Câu Thực Tế Tiền Tệ Ngân Hàng 2016
Câu 1: Phân tích diễn biến lãi suất thị trường ở Việt Nam từ đầu năm đến nay và dự
báo cho 6 tháng tiếp theo?
Thực tế cho thấy, việc giảm lãi suất của hệ thống NH trong giai đoạn từ năm 2011 –
2015 được xem như “điểm sáng” trong nỗ lực chỉ đạo điều hành của NHNN. Mặc dù mặt
bằng lãi suất giảm mạnh đã giúp cho nhiều DN vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất,
kinh doanh. Tuy nhiên, sang năm 2016 áp lực trong việc giữ mặt bằng lãi suất ổn định là
một thách thức không hề nhỏ. Ngay những ngày đầu năm, một số NHTM tăng lãi suất
huy động gây áp lực lên lãi suất cho vay.
Lãi suất cho vay: Tính đến cuối tháng 2/2016, lãi suất cho vay của các TCTD hiện phổ
biến ở mức khoảng 6-9%/năm đối với kỳ hạn ngắn; 9-11%/năm đối với trung, dài hạn.
Mức lãi suất này giảm khoảng 0,2 - 0,5%/năm so với đầu năm 2015, trong đó lãi suất cho
vay trung dài hạn giảm 0,3- 0,5%/năm. Nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất cho vay theo lời
kêu gọi của Thống đốc NHNN. Theo đó, từ ngày 29/4, 4 NHTM Nhà nước đã giảm
0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND và điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trung
và dài hạn về tối đa 10%/năm đối với các khách hàng tốt vay vốn phục vụ sản xuất kinh
doanh.
Một trong những chỉ đạo của Thống đốc tại Chỉ thị 01/CT-NHNN về tổ chức thực
hiện chính sách tiền tệ và bảo đảm hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2016 là đề
nghị các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định và chỉ đạo của NHNN về lãi suất; áp
dụng mức lãi suất cho vay hợp lý, chia sẻ khó khăn với khách hàng vay, đảm bảo an toàn
tài chính trong hoạt động của TCTD. NHNN điều hành lãi suất liên ngân hàng cũng ở
mức phù hợp, đảm bảo thanh khoản cho toàn toàn hệ thống, qua đó tạo điều kiện ổn định
mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các TCTD nhưng vẫn kiểm soát được lạm
phát và không gây áp lực lên tỷ giá.
Lãi suất là giá cả của cung và cầu về nguồn vốn trong nền kinh tế. Theo số liệu của
Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia, trong khi tín dụng tăng trưởng 19% thì huy động vốn
chỉ tăng 14% trong năm 2015. Nguyên nhân là do mặt bằng lãi suất huy động ở mức rất
thấp đã khiến cho một lượng vốn rất lớn được chuyển từ kênh tiết kiệm sang các kênh
đầu tư khác có khả năng sinh lời cao hơn. Do đó, thanh khoản của toàn hệ thống đã trở
nên căng thẳng hơn vào những tháng đầu năm 2016. Ngay lập tức, các NH đã buộc phải
đẩy mặt bằng lãi suất huy động tăng lên.
Diễn biến lãi suất từ nay đến cuối năm 2016 sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động
của lạm phát. Nếu như CPI trong năm 2015 chỉ tăng 0,63% thì chỉ riêng trong 4 tháng
của năm 2016, chỉ số này đã tăng 1,33% so với cuối năm 2015 và được dự báo sẽ tăng
khoảng 5% trong cả năm 2016. Lạm phát tăng đồng nghĩa với việc NHNN sẽ phải thắt
chặt cung tiền và do đó, các NH sẽ tiếp tục đẩy phải đẩy lãi suất tăng lên thì mới thu hút
được người dân gửi tiền tiết kiệm và nhiều khả năng sẽ chạm mức trần 5,5%/năm đối với
các khoản tiền gửi dưới 6 tháng.
Với diễn biến như vậy thì dường như yêu cầu của NHNN được xem là biện pháp mang
tính hành chính bắt buộc. Và nếu như NHNN không có cơ chế giám sát chặt chẽ thì hiện
tượng vượt trần lãi suất huy động sẽ lại tái diễn như đã từng xảy ra trong quá khứ. Đó sẽ
là điều mà cơ quan quản lý cao nhất trong lĩnh vực tiền tệ của Việt Nam không hề chờ
đợi. Do đó, hãy để lãi suất do thị trường quyết định thay vì theo mệnh lệnh hành chính.
Câu 2: Phân tích diễn biến lãi suất liên ngân hàng ở Việt Nam trong năm 2008?
Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm 2008 của Ngân hàng Nhà nước gắn liền với sự căng
thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại, cuộc chạy đua lãi suất bắt đầu bùng
nổ, biểu hiện đầu tiên là sự leo thang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng với các kỷ
lục 20%, 25% liên tục bị đánh đổ, và đỉnh điểm là mức chào 27%/năm…Liên tiếp những
tháng sau đó, cuộc đua diễn ra căng thẳng.Cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5 và tạo
những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6.Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận
kỷ lục “treo” tới 43%/năm.Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều ngân
hàng thương mại cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả
năng tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bước
vào vùng thấp nhất trong năm (liên tục tăng dưới 1%/tháng; cả năm ước chỉ tăng khoảng
21% thay vì mức dự kiến khống chế 30%).Ngược lại, từ cuối tháng 7, cùng với cơ chế
cho vay mới, sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước với nguồn vốn khả dụng của hệ thống
tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt thoái trào. Đặc biệt từ tháng 9 đến
cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhà nước, cả lãi
suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điều chỉnh trên diện rộng.
Câu 3: Đánh giá hiệu quả cơ chế điều hành lãi suất của NHNNVN từ 2008 đến nay?
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế đã làm chậm tốc độ phát triển
của kinh tế VIệt Nam. Kế hoạch đầy năm 2008, tăng trưởng GDP dự kiến từ 8,5 – 9%.
Tháng 5 năm 2008 quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống còn 7%, nhưng
đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế chỉ là 6,25%
-Năm 2008 NHNN đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm
- Năm 2009, NHNN hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp vay vốn để duy trì và mở rộng sản xuất. Sau 5 tháng kể từ khi hỗ trợ lãi suất
4%, 91% doanh nghiệp nhỏvà vừa duy trì và phát triển được hoạt động sản xuất- kinh doanh.
- Ngày 26/2/2010, Thống đốc NHNN chính thức có văn bản mở lại cơ chế cho vay theo
lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn hướng dẫn tổ chức tín dụng
cho vay bằng VNĐ đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
- Bước sang năm 2011, NHNN đã thực hiện mạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm
kiểm soát tốc độ thị trường tự do dưới 20% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập
trung vốn cho sản xuất, giảm tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất xuống 16%.
Nhờ đó, đến cuối năm 2011, các mức lãi suất trên thị trường đã được điều chỉnh phù hợp
với diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ.
- Năm 2012, mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh: lãi suất tái cấp vốn đã giảm từ 15% xuống
còn 10%, lãi suất tái chiết khấu đã giảm từ 13% xuống còn 8% và trần lãi suất huy động
kì hạn ngắn ngày giảm từ 14% xuống còn 9%.Việc giảm chi phí vốn vay là yêu cầu cấp
thiết của nền kinh tế và NHNN đã thể hiện tốt vai trò định hướng này.
- Năm 2013:
Trong 6 tháng đầu năm, NHNN đã điều chỉnh giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành.
Đặc biệt, NHNN đã tiến thêm một bước trong việc tự do hóa lãi suất, theo đó từ
28/6/2013 NHNN cho phép các TCTD được ấn định mức lãi suất huy động từ 6 tháng trở
lên trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng.
Tính đến 20/9/2013, tốc độ tăng dư nợ tín dụng khoảng 6,05% so với tháng 12/2012
(cùng kì tăng 2,35%). Theo đánh giá, hiện đường cong lãi suất đã dần được hình thành
(kỳ hạn ngắn có lãi suất thấp, kỳ hạn dài có lãi suất cao) phù hợp với cơ chế thị trường
trong điều kiện không biến động.
– Năm 2014
Ngày 18/3/2014, NHNN đã điều chỉnh giảm đồng loạt lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái
chiết khấu từ mức 7% và 5% của năm 2013 xuống còn 6,5% và 4,5% trong khi trần lãi
suất tiền gửi bằng tiền đồng được điều chỉnh giảm từ 7% xuống 6% và tiếp tục giảm
xuống còn 5,5% vào ngày 29/10/2014 (xem hình 2). Ngoài bảo đảm lãi suất thực dương,
với khoảng cách giữa các lãi suất điều hành trên, NHNN chủ động sử dụng lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu để hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay vào
các lĩnh vực mà Chính phủ ưu tiên với mức lãi suất giảm xuống 0,5% - 1% so với mức lãi
suất phổ biến của thị trường. Đồng thời, NHNN còn quy định trần lãi suất cho vay bằng
tiền đồng là 8% từ ngày 18/3/2014 và giảm xuống còn 7% từ ngày 29/10/2014 đối với 5
lĩnh vực ưu tiên.
– Năm 2015
Mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục giảm khoảng 0,2-0,5%/năm,. Trong năm 2015,
NHNN duy trì ổn định lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động bằng VND, kết hợp với
điều chỉnh giảm trần lãi suất USD, đảm bảo duy trì chênh lệch hợp lý giữa lãi suất VND
và lãi suất USD.
Để tạo điều kiện giảm lãi suất, NHNN giữ ổn định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng
VND, các TCTD trên cơ sở nhu cầu vốn của thị trường cân đối điều chỉnh giảm lãi suất
cho vay so với trần quy định; điều tiết thanh khoản của các TCTD hợp lý để tạo điều kiện
giảm mặt bằng lãi suất; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng
ngành, lĩnh vực xuống mức khoảng 6,5-6,6%/năm; tiếp tục yêu cầu các TCTD rà soát
giảm lãi suất cho vay của các khoản vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành.
Mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 0,3-0,5%/năm so với cuối năm trước (lãi suất
ngắn hạn giảm khoảng 0,3%/năm, lãi suất trung và dài hạn giảm khoảng 0,3-0,5%/năm),
đưa mặt bằng lãi suất giảm khoảng 50% so với thời điểm cuối năm 2011; Lãi suất huy
động giảm khoảng 0,2-0,5%/năm và hiện ở mức tương đối thấp nhưng lòng tin vào đồng
Việt Nam tiếp tục được củng cố.
– Năm 2016
Trong năm 2016 này, ngành ngân hàng định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng
khoảng 16-18%, dư nợ tín dụng tăng khoảng 18-20%; đồng thời căn cứ vào diễn biến,
tình hình thực tế để điều chỉnh phù hợp.
Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với tiền gửi
không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1
tháng đến dưới 6 tháng; 5,4-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12
tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4-7,2%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở
mức 6-9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn ở mức 9-11%/năm. Lãi suất cho vay đối
với các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục ổn định ở mức thấp (6-7%/năm đối với kỳ hạn ngắn), các
ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ
biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay đối với một số
chương trình kinh tế trọng điểm giảm khoảng 0,5-0,6%/năm xuống khoảng 6,56,6%/năm, nhằm hỗ trợ tốt hơn cho một số ngành lĩnh vực đặc thù và các đối tượng chính
sách. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3-6,7%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn
hạn phổ biến ở mức 3-5,5%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 5,5-6,7%/năm.
Những thành công:
- Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi suất, chuẩn bị cho
sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới.
- Cơ chế điều hành lãi suất ngày càng linh hoạt, lãi suất ngày càng phát huy tốt vai trò là
công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, góp phần điều hành vĩ mô nền kinh tế trong
cuộc chiến chống lạm phát.
- Cơ chế điều hành lãi suất vẫn kiên trì theo đuổi chính sách lãi suất thỏa thuận, ngày
càng giao quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh cho các NHTM.
- Dòng vốn tín dụng tiếp tục được phân bổ hợp lý, tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, mang lại hiệu quả thiết thực cho nền
kinh tế.
Những hạn chế
- Duy trì quá lâu cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất lãi suất huy động vốn và cho vay của
các TCTD, làm cho các mức lãi suất kinh doanh của TCTD không phù hợp với cung cầu
vốn tín dụng trên thị trường và giảm tác dụng của các công cụ CSTT.
- Sự điều chỉnh các mức lãi suất chưa theo sát kịp với diễn biến hàng tháng của chỉ số
CPI cả về biên độ và xu hướng, làm giảm hiệu quả và tác dụng của công cụ lãi suất.
Câu 4: Đánh giá việc kiểm soát mức cung tiền của NHNN Việt Nam từ năm 2008
đến nay.
Câu 5: Phân tích biến động CPI từ đầu năm đến nay, dự báo cho 6 tháng tiếp theo?
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2016 so với
tháng 12/2015 tăng 0.19%, một mức tăng rất khiêm tốn trong nhiều năm trở lại đây.
- CPI tháng 2 tăng cao (từ 0.02% tháng 1 lên 0.41% tháng 2) do tác động của nhu cầu tiêu
dùng tăng trong dịp Tết Nguyên đán (do cầu kéo); Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ
chính tham gia tính toán có 8 nhóm tăng trong đó tăng cao nhất là nhóm giao thông với
mức tăng 1,73% so với tháng trước.
- Mặc dù giá dịch vụ giao thông công cộng giảm theo chu kỳ sau Tết Nguyên đán nhưng
chỉ số giá nhóm giao thông vẫn tăng mạnh là do tác động của việc điều chỉnh giá xăng
dầu 2 ngày 21/3/2016 và ngày 5/4/2016 vừa qua. (chi phí đẩy)
- Nhóm có mức tăng cao thứ hai là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng với mức tăng 0,71%
so với tháng trước. Sau hơn 10 tháng giá cả các mặt hàng trong nhóm này chỉ tăng nhẹ
thậm chí giảm giá, tháng này, giá các mặt hàng thép tăng mạnh từ 5-8% là nguyên nhân
chính khiến chỉ số giá của nhóm tăng mạnh sau những chính sách về quản lý giá thép
cũng như nhu cầu xây dựng tăng lên trong thời gian gần đây. (lp do cầu kéo)
- Ngoài ra, việc giá gas tăng 10 nghìn đồng/ bình 12kg cũng góp phần đánh kể vào mức
tăng này.(chi phí đẩy)
Việc CPI đột ngột tăng khá cao vào tháng 3 đã gây nhiều ngạc nhiên, bởi theo quy luật,
diễn biến giá cả thường giảm mạnh sau Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, xem xét diễn biến
giá cả của các nhóm hàng thì có thể thấy việc tăng giá CPI trái quy luật này, là do một
loạt quyết định hành chính.Thông tư số 37/2015 của liên bộ Y tế và Tài chính quy định
thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng
hạng trên toàn quốc có hiệu lực từ 1/3/2016 đã khiến giá các mặt hàng dịch vụ y tế áp
dụng cho đối tượng có bảo hiểm y tế tăng 32,9% khiến chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ
y tế tăng rất mạnh 24,34%; qua đó góp phần làm cho CPI chung tăng khoảng 1,27%.
Ngoài ra, cũng thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày
2/10/2015 của Chính phủ, một số tỉnh thành phố đã tăng học phí các cấp làm cho chỉ số
giá nhóm giáo dục tăng 0,66%.
Đây là hai yếu tố chi phí đẩy chính khiến CPI tăng mạnh trong tháng qua.
Mức tăng CPI các tháng đầu năm như trên là mức tăng được kiềm chế, phù hợp với mục
tiêu đề ra về kiểm soát lạm phát của Nhà nước.
KL: Như vậy, mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm 2016 đã thành hiện thực (tăng
không quá 5% theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ). Đây cũng là năm liên tiếp
Việt Nam thành công trong việc kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu đề ra của Quốc
hội và Chính phủ, qua đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô và tạo môi trường ổn định góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Dự báo 6 tháng cuối năm 2016:
CPI trong năm 2016 được dự báo tăng ở mức một con số, khoảng 5% do:
Thứ nhất, giá gạo đã tăng tháng thứ 5 liên tiếp nhờ những tín hiệu tích cực từ hoạt động
xuất khẩu. Ngoài ra, hiện tượng thời tiết diễn biến bất thường đang xảy ra tại Đồng bằng
Sông Cửu long đã gia tăng những lo ngại về sản lượng lúa gạo trong thời gian tới. Qua
đó, cũng đã khiến giá lương thực tiếp tục tăng cao.
Thứ hai, hàng loạt ngân hàng cam kết giảm lãi suất đầu ra càng làm tăng thêm niềm tin
việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ với mức độ sâu
hơn, đặc biệt so với năm 2015.
Thứ ba, vấn đề nợ công và nợ xấu chưa được giải quyết ổn thoả, lạm phát cao chưa có cơ
hội quay trở lại. Với lãi suất thực bị neo ở mức cao như hiện nay, khó có thể nói rằng nền
kinh tế đang thừa tiền.
Từ phân tích trên, điều có thể rút ra là để các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay
thì một trong những điều kiện tiên quyết là NHNN phải tiếp tục nới lỏng chính sách tiền
tệ mạnh hơn nữa để gia tăng cung tiền nhằm hậu thuẫn cho các ngân hàng thương mại
tăng cường huy động với lãi suất thấp hơn để cho vay cũng với lãi suất thấp hơn. Đương
nhiên, rủi ro cho việc này là lạm phát sẽ gia tăng trở lại. Vì lạm phát mục tiêu năm nay đã
được xác định ở mức 5% trong khi lạm phát thực tế 5 tháng đầu năm nay đã ở mức ước
tính gần 2% nên dư địa để NHNN tăng mạnh hơn nữa cung tiền sẽ không còn nhiều,
không thể mạo hiểm.
Do đó, có nhiều khả năng NHNN sẽ giữ nguyên tốc độ và nhịp gia tăng cung tiền như
hiện tại cho đến hết năm để tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất (chứ không hy vọng là
giảm đi), và đây cũng đã là một thành công khi họ phải “căng mình” giữa 2 mục tiêu mâu
thuẫn là, một mặt, gia tăng cung tiền nhằm gia tăng tăng trưởng tín dụng để đạt tốc độ
tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm 2015, mặt khác, phải kiềm chế lạm phát trong
phạm vi mục tiêu 5%.
Câu 6: Nhận xét về hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ hiện nay ở Việt Nam?
Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ năm 2015:
1. “Điều hành chủ động và linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát
lạm phát, không chủ quan với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD.
2. Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt
là diễn biến của lạm phát, bảo đảm giá trị đồng Việt Nam, tiếp tục khắc phục tình
trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế.
3. Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi
với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh;
tiếp tục triển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách
ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối
với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.
4. Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD, đảm bảo thực hiện
đúng lộ trình của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ
mô khác”
Như vậy trong năm 2015 thì mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ vẫn là kiểm soát
lạm phát, ổn định vĩ mô, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD. Mặc dù thực tế
cho thấy rằng NHTW đã thi hành chính sách tiền tệ khá tốt xong ở trong văn bản thì
CSTT có quá nhiều mục tiêu, mà chưa chỉ rõ đâu là mục tiêu cuối cùng, nếu xảy ra sự lựa
chọn thì mục tiêu nào sẽ được ưu tiên cao hơn. Như vậy việc NHTW phải theo đuổi quá
nhiều mục tiêu là những bất cập, khó khan trong việc thi hành chính sách.Trên thực tế,
hằng năm thì CSTT được kiểm soát thông qua kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng
theo mục tiêu. Năm 2015, dự báo lạm phát là 4%, GDP khoảng 6% nhìn chung thì cũng
bám sát mục tiêu, sự sai lệch không đáng kể lắm.
Mục tiêu trung gian : lãi suất, tỷ giá và kiểm soát tín dụng. CSTT đã chỉ rất rõ mục tiêu
của lãi suất, của tỷ giá phải phù hợp với diễn biến vĩ mô, vì trong trường hợp này để đưa
ra một con số cụ thể là khá khó khăn. Còn về tín dụng, thì tiếp tục hoàn thiện, đẩy nhanh
tiến độ nợ xấu, tăng trưởng tín dụng. Vì đã xác định các mục tiêu tương đối rõ rang nên
năm 2015 chúng ta đã đạt được những thành công tốt đẹp.
99,6% nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã được giải quyết, nợ xấu đã được đưa về 2,72%
hoàn thành mục tiêu đề ra là 3%. Cuối tháng 12 thì tín dụng tăng 17,17% so với cùng kỳ
năm ngoái đạt 18%. Tỷ giá ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay giảm 0,3 - 0,5 %/ năm, lãi
suất huy động giảm khoảng 0,2- 0,5%/năm.
Mục tiêu hoạt động : khối lượng tiền cung ứng hang năm xác định dựa trên tổng phương
tiện thanh toán M2, phù hợp với tỷ lệ lạm phát và GDP và hệ số tạo tiền dự kiến của các
tổ chức tín dụng
Câu 7: Hãy bình luận ý kiến cho rằng: ổn định giá cả trở thành mục tiêu không bàn
cãi của chính sách tiền tệ. Liên hệ với Việt Nam?
Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu dài hạn, là ổn định sức mua
của tiền tệ. Để đo lường được mục tiêu này NHTW phải đảm bảo trên cả 2 phương diện:
ổn định giá trị đối nội của tiền. Chỉ tiêu này được lượng hóa bằng chỉ tiêu lạm phát tiền
tệ. Ở phương diện thứ 2 là ổn định giá trị đối ngoại được lượng hóa bằng mức biến động
tỷ giá.
- Đối với lạm phát: khi nền kinh tế có lạm phát kể cả lạm phát cân bằng có dự đoán
trước vẫn gây ra hậu quả nhất định. Điều đó gây chi phí cho xã hội hay lạm phát
không được dự kiến trước làm cho thông tin bị bóp méo, uy tín bị ảnh hưởng, cạnh
tranh giữa các quốc gia và đầu tư bị thay đổi.
- Đối với tỷ giá: + khi tỷ giá tăng đồng nội tệ mất giá, sẽ kích thích xuất khẩu, còn
nhập khẩu bị hạn chế. Khi tỷ giá tăng quá cao làm cho đồng nội tệ bị mất uy tín
làm giảm các quan hệ ngoại thương và quan hệ kinh tế thế giới.
+ khi tỷ giá giảm đồng nội tệ tăng giá hoạt động xuất nhập khẩu
bị giảm
Trong từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau, mỗi quốc gia muốn thực hiện các mục
tiêu khác nhau và coi đây là mục tiêu của CSTT mà NHTW phải kiểm soát
• Liên hệ với Việt Nam
Trong 9 tháng đầu năm 2015, công tác quản lý, điều hành giá đã bám sát được
tình hình thực tiễn và đạt được mục tiêu, chương trình, kế hoạch đề ra từ đầu năm. Chỉ số
giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2015 ở mức thấp có nhiều nguyên nhân trong đó có sự tác
động lớn từ biến động giảm của giá xăng dầu, giá nông sản, hàng hóa trên thị trường thế
giới.
Trong điều hành giá một số mặt hàng cụ thể đã thực hiện điều chỉnh theo lộ trình giá thị
trường và theo quy định của Chính phủ như giá xăng dầu, giá điện. Tuy nhiên, trong triển
khai điều hành giá một số dịch vụ như y tế, giáo dục còn chậm, chưa tận dụng được cơ
hội lạm phát 9 tháng đầu năm 2015 ở mức thấp để điều hành theo thị trường sớm hơn,
công tác dự báo và đánh giá tác động của chính sách vẫn còn một số bất cập.
Câu 8:Bình luận sự thay đổi mục tiêu cuối cùng trong điều hành chính sách tiền tệ
của VN?
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “ Chính sách tiển tệ quốc gia là các quyết
định về tiền tệ ở tầm quốc gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết
định mục têu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử
dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”.
•
•
•
•
Mục tiêu cuối cùng (MTCC) theo luật NHNN 1997 là đa mục tiêu:
ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát
góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH
Đảm bảo QP-AN
Nâng cao đời sống nhân dân
Theo Luật NHNN 2010: chỉ quy định một mục tiêu cc của CSTT, đó là:ổn định
giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát.
Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt
Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng
của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Sự thay đổi này phù hợp cả mặt lý luận và thực tiễn:
-Theo luật 1997 có quá nhiều mục tiêu khác nhau,việc điều hành chính sách tiền tệ đánh
đổi giữa các mục tiêu như kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Chính vì việc chưa
xác định rõ các mục tiêu điều hành, nên trong một số thời điểm đã tác động đến việc
hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, chính sách tiền tệ
đôi khi còn bị động và chậm phản ứng với những thay đổi của thị trường.
-Theo luật 2010:
+Lý luận: Ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT. Trong quá trình thực
nghiệm đã cho thấy ổn định giá cả thì phải ổn định giá trị đồng tiền. Ổn định giá cả có ý
nghĩa quan trọng trong kinh tế vĩ mô cũng như kinh tế vi mô. Ổn định giá cả giúp nhà
nước hoạch định phương hướng phát triển kinh tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ
được biến động giá cả. Ổn định giá cả giúp cho môi trường đầu tư ổn định góp phần thu
hút vốn đầu tư, khai thác mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy DN cũng như cá nhân phát triển
sản xuất đem lại nguồn lợi cho mình và xã hội. Chỉ số giá biến động tăng hoặc giảm đều
bất lợi cho nền kinh tế. Nguy hiểm hơn sự bất ổn định giá cả dẫn đến sự phối hợp lại
không dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư. Ổn định giá
trị đồng tiền là MTCC của CSTT.
+ Thực tiễn: Có thể nói, trong giai đoạn từ 2011 đến nay, có được những kết quả tích cực
về kinh tế vĩ mô, tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong đó nổi bật là kiểm soát được lạm
phát ở mức 1 con số trong thời gian qua là nhờ NHNN đã có những thay đổi trong các
thức điều hành chính sách tiền tệ, khắc phục những điểm bất cập trong thời kỳ trước, cụ
thể:
Trước bối cảnh lạm phát năm 2011 ở mức cao 18,13%, NHNN đã đặt mục tiêu kiểm soát
lạm phát theo định hướng của chính phủ là 7-8% năm 2012, 2013. Theo đó, các giải pháp
điều hành trong ngắn hạn đều nhất quán và không ảnh hưởng đến mục tiêu xuyên suốt
này.
Trong năm 2015, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng đã thực hiện
được kiềm chế lạm phát, giữ ổn định tỷ giá và giảm mặt bằng lãi suất - ba mục tiêu cơ
bản ngành ngân hàng trong thời gian qua, vốn được xem là “nhiệm vụ bất khả thi” của
giai đoạn 2011-2015 với khủng hoảng của hệ thống năm 2011. Kết quả tích cực từ điều
hành CSTT đã đóng góp quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát cả năm ở mức thấp
dưới 1%, tăng trưởng kinh tế đạt trên 6,5%. Lãi suất huy động giảm khoảng 0,20,5%/năm.Tỷ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục được giữ ổn định, niềm tin vào đồng
tiền Việt Nam.
Kết quả tích cực của thị trường ngoại hối phản ánh sự điều hành chủ động, tích cực và
quyết liệt của các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ.
Năm 2016, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp
chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát
lạm phát theo mục tiêu đề ra (dưới 5%), bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ
tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (khoảng 6,7%). Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với
diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế. CSTT phải
điều hành làm sao để các ngân hàng vẫn cân đối được cơ cấu kỳ hạn nhằm đảm bảo an
toàn. Hạn chế điều hành theo mệnh lệnh hành chính.
Nhìn về dài hạn, đất nước sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển, nhưng trong ngắn hạn năm
2016, thì điều hành chính sách tiền tệ và tài chính vĩ mô “sẽ khó hơn vì nhiều áp lực” về
lạm phát thấp, sự biến động của giá dầu thô, xu hướng của các quốc gia sẽ không nới
lỏng giá trị đồng tiền và sức ép nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước.
Kết luận:
Cần xác định rõ mục tiêu trong điều hành CSTT trong từng thời kỳ: Trong điều hành cần
có sự thống nhất quan điểm về mục tiêu, các công cụ chính sách và sự ưu tiên về mục
tiêu trong từng thời kỳ, vì giữa các mục tiêu có sự đánh đổi. Cần xác định rõ mục tiêu
hàng đầu/ mục tiêu cuối cùng cũng như mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của
CSTT và cần định lượng rõ ràng các mục tiêu đó để có cơ sở điều hành nhất quán.
Câu 9: Cơ chế tỷ giá hiện hành ảnh hưởng tới hiệu quả kiểm soát mức cung
tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như thế nào?
Từ 4/1/2016, NHNN đã thực hiện điều hành chính sách tỷ giá theo cơ chế mới - tỷ giá
trung tâm . Tỷ giá này sẽ biến động theo ngày có thể tăng, giảm (còn trước đó một khi đã
điều chỉnh, tỷ giá thường theo hướng đi lên), là cơ sở để các tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ
ngoại hối xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của Đồng Việt Nam (VND) với Đô la Mỹ
(USD).
Ảnh hưởng của tỷ giá trung tâm tới hiệu quả kiểm soát mức cung tiền của nhà nước VN:
Việc tỷ giá có thể biến động theo cả 2 chiều tăng và giảm sẽ phần nào giúp làm giảm nhu
cầu ngoại tệ ảo, giảm hoạt động đầu cơ trong ngắn hạn. Về dài hạn, một mình cơ chế tỷ
giá không thể triệt tiêu được tâm lý đầu cơ mà cần phải phối hợp với hoạt động ngân
sách, chính sách tài khóa và cung tiền.
Lâu nay ở Việt Nam do NHNN cam kết giữ ổn định tỷ giá nên số DN tham gia giao dịch
phái sinh ngoại hối chưa nhiều. Với cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn như hiện nay, NHNN
không đưa ra một ngưỡng cam kết điều chỉnh tỷ giá sẽ khuyến khích các doanh nghiệp sử
dụng công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá do các tổ chức tín dụng cung
cấp. Như vậy, các nhu cầu mua bán ngoại tệ không chỉ được thỏa mãn bởi phương thức
giao dịch giao ngay mà còn thực hiện thông qua phương thức giao dịch có kỳ hạn cũng
như các sản phẩm phái sinh khác. Do đó, sẽ làm giảm áp lực mua ngoại tệ giao ngay tại
mỗi thời điểm. Tỷ giá sẽ phản ánh cung cầu thị trường xác thực hơn. Đồng thời sản phẩm
phái sinh ngoại hối do các tổ chức tín dụng được phép cung cấp cũng sẽ có dư địa tăng
trưởng mạnh.
Câu 10: Phân tích hoạt động của chính sách tiền tệ của NHNN từ đầu năm đến nay?
Tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại đang tăng tốc mạnh trong những
tháng gần đây. Theo Tổng cục thống kê, nếu như đến 21/3, tăng trưởng tín dụng mới chỉ
đạt 1,54% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 1,25%), thì đến 20/4, tăng
trưởng tín dụng đã vọt lên mức gần gấp đôi, 2,99%, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và
đầu tư trình Chính phủ.Lãi suất huy động bằng VND tương đối ổn định. Hiện, mặt bằng
lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn
và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6
tháng; 5,4-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên
12 tháng ở mức 6,4-7,2%/năm.
Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-7%/năm đối với
ngắn hạn, các NHTM nhà nước tiếp tục áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ
biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản
xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối
với trung và dài hạn.
Lãi suất cho vay USD tương đối ổn định: Hiện lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,86,3%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-5,2%/năm, lãi suất cho
vay trung, dài hạn ở mức 5,3-6,2%/năm.
Nhưng nhìn vào số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê về cung tiền M2, hay còn gọi là
tổng phương tiện thanh toán, đến thời điểm 21/3/2016, M2 tăng 3,08% so với cuối năm
2015 (cùng kỳ năm trước tăng 2,09%). Một tháng sau, tính đến ngày 20/4, M2 đã tăng
vọt lên 4,54% so với tháng 12/2015 (cùng kỳ năm 2015 là 2,57%), cũng theo báo cáo của
Bộ Kế hoạch và đầu tư.
Như vậy, rõ ràng NHNN đang đẩy mạnh cung tiền ra nền kinh tế, hay nói cách khác,
chính sách tiền tệ của NHNN đang được nới lỏng mạnh mẽ trong năm nay, đặc biệt là so
với năm 2015.
Thực tế thì tăng trưởng tín dụng cũng đã tăng nhanh và mạnh. Như trên đã cho thấy,
không chỉ tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 mà cả tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng đã gia
tăng mạnh trong mấy tháng đầu năm nay so với cuối năm 2015. Nói các khác, giá tăng
cung tiền đã và đang được thực hiện bám sát tốc độ và mục tiêu tăng trưởng tín dụng
trong những tháng qua và có lẽ là cả thời gian tới với mục đích ổn định và, tham vọng
hơn, tiến tới giảm dần lãi suất cho vay trung dài hạn.
Như vậy, mặc dù chính sách tiền tệ đang được nới lỏng, nhưng lượng tiền cung ứng gia
tăng này không đi hết vào nền kinh tế thông qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại
mà được các ngân hàng huy động và giữ lại một phần để đáp ứng các nhu cầu nội tại, từ
đó làm nảy sinh chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng cung tiền (cũng như tốc độ tăng
trưởng huy động) và tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại.
Từ phân tích trên, điều có thể rút ra là để các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay
thì một trong những điều kiện tiên quyết là NHNN phải tiếp tục nới lỏng chính sách tiền
tệ mạnh hơn nữa để gia tăng cung tiền nhằm hậu thuẫn cho các ngân hàng thương mại
tăng cường huy động với lãi suất thấp hơn để cho vay cũng với lãi suất thấp hơn.