Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Câu hỏi môn luật cạnh tranh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.67 KB, 15 trang )

LỚP CHẤT LƯỢNG CAO
Môn Luật Cạnh tranh & Giải quyết TCTM – 1 tín chỉ
----------------------------------

CÂU HỎI LÝ THUYẾT & BÀI TẬP & YÊU CẦU KỸ NĂNG
I.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.

CÁC CÂU HỎI LÝ THUYẾT
Phân tích và bình luận về đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh 2004?
Phân tích khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Khoản 4 Điều
3 Luật Cạnh tranh 2004?
Phân tích hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và cho ví dụ về hành vi này?


Hãy phân tích qui định của Luật Cạnh tranh 2004 về Bí mật kinh doanh và
cho ví dụ giả định về bí mật kinh doanh?
Phân tích và cho ví dụ về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh theo qui định
của Luật Cạnh tranh 2004?
Hãy phân tích hành vi ép buộc trong kinh doanh và cho 02 ví dụ về hành vi
ép buộc trong kinh doanh?
Phân tích và cho ví dụ về hành vi gièm pha doanh nghiệp khác trong Luật
Cạnh tranh 2004?
Phân tích và cho ví dụ về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh ?
Phân tích quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tại
Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004?
Hãy cho biết các căn cứ để xác định sức mạnh thị trường của các doanh
nghiệp theo qui định của Luật Cạnh tranh 2004 và phân tích, bình luận về
cách thức xác định những căn cứ này?
Phân biệt thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, phân
chia nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ ở khỏa 2 điều 8 với hành vi giới hạn
thị trường gây thiệt hại cho khách hàng ở khoản 3 điều 13 LCT 2004?
Bình luận về các trường hợp tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh Việt
Nam?
Cho biết quan điểm của bạn về việc cơ quan Quản lý cạnh tranh nên được
thành lập từ cơ quan nào? Tại sao?
Phân tích và bình luận về chức năng của Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng
cạnh tranh?
Phân tích thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại theo
Luật Trọng tài thương mại 2010?
Phân tích tiêu chuẩn trọng tài viên theo Luật Trọng tài thương mại 2010?
Chứng minh “tính chất tư” trong tố tụng trọng tài?
Chứng minh và lý giải vì sao Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ?
Vì sao phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm?


1


20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.

So sánh thủ tục hủy phán quyết trọng tài và thủ tục kháng cáo phúc thẩm theo
tố tụng tòa án?
Phân tích những ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại.
Vì sao thời gian qua, phương thức giải quyết TCTM bằng Trọng tài rất ít
được sử dụng tại VN?
Phân tích những điểm mới của Luật TT 2010 so với Pháp lệnh TT 2003? Lý
giải, nhận xét những điểm mới đó?
Trình bày các hoạt động hỗ trợ của Tòa án , Cơ quan thi hành án DS trong tố
tụng trọng tài theo qui định của PLTT 2003 và Luật TT 2010? Lý giải, nhận
xét các hoạt động hỗ trợ đó?
Tại sao khi các bên tranh chấp đã thỏa thuận chọn Trọng tài thì sẽ mất quyền
khởi kiện tại Tòa án?
Để tránh trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, doanh nghiệp cần phải chú
ý các vấn đề gì?
Trong hợp đồng nếu trường hợp các bên thoả thuận lựa chọn hoặc trọng tài

hoặc toà án thì việc giải quyết tranh chấp sẽ do TA hay TT giải quyết?
Vì sao thỏa thuận trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng?

II.
NHẬN ĐỊNH
1. Mọi vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đều phải được
điều tra qua hai giai đoạn trước khi đưa ra Hội đồng cạnh tranh giải quyết.
2. Mọi trường hợp mua lại DN đều được coi là một hình thức tập trung kinh tế.
3. Hành vi của doanh nghiệp dùng vũ lực để ép buộc khách hàng phải giao dịch với
mình là hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Điều 42 Luật cạnh tranh 2004.
4. Cục quản lý cạnh tranh có quyền điều tra và xử lý tất cả các vụ việc cạnh tranh.
5. Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan có quyền và nhiệm vụ điều tra tất cả các vụ
việc cạnh tranh.
6. Cấm tuyệt đối hành vi tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan.
7. Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp.
8. Tất cả các vụ việc cạnh tranh đều được giải quyết theo quy định của Luật cạnh
tranh.
9. Doanh nghiệp thực hiện hành vi áp đặt giá mua bán hàng hóa bất hợp lý hoặc .ấn
định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng thì vi phạm Luật cạnh
tranh.
10. Theo Luật Cạnh tranh 2004, doanh nghiệp thực hiện các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường thì không được hưởng miễn trừ.
11. Mọi hành vi cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
đều bị coi là gây rối hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật cạnh tranh.

2


12. Tất cả các vụ việc cạnh tranh đều được giải quyết theo quy định của Luật cạnh

tranh và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
13. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm cơ quan quản lý cạnh tranh (Cục
quản lý cạnh tranh) và Hội đồng cạnh tranh.
14. Năm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có tổng thị phần
từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
15. Các doanh nghiệp được tự do tập trung kinh tế nếu đang trong nguy cơ bị giải thể
hoặc lâm vào tình trạng phá sản.
16. Hội đồng cạnh tranh có quyền điều tra và xử lý tất cả các vụ việc cạnh tranh.
17. Tất cả các vụ việc cạnh tranh đều phải được xem xét và xử lý thông qua phiên
điều trần.
18. Mọi thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán
hàng hóa đều bị cấm.
19. Hành vi quảng cáo của doanh nghiệp theo hướng đưa thông tin gian dối hoặc gây
nhầm lẫn cho khách hàng về chất lượng, công dụng của sản phẩm thì vi phạm
Luật cạnh tranh.
20. Cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh khi phát
hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh.
21. Bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh
tranh khi có quyền và lợi ích bị xâm hại do hành vi vi phạm Luật cạnh tranh.

II. BÀI TẬP
Bài số 1
'Khủng bố' siêu thị nội thất bằng xú uế
Trong vòng hai tuần nay một doanh nghiệp kinh doanh trang trí nội thất ở Cà
Mau liên tục bị “khủng bố” bằng phân, nước tiểu. Có hôm khách đang xem hàng bỏ
chạy tứ tán vì sợ “dính chưởng” của một phụ nữ hung dữ.
Sáng 14/12, Công an TP Cà Mau đã mời bà Nguyễn Kim Phượng ở đường
Nguyễn Tất Thành, phường 8, TP Cà Mau đến làm việc. Theo đó, bà Phượng bị lập
biên bản vi phạm hành chính vì đã có hành vi gây rối siêu thị kinh doanh trang trí
nội thất trên địa bàn bằng cách ném rác, chai lọ chứa phân, nước tiểu vào cơ sở kinh

doanh.
Đây là lần thứ hai bà Phượng bị lập biên bản
Bà Đoàn Minh Khởi - Giám đốc Công ty gỗ mỹ nghệ Hố Nai - cho biết
khoảng 2 tuần nay khi bà mở thêm cửa hàng trưng bày sản phẩm tại siêu thị số 131
đường Nguyễn Tất Thành, TP Cà Mau thì liên tục bị hàng xóm cạnh bên “khủng
bố”. Có đêm bà Phượng chở rác về đổ trước sân siêu thị, quét phân dê, nước tiểu lên
cửa cuốn nhưng doanh nghiệp vẫn nhẫn nại thu gom, rửa sạch xú uế để kinh doanh.
Tuy nhiên, sáng 13/12 bà Phượng tiếp tục dùng chai thủy tinh ném vỡ cửa
kính siêu thị, quăng xú uế vào trong showroom làm khách hàng bỏ chạy tán loạn.

3


Theo bà Khởi, nguyên nhân bà Phượng “khủng bố” doanh nghiệp là do tranh
chấp đất đai với ông Trần Tú Ngọc là người cho doanh nghiệp thuê đất.
[Nguồn: /> GỢI Ý NGHIÊN CỨU
Theo anh (chị) hành vi của Phượng như trong tình huống có chịu sự điều chỉnh của
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh hay không? Tại sao?
Bài số 2
Kiện vì nói xấu doanh nghiệp trên mạng
Từ hợp tác chuyển sang nói xấu
Theo đơn khởi kiện, từ năm 2003, tập đoàn X bán nhiều sản phẩm, thiết bị
cho công ty T. Năm năm sau, hai bên chấm dứt mọi quan hệ, giao dịch. Nhưng cũng
từ lúc đó, công ty T liên tục đưa ra thông tin không trung thực về X trên một số trang
thông tin điện tử… Chẳng hạn, công ty T. cho đăng hình ảnh các sản phẩm bị rỉ sét
của X, gây hoang mang cho người tiêu dùng trong khi sản phẩm của X rất chất
lượng, bảo hành trọn đời sản phẩm.
Hay như công ty T cho đăng tải các bài viết có những đánh giá chủ quan,
không có căn cứ, chỉ trích, cho rằng X đã “qua cầu rút ván”, “kinh doanh thiếu văn
hóa”, “thiếu đạo đức trong kinh doanh”, “tàn nhẫn và thủ đoạn” và “không có chữ

tín”, “không đáng tin cậy”...
Công ty T còn cho đăng nhiều “Phiếu thu thập ý kiến khách hàng”, trong đó
có nội dung phê phán việc chấm dứt mối quan hệ mua bán giữa X và T, tổ chức dàn
dựng chụp hình ảnh nhãn hiệu, logo của X kèm theo hình ảnh một số đối tượng có
hành động biểu tượng chỉ tay phản đối, tẩy chay sản phẩm X, phát tán rộng khắp...
Chấm dứt việc hạ uy tín
Theo tập đoàn X, việc phát tán các thông tin sai sự thật trên các phương tiện
truyền thông và chuyển tiếp cho khách hàng, đối tác của X trong một thời gian dài
chính là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín và gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh
doanh của X tại Việt Nam.
Việc làm này gây hậu quả là không những đã gây nhầm lẫn và làm lệch lạc
nhận thức của khách hàng đối với thương hiệu X mà còn trực tiếp làm tổn hại đến
hoạt động kinh doanh của nguyên đơn. Đồng thời ảnh hưởng xấu đối với hình ảnh
thương hiệu và uy tín kinh doanh của X.
Do vậy, X đã đàm phán với công ty T yêu cầu chấm dứt các hành vi trên.
Nhưng công ty này đòi phải thanh toán 180.000 euro, trong đó có 20.000 euro trả
cho việc lấy lại tên miền có liên quan thương hiệu X; 160.000 euro bồi thường cho
công ty T vì chi phí họ đã đầu tư vào thời điểm còn hợp tác với X.
Các yêu cầu trên của công ty T không có cơ sở nên tập đoàn X đề nghị tòa buộc
công ty T phải chấm dứt các hành động trên ngay lập tức và vô điều kiện.
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU

4


Theo anh (chị), hành vi của công ty T có phải là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh hay không? Nếu có là hành vi gì?
Bài số 3
Quảng cáo hăm dạo người tiêu dùng
Sau khi thạch rau câu của đối thủ bị phát hiện chứa chất gây ung thư, doanh

nghiệp A cùng ngành lập tức cho phát quảng cáo với nội dung “ăn theo thời sự”.
Đoạn quảng cáo xoay quanh câu chuyện giữa hai mẹ con, bé gái muốn ăn thạch rau
câu nhưng mẹ không đồng ý vì sợ có chất gây ung thư. Sau đó cô bạn xuất hiện giải
thích rằng có một loại thạch không chứa chất gây ung thư này.
Cô bạn còn nhấn mạnh, chỉ duy nhất loại này (của doanh nghiệp A) trên thị
trường không chứa chất DEHP, còn hầu hết các sản phẩm nhập khẩu lẫn sản xuất
trong nước đều có. Xuôi tai, bà mẹ đổi ý và tuyên bố chỉ mua loại thạch rau câu của
công ty nọ cho con ăn.
Không chỉ ca ngợi đặc tính ưu việt của sản phẩm, mẩu quảng cáo lại "đe dọa" về
hậu quả đáng sợ nếu người tiêu dùng mua sản phẩm khác.
[Nguồn: /> GỢI Ý NGHIÊN CỨU
Theo anh (chị) hành vi quảng cáo hăm dọa có phải là một hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh hay không? Tại sao?
Bài số 4
Quảng cáo mì TV
Kể từ ngày 1/4/2009, Công ty Cổ phần Công nghiệp M đã thực hiện chương
trình quảng cáo sản phẩm Mì TV trên toàn quốc, với các hình thức quảng cáo truyền
hình, quảng cáo báo chí, quảng cáo ngoài trời tại các siêu thị, nhà chờ xe bus và
quảng cáo trên bao gói sản phẩm. Nội dung chính của các quảng cáo đều thống nhất
là: “Mì TV có sợi mì màu vàng tươi do không sử dụng dầu chiên đi chiên lại nhiều
lần, đảm bảo sức khoé”.
Ngày 28/4/2009, Công ty AC Việt Nam gửi hồ sơ khiếu nại đến Cục QLCT
về hành vi của Công ty M thể hiện tại chương trình quảng cáo.
Theo Công ty AC, chương trình quảng cáo do Công ty M thực hiện đã có các
nội dung so sánh và gây nhầm lẫn về chất lượng mì ăn liền màu vàng tươi của Công
ty M với mì ăn liên màu vàng sẫn của các doanh nghiệp còn lại, với nội dung quảng
cáo truyền tải thông tin không đầy đủ về nguyên nhân màu vàng sẫm của mì ăn liền,
gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm của tất cả các doanh
nghiệp sản xuất các loại mì ăn liền có màu vàng sẫm đang bán trên thị trường, trong
đó có mì do Công ty AC sản xuất.

 GỢI Ý NGHIÊN CỨU
5


Theo anh (chị) hành vi quảng cáo của công ty M có phải là hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh hay không? Nếu có thì đó là hành vi gì?
Bài số 5
Trần Văn B là một phân phối viên trong mạng lưới bán hàng đa cấp của công
ty A. B nhận hàng từ công ty A, sau đó tiếp thị sản phẩm với một người quen là C và
đã bán được hàng cho C. Sau đó, C nghe bạn bè bình luận rằng với công dụng như B
giới thiệu thì sản phẩm vừa mua có giá quá đắt. C trả hàng và yêu cầu B trả đủ tiền.
B không đồng ý do giao dịch đã xong, nhưng nếu C cần thì B sẽ nhận lại sản phẩm
để sử dụng và trả lại 70% số tiền C đã trả.
Cho rằng B vi phạm Luật cạnh tranh do bán hàng đa cấp bất chính và có nghĩa vụ
phải trả lại ít nhất 90% số tiền, C dự định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết
vụ việc.
Anh (chị) hãy xác định B có vi phạm Luật Cạnh tranh 2004 không? Tại sao?
Bài số 6
Đồng loạt nâng mức phí bảo hiểm ôtô
Vừa qua, 16 công ty bảo hiểm (hầu hết là doanh nghiệp trong nước) đã cùng
ký một thỏa thuận nâng mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn xe ô tô, với lý do đưa ra là
“nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao".
Theo nội dung hợp đồng bảo hiểm mà nhiều hãng bảo hiểm đề nghị ký với
khách hàng, kể từ đầu tháng 10 vừa qua, mức phí tiêu chuẩn bảo hiểm vật chất xe ô
tô, hay còn gọi là mức phí tối thiểu đã tăng từ 1,3% lên 1,56% một năm (chưa tính
10% thuế VAT).
Theo biểu phí mà Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thông qua hồi tháng 10 vừa
qua, có 6 loại xe tăng phí. Ngoài phí tiêu chuẩn kể trên, chỉ được áp dụng đối với xe
mới đăng ký sử dụng lần đầu trong vòng 3 năm, thì các xe cũ (đăng ký sử dụng từ 3
năm trở lên) sẽ được điều chỉnh tăng nếu áp dụng điều khoản bồi thường không

khấu hao thay bộ phận mới.
Các loại ô tô khác như kinh doanh vận tải hàng hoá cũng tăng lên mức phí
hàng năm là 1,83%; vận tải hành khách liên tỉnh (1,07%); chở hàng đông lạnh
(2,62%), đầu kéo (2,84%).
Riêng bảo hiểm taxi có mức tăng mạnh nhất (3,95%). Và đó là lý do mà
nhiều thành viên Hiệp hội taxi yêu cầu hiệp hội của mình có ý kiến phản ứng về việc
thỏa thuận nâng phí bảo hiểm nói trên. Đại diện một hãng taxi tại Hà Nội nói rằng,
mức phí bảo hiểm như trên là “không chấp nhận được”.
Trong việc tăng phí này, theo văn bản của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam gửi
tổng giám đốc các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, thì việc tăng phí là kết quả
của việc ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác giữa các thành viên hiệp hội tại Hội
nghị CEO phi nhân thọ lần thứ 6
6


Các công ty đã ký bản thỏa thuận nâng phí bảo hiểm ô tô gồm:
Bảo Việt; Bảo hiểm Petrolimex (Pjico); Bảo hiểm Dầu khí (PVI);
SamsungVina;Toàn cầu; Bảo hiểm Viễn Đông (VASS); Công ty liên doanh Bảo
hiểm quốc tế Việt Nam (VIA); Công ty Bảo hiểm của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIC); Bảo Long; Bảo Ngân; Bảo Minh; Bảo Tín; AAA; Công ty cổ
phần Bảo hiểm Quân đội (MIC); Bảo hiểm Bưu điện (PTI) và Công ty Bảo hiểm của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank).
Có 16 công ty bảo hiểm (chủ yếu là các doanh nghiệp trong nước) đã ký vào
thỏa thuận này; nhưng có một số công ty (chủ yếu là các hãng bảo hiểm nước ngoài)
cũng là thành viên của Hiệp hội Bảo hiểm như AIG, Groupama, UIC, VNI, ACE,
Fubon, Liberty và QBE chưa ký vào thỏa thuân nêu trên dù đã được Tổng thư ký
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam Phùng Đắc Lộc ký văn bản nhắc nhở.
Hiện tại, mức phí tiêu chuẩn mà các hãng này đang áp dụng thấp hơn, dao
động từ 1,4% đến 1,5%/năm, cũng là có tăng so với mức tiêu chuẩn vẫn được áp
dụng (1,3%/năm).

[Nguồn: />%C2%A0xe-o-to.html]
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU
1. Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, anh (chị) nhận xét như thế nào về thỏa
thuận nâng mức phí bảo hiểm của 16 doanh nghiệp như đã đề cập trong tình
huống?
2. Theo anh (chị), Hiệp hội Bảo hiểm Việt nam có vi phạm Luật Cạnh tranh
2004 hay không? Nếu có thì hành vi đó là gì?
Bài số 7
Công ty N kinh doanh thời trang cao cấp nổi tiếng trên thị trường, có thị phần
trên thị trường liên quan là 42%. Để giữ gìn thương hiệu, công ty thực hiện chính
sách không bán giảm giá sản phẩm, đồng thời ấn định thống nhất giá bán tối thiểu
cho khách hàng tại các đại lý của mình, nếu đại lý nào vi phạm (bán dưới giá được
ấn định) thì sẽ bị chấm dứt hợp đồng đại lý.
Hãy xác định hành vi nêu trên của công ty N có vi phạm Luật Cạnh tranh 2004
không? Tại sao?
Bài số 8
Công ty A là công ty duy nhất cung cấp dịch vụ trực thăng cấp cứu tại Việt
Nam. Giả định rằng công ty áp dụng giá dịch vụ bay với mọi khách hàng là từ 4.000
USD/giờ. Nếu là khách hàng thường xuyên thì được thanh toán sau. Với khách hàng
lẻ, khách phải trả 100% chi phí dự toán ban đầu dựa trên độ dài đường bay. Với
hành vi trên, có quan điểm cho rằng công ty A đã lạm dụng vị trí độc quyền để áp

7


đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh.
Bằng việc phân tích hành vi “áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong
giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh” được quy định tại
Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004, hãy xác định công ty A có vi phạm pháp luật cạnh

tranh không?
Bài số 9
Megastar bị 6 doanh nghiệp chiếu phim khiếu nại
Hiện trên thị trường phim chiếu rạp Việt Nam, số lượng phim nội được sản
xuất rất ít, do: thị hiếu khán giả, thiếu kịch bản hay, thiếu vốn đầu tư, thiếu đạo diễn,
diễn viên giỏi… 90% phim chiếu rạp đều phải nhập khẩu từ các hãng sản xuất nước
ngoài như Walt Disney Studios, Paramount/Dreamworks, Universal Pictures, Fox,
Warner Bros/Sony.
Theo thông lệ quốc tế và Việt Nam, doanh thu bán vé sẽ được phân chia giữa
rạp và công ty nhập phim theo một tỷ lệ được ấn định từ trước, và phần phải trả cho
phía nhập phim được coi là mức giá thuê phim. Nếu doanh thu bán vé tại cụm rạp A
của một phim nước ngoài là 1 tỷ đồng, và tỷ lệ ăn chia doanh thu giả định là 50 - 50,
có nghĩa là cụm rạp A sẽ được hưởng 500 triệu đồng và công ty nhập phim sẽ được
hưởng 500 triệu. Cụm rạp A sẽ có toàn quyền ấn định giá bán vé dựa trên chi phí
hoạt động của mình và phù hợp với đối tượng khách hàng mà cụm rạp A hướng tới.
Megastar nâng giá thuê phim
Các doanh nghiệp nhập phim chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: Công ty TNHH
Truyền thông Megastar (Megastar), Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy),
Công ty TNHH Bình Hạnh Đan (BHD), và Công ty TNHH Lotte Cinema Việt Nam
(Lotte). Các doanh nghiệp này sau khi nhập phim sẽ phân phối lại cho các rạp chiếu
phim trên phạm vi cả nước.
Mỗi hãng phim nước ngoài chỉ ký hợp đồng với một hãng phát hành tại một
quốc gia.Trên thực tế, 4 trong số 5 hãng phim lớn tại Hollywood đã ký hợp đồng với
Megastar.
Từ tháng 6/2009, Megastar bắt đầu thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé
và thực hiện việc áp đặt chính sách Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem là 25
nghìn đồng (sau thuế); nghĩa là nếu rạp A bán mỗi vé với giá dưới 50 nghìn đồng thì
phần Megastar hưởng là 25 nghìn/vé. Tuy nhiên, nếu giá vé là trên 50 nghìn đồng,
Megastar lại áp dụng tỷ lệ chia 50 - 50 như cũ.
Thời điểm đó, giá vé ở rạp Dân Chủ (Hà Nội) là 20 nghìn đồng, rạp Cinebox

(TP HCM) là 25 nghìn đồng… Chính sách Giá thuê phim tối thiểu của Megastar đã
đẩy các doanh nghiệp chiếu phim vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: nếu không chấp
nhận chính sách này thì không có phim để chiếu, nếu muốn giữ nguyên giá bán vé
thì bị lỗ nặng, còn nếu tăng giá thì ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền khán giả.
Các doanh nghiệp chiếu phim Việt lâm vào tình trạng thua lỗ
8


Hậu quả của cách làm nói trên là các rạp chiếu phim hiện nay, đáng kể nhất là
cụm rạp Cinebox, Tân Sơn Nhất, Galaxy và nhiều doanh nghiệp điện ảnh nhà nước
như Tháng Tám, Công ty Cổ phần Truyền thông Điện ảnh Sài Gòn… đều bị sụt
giảm 25-50% doanh thu, hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ từ quý 2 năm 2009 đến
nay.
[Nguồn: /> GỢI Ý NGHIÊN CỨU
1. Theo anh (chị), để có thể xác định Megastar có hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh hay không, cơ quan Quản lý về cạnh tranh cần phải làm gì?
2. Anh (chị) nhận xét như thế nào về hành vi của Megstar và cáo buộc của 6
doanh nghiệp ngành điện ảnh?
Bài số 10
VCA từ chối yêu cầu của Acecook
Cuối năm 2011, cộng đồng doanh nghiệp Việt nam xôn xao chuyện Cục quản
lí cạnh tranh Việt nam từ chối đơn khiếu nại của Công ty Cổ phần Acecook Việt
Nam khiếu nại đến Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) để Cục xử lý quảng
cáo mì “Tiến Vua bò cải chua” của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan xoay
quanh “cuộc chiến mì gói”. Tuy nhận định quảng cáo “có dấu hiệu” của hành vi
“quảng cáo nói xấu, so sánh” nhưng Cục này đã trả lại hồ sơ.
Theo đó, Cục quản lý cạnh tranh đã cho rằng so sánh trực tiếp là phải chỉ rõ
tên của loại sản phẩm bị so sánh.
Cục quản lí cạnh tranh cũng nhận định quy định tại khoản 3 Điều 45 về “gian
dối hoặc gây nhầm lẫn” chỉ áp dụng khi gây nhầm lẫn về chính sản phẩm của DN

chứ không áp dụng khi gây nhầm lẫn về sản phẩm của DN khác. Vì vậy mà bác bỏ
lập luận của bên khiếu nại. Nhưng điều đáng nói nhất trong trả lời của Cục quản lý
cạnh tranh đó là Cục nhận định quảng cáo nói trên của Masan có dấu hiệu của hành
vi “quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ của người khác” nhưng vẫn từ chối xử lí.
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU
1. Anh (chị) hãy xác định các biện pháp mà doanh nghiệp có thể áp dụng khi bị
doanh nghiệp khác cạnh tranh không lành mạnh? Ưu điểm và hạn chế của
các biện pháp này?
2. Theo anh chị nhận xét như thế nào về việc VCAD từ chối yêu cầu xử lí hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của Acecook?
Bài số 11
Bệnh viện Quốc tế Dialasie
9


Ngày 24.4.2002 Công ty dược phẩm B.Brour Hà Nội (gọi là bên A) và Bệnh
viện Quốc tế thận và lọc thận Dialasie (gọi là bên B) ký hợp đồng mua dụng cụ tiêu
hao với nội dung như sau:
Bên A sẽ lắp đặt các máy thận nhân tạo và hệ thống xử lý nước ro tại cơ sở
của bên B theo hợp đồng và thu phí hàng tháng với mức điều trị tối thiểu là 48 lần
điều trị 01 tháng trong thời hạn 05 năm.
Bên A đồng ý cho lắp đặt 34 máy lọc thận và 01 hệ thống xử lý nước ro.
Về các dụng cụ tiêu hao bên A sẽ cung cấp cho bên B theo dự trù hàng tháng
trên cơ sở những vật tư tiêu hao cần thiết cho việc lọc máu. Trong hợp đồng quy
định tại Điều 6 về xử lý tranh chấp: trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có gì
vướng mắc xảy ra hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc giải quyết trên cơ sở tôn trọng lợi
ích của hai bên, Euro cham hoặc Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam sẽ là trọng
tài phán xử. Nếu không giải quyết được thì một bên có thể đưa tranh chấp ra Toà án
thành phố Hồ Chí Minh hoặc bất kỳ Toà án Việt Nam nào về các vấn đề liên quan

đến Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận Dialasie.
Kèm theo hợp đồng là bản phụ lục hợp đồng, bản giá thiết bị và bản giá vật tư
tiêu hao. Trong quá trình thực hiện hợp đồng hai bên đã ký kết ngày 24.4.2002.
Do Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận Dialasie không thanh toán tiền sử
dụng máy lọc thận và các dụng cụ tiêu hao, nên ngày 20.12.2005 Công ty dược
phẩm B.Braun Hà Nội đã làm đơn khởi kiện Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận tại
Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
Do không đồng ý với phán quyết của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
(VIAC) nên ngày 07.7.2006 Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận Dialasie đã có đơn
gửi đến Toà Kinh tế Toà án thành phố Hà Nội yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài với
các lý do sau:
 Điều khoản trọng tài được xác nhận sai hoặc không rõ Trung tâm
Trọng tài theo Điều 6 của hợp đồng. Đồng thời Bệnh viện Quốc tế
thận và lọc thận Dialasie cho rằng tại Điều 6 của hợp đồng chỉ cho
Trọng tài quốc tế Việt Nam có quyền hoà giải, chứ không có quyền
phán xử, mà quyền phán xử là Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh hoặc bất kỳ Toà án Việt Nam nào liên quan đến quyền lợi của
Bệnh viện Dialasie.
 Địa điểm trọng tài không đúng theo luật tố tụng Việt Nam.
[Nguồn: Trích và biên tập lại từ Quyết định: 03/KTST Ngày:15.9.2006 của
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội]
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU:
1. Theo anh (chị) điều 6 của Hợp đồng giữa Công ty dược phẩm B.Brour Hà
Nội và Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận Dialasie có phải là thỏa thuận
trọng tài hay không?
2. Điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực là gì? Trong trường hợp các bên
không chỉ rõ hoặc xác định sai Trung tâm trọng tài thì có làm cho Thỏa thuận
trọng tài vô hiệu hay không?
10



3. Trung tâm trọng tài có thẩm quyền và có bắt buộc phải tiến hành thủ tục hòa
giải cho các bên tranh chấp hay không?
Anh (chị) nhận xét như thế nào khi Bệnh viện Quốc tế thận và lọc thận
Dialasie cho rằng tại Điều 6 của hợp đồng chỉ cho Trọng tài quốc tế Việt
Nam có quyền hoà giải, chứ không có quyền phán xử? Các bên có quyền lựa
chọn Trung tâm trọng tài để hòa giải mà không được giải quyết tranh chấp
hay không? Tại sao?
4. Theo anh (chị), Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xác định địa điểm giải
quyết tranh chấp hay không? Tại sao?
Bài số 12
Công ty PT VINDOEXIM
Ngày 17/11/2007 công ty PT VINDOEXIM do ông Phan Bá Hưng đại diện
có ký hợp đồng kinh tế số 071 với Công ty TNHH Thủ đô II để mua bán phân URÊ
số lượng 25.000 tấn, trị giá hợp đồng là 4.000.000USD. Hai bên có thỏa thuận
phương thức thanh toán: “bên mua sẽ mở thư tín dụng chuyển khoản không thể thu
hồi với toàn bộ giá trị hợp đồng trong vòng 5 ngày làm việc sau khi nhận được đơn
hàng từ bên bán ngày 01/12/2007”.
Ngày 25/11/2007, hai bên ký phụ lục thỏa thuận sửa đổi hợp đồng: bên mua
sẽ mở L/C chậm nhất vào ngày 27/11/2007. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận chọn
cơ quan tài phán là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – Bên cạnh phòng thương
mại và công nghiệp Việt Nam là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa
các bên khi thực hiện hợp đồng.
Sau khi ký hợp đồng, đến ngày 15/12/2007 Công ty TNHH Thủ đô II đã gửi
thư cho Công ty PT VINDOEXIM đề nghị bổ sung ngày hết hạn là 15/02/2008
nhưng Công ty PT VINDOEXIM không chấp nhận nên công ty Thủ đô II không
thực hiện hợp đồng.
Ngày 24/01/2008, Công ty PT VINDOEXIM do ông Phan Bá Hưng ký đơn
khởi kiện gửi Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam và yêu cầu Công ty TNHH Thủ đô II phải trả số tiền phạt

2,5% tổng giá trị hợp đồng như đã ký kết tương đương với 100.000USD do không
mở L/C đúng thời hạn; và tiền chi phí dịch vụ pháp lý là 11.000USD.
Ngày 21/7/2008, Ủy ban trọng tài đã mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp
và đến ngày 31/8/2008 đã công bố với các bên quyết định trọng tài buộc Công ty
TNHH Thủ đô II phải trả cho Công ty PT VINDOEXIM do ông Phan Bá Hưng là
giám đốc 100.000USD.
Sau khi nhận được quyết định trọng tài, Công ty TNHH Thủ đô II không
đồng ý và có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hủy quyết định trọng
tài với lý do: ông Hưng không đủ tư cách để ký hợp đồng kinh tế số 071 ngày
17/11/2007, không có giấy ủy quyền nào của Công ty PT VINDOEXIM để ký hợp
đồng kinh tế với Công ty Thủ đô II. Việc ông Phan Bá Hưng đã nhân danh là giám

11


đốc Công ty PT VINDOEXIM là không đúng vì thế đề nghị Tòa xem xét ông Hưng
không có tư cách thỏa thuận trọng tài.
Còn phía Công ty PT VINDOEXIM do ông Phan Bá Hưng trình bày: Ngày
17/11/2007 ông Phan Bá Hưng có ký hợp đồng kinh tế số 071 với Công ty Thủ đô
II, hợp đồng quy định thời gian thanh toán, bên mua mở L/C thời hạn là 5 ngày và
nếu có tranh chấp do Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam giải quyết. Vì thế nay
Công ty TNHH Thủ đô II không thực hiện mở L/C đúng hạn nên Công ty PT
VINDOEXIM yêu cầu phạt 2,5% giá trị hợp đồng như đã cam kết và trọng tài đã
phán quyết. Đề nghị Tòa án giữ nguyên phán quyết của trọng tài.
Theo giấy phép thành lập công ty ngày 8/9/2007 do cơ quan có thẩm quyền
xác nhận thì ông LIYANTO là chủ tịch công ty, còn ông INWANTO là thành viên
công ty, không có ông Phan Bá Hưng ở công ty này và tại điều lệ của công ty
VINDOEXIM không có tên ông Hưng tham gia làm giám đốc công ty.
Sau khi Công ty TNHH Thủ đô II kiện ra Tòa, ông LIYANTO và ông
INWANTO có văn bản xác nhận ông Hưng vẫn là giám đốc công ty VINDOEXIM,

sự xác nhận sau này của ông LIYANTO có sau khi ký kết hợp đồng và xác nhận sau
khi ông Hưng đã hoàn tất việc thỏa thuận trọng tài với Thủ đô II.
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU
1. Theo anh (chị) ai là người có quyền thay mặt công ty giao kết thỏa thuận
trọng tài? Trong tình huống này, việc ông Hưng thay mặt công ty
VINDOEXIM kí kết hợp đồng và thỏa thuận với Công ty TNHH Thủ đô II có
phù hợp với pháp luật hay không? Tại sao?
2. Việc ông LIYANTO và ông INWANTO có văn bản xác nhận ông Hưng là
giám đốc công ty VINDOEXIM sau khi ký kết hợp đồng với Công ty TNHH
Thủ đô II có ý nghĩa như thế nào?
3. Điều 19 Luật Trọng tài thương mại qui định: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn
độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô
hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận
trọng tài”. Áp dụng điều 19 vào việc giải quyết tranh chấp giữa
VINDOEXIM và Công ty TNHH Thủ đô II, anh (chị) có nhận xét như thế
nào?
Bài số 13
Tháng 7-2002, Công ty TNHH TS (huyện Thuận An, Bình Dương) và ông S
(Đài Loan) ký hợp đồng thành lập một công ty liên doanh với ngành nghề sản xuất
gia công mộc mỹ nghệ. Thời gian hoạt động của công ty là 50 năm với tổng số vốn
là hơn 650.000 USD, trong đó ông S góp 78%, phía công ty TNHH TS góp 22%
bằng nhà xưởng, trang thiết bị. Hai bên thống nhất chọn ông S làm tổng giám đốc,
một đại diện phía Việt Nam làm phó tổng giám đốc.
Trong quá trình hợp tác, phía Việt Nam cho rằng ông S đã lạm quyền, vi
phạm điều lệ công ty liên doanh, dẫn đến việc công ty bị cơ quan chức năng xử phạt
hành chính. Cụ thể ông S tự ý mở phân xưởng mới không thông qua hội đồng quản
12


trị, không xin phép, kết quả là bị Công an Bình Dương phạt 15 triệu đồng. Ngoài ra,

ông còn cho doanh nghiệp khác gửi hàng vào container của công ty để xuất đi Đài
Loan mà không khai báo hải quan, kết quả là bị Hải quan Đài Loan phát hiện, cảnh
báo với Hải quan Việt Nam.
Mâu thuẫn được đẩy lên cao khi bà phó tổng giám đốc phía Việt Nam bị bệnh
phải nằm bệnh viện nhưng ông S ra quyết định cho thôi việc với lý do công ty đang
gặp khó khăn mà bà này lại đi du lịch, không báo cho tổng giám đốc biết. Cùng với
bà phó tổng giám đốc, hai quản lý sản xuất người Việt Nam cũng bị cho thôi việc
Tháng 7-2007, phía Việt Nam gửi thư khuyến cáo cho phía ông S, nêu rõ
không thể hợp tác tiếp và sẽ kiện ra tòa để giải quyết việc liên doanh. Một tháng sau,
thấy phía ông S không phản đối gì, phía Việt Nam đã nộp đơn đến TAND tỉnh Bình
Dương.
Khi tòa hòa giải, ban đầu phía ông S chấp nhận mua lại phần vốn liên doanh
của phía Việt Nam, đồng ý để tòa chỉ định công ty kiểm toán để hạch toán vốn của
hai bên nhưng về sau lại đổi ý, bác bỏ toàn bộ thỏa thuận. Sau đó, phía ông S nhờ
Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) giải quyết tranh chấp với lý do là khi
ký hợp đồng liên doanh, hai bên có thỏa thuận rằng nếu xảy ra tranh chấp thì VIAC
sẽ thụ lý.
Tháng 3-2008, VIAC chính thức thụ lý vụ tranh chấp. Ngay sau đó, TAND
tỉnh Bình Dương gửi công văn yêu cầu VIAC đình chỉ giải quyết. Tòa cho rằng
trước khi kiện ra tòa, phía Việt Nam đã thông báo cho ông S biết nhưng ông S không
phản đối. Theo Nghị quyết 05 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, trường hợp
này được xem là các bên có thỏa thuận mới về lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp
thay cho trọng tài.
Đáp lại, VIAC cho rằng trong hợp đồng liên doanh, hai bên đã thỏa thuận
VIAC sẽ giải quyết tranh chấp. VIAC còn viện dẫn Điều 5 Pháp lệnh Trọng tài
thương mại 2003 để cho rằng TAND tỉnh Bình Dương đã thụ lý sai. Theo đó, trường
hợp tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại tòa thì tòa phải
từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu (ở đây thì thỏa thuận trọng
tài không vô hiệu).
TAND tỉnh Bình Dương đã xin ý kiến của TAND tối cao để phúc đáp VIAC.

Dù TAND tối cao đã khẳng định việc Tòa Bình Dương áp dụng Nghị quyết 05 để
thụ lý, giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật nhưng VIAC vẫn không đồng ý.
Anh chị hãy cho biết có kiến của mình về tình huống trên? Giả sử tình huống
nêu trên xảy ra khi Luật Trọng tài thương mại 2010 đã có hiệu lực thì sẽ được xử lý
như thế nào? Vì sao?
Bài số 14
Công ty Thủy Lộc và Shiseido Comestic Vietnam
Trước năm 2010, Công ty Thủy Lộc là đơn vị nhập khẩu và phân phối mỹ
phẩm Shiseido (nguồn gốc Nhật Bản) tại thị trường Việt Nam. Song hành với Thủy
13


Lộc là 15 nhà đầu tư cùng góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong 25 cửa
hàng Shiseido trên toàn quốc, 15 cửa hàng có phần vốn góp của các nhà đầu tư này,
từ 30 đến 60%. Công ty Thủy Lộc nắm quyền điều hành, các cổ đông ngoài việc
hưởng lãi theo định kỳ cũng tham gia hỗ trợ quảng bá, tìm kiếm khách hàng...
Công ty Thủy Lộc đã xây dựng thương hiệu Shiseido từ năm 1997. Khi đó,
Nhà nước áp dụng chính sách hạn chế nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân
phối hàng hóa tại thị trường Việt Nam. Vì vậy, muốn phân phối sản phẩm của mình
tại Việt Nam, Shiseido đã hợp tác toàn diện với Công ty Thủy Lộc thông qua chuỗi
phân phối của Thủy Lộc. Nhờ sự hợp tác này, thương hiệu Shiseido mới nổi tiếng tại
thị trường Việt Nam như hiện nay.
Theo cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sau 3 năm
kể từ ngày Việt Nam trở thành thành viên WTO, “công ty có vốn đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng bán buôn
và bán lẻ tất cả các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp
vào Việt Nam. Việc thành lập cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) sẽ được xem xét
trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế”.
Từ đầu năm 2010, Công ty Thủy Lộc chuyển giao quyền điều hành, quản lý
Shiseido tại Việt Nam cho Công ty TNHH mỹ phẩm Shiseido Việt Nam (SCV). Mọi

rắc rối xuất phát từ đây.
Trong biên bản cuộc họp giữa SCV với nhóm nhà đầu tư ngày 1/11 ghi rõ
quan điểm của SCV: "Các đối tác này chỉ có quan hệ với Thủy Lộc theo hợp đồng
hợp tác kinh doanh. Trên cơ sở pháp lý, Shiseido không có quan hệ gì với đối tác
của Thủy Lộc. Shiseido không điều hành kinh doanh tại các cửa hàng trong hệ thống
ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với Thủy Lộc”
Phía 15 nhà đầu tư cho rằng mình phải được hiểu là đối tác kinh doanh nhãn
hiệu Shiseido thông qua Thủy Lộc, mà hiện tại do SCV trực tiếp điều hành. Bởi theo
họ, thời gian qua có sự phân biệt đối xử giữa cửa hàng có vốn góp của cổ đông và
những cửa hàng do SCV sở hữu 100% vốn.
Thông tin mà SCV đưa ra khẳng định không có thoả thuận hợp đồng nào với
bất kỳ đối tác nào của công ty Thuỷ Lộc (TL), đồng thời SCV cũng không thể xác
định chính xác mối quan hệ giữa TL và các nhà đầu tư góp vốn trong các cửa hàng.
SCV đã tiến hành khởi kiện TL tại trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
Đồng thời, SCV cũng đã nộp đơn ra Tòa án nhân dân Tp.HCM yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời với hình thức phong tỏa tài khoản của Công ty Thủy Lộc với
số tiền trong các tài khoản tổng cộng 13,4 tỷ đồng. Đồng thời, phong tỏa toàn bộ hệ
thống cửa hàng, đại lý bán lẻ trên toàn quốc của Công ty Thủy Lộc1.
 GỢI Ý NGHIÊN CỨU

1

Việc phong tỏa hệ thống cửa hàng bán lẻ mỹ phẩm Shisheido của Công ty Thủy Lộc đồng nghĩa các nhà đầu
tư, người lao động không thể đến cửa hàng để làm việc, bán hàng.

14


1. Theo anh (chị) khi đã lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài,
SCV có quyền yêu cầu tòa án nhân dân áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

hay không?
2. “Mỹ phẩm là hàng hoá rất nhạy cảm với hạn sử dụng, nếu bị phong toả vài
tháng sẽ có nguy cơ bị hỏng”.
Giả sử biện pháp khẩn cấp tạm thời mà SCV yêu cầu áp dụng là không có cơ
sở, gây thiệt hại cho các bên có liên quan thì những người bị thiệt hại phải
khiếu nại đến Hội đồng xử lí vụ việc, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam,
Tòa án nhân Tp.HCM hay cơ quan nào để yêu cầu SCV bồi thường thiệt hại?
Bài tập 15
Ba công ty thu mua cà phê tại tỉnh Đ thống nhất cùng thực hiện trong 2 tuần
đầu tháng 12/2012 chỉ thu mua cà phê của nông dân mỗi ngày tối đa 60 tấn (giảm
hơn 30% so với năm trước) với giá 30 triệu đồng/tấn cà phê xô, thấp hơn giá thị
trường 1 triệu đồng/tấn.
Hãy phân tích các quy định của pháp cạnh tranh có liên quan và xác định ba
doanh nghiệp trên có vi phạm Luật Cạnh tranh không, biết rằng thị phần kết hợp của
ba doanh nghiệp này trên thị trường liên quan là 62%.
Bài tập 16
V.A là hãng hàng không lớn, có thị phần trên 80% trên đường bay nội địa. Để
cạnh tranh, hãng này thường xuyên giảm giá vé trên các đường bay nội địa có P.A
khai thác. Đặc biệt, ngày 04/11/2008, P.A khai trương đường bay Hà Nội – Đà
Nẵng, V.A đã giảm giá vé đến 50% cho đường bay này. Nhiều chuyên gia trong lĩnh
vực hàng không nhận định không thể có lợi nhuận nếu khai thác đường bay với giá
vé (đã giảm) của V.A.
Có quan điểm cho rằng V.A đã lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để cung
ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Hãy cho biết ý
kiến của anh (chị) về quan điểm vừa nêu.

15




×