Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Tiểu luận kinh tế môi trường huỳnh thị phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (411.91 KB, 26 trang )

MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................1
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
I.Lý luận chung về kinh tế môi trường.............................................................................2
II.Các công cụ quản lý môi trường...................................................................................7
III. Giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý cho các công cụ ở Việt Nam.....15
IV.Kết luận......................................................................................................................23

MỞ ĐẦU
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng
xã hội chủ nghĩa cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế nước ta đã
có sự phát triển nhanh chóng và tương đối toàn diện trên mọi lĩnh vực công nghiệp,
nông nghiệp, thương mại và dịch vụ... Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế Việt
Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao đã tạo nhiều thuận lợi cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân
dân và thu hẹp khoảng cách kinh tế với các nước trong khu vực. Tuy nhiên cùng với
những lợi ích mang lại, phát triển kinh tế cũng đã gây ra sức ép rất lớn lên chất lượng
môi trường của đất nước, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Các vấn đề môi trường như ô nhiễm nước, không khí và chất thải rắn đang ngày càng
trở thành vấn đề bức xúc của xã hội. Đây cũng là thực tế đã và đang diễn ra ở các nước
phát triển và đang phát triển. Biểu hiện cụ thể là, đa dạng sinh học, các nguồn động,
thực vật đều bị suy giảm; đất đai bị xói mòn; nguồn nước sạch cho sản xuất và sinh
hoạt bị ô nhiễm và ngày một cạn kiệt; không khí ở nhiều đô thị, thậm chí cả với vùng
nông thôn, các khu dân cư bị ô nhiễm; chất thải độc hại, rác thải hầu hết không được
xử lý đúng quy trình; quá trình đô thị hóa cùng với dân số tăng nhanh đã và đang gây
áp lực lớn đối với vấn đề lương thực, việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Toàn
bộ thực trạng nói trên càng cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa phát triển kinh tế
với bảo vệ môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế với lợi ích của việc bảo vệ môi
trường.
Mặt khác, một bộ phận nhân dân không phải không nhận thức được tác hại của
việc gây ô nhiễm môi trường, song do phải lo cái ăn, cái mặc bảo đảm cuộc sống mưu




Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
sinh hàng ngày đã vô hình chung bỏ qua, thậm chí bất chấp cả pháp luật bảo vệ môi
trường. Nói cách khác, trong những điều kiện nhất định người dân đã lựa chọn lợi ích
kinh tế thuần tuý trước mắt thay cho lựa chọn bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa lợi
ích kinh tế và lợi ích của việc bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp, công cụ quản lý môi
trường phù hợp đảm bảo cân bằng lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường là một vấn đề
cấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm.
Học viên xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo giảng dạy môn Kinh
tế Môi trường – TS. Lê Thị Kim Oanh và sự giúp đỡ của bạn bè, và rất mong nhận
được sự xem xét góp ý của giáo viên giảng dạy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
I.

Lý luận chung về kinh tế môi trường
1. Khái niệm

"Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường
và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi
trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp, do đó có
thể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
Kinh tế môi trường nghiên cứu các vấn đề môi trường với cách nhìn và phương
pháp phân tích của kinh tế học. Kinh tế học được chia thành kinh tế vi mô – nghiên
cứu hành vi của các cá nhân hay các nhóm nhỏ và kinh tế vĩ mô – nghiên cứu hoạt
động kinh tế của toàn bộ nền kinh tế. Kinh tế môi trường có nguồn gốc từ cả hai
chuyên ngành này, nhưng chủ yếu vẫn từ kinh tế vi mô. Nghiên cứu kinh tế môi
trường quan tâm đến vấn đề cơ bản là phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm cho

các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh. Các khái niệm về sự khan hiếm, chi phí cơ
hội, sự đánh đổi, lợi ích biên và chi phí biên là chìa khóa để hiểu các vấn đề môi
trường và cách thức giải quyết các vấn đề đó.
Kinh tế môi trường tập trung nghiên cứu xem các hoạt động kinh tế ảnh hưởng
như thế nào đến môi trường tự nhiên – không khí, nước, đất và vô số các giống loài
sinh vật. Các quyết định kinh tế của con người, các nhà sản xuất và chính phủ có thể
gây ra những ảnh hưởng có hại tới môi trường tự nhiên. Việc chôn lấp chất thải rắn
vào môi trường tự nhiên đã tạo ra ô nhiễm và suy thoái các hệ sinh thái. Điều đó dẫn
đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên không tối ưu. Điều quan trọng không kém là
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

2


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
kinh tế môi trường nghiên cứu và đánh giá các phương cách khác nhau để đạt được
mục đích sử dụng tối ưu xã hội tất cả các nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyên
môi trường.
Các nhà kinh tế học tin rằng: "Con người gây ô nhiễm bởi vì đó là phương cách
rẻ nhất để giải quyết một vấn đề rất thực tế là làm thế nào để thải bỏ chất thải sinh ra
sau khi sản xuất và tiêu dùng hàng hóa."
2. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường
Hoạt động kinh tế và môi trường tuân theo 2 định luật nhiệt động học:
– Định luật nhiệt động lực học thứ nhất: Vật chất và năng lượng không thể tự
tạo ra hoặc không thể mất đi mà chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác.
– Định luật nhiệt động lực học thứ hai: khả năng chuyển đổi vật chất và năng
lượng của môi trường là có giới hạn.
Môi trường ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, gây tổn thương cho con người
đang sống ở hiện tại và các thế hệ tương lai, điều này buộc chúng ta phải xem xét lại
thước đo của sự phát triển. Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồng không được

hưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích của thế hệ mai sau, đến
chi phí cần phải sử dụng để đền bù thiệt hại về môi trường hoặc để cải thiện môi
trường. Việc tính toán chi phí môi trường gộp vào chi phí phát triển đã dẫn đến một
khái niệm mới, đó là phát triển bền vững.

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

3


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
Hình 1. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường.

Hình 2. Mô hình cân bằng vật chất – Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường tự
nhiên.
3. Tiêu chí, nguyên tắc và mục tiêu của các chính sách môi trường
3.1. Các tiêu chí đánh giá chính sách môi trường
Chính sách môi trường phải thỏa mãn được nhu cầu và mong đợi của nhiều bên liên
quan. Có 03 tiêu chí quan trọng là hiệu lực, hiệu quả và công bằng.
3.1.1. Hiệu lực
Đây là mối quan tâm của các nhà môi trường và công dân quan tâm tới môi
trường . Các chính sách môi trường phải giải quyết được vấn đề đặt ra. Vấn đề hiệu
lực không đề cập tới chi phí cũng như các vấn đề xã hội nảy sinh do việc thực hiện
chính sách.
3.1.2. Hiệu quả
Các nhà kinh tế thường quan tâm đến hiệu quả kinh tế của chính sách. Hiệu quả
có nghĩa là sự cân bằng giữa chi phí xử lý ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm gây ra. Một
chính sách được coi là hiệu quả nếu như nó có thể tối đa hoá phần chênh lệch giữa lợi
ích và chi phí: Lợi ích – chi phí > 0 và có khả năng đạt giá trị tối đa.
Thông thường chúng ta không thể đo lường một cách chính xác thiệt hại do suy thoái

môi trường gây nên. Chính vì vậy khi đó hiệu quả chi phí trở thành tiêu chí đánh giá
chính sách chủ yếu. Một chính sách là hiệu quả chi phí nếu nó tạo nên sự cải thiện môi
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

4


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
trường tối đa với nguồn lực bỏ ra, tức đạt được một mức cải thiện môi trường nào đó
với chi phí tối thiểu.
3.1.3. Công bằng
Một chính sách công bằng có nghĩa là cân bằng được chi phí và lợi ích giữa các
bên liên quan bằng cách phân phối tương xứng lợi ích hoặc để người hưởng lợi chi trả
phần chi phí tương xứng.
3.2. Các nguyên tắc áp dụng phổ biến trong chính sách môi trường
3.2.1. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP – Polluter Pays Principle)
Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các
biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương
mại quốc tế” (OECD, 1975). Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” được hiểu là
những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và
ngăn ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức trách của chính quyền nhằm
đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được. Trong phạm vi hẹp của định
nghĩa này, PPP đòi hỏi người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về tài chính đối
với việc tuân thủ bất kỳ yêu cầu xử lý ô nhiễm nào phù hợp với quy định luật pháp.
Nói một cách khác, theo OECD (1975), PPP có thể được hiểu như là một “nguyên tắc
không trợ cấp” khi các quốc gia trong khối này nhất trí cho rằng các khoản trợ cấp cho
người gây ô nhiễm có thể trở thành vật cản trở đối với hoạt động đầu tư và thương mại
quốc tế.

PPP giao quyền về môi trường cho những người hưởng lợi từ việc cải thiện môi
trường do đó bất cứ ai gây ô nhiễm đều phải chi trả. Ví dụ như đối với vấn đề ô nhiễm
nước thải công nghiệp thì chính các cơ sở sản xuất phải chịu trách nhiệm với ô nhiễm
do chính cơ sở của họ gây nên. Tuy vậy, việc quyết định ai là người gây ô nhiễm lại là
một vấn đề gây tranh cãi khi áp dụng PPP trong một số trường hợp khác, mà trong đó
nguyên nhân gây ô nhiễm và trách nhiệm kinh tế không thể đặt với nhau đơn giản lên
một thực thể nào đó. Ví dụ như người nông dân với tập quán canh tác nông nghiệp
không an toàn, và người sản xuất thuốc trừ sâu chứa các chất gây ô nhiễm môi trường,
mỗi bên đều có một phần trách nhiệm đối với ô nhiễm đất.
Một vấn đề khác nữa là phạm vi và mức độ chi phí mà người gây ô nhiễm phải
trả khi áp dụng PPP. Dường như là có lý khi PPP được mong đợi là sẽ yêu cầu người
gây ô nhiễm phải chi trả đầy đủ chi phí cho những tổn hại mà họ gây ra cho môi
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

5


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
trường, vì trên khía cạnh kinh tế, chi phí cho những thiệt hại về môi trường cần phải
được phải được phản ảnh đầy đủ trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ, tuy nhiên
điều này sẽ không phải dễ dàng vì khó có thể xác định được hàm số thiệt hại. Do vậy,
tài liệu của OECD cũng khẳng định rằng bản thân PPP không phải là một nguyên tắc
nhằm nội hóa một cách đầy đủ các chi phí ô nhiễm (OECD, 1975). Nguyên tắc này chỉ
đơn giản yêu cầu người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí cho các biện pháp kiểm
soát và ngăn ngừa ô nhiễm đưa ra bởi nhà chức trách. PPP không yêu cầu người gây ô
nhiễm phải chịu trách nhiệm tài chính đối với các thiệt hại tồn dư, vì thế nguyên tắc
này không dành cho việc bồi hoàn nạn nhân hay khôi phục thiệt hại.
PPP cũng không phải là nguyên tắc đảm bảo hiệu quả về mặt chi phí, vì PPP chỉ xác
định ai sẽ chi trả cho kiểm soát ô nhiễm, nhưng không chỉ ra làm thế nào xử lý ô
nhiễm hay ai sẽ xử lý ô nhiễm mà nhờ vậy các mục tiêu kiểm soát ô nhiễm có thể đạt

được với chi phí nhỏ nhất có thể cho xã hội. Một lần nữa, cơ quan quản lý môi trường
của nhà nước sẽ phải xác định cho được điều này bằng việc thiết kế một tập hợp các
khuyến khích phù hợp, nghĩa là lựa chọn tập hợp các công cụ chính sách phù hợp.
Khi đề cập đến việc chia sẻ gánh nặng chi phí, điều cần thiết là sự chia sẻ này
phải đảm bảo công bằng. Sự công bằng được đề cấp thông qua PPP với hàm ý là chi
phí sẽ phải chi trả bởi phía có trách nhiệm. Thực sự, PPP không quan tâm tới việc cuối
cùng ai sẽ là người phải chịu chi phí xử lý ô nhiễm. Vì chi phí này sẽ được tính vào giá
cả hàng hóa bao nhiêu (tác động tới người tiêu dùng) phụ thuộc vào cấu trúc thị trường
(độc quyền, thiểu quyền, hay cạnh tranh tự do) và phụ thuộc vào độ co giãn của cầu
theo giá. Từ khía cạnh này, có thể nhận ra rằng PPP không phải là nguyên tắc thúc đẩy
sự công bằng. Và khi nói rằng người gây ô nhiễm là người chi trả có nghĩa là anh ta là
điểm phù hợp nhất để tính toán chi phí môi trường vào đó, hay là giai đoạn/điểm phù
hợp nhất để can thiệp vào bằng quy định luật pháp (OECD, 1975; Zylicz, 2000).
Theo nghĩa của PPP, người ô nhiễm phải trả cũng hàm ý là không chỉ có
phương tiện thuế và phí được sử dụng để thực hiện PPP. Sự chi trả bởi người gây ô
nhiễm có thể được diễn đạt như bất cứ trách nhiệm tài chính nào của người gây ô
nhiễm với các biện pháp xử lý ô nhiễm. Ngay khi người gây ô nhiễm buộc phải thực
hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và do đó gây ô nhiễm ít hơn, thì cũng có thể nói
rằng PPP là có hiệu lực. Do vậy, trong tập hợp các công cụ chính sách môi trường
cũng có một số công cụ có thể giúp đạt được mục đích này. Kết quả là PPP có thể
được áp dụng bằng nhiều công cụ từ các quy định luật pháp trực tiếp đến thuế và phí
(xem OECD, 1975). Trong các trường hợp được áp dụng, những công cụ này không

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

6


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
tương đương nhau khi xét trên khía cạnh tính hiệu lực và tính hiệu quả do vậy mức độ

đáp ứng các yêu cầu của PPP của những công cụ này cũng khác nhau.

3.2.2. Nguyên tắc người sử dụng phải trả ( UPP – User Pays Principle)
Thường áp dụng trong trường hợp việc bảo vệ môi trường sẽ đạt được thông
qua hoạt động của cơ sở xử lý nào đó. Nếu cơ sở này được cung cấp tài chính đầy đủ
thong qua sự chi trả của người sử dụng.
Ví dụ: Hoạt động của nhà máy xử lý nước thải, việc vận động chôn lấp rác,…
Điều đó có nghĩa người sử dụng sẽ chi trả cho việc vận hành các cơ sở này. Đây
cũng là nguyên tắc hàm ý không có trợ cấp cho các hoạt động và hành vi gây ô nhiễm
môi trường.
3.2.3. Nguyên tắc cảnh cáo
Người ta cố gắng đưa ra chiến lược để tối thiểu hóa những hậu quả thiệt hại,
bằng cách đưa ra những tiêu chuẩn, tối thiểu để giải quyết vấn đề ô nhiễm nào đó.
3.2.4. Phi tập trung hoá
Nguyên tắc này xuất phát từ mối quan hệ về chính trị và xã hội. Chính sách môi
trường nên được hình thành từ cấp thấp nhất chứ không phải từ trên xuống. Cấp thấp
nhất ngày phù hợp với mỗi một vấn đề nào đó.
II.

Các công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động nhằm thực hiện công
tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi công cụ
có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Trong đó, công cụ mệnh lệnh – kiểm soát và công cụ kinh tế được đánh giá cao về tính
hiệu quả và hiệu lực trong công tác quản lý môi trường.
1. Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát (Command and Control - CAC)
Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát là công cụ truyền thống, được sử dụng khá
phổ biến và được sự ủng hộ của các nhà quản lý. Công cụ CAC bao gồm 02 khía cạnh
chỉ huy và kiểm soát, theo nguyên tắc là một bên đưa ra yêu cầu mệnh lệnh hay chỉ

huy đồng thời họ cũng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành hay tuân thủ
các yêu cầu đã được đặt ra. CAC thực hiện dựa trên pháp luật và các tiêu chuẩn môi
trường ban hành.

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

7


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
Đặc điểm: Sử dụng các luật lệ, quy định, tiêu chuẩn, giấy phép môi trường để
kiểm soát ô nhiễm. Trong đó giám sát và cưỡng chế thực hiện là 02 yếu tố quan trọng
mang tính quyết định cho sự hiện hữu công cụ này.

1.1.

Quy định pháp lý và tiêu chuẩn môi trường

CAC được xây dựng dựa trên các quy định mang tính chất pháp lý trong đó đưa
ra các mục tiêu, tiêu chuẩn và công nghệ mà những người gây ô nhiễm phải tuân thủ.
Trong khuôn khổ các quy định pháp lý này, những quy tắc cụ thể sẽ được đặt ra dưới
hình thức của các tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn
cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.
a. Các dạng tiêu chuẩn môi trường
- Tiêu chuẩn môi trường xung quanh: quy định đặc tính của môi trường tiếp
nhận, từ đó hình thành các mục tiêu môi trường cần đạt được bằng các công cụ
chính sách khác nhau.
- Tiêu chuẩn phát thải: là mức tối đa được phép xả thải các chất ô nhiễm ra môi
trường. Một hình thức đặc biệt của tiêu chuẩn phát thải là việc cấm không sử
dụng hay thải ra một chất nào đó, thông thường là một chất độc.

- Tiêu chuẩn quy trình: quy định hình thức của các quá trình sản xuất hoặc thiết
bị giảm thiểu ô nhiễm mà các cơ sở gây ô nhiễm phải lắp đặt (ví dụ như một
thiết bị lọc không khí hay một dụng cụ lọc nước nào đó).
- Tiêu chuẩn sản phẩm: xác định đặc tính của các sản phẩm có tiềm năng gây ô
nhiễm.
b. Tiêu chí xác định các tiêu chuẩn môi trường
- Tiêu chí về môi trường: xác định mức ngưỡng của môi trường tự nhiên nhằm
đảm bảo lợi ích hoặc bảo vệ các hoạt động kinh tế khỏi ảnh hưởng có hại.
- Tiêu chí về công nghệ: Tiêu chuẩn có thể dựa trên công nghệ đã có và đang
được áp dụng trong một số nhà máy và dễ dàng được chuyển giao – " Công
nghệ đang có hiện thời" hay " công nghệ tốt nhất đang có".
- Tiêu chí về kinh tế: một tiêu chuẩn lý tưởng là tiêu chuẩn mà doanh nghiệp có
thể đạt được với chi phí thấp nhất.
- Tiêu chí về chính trị: khi xác lập công cụ chính sách, người đưa ra quyết định
phải đối mặt với một số ràng buộc "chính trị": tính công bằng, khả năng cảnh
báo, đảm bảo khả năng chấp nhận được và đơn giản.
c. Ưu, nhược điểm
Tiêu chuẩn môi trường có nhiều ưu điểm trong việc giải quyết vấn đề môi
trường. Tiêu chuẩn môi trường phải:
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

8


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
-

Đơn giản và trực tiếp;
Đặt mục tiêu cụ thể rõ ràng;
Làm cho người ta cảm ô nhiễm môi trường được giảm ngay tức thì;

Nhất quán với nhận thức đạo đức cho rằng ô nhiễm môi trường là nguy hiểm và
bất hợp pháp;
Phù hợp với hoạt động của hệ thống luật pháp, tức xác định và ngăn chặn hành
động bất hợp pháp.

Tuy nhiên, công cụ tiêu chuẩn có thể phức tạp hơn nhiều so với ấn tượng ban
đầu của nó. Thực ra, một lý do thực tế giải thích sự phổ biến của tiêu chuẩn là nó linh
hoạt hơn nhiều khi thực hiện. Ấn tượng về tính chất trực tiếp và tính rõ ràng của tiêu
chuẩn trở nên phức tạp hơn nhiều khi chúng ta xem xét sâu hơn.
Chính sách bảo vệ môi trường giải quyết những vấn đề chung nhất về quan
điểm quản lý môi trường, về các mục tiêu bảo vệ môi trường cơ bản cần giải quyết
trong một giai đoạn dài 10 - 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu, chú
trọng việc huy động các nguồn lực cân đối với các mục tiêu về bảo vệ môi trường.
2. Công cụ kinh tế
2.1. Thuế tài nguyên và thuế môi trường
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh
nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất. Mục
đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng;
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư
về việc sử dụng tài nguyên.
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế
sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng
sản... Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ
của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật
của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp
hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ
khác nhau; nguyên tắc chung là: hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy
thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn.

Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản
phẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Thuế môi trường nhằm hai
mục đích chủ yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

9


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách. Trên thực tế, thuế môi trường được áp
dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như:
thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào
người sử dụng.
Ưu điểm của thuế môi trường là phát ra những tín hiệu đúng đắn thông qua giá
cả cho người sản xuất và người tiêu dùng. Do đó, khuyến khích họ chuyển sang sử
dụng các hàng hoá ít gây ô nhiễm cho môi trường hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu
cung cầu co giãn quá mạnh, thuế môi trường có thể gây ra những tổn thất lớn cho quá
trình tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, nếu hàng hoá hầu như không co dãn, thuế môi
trường sẽ không phát huy được tác dụng. Do đó, để khắc phục nhược điểm này
Ramsey đề nghị rằng nên đánh thuế cao các hàng hoá kém co dãn để bù đắp cho việc
giảm thuế đối với những hàng hoá có độ co dãn cao.
2.2.

Phí môi trường

Phí môi trường là các nguồn thu vào ngân sách do các tổ chức và cá nhân sử
dụng môi trường đóng góp. Phần thu về từ phí môi trường thường chỉ dùng để chi cho
các hoạt động bảo vệ môi trường. Theo lý thuyết, phí ô nhiễm đánh trên một đơn vị ô
nhiễm được xác định ở mức bằng đúng với chi phí của ngoại ứng gây ra bởi đơn vị ô
nhiễm đó. Nếu định ra được một mức phí như vậy, nó sẽ tạo ra hiệu ứng riêng biệt

của mỗi doanh nghiệp/cơ sở gây ô nhiễm một cách cụ thể và thích hợp. Thường thì
mức phí này được tính bằng với chi phí giảm thải cận biên (MAC) của doanh nghiệp
có mức chi phí xử lý ô nhiễm trung bình (mức trung bình có thể tính theo từng vùng).
Phí ô nhiễm được hiểu như là giá cả mà những người gây ô nhiễm phải chi trả
cho mỗi đơn vị ô nhiễm mà họ thải ra môi trường; điều đó có nghĩa là người gây ô
nhiễm phải trả cho các yêu cầu về các “dịch vụ môi trường” tuy không đươc biểu hiện
nhưng lẽ ra cũng phải được đưa vào một khoản mục trong tính toán chi phí – lợi ích
của cá nhân người gây ô nhiễm (OECD, 1989). Theo OECD (1989) and World Bank
(1998) các hình thức phí được sử dụng như là công cụ chính sách trong kiểm soát ô
nhiễm bao gồm phí xả thải, phí sử dụng, phí sản phẩm, và các khoản lệ phí mang tính
chất hành chính.
(1) Phí phát thải là khoản phí thu trên lượng chất ô nhiễm phát thải trực tiếp vào
môi trường nước, không khí, hoặc đất; mức phí thường được tính dựa trên số lượng
hoặc chất lượng (độc tính) của các chất ô nhiễm thải ra môi trường.
(2) Phí sử dụng là phí trả cho việc sử dụng hệ thống thu gom hoặc xử lý chung
cho các loại chất thải, thường là chất thải rắn và nước thải.
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

10


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
(3) Phí sản phẩm là phí thu trên các sản phẩm có gây hại cho môi trường khi
chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất, được tiêu thụ, hoặc sau đó là thải bỏ,
như các loại dầu nhớt là một ví dụ.
(4) Lệ phí hành chính là các khoản lệ phí chi trả cho cơ quan quản lý cho việc
thực hiện các dịch vụ quản lý như đăng ký, cấp giấy phép, hay kiểm soát thực thi các
quy định đã ban hành.
Trên thực tế, các loại phí sản phẩm hay phí hành chính có liên quan trực tiếp tới
các chất hay sản phẩm gây ô nhiễm môi trường được sử dụng không nhiều. Phí phát

thải ô nhiễm là loại phí được thu dựa trên số lượng và thành phần chất ô nhiễm do một
cơ sở công nghiệp thải vào môi trường. Người xả thải sẽ phải trả một khoản tiền nhất
định cho mỗi đơn vị chất ô nhiễm thải vào nguồn nước hay bầu khí quyển. Phí phát
thải thường được sử dụng kết hợp với các tiêu chuẩn, giấy phép và cho phép các tiêu
chuẩn này có thể thực hiện được với mức chi phí thấp nhất có thể.
Để đảm bảo thực thi hữu hiệu hệ thống phí xả thải cần phải có sẵn hoặc tạo ra
một số điều kiện về thể chế chính trị và kỹ thuật. Thứ nhất, cơ quan quản lý có trách
nhiệm cần phải bao quát được các ranh giới phân thủy, phân không và có quyền lực
pháp lý để áp đặt và buộc người gây ô nhiễm phải nộp các khoản lệ phí. Cơ quan này
cũng phải có đủ năng lực (phương pháp phân tích, dữ liệu) để xác lập giá trị bằng tiền
của những tổn thất gây ra bởi các chất ô nhiễm khác nhau hoặc phải có phương pháp
để được tính mức lệ phí cần thiết đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng môi trường,
có nguồn lực đủ để giám sát sự xả thải của từng nguồn ô nhiễm, có khả năng giám sát,
kiểm tra và cưỡng chế thực thi định kỳ, đồng thời có quyền lực pháp lý đối với việc sử
dụng các khoản thu phí.
Về lý thuyết, phí xả thải có một số ưu điểm:
- Khuyến khích các cơ sở sản xuất giảm ô nhiễm liên tục với chi phí thấp hơn
so với chi phí cho CAC;
- Kích thích cơ sở sản xuất đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm mới;
- Tạo ra nguồn thu nhập để tài trợ và nâng cao các hoạt động giám sát và cưỡng
chế thực hiện;
- Ngoài ra, các phí xả thải có thể bù đắp, ít nhất là một phần cho các phí tổn
không được thanh toán như chi phí môi trường phát sinh từ những chất ô nhiễm trong
mức thải cho phép tuy nhiên vẫn gây tổn hại cho môi trường xung quanh.
Phí phát thải cũng có một số hạn chế:

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

11



Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
- Doanh nghiệp có thiên hướng ưa thích kiểm soát ô nhiễm thông qua các tiêu
chuẩn hơn là thông qua hệ thống lệ phí vì việc trả phí sẽ làm cho chi phí sản xuất của
doanh nghiệp tăng lên;
- Phí được doanh nghiệp tính vào giá thành sản phẩm, điều này có thể dẫn đến
điều mà các nhà kinh tế học gọi là phân phối thụt lùi;
- Việc quy giá trị bằng tiền cho các tổn thất gây ra bởi ô nhiễm thường khó
được chấp nhận;
- Việc định ra mức phí bằng đúng với chi phí biên thiệt hại do ô nhiễm gây ra
sẽ rất phức tạp vì mức độ gây tổn thất của mỗi nguồn ô nhiễm đối với môi trường xung
quanh không đồng nhất như nhau. Điều này lại có thể dẫn đến việc cạnh tranh giảm
phí giữa các khu vực vì mục tiêu phát triển kinh tế và vì vậy làm tổn hại đến nỗ lực cải
thiệm môi trường tại một số vùng;
- Cơ quan quản lý của chính quyền địa phương thường không đủ mạnh để xử
lý việc quy hoạch, phân tích, cũng như giám sát cưỡng chế thi hành hay giải quyết các
tranh chấp thương lượng liên vùng phức tạp có liên quan đến hệ thống phí. Chế độ phí
được thiết kế để tăng nguồn thu ngân sách sử dụng vào mục đíchcung cấp tài chính
cho hoạt động bảo vệ và năng cao chất lượng môi trường. Do vậy, phần thu nhập từ
phí phần lớn được dành cho các mục đích bảo vệ môi trường cụ thểhơn là đóng góp
chung vào tổng nguồn thu ngân sách nhà nước.
2.3.

Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó
có thể quy định quyền sở hữu và vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đại
dương. Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi
trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn giản
và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn. Sau khi quy định mức thải tối đa trong vùng,

có thể phát không giấy phép cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn dựa trên một
số căn cứ nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá. Cách thực hiện được nhiều người tán thành
nhất là phân phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi
trường của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa kế quyền được thải quá khứ. Khi
đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự do giao dịch, mua đi bán lại số giấy phép đó; giá
giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và
hạn mức ô nhiễm. So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấy
phép tính chắc chắn, bảo đảm hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì dù giao dịch
mua bán như thế nào thì tổng lượng giấy phép vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát ở số
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

12


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
phát hành ban đầu. Mặt khác, công cụ giấy phép linh hoạt ở chỗ nó cho phép các
doanh nghiệp lựa chọn các phương án mua thêm giấy phép để tiếp tục thải hay tìm
cách cải thiện hiện trạng, giảm thải xuống mức cho phép.
2.4.

Hệ thống đặt cọc - hoàn trả

Đặt cọc - hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách
quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường
phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm bảo đảm cam kết sau khi
tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn
vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc
tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ
được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại. Mục đích của hệ

thống đặt cọc - hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một
trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường.
2.5.

Ký quỹ môi trường

Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có
tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường. Nguyên lý hoạt động của hệ thống ký
quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thống đặt cọc - hoàn trả. Nội dung chính của
ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước
khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá
quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo
đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái
môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện pháp thích
hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp/cơ sở có
các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục không để xẩy ra ô nhiễm hoặc suy thoái
môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận
lại số tiền đã ký quỹ đó. Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết hoặc
phá sản thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng/tổ chức tín dụng để
chi cho công tác khắc phục sự cố, suy thoái môi trường.
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí
khắc phục môi trường từ ngân sách. Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh
nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích do
lấy lại được vốn khi không để xẩy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

13



Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh

2.6.

Trợ cấp môi trường

Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc tổ chức OECD. Trợ cấp môi trường có
thể dưới các dạng sau:
- Trợ cấp không hoàn lại;
- Các khoản cho vay ưu đãi;
- Cho phép khấu hao nhanh;
- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế).
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công - nông
nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng
ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu
đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm. Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích các cơ
quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các
công nghệ xử lý ô nhiễm. Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả. Các nhà
sản xuất có thể đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm
nhiều hơn so với mức tối ưu cũng là không hiệu quả). Trợ cấp môi trường chỉ là biện
pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ dẫn đến phi hiệu quả
kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền", nó tạo ra
sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do đối với ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt
động của ngành công nghiệp mà mục đích giảm ô nhiễm lại không đạt được.
2.7.

Quỹ môi trường


Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ
vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình
thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường. Nguồn thu
cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Phí và lệ phí môi trường;
- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp;
- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địa
phương và chính phủ trung ương;
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế;
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

14


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
- Tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ;
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về bảo vệ môi trường;
- Tiền thu được từ các hoạt động như văn hoá, thể thao, từ thiện, xổ số, phát
hành trái phiếu...
Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp thông thường dưới hình thức hỗ trợ tài
chính với các điều khoản ưu đãi, chẳng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các
khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để
khuyến khích các dự án đầu tư bảo vệ môi trường, hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển
khai, đào tạo và truyền thông môi trường, các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của
các doanh nghiệp. Quỹ môi trường thậm chí còn hỗ trợ tiền cho việc điều trị của các
nạn nhân ô nhiễm.
III. Giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý cho các công cụ ở Việt Nam
1. Ví dụ điển hình về áp dụng các công cụ quản lý môi trường tại Singapore
Chính phủ Singapore coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái là một nhiệm vụ
chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ Singapore đã tiến

hành nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệ, trong đó có các biện pháp pháp lý.
a. Nhằm bảo đảm cho việc kiểm soát và bảo vệ môi trường ở Singapore, một loạt các
văn bản liên quan đến pháp luật về môi trường được ban hành, bao gồm:
- Đạo luật về môi trường và sức khoẻ cộng đồng: Đạo luật này bao hàm các vấn
đề về tiếng ồn, vệ sinh công cộng, chất thải rắn, chất thải độc hại và việc kiểm soát
kinh doanh thực phẩm, chôn cất, hoả táng cũng như quản lý các bể bơi. Để thi hành
Đạo luật này có 14 văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường: Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và các hoạt động có mục đích liên
quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường.
- Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước: Đạo luật này được ban hành nhằm
điều chỉnh việc xây dựng, duy trì và cải tạo nâng cấp các hệ thống cống rãnh và hệ
thống tiêu thoát nước dưới mặt đất điều chỉnh việc xử lý nước thải thương mại cũng
như các vấn đề liên quan đến các hoạt động nêu trên.
- Đạo luật về xuất nhập khẩu, quá cảnh chất thải nguy hiểm: Đạo luật này điều
chỉnh việc xuất nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hiểm và các chất khí thải khác.
b. Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi hành trên thực tế, thì các biện pháp
cưỡng chế là không thể thiếu, do đó pháp luật về môi trường của Singapore cũng đã
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

15


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
đặt ra các biện pháp cưỡng chế khác nhau cho các mức vi phạm pháp luật về môi
trường như sau:
 Biện pháp xử lý hình sự:
Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản để thực
thi, biện pháp này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi
thường và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc (chỉ áp dụng

với những bị cáo đủ 16 tuổi trở lên và đủ tiêu chuẩn y tế). Cụ thể là:
-

Hình phạt tiền:

Đây là hình phạt phổ biến nhất trong các đạo luật về môi trường của Singapore,
phạt tiền được xem là công cụ hữu hiệu trong việc tăng cường hiệu lực pháp luật về
bảo vệ môi trường của Singapore. Chánh án của Singapore trong vụ Chadrakumar một vụ về đổ rác nơi công cộng vi phạm đạo luật về môi trường sức khoẻ cộng đồng
đã tuyên bố: “... Việc áp dụng rộng rãi hình phạt tiền sẽ làm tăng hiệu quả trong việc
trừng trị kẻ vi phạm và phòng ngừa các hành vi tương tự, phạt tiền có độ chính xác
cao, tỉ mỉ cao, để thay đổi và vì thế càng trở nên có hiệu quả”.
Theo các đạo luật ở Singapore thì có nhiều mức độ vi phạt tiền khác nhau, tuỳ
thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra. Ví dụ
trường hợp đổ rác nơi công cộng, nếu bị Toà án kết tội thì người vi phạm sẽ bị phạt
đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽ bị phạt tới 20.000$.
Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền
một cách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người
vi phạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ tự
kết thúc mà không phải đưa ra Toà.
-

Hình phạt tù

Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người vi phạm ngoan cố,
khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tội những khoản lợi
nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn không ngăn chặn được các
hành vi mà người đó gây ra. Ví dụ: theo Đạo luật về môi trường sức khoẻ cộng đồng
và Đạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi
đưa chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù đến 12
tháng. Đối với những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1

đến 12 tháng.
-

Tạm giữ và tịch thu

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

16


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thu các công cụ,
phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ngoài ra, nếu trường hợp thực phẩm
không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu huỷ theo Đạo luật về môi
trường và sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật về mua bán thực phẩm.
-

Lao động cải tạo bắt buộc

Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà qua thực tiễn thực thi pháp luật về
môi trường ở Singapore cho thấy đây là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các vi
phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụng hình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít
khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất ít người tái phạm. Cụ thể tại Mục 21A quy
định: “Người nào từ 16 tuổi trở lên bị kết án vì vi phạm một trong các quy định tại
mục 18 hoặc 20, và nếu trước khi anh ta bị kết tội, toà án thấy rằng để cải tạo người vi
phạm và để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ cộng đồng liên quan đến môi
trường, người vi phạm cần phải thực hiện công việc liên quan đến vệ sinh làm sạch các
vị trí nhất định mà không được trả thù lao thì thay cho các quyết định hoặc hình phạt
khác và trừ khi có những lý do đặc biệt. Toà án sẽ ra quyết định bắt buộc lao động cải
tạo đối với người vi phạm buộc họ phải thực hiện công việc nói trên dưới sự giám sát

của các nhân viên giám sát, phù hợp với các quy định của mục này và mục 21B”.
 Biện pháp hành chính
Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình sự là quan trọng nhất trong việc bảo
vệ môi trường nhưng không vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và dân sự bởi
nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì không thể bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả.
Không giống như các chế tài hình sự và dân sự thường là các biện pháp tức thời, các
chế tài hành chính thường có hiệu lực trong việc bảo đảm các biện pháp liên tục, đặc
biệt là các hoạt động gây ô nhiễm. Một số chế tài hành chính đã được chấp nhận là các
kế hoạch sử dụng đất, giấy phép và việc ban hành cá mệnh lệnh thông báo. Cụ thể là:
-

Kế hoạch sử dụng đất:

Việc lập kế hoạch sử dụng đất trong kiểm soát môi trường cơ bản có tính chất
phòng ngừa. Các khu vực dành cho công nghiệp nặng, công nghiệp vừa và công
nghiệp làm sạch được phân ranh giới rõ ràng. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Môi
trường và các cơ quan liên quan như Uỷ ban tái phát triển đô thị và Cục kiểm soát xây
dựng.
-

Giấy phép, giấy chứng nhận:

Việc cấp giấy phép và giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Bộ Môi trường
nhằm đảm bảo kiểm soát và quản lý chặt chẽ các hoạt động có khả năng tác động có
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

17


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh

hại tới môi trường. Cụ thể là trước khi một hoạt động được phép tiến hành, Bộ Môi
trường phải đảm bảo là hoạt động đó sẽ không gây ra tác hại gì cho môi trường. Ví dụ
về Đạo luật kiểm soát ô nhiễm về môi trường, các hoạt động công nghiệp có khả năng
gây ô nhiễm không khí đều phải được phép của Bộ Môi trường trước khi công việc
được triển khai.
-

Thông báo và lệnh:

Thông báo và lệnh được áp dụng trong trường hợp người chủ sở hữu hoặc quản
lý một tài sản không tuân thủ các quy định tiêu chuẩn hoặc điều kiện về môi trường
được quy định trong các đạo luật liên quan. Thông báo và lệnh này sẽ yêu cầu chủ sở
hữu hoặc quản lý tài sản phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong đó. Nếu không thực
hiện các yêu cầu đó, chủ sở hữu hoặc quản lý phải chịu trách nhiệm trước toà án và
phải chịu hình phạt.
Do tính cấp thiết của pháp luật về môi trường cho nên trong các Đạo luật về
môi trường cũng đã trao cho Bộ Môi trường một số quyền hạn để thực thi các công
việc khẩn cấp, nhằm thi hành ngay bất kỳ nhiệm vụ nào nếu nhiệm vụ đó là cấp bách
đối với sự an toàn xã hội, sức khoẻ hay dịch vụ cộng đồng. Ví dụ: trong điều 90 Luật
Bảo vệ môi trường quy định: “trong trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền có thể
chỉ đạo thực hiện ngay lập tức bất kỳ nhiệm vụ hoặc làm bất cứ việc gì theo quy định
tại Luật này, nếu người có thẩm quyền thấy công việc đó là cần thiết cho sức khoẻ
cộng đồng hoặc cho sự an toàn của xã hội”.
 Biện pháp dân sự
Bên cạnh các chế tài về Hình sự và Hành chính, các Đạo luật môi trường
Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự. Cụ thể như: Yêu cầu cá nhân
gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí và các khoản phí tổn mà cơ
quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trường... Theo Điều 97 của Luật Bảo
vệ môi trường của Singapore thì Chính phủ có thể thu giữ lại từ người sở hữu hoặc
quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng trong quá trình thực hiện bất kỳ

nào đã được quy định trong luật. Trong vòng 14 ngày theo quy định, nếu chi phí này
chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa ra Toà.
2. Tình hình áp dụng các công cụ quản lý môi trường tại Việt Nam
Theo VIASEE cho biết, Việt Nam hiện nay đang áp dụng 4 công cụ chủ yếu để
quản lý môi trường là thuế; phí và lệ phí; ký quỹ và đặt cọc; xử phạt hành chính để
quản lý, khai thác, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

18


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh

2.1.

Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

Một số văn bản luật pháp và các quy định pháp lý liên quan đến công cụ mệnh
lệnh – kiểm soát được ban hành tại Việt Nam trong thời gian qua nhằm quản lý môi
trường:
- Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Thông tư liên tịch số 197/2010/BTC-BTNMT ngày 08/12/2010 của Bộ Tài
chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn việc thu, nộp tiền phạt, quản lý
và sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Luật Thuế bảo vệ môi trường 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2012;
- Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường;
- Nghị định 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi

trường đối với khai thác khoáng sản.
Tuy nhiên, quá trình áp dụng các công cụ vào thực tế tại các địa phương bộc lộ
nhiều bất cập, không đảm bảo quy hoạch phát triển bền vững các tài nguyên quý hiếm
quốc gia, nhất là đối với các loại khoáng sản; đồng thời không hạn chế được các nguồn
thải gây ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng ngày càng gia tăng.
Năm 2010, thanh tra của Tổng cục Môi trường đã tiến hành lập biên bản vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với 174 cơ sở với tổng mức
tiền đề nghị xử phạt là 18 tỷ 362 triệu đồng. 6 tháng đầu năm 2012, ngành Tài nguyên
và Môi trường đã tiến hành gần 500 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với gần 2.500 tổ chức,
cá nhân thuộc lĩnh vực ngành quản lý. Qua thanh tra, kiểm tra, các địa phương đã ra
quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
với tổng số tiền trên 5 tỷ đồng, kiến nghị truy thu phí bảo vệ môi trường gần 2,35 tỷ
đồng. Theo Sở TN&MT TP.Đà Nẵng, thời gian qua đã có hơn 100 doanh nghiệp bị xử
phạt với số tiền hơn 3 tỉ đồng, 7 doanh nghiệp tại KCN Dịch vụ thủy sản và KCN Hòa
Khánh bị đóng cửa.
Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị trực thuộc đã tiến hành
17 cuộc thanh tra; trong đó Tổng cục Môi trường triển khai 3 cuộc thanh tra việc chấp
hành pháp luật bảo vệ môi trường đối với 178 cơ sở, khu công nghiệp, cụm công
nghiệp trên địa bàn 10 tỉnh và thành phố. Một số cuộc thanh tra về môi trường đã thật
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

19


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
sự tạo được tính răn đe trong việc chấp hành các quy định về pháp luật, đối với một số
cơ sở sản xuất, kinh doanh có hành vi vi phạm Luật Môi trường. Cụ thể như việc xả
thải ra môi trường chưa qua xử lý của Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Nghệ An; Công
ty TNHH Hùng Vương - Vĩnh Long; Công ty TNHH Sản xuất thương mại - dịch vụ
Thuận An ở tỉnh An Giang... Theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi

trường Chu Phạm Ngọc Hiển: Kế hoạch công tác thanh tra, kiểm tra 6 tháng đầu năm
của Bộ được triển khai nghiêm túc, đạt kết quả đúng yêu cầu đặt ra, góp phần tham
mưu cho Bộ tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước; đồng thời tăng cường sự
phòng ngừa, răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường.
2.2.

Các công cụ kinh tế

Hiện nay, Việt Nam đang chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
trước đây sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Do có sự đổi mới và
thay đổi về cơ chế kinh tế từ năm 1986 đến nay, bên cạnh những thành tựu về tăng
trưởng kinh tế, cơ chế thị trường cũng đang đặt ra cho chúng ta những thách thức về
suy giảm nguồn tài nguyên, suy thoái và ô nhiễm môi trường buộc chúng ta phải sử
dụng các công cụ kinh tế để điều chỉnh lại sự ô nhiễm và suy thoái đó. Áp dụng công
cụ thuế và phí trong công tác quản lý môi trường đã bắt đầu được triển khai tại Việt
Nam, và cụ thể là trong kiểm soát ô nhiễm nước với việc thu phí bảo vệ môi trường
đối với nước thải. Những công cụ kinh tế chúng ta đã và đang sử dụng trong quản lý
tài nguyên và bảo vệ môi trường bao gồm:
-

Thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là loại công cụ kinh tế chúng ta đã sử dụng từ những năm đầu
thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Thông qua biểu thuế ban hành năm 1990 và biểu thuế sửa
đổi năm 1998 đã đáp ứng nhu cầu thực tế trong việc sử dụng công cụ thuế để điều
chỉnh việc khai thác tài nguyên hướng tới mục tiêu tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả góp
phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Biểu thuế
năm 1998 đã chứng minh cho sự mở rộng sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường.

- Phí môi trường
Theo quan niệm của Việt Nam hiện nay phí môi trường là các khoản thu nhằm
bù đắp chi phí của nhà nước cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Đây là
những khoản thu bắt buộc những người được hưởng dịch vụ phải đóng góp vào cho
nhà nước hoặc cho tổ chức quản lý làm dịch vụ đó, trực tiếp phục vụ lại cho người
đóng phí. Như vậy, việc thực hiện phí môi trường cần phải đạt được hai mục đích cơ
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

20


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
bản: làm thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm và tăng nguồn thu nhập để chi cho
những hoạt động cải thiện môi trường. Hiện nay, phí môi trường của Việt Nam cơ bản
có hai loại là phí nước thải và phí rác thải đô thị.
- Đặt cọc hoàn trả và ký quỹ môi trường
Trong đó, đặt cọc hoàn trả chưa có quy định của Nhà nước nhưng do vận hành
của cơ chế thị trường, đã xuất hiện có tính tự phát ở nước ta trong một số lĩnh vực. Ví
dụ, đối với các cửa hàng bán bia chai, chẳng hạn như bia Hà Nội, khách hàng phải đặt
cọc 2000 đồng trước khi mang chai bia đã mua về nhà và 2000 đồng được trả lại chỉ
khi người mua trả cho chủ cửa hàng vỏ chai còn đảm bảo nguyên vẹn; ký quỹ môi
trường đã có thông tư liên tịch số:126/1999/TTLT-BTC-BCN-BKHCNMT ngày
22/10/1999 về “Hướng dẫn việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác
khoáng sản”. Mục đích của việc đặt cọc, ký quỹ bằng một khoản tiền vào tài khoản
phong toả tại một tổ chức tín dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phục hồi môi trường
do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra theo quy định của pháp luật về hoạt động
khoáng sản.
-

Quỹ môi trường


Đây là loại công cụ kinh tế được sử dụng khá phổ biến hiện nay cho mục đích
bảo vệ môi trường. Ở Việt nam xét về loại quỹ này có thể chia thành ba loại, Quỹ môi
trường quốc gia, Quỹ môi trường địa phương và Quỹ môi trường ngành.
- Các cơ chế tài chính khác
Đây cũng là một dạng của công cụ kinh tế được sử dụng cho bảo vệ môi trường
như đầu tư cho bảo vệ môi trường, thưởng phạt do gây ô nhiễm môi trường.
Về thưởng phạt gây ô nhiễm môi trường, chúng ta cũng đã có những chế tài của
nhà nước và của địa phương. Ví dụ như phạt đối với các cơ sở gây ô nhiễm, hay Hà
Nội có chế tài đối với các xe chở vật liệu xây dựng gây ô nhiễm. Trong thực tế, mặc
dù chúng ta đã có một số chế tài cho bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả đạt được chưa
cao.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực cho các công cụ quản lý môi trường
trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Mỗi công cụ đều có ưu và nhược điểm riêng và việc lựa chọn công cụ nào tùy
thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Nên vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn
công cụ nào mà là tìm ra một phối hợp tốt nhất giữa các công cụ quản lý môi trường.
Công cụ quản lý môi trường phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải đảm bảo hiệu quả về mặt môi trường;
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

21


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
- Phải có hiệu quả về mặt kinh tế;
- Phải đảm bảo nguyên tắc công bằng xã hội;
- Có chi phí hành chánh và chi phí thực hiện thấp;
- Công cụ sử dụng đơn giản, dễ hiểu, dễ đưa vào thị trường.
Hầu hết các chuyên gia bảo vệ môi trường đều cho rằng trong bối cảnh không

ngừng hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, việc đẩy mạnh
hơn nữa sử dụng các công cụ kinh tế cho quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là
tất yếu khách quan hướng tới phát triển bền vững môi trường. Trong những năm tới,
đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao, cùng với sự tăng trưởng kinh tế cũng sẽ đạt
quy mô lớn hơn, khai thác và sử dụng tài nguyên sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, cơ chế kinh
tế thị trường ngày càng hoàn thiện, nhận thức và đòi hỏi tiêu dùng của người dân cũng
sẽ cao lên, dịch vụ du lịch là nhu cầu không thể thiếu khi đời sống được nâng lên. Mặt
khác, chúng ta đã có những bài học kinh nghiệm cho việc sử dụng một số công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường. Xây dựng một chiến lược thích hợp để triển khai thực
hiện chương trình thu phí là vấn đề thiết yếu đối với các nhà quản lý.
So với công cụ quản lý môi trường truyền thống kiểu “mệnh lệnh - kiểm soát”,
thuế và phí ô nhiễm cho phép đạt được mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm đề ra một cách
linh hoạt hơn và tiết kiệm chi phí hơn cho toàn xã hội. Với lợi thế này, công cụ thuế và
phí ô nhiễm được xem là phù hợp, nên được sử dụng trong chính sách môi truờng của
các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mà nhiều nhu cầu xã hội vẫn chưa được
đáp ứng đầy đủ cho dù tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây là khá cao, nên
nguồn ngân sách cho việc bảo vệ môi trường vẫn còn rất hạn chế so với nhiều nước
khác. Tuy có khá nhiều luận cứ thuyết phục cho việc áp dụng phí ô nhiễm, các nghiên
cứu từ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới do Ngân hàng thế giới thực hiện
(World Bank, 1998) đã đưa ra những bằng chứng rõ ràng rằng thực hiện một chương
trình thu phí ô nhiễm xây dựng thiếu chặt chẽ có thể sẽ không mang lại những lợi ích
đáng kể nào cả về kinh tế lẫn môi trường. Chính vì thế, một vấn đề quan trọng đối với
các nhà hoạch định chính sách quản lý môi trường Việt Nam đó là việc thu phí ô
nhiễm nên được xây dựng và thực hiện sao cho phù hợp và hiệu quả nhất với điều kiện
của đất nước ta hiện nay.
Trong những năm qua, thuế và phí ô nhiễm đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều
nước phát triển. Những bài học đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của các nước đã triền
khai thành công các chương trình thu thuế và phí ô nhiễm cũng có thể giúp cho các
nước đang phát triển có thể học tập và từ đó xây dựng được các chương trình thu phí
có hiệu lực.

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

22


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
Các chuyên gia khuyến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với Bộ
Tài chính sớm ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng và thực hiện 4 công cụ kinh
tế trên tại các địa phương cơ sở.
• Do quy mô của các đơn vị sản xuất công nghiệp ở các tỉnh thành hiện nay có
sự không đồng nhất, nên vấn đề xây dựng các nhà máy xử lý nước thải hay các cơ sở
xử lý nước thải tập trung cho các khu đô thị rồi từ đó sẽ áp dụng thu phí nước thải đối
với người sử dụng hệ thống này, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, đặc biệt đối với
xử lý nước thải từ các cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ. Cơ sở tính phí nên được xác
định dựa trên các chất ô nhiễm quan trọng xếp theo thứ tự ưu tiên.
• Thu phí xả thải nên nhằm vào một số nguồn thải trực tiếp trọng yếu nhất. Mô
hình kết hợp “giá cả - tiêu chuẩn” do Baumol and Oates (1988) đề xướng được khuyến
nghị là mô hình thích hợp nhất cho việc xây dựng phí xả thải tại các nước đang phát
triển. Theo cách tiếp cận này, mức phí nên đặt ở một mức thấp trong thời gian đầu, sau
đó sẽ tiếp tục tăng lên cho tới khi mức độ ô nhiễm giảm tới điểm kiểm soát mục tiêu.
• Việc thực hiện chương trình thu phí nên được phân quyền cho địa phương
cấp tỉnh thành, và cho phép địa phương quyết định mức thu phí khác nhau tuỳ theo
hiện trạng và mục tiêu cải thiện môi trường của mỗi địa phương, điều này sẽ làm tăng
hiệu quả của phí ô nhiễm. Những đề xuất trên đây cũng sẽ góp phần tạo ra một nền
tảng vững chắc cho các chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, tiếng ồn
và luật thuế bảo vệ môi trường dự kiến sẽ sớm triển khai trong thời gian tới.
IV. Kết luận
Không thể có sự hài hòa về lợi ích giữa bảo tồn và phát triển, giữa phát triển và
tăng trưởng kinh tế với chính sách bảo vệ môi trường. Ở góc độ tổng thể, các nhà
hoạch định chính sách luôn luôn phải cân nhắc về vấn đề môi trường. Song trên thực

tế, vì lợi ích cục bộ, trước mắt, người ta đã phải đánh đổi tất cả để có được sự phát
triển nhanh, sự tăng trưởng nhanh chóng. Và vì vậy, vai trò phản biện xã hội là đóng
góp vào chính sách môi trường của quốc gia. Vấn đề lựa chọn giữa tăng trưởng nhanh
và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững được đặt ra có vẻ như quá sơ đẳng về lý
luận vì điều này thường không được đề cập khi hoạch định chiến lược phát triển mà
luôn nêu mục tiêu “vừa tăng trưởng nhanh, vừa bảo vệ môi trường, phát triển bền
vững”. Nhìn rộng ra toàn thế giới dường như không ở đâu đạt được cả hai mục tiêu
này cùng tốt đẹp như nhau. Để giải quyết hài hòa mối quan hệ trên là vấn đề không
đơn giản, một bài toán khó, nhưng cũng không phải không có lời giải.
Để giải quyết tốt, hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường, nhất là giữ hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế với lợi ích của việc bảo vệ môi
Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

23


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh
trường cần thiết phải có quan điểm tổng thể và hoàn thiện hệ thống chủ trương, chính
sách, pháp luật vĩ mô về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Nói cách khác,
việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế- xã hội của Nhà
nước cần gắn liền và có những ràng buộc với bảo vệ môi trường, sớm khắc phục tình
trạng tách rời nhau hoặc mạnh ngành nào ngành đó làm.
Phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trườnglà sự nghiệp của toàn dân, của cả
xã hội nên từ việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật đến tổ chức thực hiện
đều cần đến sự tham gia góp ý kiến của người dân. Chính vì vậy, mỗi chủ trương,
chính sách, pháp luật phát triển kinh tế- xã hội hay bảo vệ môi trường được ban hành
và tổ chức thực hiện đều cần thiết phải có cơ chế để lấy ý kiến đóng góp của đông đảo
các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo đảm hài hòa, cân bằng giữa phát triển kinh tế
với bảo vệ môi trường.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân về
phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với công tác bảo vệ môi trường. Đây phải được
xem là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, bao gồm tổ
chức Đảng, các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các các tổ chức chính trị - xã hội,
tránh khuynh hướng xem công tác bảo vệ môi trường chỉ là việc riêng của ngành môi
trường.
Phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ môi trường đều là sự nghiệp của
toàn dân. Chính vì vậy, để phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường có
hiệu quả, hài hòa, bảo đảm sự phát triển bền vững, cần phát huy tinh thần chủ động,
sáng tạo của mỗi một cán bộ đến từng người dân. Hệ thống chính trị nói chung, đặc
biệt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc chăm lo xây dựng các khu dân
cư, cộng đồng dân cư tự quản có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường.
Trong điều kiện nước ta còn khó khăn, việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là việc
mở ra các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất chưa đủ điều kiện bảo đảm việc bảo vệ
môi trường thì cần được cân nhắc, hạn chế tối đa tác động và ảnh hưởng xấu đến môi
trường. Nhà nước và từng địa phương cơ sở cần đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển
kinh tế - xã hội, với các chỉ tiêu bảo vệ môi trường theo từng giai đoạn và phù hợp với
thực tế, điều kiện địa phương và cả nước.

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

24


Tiểu luận Kinh tế Môi trường – GVGD: TS. Lê Thị Kim Oanh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ, Giáo trình kinh tế môi trường, NXB Giáo dục, 2005
2. Chương trình kinh tế và môi trường Đông Nam Á, Kinh tế môi trường, 2005

3. TS. Lê Thị Kim Oanh và cộng sự, Nghiên cứu về hệ thống thu phí ô nhiễm nước
thải tại Cộng hòa Liên Bang Đức và những bài học kinh nghiệm về xây dựng
chính sách quản lý môi trường, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà
Nẵng, 2010.
4. PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Sử dụng công cụ kinh tế bảo vệ môi trường nhằm
phát triển du lịch, Tạp chí du lịch, 2006.
5. Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Singapore
6. TS. Lê Thị Kim Oanh, Bàn về áp dụng nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải
trả", Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 2010.
7. Các văn bản pháp quy, quy định về lĩnh vực tài nguyên và môi trường

Học viên: Huỳnh Thị Phúc – Lớp CNMTK23

25


×