnh phúc của nhân dân của nước có liên quan.
2. Việc thăm dò, phát triển và định đoạt các nguồn tài nguyên như vậy,
cũng như việc nhập khẩu vốn của nước ngoài cần thiết cho các mục đích đó,
cần phù hợp với các quy tắc và điều kiện của các dân tộc và các quốc gia một
cách tự do mà được họ xem là cần thiết hoặc mong muốn liên quan đến sự
cho phép, hạn chế hoặc cấm các hoạt động như vậy.
3. Trong trường hợp sự cho phép được chấp thuận, vốn được nhập
khẩu và các khoản thu nhập trên vốn sẽ được điều chỉnh bởi các điều khoản
của luật quốc gia có hiệu lực và luật pháp quốc tế. Lợi nhuận thu được phải
được chia sẻ theo tỷ lệ thỏa thuận trong mỗi trường hợp giữa nhà đầu tư và
Nhà nước nhận đầu tư, phải có trách nhiệm chăm sóc thích đáng để bảo đảm
rằng không có sự suy giảm, vì lý do nào đó, chủ quyền của quốc gia đó đối
với tài nguyên thiên nhiên của họ.
4. Việc quốc hữu hóa, trưng thu hoặc trưng dụng phải dựa trên cơ sở
hoặc vì lý do công ích, an ninh, lợi ích quốc gia được công nhận là quan
trọng lợi ích cá nhân hoặc tư nhân thuần túy, cả trong và ngoài nước. Trong
trường hợp đó, chủ sở hữu phải được bồi thường thích hợp, phù hợp với quy
1
Resolution of General Assembly 1803 (XVII). Permament sovereignty over natural resource, 14/12/1962,
1194th plenary meeting, />symbol=A/RES/1803(XVII)&Lang=E&Area=RESOLUTION
18
định đang có hiệu lực của Nhà nước đó về các biện pháp như vậy trong việc
thực hiện chủ quyền của mình và phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong bất kỳ
trường hợp nào mà vấn đề bồi thường làm phát sinh một tranh chấp, thẩm
quyền quốc gia của Nhà nước có biện pháp như vậy sẽ mất đi. Tuy nhiên,
theo thỏa thuận giữa Nhà nước có chủ quyền và các bên khác có liên quan,
việc giải quyết tranh chấp phải được thực hiện thông qua trọng tài hoặc tòa
án quốc tế.
5. Việc thực hiện tự do và lợi ích chủ quyền của các dân tộc và các
quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên của họ phải được đẩy mạnh trên cơ
sở tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia dựa trên sự bình đẳng chủ quyền của
họ.
6. Hợp tác quốc tế nhằm phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát
triển, dưới hình thức đầu tư nhà nước hoặc tư nhân, giao lưa hàng hóa và
dịch vụ, hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi thông tin khoa học, để đẩy mạnh hơn nữa sự
phát triển các quốc gia độc lập và phải được dựa trên sự tôn trọng chủ quyền
của họ đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ.
7. Hành vi vi phạm các quyền của các quốc gia và các dân tộc về chủ
quyền đối với các tài nguyên nhiên là trái với tinh thần và các nguyên tắc
của Hiến chương Liên hợp quốc và cản trở sự hợp tác quốc tế và việc duy trì
nền hòa bình.
8. Các thỏa thuận đầu tư nước ngoài tự do được ký kết bởi hoặc giữa
các nhà nước có chủ quyền phải được tiến hành với niềm tin tốt đẹp; Các nhà
nước và các tổ chức quốc tế nghiêm chỉnh và tận tâm tôn trọng chủ quyền
của các quốc gia và dân tộc đối với các tài nguyên thiên nhiên của họ theo
quy định của Hiến chương và các nguyên tắc quy định trong nghị quyết này.
Mặt khác, các quốc gia khi thực hiện chủ quyền đối với tài nguyên
thiên nhiên của mình phải có nghĩa vụ tính đến những tác động của hoạt động
của mình đối với môi trường chung và môi trường của quốc gia khác. Nghĩa
vụ không gây hại không có nghĩa là tuyệt đối không gây hại hay gây ra những
rủi ro nào mà là ngăn ngừa làm giảm các tác động gây hại đáng kể hay gây ra
các rủi ro cho các quốc gia khác.
Trong trường hợp gây tổn hại tới môi trường của các quốc gia khác,
quốc gia có hành vi vi phạm Luật quốc tế về môi trường phải có nghĩa vụ
chấm dứt ngay các hành vi gây hại và gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế
về các hành vi đó và trên cơ sở nguyên tắc: người gây ô nhiễm phải bồi
thường thiệt hại.
19
3.7. Nguyên tắc sử dụng hợp ly nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên tồn tại ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới
không phải là tồn tại vô tận, nếu không biết cách sử dụng hợp lý thì nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng.
Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên là hình thức sử dụng vừa đáp
ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại, vừa đảm bảo duy trì lâu
dài các nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Nguyên tắc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đòi hỏi các
quốc gia và các dân tộc phải cẩn trọng đối với môi trường và sử dụng một
cách hợp lý của cải và các tài nguyên thiên nhiên của các vùng nằm dưới
thẩm quyền của các quốc gia đó, phải quản lý phúc lợi và các tài nguyên thiên
nhiên của mình sao cho đảm bảo được sức tiêu thụ và sản xuất bền vững vì lợi
ích của nhân dân nước mình và của nước khác, cũng như vì lợi ích của thế hệ
tương lai. Nguyên tắc này được ghi nhận trong tuyên bố về chủ quyền vĩnh
cửu đối với tài nguyên thiên nhiên của Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm
1962.
Hiện nay, Việt Nam cũng đã tiến hành thực hiện nguyên tắc này một
cách tích cực: Việt Nam đã và đang xây dựng và thực hiện chiến lược tăng
trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp. Sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng
lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Về tài nguyên môi trường, Việt Nam tập trung chống thoái hóa, sử
dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử
dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền
vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và
phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng;…
3.8. Nguyên tắc ngăn ngừa và giảm thiểu tổn hại môi trường
Nguyên tắc ngăn ngừa và giảm thiểu tổn hại môi trường xuất phát từ cơ
sở: Môi trường sẽ được bảo vệ một cách tốt nhất thông qua các biện pháp
phòng ngừa thiệt hại hơn là thông qua các nỗ lực sửa chữa hoặc đền bù sau
khi tổn hại xảy ra cho môi trường. Các biện pháp ngăn ngừa sẽ trở nên hữu
hiệu hơn khi chúng nhằm giảm thiểu các nguồn gây hại môi trường nhiêu hơn
là nhằm giải quyết hậu quả của các tác động gây hại. Sự thay đổi quy trình
sản xuất nhằm giảm thiểu các chất gây hại ngay từ đầu sẽ hiệu quả và đỡ tốn
hơn là việc đầu tư cho hệ thống kiểm tra, xử lý, thu gom các chất gây tổn hại
môi trường ở cuối quy trình sản xuất. Áp dụng nguyên tắc này cũng nhằm
20
ngăn ngừa sự lan truyền tổn hại môi trường này sang trạng thái tổn hại môi
trường khác.
Ở cấp quốc gia, nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia cần ban hành luật
pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêu chuẩn về môi trường, những mục tiêu
quản lý ưu tiên, phản ánh nội dung môi trường và phát triển, các biện pháp
phòng ngừa và áp dụng cho các hoạt động công cộng và tư nhân có thể gây ra
các tổn hại tiềm năng cho môi trường. Các quốc gia cần khuyến khích sự
tham gia của các công dân vào các vấn đề giải quyết môi trường và đánh giá
tác động của môi trường đối với các biện pháp cần áp dụng (Tuyên bố Rio,
nguyên tắc 10,11,17:
“10. Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia
của người dân.
11. Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường 17.
Sử dụng công cụ đánh giá tác động môi trường”.)
Các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng bởi thiệt hại môi trường xuyên
biên giới có thể áp dụng các biện pháp tự bảo vệ của mình trên cơ sở tôn
trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, nơi các mối đe dọa và thiệt hại
tiềm ẩn về môi trường xuất phát. Ví dụ: Việt Nam thực hiện thường xuyên
công tác tuần tra, kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy, bảo vệ rừng ở khu
vực Tây Ninh, tránh để cháy rừng từ khu vực biên giới của Campuchia lan
sang Việt Nam.
3.9. Nguyên tắc tiếp cận đề phòng
Đây là nguyên tắc đã được khẳng định rõ trong tuyên bố Rio De
Janeiro 1992 rằng để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần phải áp dụng rộng
rãi phương pháp tiếp cận phòng ngừa tùy theo khả năng của từng quốc gia.
Yêu cầu của nguyên tắc này là đòi hỏi các quốc gia khi đưa ra các quyết định
liên quan đến hoạt động có thể ảnh hưởng xấu tới môi trường cần phải cận
trọng và phải có dự doand trước mức độ nguy hại trên cơ sở khoa học. Ví dụ
khi xây dựng đập thủy điện quốc gia trên sông quốc tế, quốc gia phải đảm bảo
rằng việc triển khai không làm ảnh hưởng tới môi trường của toàn khu vực có
sông chảy qua theo nguyên tắc tiếp cận đề phòng như đã nêu.
3.10. Nguyên tắc toàn cầu trong lĩnh vực môi trường
Nhắc tới luật quốc tế về môi trường người ta không thể không đề cập
tới nguyên tắc toàn cầu. Nguyên tắc này đòi hỏi sự hợp tác trên tất cả các bình
diện với các cấp độ: toàn cầu, khu vực, song phương và đôi khi không chỉ là
thỏa thuận giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế là chủ thể của Luật pháp
21
quốc tế mà còn đối với các thực thể (entity) khác từ các hiệp hội (Association)
về doanh nghiệp, chuyên môn, .. tới các tổ chức phi chính phủ là một nguyên
tắc hay các thành phần khác trong đời sống quốc tế.
Nội dung chính của nguyên tắc toàn cầu trong lĩnh vực môi trường
chính là nghĩa vụ hợp tác quốc tế, bao gồm:
- Hợp tác để thực hiện các biện pháp cần thiết như thông báo trước
(advance notify), tham khảo ý kiến (opinion reference), đàm phán và tham gia
đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích bảo vệ môi trường và thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững, sử dụng tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên
cùng chia sẻ và cũng để giải quyết cá tranh chấp quốc tế về môi trường bằng
biện pháp hòa bình.
- Hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ và cung cấp tài liệu, thực
hiện cam kết trong các điều ước quốc tế về môi trường. Trong nghĩa vụ hợp
tác này, các quốc gia tham gia phải nỗ lực thực hiện việc chuyển giao các
công nghệ về môi trường mới nhất để xử lý các vấn đề về môi trường, các yêu
cầu để bảo vệ môi trường theo các cam kết của mình.
- Hợp tác trong lĩnh vực thông tin. Theo đó, các thực thể cần trao đổi
thông tin để có thể nắm bắt kịp thời nhất các vấn đề về môi trường có liên
quan.
- Hợp tác trong xây dựng các quy định pháp lý thống nhất về môi
trường. Đặt ra nghĩa vụ hợp tác này, các quốc gia nhắm tới việc hài hòa hóa
(harmonization) các quy định ban hành về môi trường đảm bảo có những tiêu
chuẩn chung để có thể công nhận lẫn nhau trong khi hợp tác áp dụng thực
hiện.
- Hợp tác sử dụng một cách công bằng và hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên xuyên biên giới. Ví dụ Hội ủy song Mekong được thành lập để
hợp tác và bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên của Sông Mekong.
Các nước đều có mối quan tâm chung hợp tác để bảo vệ môi trường
nhưng cần có sự đối xử khác nhau giữa các nước đang phát triển và các nước
phát triển trong việc phân chia các gánh nặng với trách nhiệm về môi trường.
Điển hình, các nước phát triển có trình độ công nghệ và nguồn tài chính gây
sức ép và tiếng nói lớn hơn cho môi trường toàn cầu sẽ có trách nhiệm lớn
hơn về sự phát triển bền vững của môi trường toàn cầu.
3.11. Các nguyên tắc tham gia cộng đồng, tiếp cận thông tin, đánh
giá tác động môi trường và thông báo, ra quyết định
22
Nếu như nguyên tắc toàn cầu trong lĩnh vực môi trường ghi nhận các
nghĩa vụ của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường quốc tế thì nguyên
tắc tham gia cộng đồng, tiếp cận thông tin, đánh giá tác động môi trường và
thông báo, ra quyết định được nêu ra sau đây lại là nguyên tắc ghi nhận quyền
lợi của cộng đồng trong việc tiếp cận và tham gia vào công tác quản lý môi
trường của chính phủ các nước.
Nếu không có sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội, mọi thành phần và
trên bình diện toàn cầu thì bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững không
thể đạt được mục tiêu cũng như hiệu quả trọn vẹn. Việc tham gia này phải
đảm bảo trong tất cả quá trình đưa ra và thực hiện các quyết định về môi
trường. Chương trình hành động 21 và Tuyên bố Rio De Janeiro (1992) có
nguyên tắc số 10 đề cập tới: “Những vấn đề môi trường được giải quyết tốt
nhất với sự tham gia của các công dân quan tâm, ở cấp độ thích hợp. Ở cấp độ
quốc gia, mỗi các nhân có quyền được thông tin thích hợp liên quan đến môi
trương do các nhà chức trách nắm giữ bao gồm:
- Thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng
đồng.
- Cơ hội tham gia vào các quá trình quyết định.
Các quốc gia cần làm cho thuận tiện và khuyến khích tuyên truyền sự
tham gia của công dân bằng cách phổ biến thông tin rộng rãi. Công dân
(citizen) cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản pháp luật
(legal documentation) và chính sách (policy)). Tại các nguyên tắc 20, 21, 22,
23 của Tuyên bố Rio De Janeiro 1992 cũng nhắc tới vấn đề tham gia cộng
đồng này từ những khía cạnh khác nhau.
Nguyên tắc này đặt ra nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của cộng đồng
tham gia cùng việc quản lý và quyết định về vấn đề môi trường của chính phủ
các nước.
3.12. Nguyên tắc về giải quyết tranh chấp môi trường
Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là các quốc gia phải có nghĩa vụ
thực hiện các điều ước mà mình tham gia một cách thiện chí. Việc ngăn ngừa
tranh chấp đóng một vai trò rất quan trọng lĩnh vực môi trường và phát triển
bền vững, bởi lẽ nếu tổn hại môi trường xảy ra, chúng ta thường rất khó khăn
để khắc phục lại đúng như trạng thái ban đầu. Các biện pháp thông báo, báo
cáo, quan trắc, trao đổi thông tin và tham khảo ý kiến là những biện pháp tốt
nhất để tránh xảy ra tranh chấp. Các quốc gia trong phạm vi của mình cần ban
hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, những tiêu chuẩn môi trường, những
23
mục tiêu quản lý và những ưu tiên phản ánh nội dung môi trường và phát
triển. Luật pháp quốc tế không được kém hữu hiệu hơn các quy tắc và tiêu
chuẩn của từng quốc gia.
Một khi tranh chấp môi trường xảy ra, các quốc gia có nghĩa vụ giải
quyết các tranh chấp này bằng các biện pháp hòa bình, điều này đã được pháp
điển hóa vào các công ước quốc tế có liên quan tới môi trường.
Ví dụ như tại công ước khung về biến đổi khí hậu quy định về thành
lập ủy ban hòa giải. Ngoài ra, các tổ chức và định chế quốc tế cũng đóng một
vai trò hết sức quan trọng trong giải quyết hòa bình các tranh chấp về môi
trường. Tổ chức thương mại quốc tế, hiệp hội sông Mekong, Hiệp hội sông
Danube đều có các quy đinh về thủ tục giải quyết các tranh chấp quốc tế về
môi trường
KÊT LUẬN
Tóm lại, tìm hiểu các nguyên tắc về luật môi trường quốc tế đầu tiên
tạo điều kiện cho việc nắm vững các tri thức cơ bản và là một công cụ để tiếp
cận vào khoa học luật môi trường quốc tế sau đó là nền tảng pháp lý để tiếp
cận và vận dụng các quy định của luật pháp quốc tế vào thực tiễn. Luật quốc
tế về môi trường là ngành luật, chế định luật không mới song sẽ là quan trọng
trong hệ thống luật quốc tế trong tương lai vì nó gắn liền với phát triển bền
vững đời sống quốc tế. Vấn đề nguyên tắc của luật môi trường quốc tế là vấn
đề cơ bản cần đào sâu và làm rõ để làm nền tảng xây dựng các chế định luật
môi trường phù hợp với sự phát triển chung của luật quốc tế trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay.
24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A – Văn bản pháp ly
1.
Hiến chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1945
2.
Tuyên bố "Về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh
mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến
chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1970"
3.
Resolution of General Assembly 1803 (XVII). Permament
sovereignty over natural resource, 14/12/1962, 1194th plenary meeting,
/>symbol=A/RES/1803(XVII)&Lang=E&Area=RESOLUTION
4.
Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio
De Janeiro 14/6/1992
B – Tài liệu tham khảo khác
5.
PGS. TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên, 2013), Giáo trình Công
pháp Quốc tế, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản
ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr. 217-218.
6.
TS. GVC. Nguyễn Lan Nguyên (2011), “Thực thi một số điều
ước quốc tế cơ bản về bảo vệ môi trường ở Việt Nam (Sách chuyên
khảo), Nhà XB Chính trị - Hành chính.
7.
ThS.Nguyễn Đình Đáp - Tổng cục Môi trường, ThS.Bùi Phương
Thảo, ThS.Nguyễn Thị Nhung - Học viện Cảnh sát nhân dân, Tiếp cận
quyền con người trong bảo vệ môi trường.
8.
/>
9.
/>
10.
/>%C3%AAnb%E1%BB%91LHQv%E1%BB%81m%C3%B4itr
%C6%B0%E1%BB%9Dngv%C3%A0ph%C3%A1ttri%E1%BB
%83n.aspx
25