MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, hợp tác kinh tế quốc tế đang trở thành xu hướng chủ đạo của đời sống
kinh tế thế giới. Với mỗi quốc gia, việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế có vai trò
vô cùng quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế của quốc gia đó. Hầu hết các
nước đều nỗ lực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế khu vực hoặc ký kết các hiệp
định thương mại song phương, đa phương nhằm tận dụng các quan hệ kinh tế này để
thúc đẩy các lợi ích và giá trị mà nó mang lại. Không nằm ngoài xu hướng đó, trong
hơn 20 năm qua, Việt Nam đã tích cực đàm phán tham gia và trở thành thành viên của
nhiều định chế kinh tế lớn trên thế giới; đồng thời ký kết một số Hiệp định kinh tế thương mại có sự tham gia của nhiều nền kinh tế hàng đầu thế giới. Điều này đã khẳng
định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình hội nhập quốc
tế, cũng như đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam.
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) được coi như hiệp định thương mại
tự do “thế hệ mới” đầy tham vọng và tiêu chuẩn cao; là một thỏa thuận khu vực mở
rộng, linh hoạt và toàn diện. TPP cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ và tham gia sâu
của các bên, loại bỏ hoàn toàn nhiều dòng thuế nhập khẩu, mở cửa dịch vụ và các yêu
cầu cao về môi trường và lao động… Vì thế, tham gia TPP được đánh giá là một cơ
hội không thể bỏ qua đối với các nền kinh tế, đặc biệt là với các nền kinh tế đang phát
triển trong đó có Việt Nam. Việc tham gia TPP dự kiến sẽ mang lại những lợi ích to
lớn cho Việt Nam với cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ từ các nền kinh tế thành
viên trên hầu hết các lĩnh vực, gia tăng xuất khẩu, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế... Tuy
nhiên, bên cạnh những triển vọng mà TPP có thể mang lại, Việt Nam cũng sẽ gặp phải
những thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những bước đi thận trọng và đúng hướng.
Trong số những lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, dệt may là một trong những
ngành nghề chịu tác động lớn nhất từ Hiệp định TPP. Việc gia nhập TPP sẽ mở ra
những thuận lợi, triển vọng tăng trưởng chưa từng có cho hàng dệt may Việt Nam.
Tuy nhiên, cùng với đó sẽ là những thách thức lớn từ đối thủ cạnh tranh hay những
yêu cầu đổi mới từ trong nước, đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngành này phải có
chiến lược và định hướng chính sách kịp thời, phù hợp. Từ tình hình trên, nhóm tác giả
quyết định chọn đề tài “Tác động của Hiệp định TPP đến ngành dệt may Việt Nam
– cơ hội, thách thức và một số đề xuất, kiến nghị” làm đề tài Tiểu luận làm đề tài
2
tiểu luận của mình với mong muốn cung cấp cho độc giả hệ thống thông tin cơ bản về
vấn đề quan trọng này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của tiểu luận là hệ thống những thông tin tổng quát về Hiệp định
TPP, tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam, ngành dệt may. Trên cơ sở đó, nêu lên
một số gợi ý chính sách đối với ngành dệt may của nước ta thời gian tới.
Để đạt được mục đích trên, nhóm tác giả xác định ba nhiệm vu ̣sau:
Thứ nhất, phân tích tổng quan về Hiệp định TPP và tác động của nó tới tổng thể
nền kinh tế Việt Nam.
Thứ hai, tập hợp, hệ thống những vấn đề của TPP liên quan đến ngành dệt may
Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp quản lý nhà nước và biện pháp cụ
thể đối với các doanh nghiệp dệt may trong nước.
3. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được xây dựng theo phương pháp thống kê, tổng hợp kết hợp phân
tích, so sánh dựa trên kiến thức kinh tế học của các thành viên trong nhóm và một số
nguồn tư liệu sẵn có
4. Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung tìm hiểu về Hiệp định TPP và những ảnh hưởng của nó đối
với lĩnh vực dệt may của Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔNG
THỂ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.1. Định nghĩa về Hiệp định TPP
Hiệp định TPP (tên tiếng anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership
Agreement) tạm dịch là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình
Dương. Đây là một hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký với mục tiêu thiết
lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương. TPP hiện tại có 12 thành viên bao gồm: Australia, Brunei, Chile, Malaysia,
Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam.
Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch
vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên nhằm tăng cường trao đổi hàng hóa, dịch
vụ giữa các nước này, thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế.
1.2.
Lịch sử hình thành, phát triển và quá trình đàm phán
Năm 2002, TPP bắt đầu hình thành với 3 nước đầu tiên là Singapore, New
Zeland và Chile bàn thảo Pacific Three Closer Economic Partnership (P3-CEP). Tháng
4/2004, Brunei tham gia và thỏa thuận được đổi tên thành Hiệp định Đối tác Kinh tế
Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương hay còn gọi là P4. Hiệp định này được ký kết bởi
4 thành viên vào ngày 3/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 28/5/2006.
Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của
Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính và đầu tư và trao đổi với Hoa Kỳ về khả
năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4. Phía Hoa Kỳ cũng bắt đầu tiến
hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về vấn đề
này. Tháng 9/2008, Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) thông báo quyết
định của Hoa Kỳ tham gia đàm phán P4 mở rộng và chính thức tham gia Hiệp định
này để mở cửa thị trường đầu tư và dịch vụ tài chính.
Tháng 11/2008, Peru, Australia cũng bày tỏ ý định muốn gia nhập. Tại buổi họp
báo công bố sự tham gia của Australia và Peru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm
phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP
được lên lịch và diễn ra cho đến nay.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia TPP với tư cách thành viên liên
kết. Tuy nhiên, đàm phán TPP mới đã bị trì hoãn đến tận cuối năm 2009 do phải chờ
đợi Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống
Obama tham vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP. Tháng 12/2009, USTR
4
thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP.
Chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động.
Tháng 3/2010, vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại Melbourn
(Australia). Năm 2010 đã chứng kiến 4 vòng đàm phán trong khuôn khổ TPP (Vòng 2,
3 đã tiến hành tại San Francisco - Hoa Kỳ tháng 6/2010 và tại Brunei tháng 10/2010,
Vòng 4 kết thúc trong tháng 12/2010 tại New Zealand). Các nước đàm phán đặt mục
tiêu là sẽ hoàn thành đàm phán TPP vào cuối 2011 sau 5 vòng đàm phán.
Tháng 10/2010, tại vòng đàm phán thứ ba diễn ra ở Brunei, Malaysia chính
thức tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên 9 nước.
Tháng 11/2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách thành viên
liên kết, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP.
Tháng 6/2012, Canada và Mexico tuyên bố tham gia đàm phán và trở thành
thành viên chính thức vào tháng 10/2012.
Tháng 7/2013, Nhật Bản tham gia đàm phán và trở thành thành viên thứ 12 tại
vòng đàm phán thứ 18 diễn ra ở Malaysia.
Ngày 5/10/2015, sau nhiều vòng đàm phán tại Atlanta, hiệp định TPP chính
thức đạt được những thỏa thuận cuối cùng.
1.3.
Nội dung chính của TPP
Ngày 5/10/2015, Bộ công thương đã công bố tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
sau khi 12 nước tham gia đàm phán đã đạt được những thỏa thuận cuối cùng. Theo đó,
hiệp định TPP gồm 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan đến
thương mại, cụ thể:
- Về thương mại hàng hóa
Các bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các hàng rào
phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp và xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan cũng
như các chính sách mang tính hạn chế khác đối với hàng hóa nông nghiệp.
Việc xóa bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng công nghiệp sẽ được thực hiện
ngay lập tức mặc dù thuế quan đối với một số mặt hàng sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài
hơn do các bên thống nhất.
Việc cắt giảm thuế cụ thể do các bên thống nhất được quy định tại lộ trình cam
kết bao gồm tất cả hàng hóa và được đính kèm theo lời văn của hiệp định. Đối với
hàng nông nghiệp, các bên sẽ xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách mang
5
tính hạn chế khác để gia tăng thương mại hàng nông nghiệp trong khu vực, cải cách về
mặt chính sách, bao gồm cả việc thông qua xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp.
Các bên tham gia TPP đưa ra các quy định hạn chế việc cấp vốn ưu đãi từ chính
phủ hoặc các chính sách khác gây bóp méo thương mại nông sản.
- Về dệt may
Các bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may - ngành
công nghiệp. Hầu hết thuế quan sẽ được xóa bỏ ngay lập tức, mặt dù thuế quan đối với
một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các bên thống nhất.
Chương dệt may cũng bao gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng
sợi và vải từ khu vực TPP. Điều này sẽ thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và
đầu tư khu vực trong lĩnh vực này, cùng với cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép
việc sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực.
Chương này còn đề cập đến cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm ngăn
chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận cũng như cơ chế tự vệ đặc biệt đối với dệt
may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối
với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu.
- Về quy tắc xuất xứ
Về nguyên tắc xuất xứ, 12 nước thành viên TPP đã thống nhất về một bộ quy
tắc xuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ” và do vậy được
hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP.
Ngoài ra, các bên nhất trí không áp dụng các hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và
các loại thuế không phù hợp với WTO, bao gồm cả hàng tân trang - việc này được cho
là sẽ thúc đẩy việc tái chế tất cả các bộ phận để chuyển thành các sản phẩm mới.
Nếu các bên TPP duy trì yêu cầu cấp phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu thì phải
thông báo cho các bên kia về những quy trình không nhằm mục đích làm chậm sự lưu
thông thương mại.
- Về quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại
Các nước nhất trí về các quy định liên quan tới xử phạt hải quan để bảo đảm các
hình thức xử phạt này được thực hiện một cách công bằng và minh bạch. Bên cạnh đó,
vì tầm quan trọng của chuyển phát nhanh đối với các lĩnh vực kinh doanh, trong đó có
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nước TPP đã nhất trí về các quy định hải quan đối
với chuyển phát nhanh.
6
Để hỗ trợ chống buôn lậu và trốn thuế, các nước tham gia TPP nhất trí cung cấp
thông tin khi được yêu cầu để hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực thi luật hải quan.
Đối với các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật (SPS), các nước TPP
nhất trí cho phép công chúng được đóng góp ý kiến vào các dự thảo quy định SPS
trong quá trình đưa ra quyết định và ban hành chính sách cũng như để bảo đảm rằng
doanh nghiệp hiểu rõ các quy định mà họ sẽ phải tuân thủ.
Việc kiểm tra hàng hóa đáp ứng các quy định SPS được dựa trên các rủi ro tiềm
tàng trên thực tế có gắn với việc nhập khẩu và thông báo cho nhà nhập khẩu hoặc xuất
khẩu trong vòng bảy ngày nếu hàng hóa bị cấm nhập khẩu vì lý do liên quan đến SPS.
Đối với hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các thành viên TPP đã
nhất trí về các nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử khi xây dựng các quy
định, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp.
Để cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc biệt là các doanh nghiệp
nhỏ, các thành viên TPP nhất trí các quy định giúp xóa bỏ các quy trình kiểm tra và
chứng nhận trùng lắp đối với các sản phẩm, thiết lập quy trình dễ dàng hơn giúp các
công ty tiếp cận thị trường các nước TPP.
Ngoài ra, hiệp định TPP bao gồm các phụ lục liên quan tới các quy định về các
lĩnh vực cụ thể nhằm thúc đẩy cách tiếp cận chung về chính sách trong khu vực TPP.
Các lĩnh vực này bao gồm mỹ phẩm, thiết bị y tế, dược phẩm, các sản phẩm
công nghệ thông tin và truyền thông, rượu và đồ uống có cồn, thực phẩm và các chất
gây nghiện và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Chương phòng vệ thương mại trong Hiệp định TPP cho phép một thành viên
thực hiện một biện pháp tự vệ tạm thời trong một khoảng thời gian cụ thể nếu việc
nhập khẩu tăng đột biến do kết quả của việc cắt giảm thuế được thực hiện theo hiệp
định TPP đủ để gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước. Các
biện pháp này có thể được duy trì lên tới 2 năm, với việc gia hạn 1 năm, nhưng phải
được tự do hóa dần dần nếu các biện pháp này đã kéo dài hơn một năm.
Đối với đầu tư, các thành viên chấp nhận các nghĩa vụ dựa trên cơ sở “một danh
mục chọn bỏ”, nghĩa là thị trường các nước là mở hoàn toàn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài, trừ khi các thành viên đưa ra một ngoại lệ (biện pháp bảo lưu không tương
thích) trong một trong hai phụ lục cụ thể của quốc gia đó đính kèm hiệp định TPP: các
biện pháp hiện hành trong đó một quốc gia chấp nhận nghĩa vụ không đưa ra các biện
7
pháp hạn chế hơn trong tương lai và ràng buộc bất kỳ sự tự do hóa nào trong tương lai,
và các biện pháp và chính sách mà theo đó một quốc gia duy trì quyền tự do làm theo
ý mình một cách đầy đủ trong tương lai.
Trong chương thương mại điện tử, nghiêm cấm việc áp dụng thuế quan đối với
các sản phẩm kỹ thuật số và ngăn chặn các thành viên TPP tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ trong nước đối với các sản phẩm kỹ thuật
số này thông qua các biện pháp như thuế phân biệt đối xử hoặc sự ngăn cấm một cách
rõ ràng.
Các thành viên cũng được yêu cầu phải có các biện pháp để chấm dứt các tin
nhắn thương mại điện tử được gửi đi không do yêu cầu.
Đối với mua sắm chính phủ, các thành viên sẽ chỉ duyệt hợp đồng dựa trên
những tiêu chí đánh giá đã mô tả trong các thông báo và hồ sơ dự thầu, sẽ xây dựng
các quy trình hợp lý để chất vấn hoặc xem xét các khiếu nại đối với một phê duyệt nào
đó. Mỗi thành viên sẽ đưa ra một danh sách chọn cho các đơn vị mà thành viên đó sẽ
xây dựng, được liệt kê tại phụ lục gắn liền với Hiệp định TPP.
Trong chương doanh nghiệp nhà nước (SOEs), tất cả các thành viên TPP đều có
doanh nghiệp nhà nước nên nhất trí bảo đảm rằng các SOEs của mình sẽ tiến hành các
hoạt động thương mại trên cơ sở tính toán thương mại, trừ trường hợp không phù hợp
với nhiệm vụ mà các SOEs đó đang phải thực hiện để cung cấp các dịch vụ công. Các
thành viên cũng đồng ý bảo đảm rằng các SOEs hoặc đơn vị độc quyền sẵn có không
có những hoạt động phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ của
các thành viên khác.
Các thành viên TPP đồng ý chia sẻ danh sách các SOEs với các thành viên khác
và khi được yêu cầu sẽ cung cấp các thông tin bổ sung về mức độ sở hữu hoặc kiểm
soát của chính phủ và những hỗ trợ phi thương mại cung cấp cho các SOEs.
8
Hiệp định TPP quy định việc thành lập Ủy ban Doanh nghiệp vừa và nhỏ được
tiến hành họp định kỳ để rà soát mức độ hỗ trợ của Hiệp định TPP cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, cân nhắc các cách thức để nâng cao hơn nữa những lợi ích của hiệp
định và giám sát các hoạt động hợp tác hoặc nâng cao năng lực để hỗ trợ cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ thông qua tư vấn xuất khẩu, hỗ trợ, đào tạo cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ; chia sẻ thông tin; cấp vốn thương mại và các hoạt động khác.
Đáng chú ý, TPP sẽ tạo nên các cơ chế chính thức nhằm rà soát tác động của
TPP lên sức cạnh tranh của các thành viên thông qua các cuộc đối thoại giữa các chính
phủ và giữa chính phủ với doanh nghiệp và cộng đồng, tập trung tham gia sâu vào
chuỗi cung ứng khu vực nhằm đánh giá sự phát triển, tận dụng lợi thế của các cơ hội
mới, và giải quyết bất cứ các thách thức có thể nổi lên khi hiệp định TPP có hiệu lực.
Trong số các giải pháp này có việc thành lập Ủy ban Về cạnh tranh và tạo thuận
lợi kinh doanh. Ủy ban này sẽ nhóm họp thường xuyên nhằm rà soát tác động của hiệp
định TPP lên sức cạnh tranh của khu vực và quốc gia và lên hệ thống kinh tế khu vực.
Ngoài ra, những nội dung về thương mại dịch vụ qua biên giới, dịch vụ tài
chính, nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh, viễn thông, chính sách cạnh tranh, sở
hữu trí tuệ, minh bạch hoá và chống tham nhũng, các điều khoản về hành chính và thể
chế, giải quyết tranh chấp…cũng là nội dung quan trọng trong Hiệp định TPP.
9
CHƯƠNG 2 - TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP ĐẾN NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
2.1.1 Tình hình tăng trưởng ngành dệt may Việt Nam
Trong nhiều năm trở lại đây, dệt may được lựa chọn là ngành kinh tế mũi nhọn
trong xuất khẩu ở Việt Nam, có được nhiều chính sách ưu tiên từ Chính phủ và hứa
hẹn sẽ đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước và
nền kinh tế. Hơn thế nữa, sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành
dệt may Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận công nghệ, thông tin, các dịch vụ cũng như
có kinh nghiệm quản lý tốt hơn và được bình đẳng về thuế quan giữa các nước thành
viên. Với những lợi thế riêng như ổn định chính trị, năng suất, chi phí nhân công thấp,
đáp ứng được sự đa dạng về các chủng loại hàng may mặc..., dệt may Việt Nam đang
ngày càng khẳng định được uy tín trên thị trường thế giới và đứng trong top các nước
xuất khẩu cao.
Ngành dệt may Việt Nam đã có hơn 20 năm liên tục phát triển với tỷ lệ tăng
trưởng bình quân 15%/năm, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp từ 10%-15% GDP
hàng năm. Việt Nam hiện là một trong 5 nhà xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới với
thị phần 4%-5%. Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU và Nhật
(chiếm trên 75% kim ngạch xuất khẩu hàng năm) với các sản phẩm may mặc chủ yếu
là các sản phẩm từ bông và sợi tổng hợp cho phân khúc thị trường cấp trung và thấp.
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ 3
trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thức gia
công đơn giản; còn phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu (khoảng 70%), chủ
10
yếu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc. Tuy nhiên, liên tiếp hai năm trở
lại đây, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu phụ liệu dệt may, khẳng định bước đầu cho
sự tự chủ.
Theo thống kê Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), hiện Việt Nam có
khoảng 6000 công ty dệt may, với lực lượng lao động chiếm hơn 20% lao động trong
khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toàn quốc. Phần lớn các công
ty được đặt tại miền Nam (62%), còn lại nằm ở miền Bắc (30%), miền Trung và Tây
Nguyên (8%). Trong đó, các công ty may chiếm tỷ trọng lớn (70%), còn lại là các
công ty dệt (17%), kéo sợi (6%), nhuộm (4%), và ngành công nghiệp hỗ trợ (3%).
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng xuất khẩu nghiêng hẳn về phía các doanh nghiệp FDI
với hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và
tăng trưởng thị trường nội địa theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may
đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Công Thương sẽ đạt khoảng 10%-12%/năm.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành dệt may vẫn phải đối mặt với không ít khó
khăn, thách thức khi hội nhập sâu với thị trường quốc tế: sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nước xuất khẩu, các rào cản thương mại ngày càng tăng từ các thị trường nhập
khẩu lớn, nhất là từ Hoa Kỳ với các yêu cầu khắt khe về trách nhiệm xã hội, nhãn mác,
sinh thái, bảo vệ môi trường…
2.1.2 Chuỗi giá trị của ngành dệt may Việt Nam
Tuy ngành dệt may là một trong những ngành xuất khẩu đi đầu của Việt Nam,
nhưng nếu xét về chuỗi giá trị của ngành thì vẫn còn nhiều hạn chế. Chuỗi giá trị toàn
cầu ngành dệt may bao gồm các khâu: Nghiên cứu thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu,
cắt và may (sản xuất sản phẩm cuối cùng), xuất khẩu và marketing và phân phối sản
phẩm, trong đó khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng là khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp
nhất (chỉ chiếm 5 – 10% tỷ suất lợi nhuận). Nhưng hiện nay theo thống kê của Hiệp
hội Dệt may Việt Nam (VITAS), ngành dệt may trong nước có đến 70% doanh nghiệp
sản xuất theo hình thức gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, tức là chỉ tham gia
vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng.
11
Về khâu cung ứng nguyên phụ liệu: Ngành dệt may Việt Nam có tính gia công
lớn, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển. Theo số liệu thống kê của VITAS, hiện nay
hơn 70% nguyên phụ liệu dệt may (bông tự nhiên, sơ xợi các loại, vải) vẫn phải nhập
khẩu.
Theo Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại Bộ Công Thương
(VITIC) cho biết, 2 tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt
may, da giày của nước ta đạt 658,42 triệu USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Thị trường nhập khẩu chủ yếu vẫn là Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.
Cụ thể, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc với 232,83 triệu USD, chiếm
35,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 33,16% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp
theo là Hàn Quốc với 104,07 triệu USD, chiếm 15,8%, giảm 5,27%; Đài Loan với
64,27 triệu USD, chiếm 9,8%, tăng 19,01%; Hoa Kỳ với 40,83 triệu USD, chiếm
6,2%, giảm 0,48% so cùng kỳ.
Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngành dệt may chưa thực sự chủ động
được về nguồn cung ứng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, làm giảm khả năng
cạnh tranh trên thị trường.
Về khâu nghiên cứu thiết kế: Đây là khâu sẽ cho lợi nhuận cao kéo theo đó
nâng giá trị gia tăng trong các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên,
khâu nghiên cứu và thiết kế sản phẩm lại là khâu yếu nhất của các doanh nghiệp Việt
Nam. Đa phần các công đoạn thiết kế cho các sản phẩm may ở của nước ta được thực
hiện tại những nước có ngành công nghiệp thời trang phát triển như Anh, Pháp, Mỹ,
Hồng Kông… Sau đó, các mẫu thiết kế được chuyển về Việt Nam, các công ty may
của nước ta chỉ gia công theo đúng mẫu mã theo đơn đặt hàng. Mới chỉ có một số
12
doanh nghiệp đang cố gắng xây dựng và đưa thương hiệu của mình vào thị trường như
may Việt Tiến với sản phẩm San Sciaro và Manhattan, công ty thời trang Việt với
thương hiệu Nino max, Công ty TNHH May Thêu Giày An Phước…
Về giá bán: Giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam thường cao hơn 15%- 30%
so với giá thế giới do chi phí nguyên phụ liệu, vận chuyển và lương tối thiểu đang
ngày càng tăng cao.
Về hoạt động marketing và phân phối: Các doanh nghiệp dệt may trong nước
hiện nay vẫn chưa có hệ thống phân phối rộng lớn đến tận tay người tiêu dùng, nhất là
trên thị trường quốc tế. Theo kết quả nghiên cứu của tổ chức T&G firms, các doanh
nghiệp Việt Nam vẫn phải qua các nhà cung cấp khu vực để có được hợp đồng gia
công, rất ít doanh nghiệp có được hợp đồng từ các nhà bán lẻ để cung cấp sản phẩm
của mình. Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện phụ
thuộc vào các nhà buôn nước ngoài. Các nhà buôn đóng vai trò rất quan trọng là trung
gian trong chuỗi cung ứng hàng dệt may của Việt Nam ra thế giới. Nói cách khác,
doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn thiếu liên kết với người tiêu dùng sản phẩm cuối
cùng, mà chỉ thực hiện các hợp đồng gia công lại cho các nhà sản xuất khu vực. Do đó
thường không nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, điều này dẫn đến
việc sản phẩm dệt may ít được đón nhận, ít có các sản phẩm mang thương hiệu riêng
của mình.
13
2.1.3
Tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam vào các nước TPP
Đến nay, Hiệp định TPP có sự tham gia của 12 nước thành viên: Australia,
Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Newzealand, Peru, Singapore,
Hoa Kỳ và Việt Nam. Sau 5 tháng đầu năm 2015, giá trị xuất khẩu hàng dệt may của
Việt Nam sang thị trường các nước thành viên đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP) đã tăng 69,66% so với cùng kỳ năm 2014. Cụ thể:
Tại thị trường Hoa Kỳ: Xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt giá trị lớn nhất, với 4,050 tỷ
USD, chiếm gần 50% trong khối thị trường các nước TPP, tăng 53% so với cùng kỳ.
Thị trường Nhật Bản: đứng vị trí thứ hai trong số các nước thành viên TPP, sản
lượng đạt giá trị 1,005 tỷ USD, chiếm 12,3%.
Thị trường Canada: Đạt 207 triệu USD, tăng nhẹ 6% so với cùng kỳ.
Thị trường Australia: xếp vị trí thứ tư với 55 triệu USD.
Thị trường Chile: 43 triệu USD.
Thị trường Mexico: 33,7 triệu USD.
Thị trường Malaysia: 25,8 triệu USD.
Trong năm 2015, xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam sang các thị trường
TPP đạt mức tăng trưởng dương tại 10 thị trường, chỉ giảm nhẹ 1% tại thị trưởng
Mexico.
Cùng với da giày, ngành dệt may đang là ngành kinh tế xuất khẩu quan trọng
nhất của Việt Nam. Với những ưu đãi thuế quan trong Hiệp định TPP, dệt may có thể
dành thêm nhiều thị phần nhập khẩu từ tay Trung Quốc - nhà xuất khẩu số một hàng
dệt may, da giày vào thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Nhiều chuyên gia cho rằng khả năng phần xuất khẩu tăng thêm nhờ tác động
của TPP vào năm 2025 (với dự kiến TPP có hiệu lực vào đầu năm 2018) sẽ khoảng 13
tỷ USD tại thị trường Hoa Kỳ và khoảng 1,8 tỷ USD vào thị trường Nhật Bản. Chỉ với
riêng hai thị trường này, TPP sẽ mang thêm gần 15 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may.
Đối với dệt may, TPP sẽ thúc đẩy nhanh đầu tư nước ngoài vào công nghiệp
phụ trợ, vốn là điểm yếu hiện nay khi mà ngành này đang phải nhập khẩu đến trên
70% nguyên phụ liệu. Trên cở sở đó, Việt Nam có thể thoả mãn yêu cầu về quy chế
xuất xứ cho việc chế biến hàng xuất khẩu, để hưởng mức thuế suất bằng 0 vào thị
trường Hoa Kỳ (hiện nay là 17,5%).
Bên cạnh đó, Hiệp định TPP cũng đã là động lực thu hút khá nhiều dự án đầu tư
14
vào ngành dệt Việt Nam có giá trị đến gần 1 tỷ USD như: dự án mở rộng Global
Dying (Hàn Quốc); dự án sợi dệt TexHong (Hong Kong); dự án dệt kim Kam Hing
(Hong Kong); dự án dệt kim Pacific (Hong Kong); dự án dệt thoi Younger (Trung
Quốc); dự án vải sợi màu Lu-Thai (Thailand-TQ); dự án TAL Hong Kong, dự án
HyosungKorea…
2.1.4
Các kết quả đàm phán TPP về dệt may
Trong đàm phán các nội dung cốt lõi của Hiệp định TPP, lần đầu tiên, dệt may
được tách thành một chương riêng với những quy định chặt chẽ. Theo Bộ Công
thương, dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào thị trường TPP,
đồng thời có nhiều tiềm năng gia tăng giá trị khi Hiệp định này có hiệu lực. Kết thúc
đàm phán Hiệp định TPP về dệt may, các nước đã thống nhất được các nội dung liên
quan đến lĩnh vực này, trong đó có một số điểm đáng chú ý, cụ thể:
Về thuế nhập khẩu, sau khi Hiệp định có hiệu lực, 73,1% số dòng thuế tại thị trường
Mỹ sẽ được đưa về 0%. Tại Canada, toàn bộ mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu của
Việt Nam sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 năm. 42,9%
kim ngạch xuất khẩu vào Canada có thuế 0% năm đầu tiên và 57,1% kim ngạch có
thuế 0% vào năm thứ 4.
Tuy nhiên, để có thể được áp dụng mức thuế trên, ngành dệt may Việt Nam
phải tuân thủ theo những nguyên tắc nghiêm ngặt. Quy tắc xuất xứ chủ đạo là “từ sợi
trở đi” hay được gọi quy tắc “3 công đoạn”, nghĩa là toàn bộ quá trình kéo sợi, dệt vải,
nhuộm, hoàn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối TPP. Quy tắc này
khuyến khích phát triển ngành công nghiệp dệt may theo ngành dọc, đầu tư phát triển
ngành sợi, vải, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi
cung ứng trong nội khối TPP và khối cung ứng toàn cầu.
15
2.2. Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may khi Việt Nam tham gia TPP
2.2.1.
Cơ hội
Khi bắt đầu có hiệu lực, TPP sẽ tạo ra cú hích lớn và mang đến động lực quan
trọng cho sự phát triển của dệt may Việt Nam:
Thứ nhất, khi gia nhập TPP, đại bộ phận hàng dệt may của nước ta sẽ được
hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào các nước thành viên TPP. Khi đó, thuế nhập
khẩu vào Hoa Kỳ và các nước trong TPP sẽ giảm xuống bằng 0. Đây là một lợi thế rất
lớn để ngành dệt may tăng thị phần trên trường quốc tế.
Thứ hai, ngành dệt may được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh và có tác động đáng
kể đến nền kinh tế trong nước. Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may đã chiếm hơn 15%
tổng doanh số xuất khẩu của cả nước và dự đoán đến năm 2025, doanh thu xuất khẩu
hàng dệt may có thể tăng lên đến 30 tỷ USD nếu năng lực sản xuất dệt may VN tăng
theo đúng chiến lược mà các cơ quan chức năng vạch ra. Đồng thời nhu cầu về nguyên
liệu (bông, sợi…) cũng sẽ tăng tương ứng. Bên cạnh đó, các nước tham gia TPP đa số
là những đối tác xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản. Có
đến 40% giá trị hàng hóa của Việt Nam được xuất sang 11 nước tham gia TPP, trong
đó những mặt hàng quần áo, dệt may và da giày chiếm đến 31% tổng giá trị. Trong 8
tháng đầu năm 2015, tỉ trọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các nước
TPP là hơn 9,8 tỉ USD trong tổng số gần 14,9 tỉ USD hàng dệt may của Việt Nam xuất
đi toàn thế giới (Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam – Vitas). Nếu TPP có hiệu lực và
đi vào thực thi thì tỉ trọng này trong tương lai có thể sẽ cao hơn nhiều. Dự báo mới đây
của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy, nếu TPP hoàn tất, đến năm 2020, sản lượng
ngành dệt may sẽ tăng 21%; tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành có thể đạt 41%,
tương ứng với giá trị xuất khẩu tăng thêm 11,5 tỷ USD. Trong đó, tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ có thể đạt kỷ lục 90%.
Thứ ba, nếu TPP góp phần thúc đẩy tốt vào đầu tư nguyên liệu thì các chỉ tiêu
về xuất siêu, giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa của ngành đều được nâng cao. Dự kiến
ngành sẽ đạt mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2016 và 70% vào năm 2020.
Thứ tư, thị trường lao động trong ngành dệt may cũng sẽ ảnh hưởng theo chiều
hướng tích cực. Khi thuế suất bằng 0%, hàng hóa xuất khẩu sang các nước TPP sẽ tăng
lên nhiều, điều này đồng nghĩa với việc thị trường lao động trong nước sẽ có nhiều
thay đổi. Lực lượng lao động tham gia vào ngành dệt may sẽ cao hơn kéo theo chất
lượng lao động sẽ cao hơn. Theo như dự kiến, trong điều kiện mọi yếu tố đều thuận
16
lợi, xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng 68 tỉ đô la vào năm 2026 nhờ TPP. Riêng về xuất
khẩu dệt may, một tỉ đô la xuất khẩu hàng năm sẽ tạo ra khoảng 250.000 việc làm.
2.2.2.
Thách thức
Bên cạnh những mặt tích cực do TPP mang lại, ngành dệt may cũng sẽ phải đối
mặt với nhiều khó khăn, đó là:
Thứ nhất, đi đôi với việc các doanh nghiệp trong nước có cơ hội quyết tâm nội
địa hóa nguyên phụ liệu ngành dệt may trong nước lên tỉ lệ cao hơn do một yêu cầu
khắt khe của TPP là “nguyên tắc xuất xứ” thì thách thức của nguyên tắc này đặt ra cho
ngành cũng không phải là nhỏ. Nếu muốn hướng thuế suất bằng 0% khi xuất khẩu thì
các doanh nghiệp cần phải chứng minh được là nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm
xuất khẩu đó hoàn toàn là sản xuất trong nước hoặc là nhập khẩu từ các nước tham gia
TPP khác chứ không phải là nguyên liệu (tính từ sợi) nhập khẩu từ các nước ngoài
TPP như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… Đó được gọi là nguyên tắc xuất xứ “từ
sợi trở đi” (yarn forward). Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam bởi
hiện tại ngành dệt may nước ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu
từ Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN - những nước không tham gia TPP.
Hiện nay Việt Nam chỉ đáp ứng được trên dưới 30% các nguyên phụ liệu sản xuất, còn
lại còn khoảng 70% đểu phải phụ thuộc vào viêc nhập khẩu từ nước ngoài. Chính vì
phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên Việt Nam đang thu
hút nhiều vốn FDI trong lĩnh vực dệt may. Theo thống kê, năm 2014, đã có gần 20 dự
án FDI mới đầu tư vào lĩnh vực dệt may, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp đến từ
Trung Quốc, Đài Loan và Hong Kong. Riêng đối với các doanh nghiệp Trung Quốc,
quyết định chuyển hướng đầu tư này được coi là một bước đi khôn ngoan, bởi điều
này sẽ giúp các doanh nghiệp nước này có được giấy chứng nhận hàng hóa "Made in
Vietnam", từ đó được hưởng mức thuế suất cực kỳ ưu đãi thay vì mức thuế suất 37%
khi vào thị trường Mỹ mà hàng "Made in China" hiện đang phải gánh chịu. Điều này
đồng nghĩa với việc sẽ khiến các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam gặp khó khăn
lớn bởi các sản phẩm có thương hiệu từ Việt Nam "thật" sẽ không thể cạnh tranh về
giá so với các doanh nghiệp Trung Quốc khi xuất khẩu.
Thứ hai, là thách thức về xu hướng đầu tư rất nhanh và mạnh của các nhà đầu
tư nước ngoài với lợi thế cả về tài chính, công nghệ và thị trường đều vượt xa so với
các doanh nghiệp Việt Nam. Khi nội dung của Hiệp định đã được thông qua, biết rõ
17
mốc thời gian có thể thu được lợi ích từ Hiệp định tại Việt Nam thì lập tức các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp 100% Việt Nam sẽ rơi
vào thế yếu vì doanh nghiệp Việt yếu hơn các doanh nghiệp nước ngoài về mọi mặt.
Thứ ba, mặt yếu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là năng suất lao động
thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên toàn cầu. Chỉ số
năng suất lao động của khu vực sản xuất của Việt Nam chỉ đạt 2,4 trong khi các quốc
gia sản xuất dệt may lớn khác như Trung Quốc là 6,9 và Indonesia là 5,2. Đây là điểm
yếu lớn nhất của dệt may nói riêng và các ngành sản xuất sử dụng lao động nói chung.
Do vậy, năng suất lao động là yếu tố quan trọng trong việc quyết định đến giá thành
sản phẩm. Với việc năng suất lao động của Việt Nam thấp như vậy thì giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị đẩy lên cao hơn so với sản phẩm cùng loại của
các nước khác, kéo theo sản phẩm của Việt Nam sẽ có sức cạnh tranh kém.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính, hải quan, chi phí không chính thức…, còn
rườm rà và lớn hơn cả phần thuế được cắt giảm trong TPP; năng lực quản lý yếu kém,
thiếu hụt lao động, năng suất lao động thấp, thiếu vốn đầu tư và công nghệ…cũng là
một trong những yếu tố kìm hãm việc tăng năng lực sản suất cũng như xuất khẩu của
doanh nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ TPP. Ngoài ra, khả năng các nước nhập khẩu
hàng dệt may Việt Nam đưa ra các hàng rào kỹ thuật và thương mại phi thuế quan…
để cản trở xuất khẩu dệt may của Việt Nam là khó tránh khỏi.
18
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH
DỆT MAY VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
Để có thể tranh thủ những cơ hội mà Hiệp định TPP mang lại, đồng thời giảm
thiểu những rủi ro, đối phó hiệu quả với những thách thức trong thời gian tới, các
doanh nghiệp trong ngành dệt may của Việt Nam phải chủ động trong chiến lược phát
triển và có những tính toán lâu dài. Nhóm tác giả xin gợi ý một số giải pháp cụ thể như
sau:
3.1. Về nguồn nguyên liệu đầu vào
Việt Nam buộc phải chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào ở trong nước để tăng
giá trị gia tăng. Cần tập trung đẩy mạnh việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
cho ngành để sản xuất nguyên liệu trong nước, thay thế nguyên liệu nhập khẩu, ngành
thiết kế cần được củng cố và nâng cấp. Ngành dệt may phải có quy hoạch vùng nguyên
liệu. Hiện nay, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đang xây dựng 4 khu công
nghiệp dệt, nhuộm tại các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Long An và Trà Vinh nhằm
khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho
ngành dệt may.
3.2. Về quy mô xuất khẩu
Muốn đẩy mạnh được khu vực sản xuất nguyên liệu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa
thì vấn đề tiên quyết là phải tăng được quy mô xuất khẩu. Muốn vậy, các doanh nghiệp
phải chú ý một số vấn đề:
-
Đổi mới công nghệ
Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển của ngành dệt may. Tập trung các dự án đầu tư mới, với quy mô đủ lớn, đủ
tiềm lực về vốn để tiếp cận công nghệ hiện đại tiên tiến nhất.
-
Cung ứng đạt tiêu chuẩn khách hàng
Các công ty của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn sản xuất theo tiêu chuẩn. Tuy
nhiên, trở thành nhà cung ứng đạt chuẩn vẫn đang còn nhiều vấn đề lớn mà các doanh
nghiệp cần cố gắng hơn nữa. Muốn như vậy, uy tín của doanh nghiệp với khách hàng
phải đặt lên hàng đầu. Tổ chức các lớp đào tạo để nâng cao trình độ cho người lao động,
19
quán triệt tới các công nhân về chất lượng của sản phẩm. Mỗi lô hàng xuất đi cần phải
kiểm tra cẩn thận, kỹ lưỡng hơn. Doanh nghiệp dệt may cần đẩy nhanh quá trình xây
dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO, tiêu chuẩn SA 8000… để đáp ứng được yêu cầu
của khách hàng, đặc biệt là đối với thị trường Hoa Kỳ, châu Âu.
-
Phát triển lĩnh vực thiết kế
Muốn phát triển được lĩnh vực này một cách có hiệu quả, các doanh nghiệp cần
có sự hỗ trợ từ phía nhà nước. Về phía doanh nghiệp, cần tăng tỷ lệ xuất khẩu dưới hình
thức FOB (tham gia vào khâu ý tưởng thiết kế). Nghiên cứu các thiết kế sản phẩm mới
mang những nét đặc trưng riêng. Sản xuất các sản phẩm có sự khác biệt hóa cao, có tính
độc đáo, hiện đại và đẳng cấp. Nắm bắt được xu thế thời trang của thế giới. Phát triển thị
trường thời trang Việt Nam tại các đô thị và các thành phố lớn.
Để đào tạo được những nhà thiết kế giỏi, chuyên nghiệp không phải là chuyện dễ
dàng, vì thế, các doanh nghiệp cần tăng cường ký kết các thỏa thuận về hợp tác trong
lĩnh vực dệt may, mời các chuyên gia thiết kế nước ngoài sang hợp tác, giúp đỡ Việt
Nam trong khâu thiết kế và cả đào tạo. Đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo nhà thiết
kế với chất lượng cao.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may cần nhanh chóng chuyển đổi phương
pháp gia công truyền thống CMT (cắt - ráp - hoàn thiện) sang phương thức FOB (doanh
nghiệp phải thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất từ nghiên cứu thị trường đến bao gói
hòm hộp và giao hàng), từ đó góp phần làm tăng tỷ lệ nội địa hoá, giảm nhập khẩu, giảm
chi phí sản xuất, giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài.
3.3. Về môi trường
Một trong những rào cản lớn nhất để ngành dệt may Việt Nam hưởng những lợi ích
từ hiệp định TPP chính là vấn đề môi trường. Như đã nêu ở các mục trước, để có được
mức thuế ưu đãi, nguyên liệu sản xuất ngành dệt may phải có xuất xứ từ chính quốc gia có
sản phẩm dệt may hoặc các quốc gia thành viên TPP. Một mặt, nguyên liệu từ các nước
thành viên TPP tương đối đắt, mặt khác, ở nước ta phát triển ngành kéo sợi, nhuộm vải rất
có hại đến môi trường. Các chất thải, hóa chất từ các nhà máy nhuộm thải ra sông ngòi
gây ô nhiễm nguồn nước, làm mất mĩ quan từ lâu đã được các nhà chức trách quan tâm.
Những xí nghiệp có khả năng xử lí chất thải rất ít, chủ yếu trực tiếp thải ra môi trường,
20
còn lại phải đối mặt với mức xử phạt nặng do hành vi gây ô nhiễm nên số lượng các xí
nghiệp trụ lại trong ngành tương đối nhỏ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước còn
phải cạnh tranh với nguyên liệu nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc) giá rẻ, nên số lượng
doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt may đã ít lại càng ít hơn.
Tóm lại, muốn vực dậy các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may, trước
tiên cần có biện pháp thỏa đáng giải quyết vấn đề môi trường. Hiện nay xu thế nói chung
trên toàn thế giới là sử dụng nguyên liệu tự nhiên, vải sạch hay vải hữu cơ ngày càng trở
nên phổ biến. Đây là sản phẩm thân thiện với môi trường, giá thành không đắt hơn quá
nhiều so với các loại vải khác, sợi hữu cơ chủ yếu là sợi bông, sợi lanh, sợi xidan, sợi
gai dầu, sợi anpaca, sợi đay, len, len angora, sợi cashmere và nhiều loại sợi khác. Sử
dụng các loại sợi này trong công nghiệp dệt may không những cải thiện các vấn đề về
môi trường mà còn thúc đẩy ngành trồng trọt các sản phẩm nói trên. Ngoài ra Chính phủ
cần hỗ trợ tài chính cho hoạt động xử lý nước thải trong ngành nhuộm. Đặc biệt, thúc
đẩy mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị thông qua phát triển các cụm
dệt may. Quy hoạch các DN dệt may về một cụm nằm trong khu có vị trí địa lí thích
hợp, tránh xa khu dân cư và dễ dàng cho việc xử lí nước thải.
Tuy nhiên, việc phát triển vải hữu cơ cần một khoảng thời gian nhất định còn ô
nhiễm môi trường lại là vấn đề trước mắt, cho nên thực tế nhất vẫn là doanh nghiệp cần
đầu tư vào hệ thống xử lí nước thải, khói bụi, tiếng ồn, tiết kiệm nguyên liệu, hệ thống
cách nhiệt tạo môi trường làm việc thông thoáng.
3.4. Về nguồn nhân lực
Việt Nam tham gia vào TPP, người lao động có cơ hội hưởng các quyền mà vốn
được pháp luật quy định nhưng chưa có cơ hội thực hiện. Hiệp định mang đến nhiều cơ
hội, tạo ra nhiều việc làm nhưng cũng mang theo những yêu cầu nhất định. Lao động
ngành dệt may nói riêng cũng như lao động cả nước nói chung cần phải chuẩn bị hoàn
thiện mình để đáp ứng được các yêu cầu quốc tế. Không những phải đảm bảo về tác
phong công nghiệp theo yêu cầu của các chủ sử dụng lao động, đặc biệt là các chủ doanh
nghiệp đến từ các đầu tư nước ngoài, mà người lao động còn phải đáp ứng được các quy
định do TPP đưa ra cũng như các thông lệ quốc tế phải tuân thủ. Người lao động phải
nâng cao ý thức lao động, kỷ luật lao động, nâng cao tay nghề, tự tạo cho mình cơ hội tốt
hơn trong việc lựa chọn việc làm, thậm chí là ngành nghề, vì tất yếu sẽ có sự dịch
chuyển lao động do có sự cạnh tranh về đãi ngộ, tiền lương và điều kiện lao động. Phần
lớn lao động ngành dệt may hiện nay phân bố ở các doanh nghiệp, phân xưởng nhỏ lẻ,
chưa qua đào tạo bài bản, chưa hiểu rõ về hiệp định TPP do đó doanh nghiệp cần có
21
chiến lược đặt các nhà máy tại vùng dồi dào nguồn lao động cũng như nguồn nguyên
liệu, tích cực trong công tác tuyên truyền giúp người lao động nhận thức và đáp ứng
phong cách công nghiệp, các yêu cầu của hiệp định, các thông lệ quốc tế…. Quan trọng
nhất cần giúp họ nhận thức được rằng, nếu không thay đổi để có thể cạnh tranh với các
nước khác thì chỉ có thể bị đào thải, không những không thể phát triển ra nước ngoài mà
chỗ đứng trong nước cũng mất.
Về phía các doanh nghiệp, cần quan tâm chăm lo hơn nữa tới người lao động,giữ
chân người lao động gắn bó với doanh nghiệp, coi công tác chăm lo đời sống người lao
động là truyền thống, là trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp, công nhân được hưởng
mưc lương xứng đáng và đáp ứng tối thiểu nhu cầu sinh sống, có nhà gửi trẻ, có trung
tâm y tế khám chữa bệnh…để người lao động cảm thấy đây là môi trường làm việc tốt
nhất, được quan tâm nhất ngay khi người công nhân ký hợp đồng làm việc, quan tâm tới
các chính sách trả thưởng động viên năng lực làm việc cho công nhân.
22
KẾT LUẬN
Đối với nền kinh tế Việt Nam, dệt may được lựa chọn là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu xuất khẩu của nước ta, được hưởng lợi từ nhiều
chính sách ưu tiên của Chính phủ và hứa hẹn đạt tốc độ tăng trưởng nhanh trong thời
gian tới. Việc gia nhập TPP là một cơ hội vô cùng lớn đối với ngành dệt may để tiếp
tục thâm nhập sâu rộng vào các thị trường truyền thống và mở rộng thị trường sang
một số quốc gia khác. Những thuận lợi có được khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định
TPP sẽ đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng của ngành dệt may nói riêng và sự phát
triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, những hạn chế về nguồn nguyên phụ liệu đầu vào, năng suất lao
động thấp hay sự rườm rà trong những thủ tục hành chính, hải quan vẫn là những rào
cản lớn, có thể thu hẹp những cơ hội từ Hiệp định TPP, thậm chí sẽ khiến các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam “thua ngay trên sân nhà”. Chính vì vậy, các giải pháp chính
sách cần được đưa từ thời điểm này để chúng ta có thể chủ động trong sân chơi này.
Tiểu luận đã tổng hợp một cách có hệ thống những thông tin cơ bản về Hiệp
định TPP; tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may.
Nhóm chúng em hy vọng những thông tin trong tiểu luận này sẽ là tài liệu tham khảo
hữu ích trong quá trình học tập, giúp các bạn sinh viên hiểu rõ hơn về hiệp định TPP,
cũng như sự tác động của hiệp định TPP với ngành dệt may – ngành xuất khẩu mũi
nhọn của Việt Nam trong thời gian tới./.
23
1.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Thành Nam, 2014, TPP: Cơ hội và thách thức với Việt Nam, Tạp chí
Pervasion,< />
2.
“TPP có hiệu lực, Việt Nam được lợi 10,5 tỷ USD từ thị trường Nhật Bản”, WTO Hội
nhập kinh tế quốc tế, < />
3.
WB nói về lợi thế “không nước nào có” của Việt Nam trong TPP,
VnEconomy,n< />
4.
Nguyệt Quế, 2016, TPP là cơ hội để Việt Nam “lớn lên”, Cafef, < />
5.
Đại học Ngoại Thương, 2012, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương: cơ hội và những vấn đề đặt ra, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
6. Phan Thu, 2016, Trò chuyện với những người đàm phán TPP: Những điều chưa biết
về TPP, Cafef, < >.
7. Trần Hồng Quang, Nguyễn Quốc Cường, 2014, Gia nhập TPP - cơ hội và thách thức
đối với Việt Nam và ASEAN, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội phối
hợp Quỹ Rosa Luxemburg tổ chức ngày 20/3/2014.
24