PHẦN A. CÔNG TÁC ĐẤT (21 tiết)
CHƯƠNG 1
ĐẤT VÀ CÔNG TÁC ĐẤT TRONG XÂY DỰNG ( 3 tiết)
Nội dung chính
•
•
•
•
Những khái niệm chung
Các dạng công trình và công tác đất
Phân cấp đất trong xây dựng
Những tính chất của đất ảnh hưởng đến kỹ thuật thi
công
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤT
Trong xây dựng công nghiệp và dân dụng những công việc liên quan đến nền đất
được thực hiện với các mục đích khác nhau như: chuẩn bị nền đất cho thi công móng, làm
chặt đất lấp sau khi thi công móng, gia cố nền, làm chặt đất đắp, tạo không gian trong lòng
đất cho các công trình ngầm (đường hầm, mêtrô) v.v... gọi là công tác đất được đặc trưng bởi
các quá trình cơ bản là đào và đắp. Công tác đất bao gồm các công tác chuẩn bị và phục vụ
được thực hiện trước hoặc đồng thời như công tác chuẩn bị mặt bằng, tiêu nước bề mặt, hạ
mực nước ngầm, định vị giác móng công trình v.v... Kết quả của các công tác đất tạo ra các
công trình đất (hình 1.1).
Hình 1.1. Các dạng công trình đất
a – hố móng; b – lấp hố móng; c – hố hẹp, rãnh chạy dài; d - đắp đất mặt bằng; e – đắp đường;
g – đào công trình ngầm dưới lòng đất; 1- công trình; 2 – đất lấp hố móng
Nói chung, khối lượng công tác đất chiếm một tỷ trọng lớn trong giá thành xây dựng
công trình. Theo các số liệu thống kê tính trung bình trên 1 m 3 xây dựng công trình công
nghiệp thì khối lượng đào đắp đất là 1,5 – 2 m 3, và đối với công trình dân dụng thì khoảng
0,5 m3.
1
Ngoài ra, công tác đất là công việc nặng nhọc, quá trình thi công phụ thuộc nhiều vào
khí hậu, thời tiết v.v... Ở những nơi có địa hình và địa chất phức tạp, thi công đất có thể gặp
rất nhiều khó khăn. Vì vậy, việc chọn phương án thi công đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đến việc làm giảm giá thành xây dựng, nâng cao chất lượng công trình và đẩy nhanh tiến độ
thi công.
1.2. CÁC DẠNG CÔNG TRÌNH VÀ CÔNG TÁC ĐẤT
1.2.1. Các dạng công trình đất
Công trình đất có thể phân loại theo các cách như sau:
- Theo mục đích sử dụng: gồm loại công trình sử dụng trực tiếp như đê, đập,
mương, máng, đường đi, bãi chứa v.v... và loại công trình đất phục vụ công trình khác như
hố móng, đường hầm đào, lớp đệm, lấp hố móng v.v...
- Theo thời gian sử dụng: gồm loại công trình sử dụng lâu dài như đê đập, nền
đường, kênh mương, đường hầm v.v... và loại công trình sử dụng ngắn hạn như nền đường
tạm, hố móng, rãnh thoát nước v.v... Khi công trình ngắn hạn người ta còn quan tâm đến thời
gian sử dụng công trình trong mùa mưa hay mùa khô.
- Theo sự phân bố khối lượng công tác: gồm loại công trình tập trung như hố móng,
san mặt bằng, đào hồ v.v... và loại công trình chạy dài như đê, đập, nền đường giao thông
v.v...
1.2.2. Các loại công tác đất
Trong thi công đất thường gặp các loại công tác chính sau:
1.Đào: Hạ độ cao mặt đất tự nhiên xuống độ cao thiết kế. Thể tích đất đào: V+
2.Đắp: Nâng độ cao mặt đất tự nhiên lên độ cao thiết kế. Thể tích đất đắp: V –
3.San: Làm phẳng một diện tích đất. San bao gồm đào và đắp, lượng đất được giữ
nguyên. San có thể kết hợp với đào và đắp. Có trường hợp san kết hợp với đào
hoặc đắp, khi đó lượng đất tổng mặt bằng có thể lấy đi hoặc chở đến.
4.Hớt (bóc): lấy lớp đất không sử dụng ở trên (đất mùn, đất thực vật , đất ô nhiễm).
Hớt theo độ dày lớp đất lấy đi.
5.Lấp: làm cho chỗ đất trũng cao bằng khu vực xung quanh. Lấp đất phụ thuộc độ cao
tự nhiên của khu vực xung quanh.
1.3. PHÂN CẤP ĐẤT TRONG XÂY DỰNG
Trong thi công đất được phân cấp theo sự tiêu hao sức lao động vào quá trình thi công
đất và theo phương pháp thi công – thi công thủ công và thi công cơ giới.
Cấp đất càng cao thì càng khó thi công và sự tiêu hao sức lao động càng cao.
2
1.3.1. Phân loại đất theo phương pháp thi công thủ công
Theo phương pháp thi công thủ công, đất được phân ra 9 nhóm (tham khảo giáo trình
KTXD1), như ở hình Bảng 1.1.
1.3.1. Phân loại đất theo thi công cơ giới
Theo thi công cơ giới, đất được chia ra làm 4 cấp:
-
Cấp 1: Bao gồm đất trồng trọt, đất bùn, cát pha sét, cuội sỏi có kích thước
nhỏ hơn 80 mm;
-
Cấp 2: Bao gồm sét quánh, đất lẫn rễ cây, cát sỏi, cuội sỏi có kích thước lớn
hơn 80 mm;
-
Cấp 3: Bao gồm đất sét lẫn sỏi cuội, đất sét rắn chắc;
-
Cấp 4: Bao gồm đất sét rắn, hoàng thổ rắn chắc, đá được làm tơi.
Bảng 1.1. Phân loại đất theo thi công thủ công
Nhóm
đất
Tên đất
Công cụ tiêu
chuẩn xác
định nhóm
đất
(1)
(2)
(3)
I
− Đất phù sa, cát bồi, đất màu, đất mùn, đất hoang thổ, đất đen.
Dùng xẻng
− Đất đồi sụt lở hoặc đất nơi khác đem đến đổ (thuộc đất nhóm IV đổ xúc đễ dàng
xuống) chưa bị nén chặt
II
− Đất cát pha thịt hoặc thịt pha cát .
− Đất cát pha sét
− Đất màu ẩm ướt nhưng chưa đến trạng thái dính dẻo.
− Đất nhóm III, nhóm IV sụt lở hoặc đất nơi khác đem đến đổ đã bị
nén chặt nhưng chưa đến trạng thái nguyên thổ.
− Đất phù sa, càt bồi, đất màu, đất mùn, đất hoang thổ, tơi xốp có lẫn
gốc rễ cây, mùn rác, sỏi đá, gạch vụn, mảnh sành kiến trúc đến 10%
thể tích, hoặc 50- 150 kg trong 1m3
− Đất sét pha thịt, đất sét pha cát.
− Đất sét vàng hay cát trắng, đất thịt, đất chua, đất kiềm ở trạng thái
ẩm mềm.
− Đất cát pha thịt, thịt pha cát, cát pha sét có lẫn gốc rễ cây, sỏi đá,
mảnh vụn kiến trúc đến 10% thể tích hoặc 50- 150 kg trong 1m3.
− Đất cát, đất đen, đất mùn có lẫn sỏi đá, mảnh vụn kiến trúc, mùn rác,
gốc rễ cây 10 – 20% thể tích hoặc 150- 300 kg trong 1m3.
− Đất cát có lượng ngâm nước lớn trọng lượng 1,7t/m3 trở lên.
− Đất đen, đất mùn, ngâm nước mất dính.
− Đất thịt, đất sét pha thịt, pha cát ngân nước nhưng chưa thành bùn.
− Đất do thân lá cây mọc tạo thành dùng mai cuốc đào không thành
tảng mà vỡ mịn ra, rời rạc như xỉ.
− Đất thịt, đất sét nặng kết cấu chặt.
− Đất mặt, sườn đồi có nhiều cỏ lần cây sim, mua, rành rành.
III
IV
Dùng xẻng
cải tiến ấn
nặng tay xúc
được
Dùng xẻng
cải tiến đạp
bình thường
đã ngập xẻng
Dùng mai xắn
được
3
VI
VII
VIII
IX
− Đất nâu mềm
− Đất thịt, đất sét, đất nâu rắn chắc, cuốc ra chỉ được từng hòn nhỏ.
− Đất chua, đất kiềm khô cứng
− Đất mặt đê, mặt đường đất cũ.
− Đất mặt sườn đồi có lẫn sỏi đá, có sim, mua, rành rànhmọc đầy.
− Đất thịt, đất sét kết cấu chặt lẫn cuội, sỏi, mảnh vụn kiến trúc, gốc rễ
cây 10 – 20% thể tích hoặc 50 − 150 kg/m3
− Đất vôi phong hóa già nằm trong đất, đào ra từng mảng được, khi
còn trong đất thì tương đối mềm, đào ra rắn dần lại, đập vỡ vụn ra
như xỉ
− Đất đồi lẫn từng lớp sỏi, lượng sỏi 25 – 35% lẫn đá tảng, đá trái đến
20% thể tích.
− Đất mặt đường đá dăm hoặc đường đất rải mảnh sành, gạch vỡ
− Đất cao lanh, đất thịt, đất sét kết cấu chặt, lẫn mảnh vụn kiến trúc,
gốc rễ cây 20 – 30% thể tích hoặc 300 – 500kg/m3.
− Đất lẫn đá tảng, đá trái 20 – 30% thể tích
− Đất mặt đường nhựa hỏng
− Đất lẫn vỏ loài trai ốc (đất sò) dính kết chặt, đào thành tảng được
(vùng ven biển thường đào để xây tường)
− Đất lẫn đá bọt
− Đất lẫn đá tảng, đá trái lớn hơn 30% thể tích, cuội sỏi giao kết bởi
đất sét
− Đất có lẫn vùng vỉa đá phiến, đá ong xen kẽ (loại đá khi còn trong
lòng đất tương đối mềm)
− Đất sỏi đỏ rắn chắc
Dùng cuốc
bàn cuốc chối
tay, phải dùng
cuốc chìm to
lưỡi để đào
Dùng cuốc
chim nhỏ lưỡi
nặng đến
2,5kg.
Dùng cuốc
chim nhỏ lưỡi
nặng trên
2,5kg hoặc
dùng xà beng
đào được
Dùng xà
beng, choòng
búa mới đào
được
1.4. NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA ĐẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN KỸ THUẬT THI CÔNG
Như ta đã biết, đất là một môi trường phức tạp có nhiều yếu tố ảnh hưởng (cơ, lý hoá).
Tính chất và chất lượng đất ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình đất, năng suất lao
động và giá thành công tác đất.
Để lựa chọn được phương pháp thi công đất tối ưu nhất, phải tính đến những tính chất
cơ bản của đất ảnh hưởng đến kỹ thuật thi công đất như sau: trọng lượng riêng, độ ẩm, độ tơi
xốp, độ dốc tự nhiên; khả năng chống xói lở (lưu tốc).
1.4.1. Trọng lượng riêng của đất
- Định nghĩa: Trọng lượng riêng của đất γ là trọng lượng của một đơn vị thể tích
đất ở trạng thái tự nhiên.
- Công thức xác định: γ = G/V (kg/cm3)
Trong đó: G - trọng lượng của khối đất, kg; V - thể tích V khối đất, cm 3.
- Tính chất: Đất có trọng lượng riêng càng lớn thì chi phí để thi công càng cao.
1.4.2. Độ ẩm của đất
4
- Định nghĩa: Độ ẩm W của đất là tỷ lệ tính theo phần trăm (%) của lượng nước
chứa trong một thể tích đất.
- Công thức xác định:
Trong đó:
W=
Gu − Gkh
.100% hoặc
Gkh
w=
Gn
.100%
Gkh
Gu: Trọng lượng mẫu đất ở trạng thái tự nhiên;
Gkh: Trọng lượng mẫu đất sau khi sấy khô;
Gn: Trọng lượng nước trong mẫu đất.
- Tính chất: Độ ẩm của đất ảnh hưởng đến công lao động thi công, đến việc đảm bảo
an toàn thi công cũng như chất lượng công trình đất. Đất ướt hay khô quá đều làm quá trình
thi công đất khó khăn.
+ Đất khô quá làm cho chi phí việc đào đất tăng lên, làm giảm năng suất đào đất.
+ Đất ướt quá thì gây dính, cản trở độ cơ động của các thiết bị thi công, vệ sinh lao
động trên công trường.
+ Độ ẩm của đất ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đầm đất: mỗi loại đất muốn đạt được
năng suất và hiệu quả cao trong quá trình đầm thì đất phải có một độ ẩm trong giới hạn cho
phép. Độ ẩm mà ở đó đất có thể đầm chặt nhất gọi là độ ẩm đầm nén tối ưu.
- Phân loại đất theo độ ẩm: Dựa vào độ ẩm người ta phân ra các loại đất như sau:
+ Đất có độ ẩm W ≤ 5% gọi là đất khô.
+ Đất có độ ẩm 5% < W ≤ 30% gọi là đất ẩm.
+ Đất có độ ẩm W > 30% gọi là đất ướt.
Theo kinh nghiệm, có thể xác định gần đúng trạng thái ẩm của đất bằng các bốc đất
lên tay nắm chặt lại rồi buông ra: nếu đất rời ra là đất khô, đất giữ được hình dạng nhưng tay
không ướt là đất ẩm; đất dính bết vào tay hay làm tay ướt là đất ướt.
1.4.3. Độ tơi xốp của đất
- Định nghĩa: Độ tơi xốp của đất ρ là độ tăng của một đơn vị thể tích ở dạng đã được
đào lên so với đất ở dạng nguyên thổ trước lúc đào (tính theo %).
- Công thức xác định :
Trong đó :
ρ=
V − Vo
.100%
Vo
(1.1)
Vo: Thể tích đất nguyên thổ
V: Thể tích đất sau khi đào lên (chưa đầm nén hoặc đã đầm nén)
+ Có hai hệ số tơi xốp:
ρ0: là độ tơi xốp ban đầu khi đất đào lên chưa đầm nén
ρ: là độ tơi xốp cuối cùng sau khi đất đã đầm nén.
- Tính chất:
5
+ Đất càng rắn chắc thì độ tơi xốp càng lớn, khi thi công sẽ gặp nhiều khó khăn, giá
thành thi công tăng.
+ Đất xốp, rỗng có độ tơi xốp nhỏ, có khi có giá trị âm.
Ví dụ: loại đất bùn chứa nhiều lỗ rỗng, khi đào lên nước chảy hết, các hạt đất dịch
chuyển lại gần nhau → giảm thể tích V < Vo→ ρ < 0.
1.4.4. Độ dốc tự nhiên của đất
- Định nghĩa: Độ dốc tự nhiên của đất (i) là góc lớn nhất của mái dốc khi ta đào hay
đắp mà không gây sụt lở đất.
t¶i träng
Hình 1.2. Độ dốc tự nhiên của đất
H
B
Trong đó: α - góc của mặt trượt tự nhiên
B - chiều rộng của mái dốc.
H - chiều cao hố đào
H
Công thức: i = tgα =
α
B
1
i
Đại lượng nghịch đảo của độ dốc là độ soải của mái dốc m = =
B
= cotgα
H
- Tính chất: Độ dốc tự nhiên phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ góc ma sát trong của các hạt đất;
+ độ dính của đất;
+ tải trọng tác dụng lên mặt đất.
+ chiều sâu hố đào (càng đào sâu càng dễ gây sụt lở, do đó càng đào sâu thì góc đào
càng phải rộng)
Độ dốc tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới các biện pháp thi công đào, đắp đất. Biết
được độ dốc tự nhiên của đất ta mới đề ra được biện pháp thi công có hiệu quả.
Ví dụ: thi công có mái dốc hay không có, bố trí các máy móc thi công nằm ngoài khu
vực đào hố móng v.v...
Khi đào các hố tạm thời phải tuân theo độ dốc cho phép cho ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Độ dốc cho phép lớn nhất của mái dốc đất đào
Loại đất
Độ dốc cho phép icp
6
H =1,5 m
1:0,6
1:0,5
1:0,65
1:0
1:0
1:0
Đất đắp
Đất cát
Cát pha
Đất thịt
Đất sét
Sét khô
1,5 < H ≤ 3m
1:1
1:1
1:0,75
1:0,5
1:0,25
1:0,5
3 < H ≤ 5m
1:1,25
1:1
1:0,85
1:0,75
1:0,5
1:0,5
Chiều sâu của một số hố đào vách thẳng đứng mà không cần chống đỡ trong các loại
đất khác nhau qui định như sau :
- Đất cát và sỏi :
không quá 1 m
- Đất á cát :
không quá 1,25 m
- Đất á sét và sét:
không quá 1,5 m
- Đất cứng ( khi đào phải dùng cuốc chim, xà beng): không quá 2m.
Để tính toán chiều sâu thẳng đứng mà không cần phải chống đỡ có thể dùng công thức
sau (chưa kể hệ số an toàn):
c
2 cos ϕ
γ
H th =
0
2 90 − ϕ
sin
÷
2
Trong đó:
(1.2)
C – độ dính đơn vị của đất;
γ – trọng lượng riêng của đất;
φ – góc ma sát trong của đất.
Tuy nhiên giá trị tính toán theo công thức này không được lớn hơn giá trị đã nêu ở qui
định trên.
1.4.5. Khả năng chống xói lở của đất (lưu tốc cho phép)
- Định nghĩa: Khả năng chống xói lở của đất là khả năng chống lại sự cuốn trôi của
dòng nước chảy của các hạt đất. Với tốc độ tối đa của dòng chảy mà không gây xói lở cho
đất gọi là lưu tốc cho phép.
- Tính chất:
+ Đất có lưu tốc cho phép càng lớn thì khả năng chống xói mòn càng cao.
+ Đối với các công trình bằng đất có tiếp xúc với dòng chảy như đập, kênh, mương…
cần quan tâm đến tính chất này khi chọn đất thi công.
7
+ Muốn tránh xói lở đất thì lưu tốc dòng nước chảy theo mặt đất không được lớn hơn
một trị số ở đó các hạt đất bắt đầu bị lôi cuốn đi. Trong bảng 1.3 là lưu tốc cho phép của một
số loại đất.
Bảng 1.3. Lưu tốc cho phép của đất
Số TT
Loại đất
Lưu tốc cho phép
Vcp(m/s)
1
2
3
Đất cát
Đất thịt chắc
Đất đá
0,45 ÷ 0,8
0,8 ÷ 1,8
2 ÷ 3,5
+ Khi thi công các công trình gặp dòng chảy có tốc độ lớn hơn lưu tốc cho phép ta
phải tìm cách giảm tốc độ dòng chảy (giảm độ dốc mặt đất) để bảo vệ công trình hoặc không
cho dòng chảy tác dụng trực tiếp vào công trình.(đắp đê, chuyển hướng dòng chảy).
8
CHƯƠNG 2
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ PHỤC VỤ THI CÔNG ĐẤT (3 tiết)
• Chuẩn bị mặt bằng thi công đất
Nội dung chính
• Hạ mực nước ngầm
• Định vị, giác móng công trình
2.1. CHUẨN BỊ MẶT BẰNG THI CÔNG ĐẤT
2.1.1. Giải phóng, thu dọn mặt bằng
Công tác giải phóng mặt bằng thi công bao gồm các công việc chính sau: di
chuyển và phá dỡ công trình cũ nếu có, di chuyển mồ mả, chặt hạ cây cối nằm trong mặt
bằng xây dựng, phấ đá mồ côi trên mặt bằng nếu cần, xử lý hệ thảm thực vật thấp, dọn
sạch chướng ngại vật tạo thuận tiện cho thi công v.v...
- Phá dỡ công trình cũ:
+ Trước khi phá dỡ, phải xem xét khả năng tận dụng công trình cũ để làm lán trại
cho công nhân.
+ Nếu công trình cũ phải phá dỡ thì cần lập biện pháp an toàn khi phá dỡ và phải
tận thu vật liệu cũ sử dụng được.
- Khi di chuyển mồ mả, phải theo đúng phong tục và qui định về vệ sinh môi
trường.
- Lưu ý tới nguồn điện, nước phục vụ cho công trình.
- Xử lý hệ thảm thực vật thấp có thể dùng sức người hoặc dùng máy ủi.
- Với các gốc cây quá to với đường kính trên 50 cm và đá mồ côi kích thước lớn
thì biện pháp phá nhanh nhất là nổ mìn.
- Lấp đất nơi có bùn ở dưới phải vét hết bùn để tránh hiện tượng không ổn định
cho lớp đất đắp.
Bàn giao mốc giới: Bàn giao mốc giới được thực hiện giữa chủ đầu tư và nhà thầu
xây dựng, có thể có sự tham gia của các bên liên quan.
- Lập biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm, vị trí các mốc giới bàn giao.
- Dẫn mốc giới tới những vị trí ổn định xung quanh công trường và phải có rào
chắn bảo vệ.
9
2.1.2. Tiêu nước bề mặt thi công
Với những công trình ở trong vùng đất trũng, mỗi khi mưa lớn thường bị ngập
nước, gây ứ đọng làm cản trở đến việc thi công đào đắp đất. Có thể làm đất nền mất đi
tính chất vốn có. Chi phí để sử lý khi đất xấu rất tốn. Do đó việc tiêu nước bề mặt là hết
sức cần thiết.
Để khắc phục hiện tượng trên phải thực hiện việc thi công hệ thống thoát nước
mặt để tiêu nước bề mặt công trình trong suốt quá trình thi công. Tùy theo điều kiện cụ
thể từng công trình mà có thể giải quyết theo các phương pháp khác nhau như: tạo độ dốc
cho mặt bằng thi công, xây hệ thống mương, cống bê tông thoát nước có hố ga để dẫn
nước về hệ thống thoát nước khu vực v.v... Đối với các công trình lớn nên thi công hệ
thống thoát nước mặt sử dụng vĩnh cửu theo thiết kế để tiết kiệm để tiết kiệm vốn đầu tư
xây dựng.
Một số ví dụ về hệ thống thoát nước bề mặt:
a. Đào rãnh, đắp con chạch
Đào những rãnh ngăn nước mưa về phía đất cao, hoặc đào rãnh để đắp thành con
chạch, be bờ ngăn nước, rãnh này sẽ thu nước trên mặt tràn xuống và dẫn đi nơi khác
(hình 2.1). Kích thước rãnh được tính toán theo tính toán thủy lực và phụ thuộc vào bề
mặt lưu vực.
Hình 2.1. Rãnh ngăn nước mưa trên bề mặt
b. Rãnh đào lộ thiên
Rãnh đào lộ thiên áp dụng đối với những hố đào lớn, chiều sâu hố nhỏ, mặt bằng
rộng, lưu lượng nước không lớn, thời gian thi công móng nhanh.
Đào rãnh thoát nước lộ thiên có thể rộng từ 0,6 - 0,8m, sâu từ 0,8 - 1m. Nước
trong rãnh được thu về một hố thu 1,5 x 1,5m, h = 1,5 – 3m. Tường hồ được gia cố bằng
cừ. Đáy hố thu đổ cát hạt to, sỏi nhỏ (hình 2.2).
10
Hình 2.2. Hệ thống thoát
nước mặt cho hố móng
1- Rãnh thoát nước;
2- Hố gom nước;
3- Máy bơm nước.
2.1.3. Chuẩn bị vị trí đổ đất
Trước khi thi công đào đất phải xác định chất lượng loại đất đào lên để có thể sử
dụng nó vào các công tác thích hợp, xác định lượng đất cần lấp trở lại vào công trình (nếu
chất lượng đất phù hợp yêu cầu công trình), lượng đất thừa cần chở ra khỏi công trình.
Đối với lượng đất sẽ lấp trở lại sau khi thi công móng, cần bố trí bãi chứa, tốt nhất bãi
chứa gần vị trí xây dựng công trình mà không gây cản trở quá trình thi công móng, sau
khi thi công móng dễ dàng sử dụng các máy xúc, máy ủi để lấp đất trở lại công trình.
2.2. HẠ MỰC NƯỚC NGẦM
2.2.1. Khái niệm
Hạ mực nước ngầm là làm cho nước
ngầm hạ thấp cục bộ ở một vị trí nào đó bằng
phương pháp nhân tạo.
Hình 2.3. Hạ mực nước ngầm
Công tác hạ mực nước ngầm tiến hành khi đào hố móng mà đáy hố móng nằm
dưới mực nước ngầm (hình 2.3). Nếu không hạ mực nước ngầm, nước ngầm sẽ tràn vào
11
gõy sp l thnh h o v gõy khú khn cho thi cụng t, c bit l trong trng hp
o th cụng.
Chỳ ý: Vic h mc nc ngm phi c tin hnh cho n khi bờ tụng t mt
cng no ú trỏnh nc ngm xõm nhp vo bờ tụng phỏ hng tớnh cht bờ tụng
v cú th lm n mũn ct thộp.
Hin nay, h mc nc ngm, thng s dng cỏc phng phỏp ph bin nh:
o rónh ngm; s dng ng ging lc vi bm hỳt sõu; s dng ng lim lc hỳt nụng,
hỳt sõu.
2.2.2. Cỏc phng phỏp h mc nc ngm
1. Phng phỏp o rónh ngm
Nguyờn lý hot ng: Nc hai bờn thm vo rónh, theo nhng lp dn nc
chy vo h thu v c bm ra ngoi cụng trỡnh.
Cu to: Xung quanh khu vc
cn h MNN, o h thng rónh ngm,
đáy hố đào
đất sét
vầng cỏ
sõu 1 2 m vi dc i = 0,03 0,04.
ỏy rónh l lp d thm: 50% cỏt ht to
+ 50% si nh. Phớa trờn dựng cỏc vng
lớp dễ thấm
Hỡnh 2.4. Rónh ngm h mc nc ngm
c ỏnh mng gi cho nc phớa trờn khụng thm vo lp d thm. Dựng t sột trờn
cựng khụng cho t ri vo rónh (hỡnh 2.4).
p dng: Phng phỏp ny c ỏp dng khi lu lng nc nh, cụng trỡnh thi
cụng mựa ma.
2. Phng phỏp ging thm
Nguyờn lý hot ng: Nc ngm
1
c thu vo nhng ging o xung
quanh h múng v c hỳt lờn bng bm
MNN
ly tõm.
2
1: máy bơm
2: ván gỗ
chống sụt lở
Hỡnh 2.5. H mc nc ngm bng ging thm
Cu to: sõu ca ging n nh theo cao hỳt nc lờn ca mỏy bm v
iu kin m bo h mc nc ngm thp hn ỏy h múng. Khi o ging trỏnh t
12
ở thành giếng sụt lở ta dùng các thùng gỗ hở hai đáy để giữ vách đất, vừa đào giếng vừa
lắp thùng gỗ xuống (hình 2.5).
Áp dụng: Phương pháp giếng thấm áp dụng cho trường hợp hố móng nhỏ, hệ số
thấm k lớn, độ sâu hạ mực nước ngầm không quá 4 – 5 m. Phương pháp này thích hợp
trong trường hợp đất hạt thô có hàm lượng sỏi, cát cao.
3. Phương pháp ống giếng với bơm
hút sâu
Hình 2.6. Hạ mực nước ngầm bằng giếng
lọc có máy bơm hút sâu
Nguyên lý hoạt động: Nước ngầm được hút lên từ giếng lọc bằng máy bơm hút
sâu.
Cấu tạo: Gồm các bộ phận: ống giếng lọc, tổ máy bơm đặt trong mỗi giếng, ống
tập trung nước, trạm bơm và ống xả tháo nước (hình 2.6).
- Ống giếng lọc bằng thép với đường kính từ 200 - 450 mm, phía dưới có nhiều
khe hở nhỏ là phần lọc, chiều dài phần lọc từ 2 – 3 m.
- Máy bơm phổ biến dung loại máy bơm trục đứng ATH có nhóm bánh xe công
tác đặt ở thân máy và bắt chặt vào trục đứng chung với ống hút có lưới ở đầu dưới. Các
loại máy bơm giếng sâu trục đứng thông dụng là ATH-8, ATH-10, ATH-14 với công suất
trung bình tương ứng là 30 m3/h, 70 m3/h và 200 m3/h. Các chỉ số 8, 10, 14 chỉ đường
kính trong nhỏ nhất của lỗ giếng khoan tính bằng đơn vị inch.
13
Thi công: Trước khi thi công, phải hạ ống giếng vào trong đất. Có thể khoan lỗ
đối với đất rắn chắc hoặc dùng biện pháp xói bằng tia nước để hạ ống đối với đất dễ xói
lở như cát pha sét hoặc cát.
- Với biện pháp xói bằng tia nước: đầu dưới ống giếng lắp thêm một mũi ống để
phun ra những tia nước áp lực và nối mỗi ống đó với một ống dẫn nước cao áp (8 – 16
at). Nước phun ra từ ống sẽ phá lở đất và ống giếng tự tụt dần xuống. Cứ làm như vậy
cho tới khi ống đạt độ sâu thiết kế (hình 2.7).
- Với đất dễ xói lở khi bị thấm nước (vách giếng thường bị sụt), để chống sụt vách
đất, người ta bơm thêm khí ép (4 - 6 at) cùng với nước vào giếng.
- Khi hạ ống trong đất lẫn cát sỏi thì sau khi xói nước, cát lẫn sỏi sẽ lấp khoảng
trống xung quanh ống, tạo thành màng lọc tự nhiên.
- Khi đất thiếu những thành
phần để tạo màng lọc tự nhiên, để
tăng bề mặt hút nước, ta tự tạo ra
xung quanh ống một màng lọc bằng
cát sỏi bằng cách đổ những hạt sỏi có
đường kính từ 3 – 10 mm xung quanh
ống giếng theo 1 ống bao. Ống bao
này rộng hơn ống giếng từ 8 – 10 cm.
Sỏi được đổ vào ống bao ngay sau khi
hạ ống tới độ sâu thiết kế, rồi bơm
nước với áp lực nhỏ để rút dần ống
bao lên.
Hình 2.7. Hạ ống giếng bằng phương pháp xói nước
- Sau khi hạ ống giếng thì lắp máy bơm hút sâu vào trong ống.
Để giúp cho việc hạ ống người ta thường dùng cần trục bánh xích.
Ưu, nhược điểm:
- Ưu điểm:
+ Hiệu suất bơm cao, năng suất lớn nên có thể hạ sâu được mực nước ngầm;
+ Có thể nâng nước lên rất cao (80 - 100 m)
- Nhược điểm:
14
+ Tốn nhiều công trong việc thi công các giếng lọc có đường kính lớn;
+ Lắp ráp phức tạp, phải có đội chuyên môn;
+ Tổ máy rất nhạy khi nước có cát. Cát lẫn trong nước làm máy bơm mau hỏng.
+ Cấu trúc trên lỗ khoan ảnh hưởng đến móng công trình.
Áp dụng:
- Khi phải hạ mực nước ngầm xuống sâu mà các loại thiết bị khác không đủ khả
năng.
- Trong những điều kiện địa chất phức tạp như khi đất nứt nẻ, đất bùn, đất sét, sét
pha cát.
- Khi hố móng rộng, lượng nước thấm lớn.
- Khi thời gian làm việc trong hố móng kéo dài.
4. Phương pháp dùng ống kim lọc hút nông
Nguyên lý hoạt động: Nước ngầm được hút lên từ hệ thống giếng lọc nhỏ (kim
lọc) từ đường ống tập trung nước nối liền với máy bơm ly tâm.
Cấu tạo: Hệ thống kim lọc hạ nông là một hệ thống giếng lọc đường kính nhỏ bố
trí sít nhau theo đường thẳng ở quanh hố móng hoặc theo khu vực cần tiêu nước. Những
giếng lọc nhỏ nối liền với máy bơm chung bằng ống tập trung nước.
15
Máy bơm dùng với thiết bị kim lọc hạ
nông là máy bơm ly tâm có chiều cao hút nước
lớn, có khi đến 8 – 9 mét cột nước. Khi cần hạ
sâu hơn 4 – 5 mét, bố trị hạ nước theo hai tầng.
Thiết bị kim lọc gồm một bộ kim lọc, một ống
hút tập trung nước nối ống kim lọc với máy bơm
(hình 2.8).
Hình 2.8. Thiết bị kim lọc hạ nông
1- ống tập trung nước; 2- đoạn ống ngắn;
3- khớp nối; 4- ống hút nước; 5- đoạn lọc.
- Kim lọc là nhiều ống thép có đường kính nhỏ nối lại dài 9 - 10m gồm ba phần:
đoạn ống trên, đoạn lọc và đoạn cuối (hình 2.9). Phần trên là ống thép hút dẫn nước, tuỳ
theo chiều sâu cần đặt đoạn lọc mà có chiều dài khác nhau.
- Đoạn lọc (hình 2.10) gồm hai ống lồng vào nhau có khoảng hở ở giữa. Ống
trong là ống hút nước không đục lỗ, nối liền với ống hút nước ở trên. Ống ngoài là một
ống đục lỗ có đường kính lớn hơn một chút so với ống phần trên đoạn lọc. Bên ngoài ống
cuốn dây thép kiểu lò so, ngoài cuộn dây là lưới lọc như ở các ống giếng thông thường.
Đôi khi bên ngoài lưới lọc lại được bọc bởi một lưới thô hơn để đề phòng lưới lọc bị hư
hỏng khi hạ kim lọc xuống hoặc khi rút nó lên khi kết thúc công việc.
- Đoạn cuối của kim lọc gồm có van cầu, van hình vành khuyên và bộ phận xói
đất hình răng cưa (có tác dụng định vị ống kim lọc và giảm tiết diện mũi để giảm áp lực
đất lên mũi ống kim lọc).
- Ống hút tập trung nước gồm nhiều đoạn ống thép lắp ráp với nhau. Những ống
này có đầu tê để nối với những đoạn ống thu nước (xem hình 2.8 và hình 2.9).
16
Hình 2.9. Cấu tạo của bộ phận lọc
1- đoạn ống hút; 2- khớp nối; 3- Lưới lọc; 4lưới thép bảo vệ; 5- đoạn ống ngoài;
6đoạn ống trong (không đục lỗ); 7- van vành
khuyên; 8- van cầu; 9- lò xo
Hình 2.10. Hoạt động của kim lọc
a - khi hạ ống kim lọc vào trong đất;
b - khi hút nước ngầm lên.
Nguyên lý hoạt động của kim lọc:
Giai đoạn hạ ống kim lọc:
- Khi hạ kim lọc, người ta đặt thẳng đứng để đầu kim lọc đúng vào vị trí thiết kế;
dùng búa gõ nhẹ cho kim cắm phần đầu vào đất. Miệng ống hút nước nối với bơm cao
áp. Khi cho bơm nước vào trong kim lọc dưới áp suất lớn (P = 4 – 5 atm với đất cát dễ
xói lở, P = 6 – 8 atm với đất dính), nước được nén vào trong kim lọc, đẩy van hình
khuyên đóng lại và nén van hình cầu xuống; nước theo các lỗ ở các răng nhọn phun ra
ngoài phun ra làm xói lở đất ở đầu kim lọc, kéo theo đất, bùn chảy lên mặt đất (hình 2.10
a). Do bị xói ở đầu kim, đất bị nhão ra và cuốn đi. Dưới sức nén do trọng lượng bản thân,
kim lọc từ từ chìm xuống độ sâu cần hạ. Khi cách độ sâu thiết kế 0,5 – 1 m thì ngừng xói
nước, dùng búa đóng ống xuống độ sâu thiết kế để cho ống ổn định.
Giai đoạn hoạt động của kim lọc :
17
Sau khi ống kim lọc được hạ ổn định ở độ sâu thiết kế, tiến hành chèn vào xung
quanh phần lọc một lớp sỏi và cát hạt to để tạo thêm lớp lọc. Lớp này vừa có tác dụng
định vị ống vừa làm lớp lọc sơ bộ trước khi vào màng lọc. Chèn một lớp đất sét trên
miệng lỗ để giữ không cho không khí lọt vào trong ống kim lọc.
Ống hút nước nối với hệ thống ống gom nước và nối với bơm hút. Khi bơm hút
không hoạt động, nước ngầm và đất xunh quanh chèn chặt kim lọc. Khi bơm hút nước
lên, nước ngầm ngấm qua hệ thống lọc vào đẩy van vành khuyên mở ra, tràn vào ống để
được hút lên. Đồng thời do áp suất nước ngầm, van cầu đóng lại giữ không cho bùn cát
vào trong kim lọc (hình 2.10.b).
Hình 2.11. Sơ đồ bố trí hệ thống kim lọc
a - đối với hố đào hẹp; b - đối với công trình rộng
1 - đoạn ống hút; 2 - ống gom nước; 3 – máy bơm; 4 – mực nước ngầm; 5 – mực nước hạ
Sơ đồ bố trí: Sơ đồ bố trí hệ thống kim lọc tuỳ thuộc vào mực nước ngầm và diện
tích khu vực cần hạ. Đối với hố đào hẹp, có thể bố trí một hàng kim lọc chạy dọc công
trình (hình 2.11.a); đối với công trình rộng ta đặt hai hàng kim lọc chạy hai bên (hình
2.11.b). Nếu muốn hạ mực nước ngầm xuống sâu, ta bố trí hai tầng kim lọc (h. 2.12).
Bố trí hai tầng kim lọc sẽ tiết kiệm được lượng đất phải đào, tận dụng được ống
kim lọc hút nông. Áp dụng tốt trong trường hợp đất dễ thấm: hệ số thấm k = 1 – 100 m/
ngày đêm. Tốt nhất k = 4 – 40 m/ ngày đêm. Nếu k < 1m/ ngày đêm cần kết hợp kim lọc
hút nông và phương pháp điện thấm.
18
Hình 2.12. Kết hợp hai tầng kim lọc hạ nông
Hệ thống kim lọc có thể bố trí theo chuỗi hoặc theo vòng khép kín tuỳ thuộc khu
đất cần hạ mực nước. Lưu lượng nước của mỗi hệ thống xác định theo công thức (2.1)
nếu là chuỗi, và (2.2) nếu là vòng:
(H
Q=
Q=
2
− h ) k .l
(2.1)
R
1, 36(2 H - S )S .k
lg R - lg
F
p
(2.2)
trong đó Q − Lưu lượng của hệ thống, tính bằng m3/s;
H − độ dầy của nước ngầm tính từ đầu kim trở lên, gây áp khi hút;
s − Mức nước muốn hạ xuống, m;
R – bán kính tác dụng của kim lọc, m;
K – hệ số lọc của đất, m/s;
F – diện tích khu đất trong vòng kim lọc;
l – chiều dài chuỗi kim lọc.
Căn cứ vào Q để chọn máy hút thích hợp.
Ưu nhược điểm:
- Thi công gọn nhẹ, hiệu quả cao. Những công trình áp dụng biện pháp này giữ
được cấu trúc nguyên dạng của nền, chủ động được tiến độ.
- Hiệu suất bơm cao, chiều cao hút từ 8 – 9 m, tuy nhiên thực tế chỉ đạt được 4 –
5 m.
19
- Lắp ráp phức tạp, phải có đội chuyên môn, giá thành thiết bị cao;
Áp dụng:
- Dùng để hạ nước ngầm cho những công trình nằm dưới mực nước ngầm. Mực
nước ngầm sau khi hạ phải thấp hơn đáy hố đào 0,5 – 1 m.
- Dùng khi chiều sâu hạ nước ngầm không lớn.
- Lưu lượng nước ngầm lớn. Thời gian thi công dài.
5. Phương pháp dùng ống kim lọc hút sâu
Cấu tạo : Ống kim lọc hút sâu có cấu tạo tương tự như ống kim lọc hút nông
nhưng đường kính ống lớn hơn, phần thân ống và phần lọc dài hơn. Trong ống lọc có
thêm một ống mang miệng phun nhằm đưa nước lên cao (hình 2.13, 2.14).
Hình 2.13. Cấu tạo ống kim lọc hút sâu
1 – ống ngoài; 2 – ống trong; 3 – miệng phun;
4 – khớp nối; 5 – ống lọc trong; 6 – ống lọc
ngoài; 7 – van bi
Hình 2.14. Sơ đồ hoạt động của hệ thống kim lọc
hút sâu
1 - máy bơm; 2 - ống dẫn nước mồi; 3 - phần ống lọc;
4 - phần thân ống; 5 - máng gom nước; 6 - bể chứa
nước
Đối với những nơi đất cát, đất cát lẫn sỏi thì không cần đổ màng lọc xung quanh
ống kim lọc hút sâu. Nhưng khi dùng ở những nơi đất sét pha cát, đất ít thấm thì phải đổ
màng lọc xung quanh ống.
Áp dụng :
- Dùng khi ống kim lọc hút nông không hạ được nước ngầm
- Có thể hạ được mực nước ngầm xuống 18 m
20
- Không nên dùng thiết bị này để hạ mực nước ngầm xuống quá sâu vì phải có cột
nước mồi quá lớn.
- Trong trường hợp nguồn nước thấm lớn (trên 5l/giây cho một ống kim lọc) và
thời gian hạ mực nước ngầm khá dài thì nên áp dụng phương pháp ống giếng có máy
bơm hút sâu vì có hiệu suất cao hơn.
2.3. ĐỊNH VỊ, GIÁC MÓNG CÔNG TRÌNH
2.3.1. Định vị công trình
- Trước khi định vị và giác móng công trình phải nghiên cứu kỹ bản vẽ định vị
công trình đã được phê duyệt, nhận bàn giao mốc giới ở hiện trường, nhận bàn giao cốt
Hình 2.15. Định vị công trình căn cứ
vào góc hướng và góc phương vị
chuẩn và mốc chuẩn. Mốc chuẩn là mốc công trình.
Cốt chuẩn có thể là cốt tương ứng với cốt cao độ quốc gia hoặc cốt tại một điểm
nào đó của công trình cũ đang sử dụng. Dụng cụ để định vị và giác móng công trình bao
gồm máy trắc đạc, thước thép, ni vô, quả dọi, dây thép...
1. Định vị công trình căn cứ vào góc hướng và góc phương vị
Đối với công trình đã biết mốc chuẩn A, góc hướng α, góc phương vị β và độ dài
m (khoảng cách từ mốc chuẩn đến một điểm công trình (hình 2.15), định vị công trình
tiến hành theo các bước sau:
- Dùng địa bàn xác định hướng bắc.
- Đặt máy kinh vĩ tại A ngắm theo hướng bắc rối quay một góc α xác định tia AX.
- Dùng thước đo khoảng cách m trên tia AX xác định được điểm B, giao điểm của
2 trục công trình.
- Đặt máy taị B ngắm lại A và quay một góc β xác định được BI.
` - Dùng thước đo độ dài xác định điểm E, BE chính là một cạnh công trình.
21
Như vậy ta xác định được điểm B và cạnh công trình BE, tiếp tục làm như vậy sẽ
xác định được các trục tim đường bao của công trình trên khu đất xây dựng.
2. Khi công trình nằm gần các công trình đang khai thác
Khi thiết kế các công
trình xây chen, vị trí công trình
mới thường được xác định căn
cứ vào vị trí của các công trình
cũ: đường giao thông, trục của
các ngôi nhà... Sau đây là một
ví dụ định vị công trình căn cứ
vào công trình cũ (hình 2.16).
Hình 2.16. Định vị công trình căn cứ
vào công trình cũ
Điều kiện cho trước: trục A’D’ của công trình mới trùng với trục AD của công
trình cũ, khoảng cách DA’ là m mét. Các bước tiến hành như sau :
- Kéo dài trục AD một đoạn m xác định được điểm A’.
- Căn cứ bản vẽ thiết kế kéo dài DA’ xác định được D’. Như vậy đã xác định được
điểm A’, điểm D’ và trục A’D’ của công trình mới.
- Dùng máy kinh vĩ và thước dây tiếp tục xác định được các trục còn lại của công
trình
2.3.2. Gửi mốc và bảo quản tim mốc trong quá trình thi công
Sau khi định vị được công trình, căn cứ vào bản vẽ thiết kế xác định các đường
tim ngang, dọc của công trình. Kéo dài các đường tim về các phía của công trình rồi làm
mốc
1. Dùng cọc đơn
- Mỗi một trục được xác định bởi 2 cọc (hay nhiều cọc tuỳ theo mặt bằng công
trình). Các cọc định vị được bố trí sao cho dễ nhìn thấy, không ảnh hưởng đến công tác
thi công và được bảo vệ trong suốt thời gian thi công.
- Cọc định vị có thể làm bằng gỗ với tiết diện 40x40x1000 mm, bằng thép ф20
hay bằng bê tông cốt thép (hình 2.17). Vị trí cọc phải đặt cách công trình từ 5 – 10 m,
sao cho nó không bị ảnh hưởng trong quá trình thi công.
22
Hình 2.17. Cắm trục định vị bằng cọc đơn
- Phương pháp dùng cọc đơn dễ thao tác, dễ bảo quản, ít ảnh hưởng trong quá
trình thi công. Tuy nhiên cọc dễ bị đóng lệch, dẫn đến tim trục không chính xác. Để khắc
phục phải thường xuyên kiểm tra bằng máy kinh vĩ trong quá trình đóng.
2. Dùng giá ngựa
- Giá ngựa bao gồm 2 cột gỗ và 1 tấm ván ngang bào phẳng được đóng vào phía
sau của cột có tác dụng để khi căng dây, ván không bị bật khỏi cột (hình 2.18).
Hình 2.18. Cắm trục định vị bằng giá ngựa
23
- Vị trí các trục được xác định và định vị bởi các đinh đóng trên tấm ván ngang.
- Khi dùng giá ngựa để làm dấu một tim, trục công trình thì khoảng cách giữa hai
cột gỗ khoảng 0,4 – 0,6 m. Khi dùng để làm dấu nhiều tim, trục công trình thì chiều dài
ván ngang phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai tim (trục) biên.
- Các giá ngựa thường được đặt cách cạnh ngoài công trình (hoặc mép hố móng)
khoảng cách từ 2 – 3 m để cho chúng không cản trở đến việc đào đất và xây móng công
trình.
- Để đóng các đinh trên giá ngựa được chính xác, cần phải đo cẩn thận khoảng 2
đến 3 lần rồi vạch bằng bút chì lên ván ngang rồi đóng đinh làm dấu.
- Định vị công trình bằng giá ngựa dễ thao tác, độ chính xác cao. Tuy nhiên nếu
hệ thống giá ngựa dài sẽ gây cản trở trong giao thông phục vụ thi công.
3. Gửi mốc lên các công trình cũ
Khi thi công các công trình
xây chen, mặt bằng hẹp không dùng
cọc đơn hay giá ngựa được, ta có
thể đánh dấu tim trục lên các công
trình lân cận (hình 2.19). Dấu mốc
tim trục công trình phải được sơn rõ
Hình 2.19. Định vị tim trục lên các công trình lân cận
ràng, tại vị trí dễ quan sát, bảo quản.
2.3.3. Giác móng công trình
Trước khi tiến hành giác móng cần nghiên cứu chi tiết bản vẽ thiết kế thi công và
chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết.
- Dựa vào bản vẽ thiết kế móng, tính chất của đất để xác định diện tích hố đào.
- Kiểm tra lại vị trí các cọc mốc chuẩn (đã được bàn giao giữa bên giao thầu và
bên thi công). Các cọc mốc chuẩn thường được đúc bằng bê tông, đặt ở những vị trí
không vướng vào công trình và được bảo vệ suốt quá trình thi công. Từ các trục định vị
triển khai các đường tim móng.Từ đường tim phát triển ra bốn đỉnh của hố đào.
- Dùng vôi bột rải theo chu vi của hố đào. Tại mỗi hố đào, hay nhiều hố gần nhau
phải có một cao độ chuẩn để tiện kiểm tra cao trình hố đào.
- Sau khi định vị và giác móng công trình phải lập biên bản có sự xác nhận của
chủ đầu tư, cơ quan thiết kế, cán bộ trắc địa và chỉ huy công trình.
24
CHƯƠNG 3
TÍNH KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤT (3 tiết)
Nội dung chính
• Xác định kích thước công trình đất và phương pháp tính
khối lượng công tác đất
• Tính khối lượng công tác đất theo hình khối
• Tính khối lượng công tác đất của công trình chạy dài
3.1. XÁC ĐỊNH KÍCH THƯỚC CÔNG TRÌNH ĐẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH
KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤT
Công trình bằng đất thường có kích thước rất lớn theo không gian 3 chiều, vì vậy
nếu kích thước tính toán sai lệch một ít cũng có thể dẫn đến khối lượng công tác sai lệch
rất lớn làm ảnh hưởng đến việc lập dự toán cũng như kế hoạch thi công. Do vậy việc xác
định kích thước công trình có một ý nghĩa lớn.
Tính toán khối lượng công tác đất thường căn cứ vào bản vẽ công trình đất, còn
trong thi công đào đất, khối lượng được tính toán bằng cách đo tại hiện trường.
Đối với những công trình bằng đất như đường sá, mương máng, mặt nền thì lấy
kích thước tính toán khối lượng đúng bằng kích thước công trình. Còn đối với các công
trình phục vụ công trình khác như hố móng, đường hầm thì kích thước tính toán phụ
thuộc vào dụng cụ, máy móc thi công. Nếu biện pháp thi công là thủ công thì kích thước
lấy lớn hơn công trình chính (nhà, tunel) từ 20 – 30 cm. Nếu thi công bằng cơ giới thì
kích thước phải lấy lớn hơn công trình chính từ 2 – 5 cm, tuỳ theo loại máy thi công.
Phương pháp tính toán khối lượng công tác đất dựa vào các công thức hình học
không gian. Khi hình dáng công trình có hình dạng đúng với hình học thông thường
(hình trụ, hộp, nón...), ta chỉ việc áp dụng các công thức có sẵn. Đối với những hình khối
không đúng dạng hình học ta phải đưa về những cách tính gần đúng, sao cho sai số nằm
trong phạm vi cho phép. Đôi khi một công trình phải chia ra làm nhiều hình khối để tính
mới đạt được độ chính xác mong muốn.
3.2. TÍNH KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤT THEO HÌNH KHỐI
25