Tải bản đầy đủ (.pdf) (250 trang)

Lịch sử quan hệ việt nam cuba (1959 2005)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.14 MB, 250 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của mọi quốc gia thì yếu tố
quốc tế thường giữ vai trò quan trọng. Quan hệ quốc tế cũng như hoạt động ngoại
giao của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam, xét đến cùng đều nhằm phục vụ ba
mục tiêu cơ bản: một là, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia; hai là, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để phát triển đất
nước; ba là, nâng cao vò thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế. Về mặt lí luận
cũng như thực tiễn, ba mục tiêu ấy tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một thể
thống nhất.
Quan hệ giữa Việt Nam với tất cả các nước đều nhằm những mục tiêu chung đó.
Có điều, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cần chú ý là ba mục tiêu nêu trên
trong những thời kỳ khác nhau có sự tập trung chú ý và ưu tiên khác nhau. Rõ ràng,
“trước năm 1975, do hoàn cảnh lòch sử, suốt trong một thời gian dài, ngoại giao Việt
Nam phải tập trung mọi sức lực phục vụ cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước nên nội dung kinh tế trong hoạt động ngoại giao chưa chiếm được vò trí
thỏa đáng”[158, tr.33]. Từ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975),
nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh được coi là lợi ích cao nhất, đồng thời trên thế giới đang
diễn ra cuộc chạy đua mãnh liệt về kinh tế thì nội dung kinh tế trong công tác ngoại
giao ngày càng nổi trội. Điều rất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này là “Ngoại
giao phải thực hiện được mục tiêu đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, theo
phương châm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”[108, tr.36].
Quan hệ Việt Nam - Cuba cũng không phải là ngoại lệ mà nằm trong những
khuynh hướng và quy luật chung đó. Việt Nam và Cuba, một nước ở vùng Đông
Nam Á bên bờ Thái Bình Dương, một nước ở trên hải đảo trong vùng biển Caribê



2
thuộc Đại Tây Dương, xa cách nhau nửa vòng trái đất, có nhiều điểm khác biệt về
tộc người, ngôn ngữ, lòch sử, văn hóa… Tuy nhiên, nói như vậy không có nghóa là hai
nước Việt Nam, Cuba khác biệt nhau tất cả. Hai nước vẫn có những điểm giống
nhau cơ bản: đều có quá trình lâu dài bò thực dân, đế quốc xâm lược, thống trò và
nhân dân hai nước đã phải tiến hành cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc đầy hi
sinh gian khổ để giành độc lập, tự do; và đặc biệt, sau khi hoàn thành thắng lợi cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt
Nam và Cuba đã tiến lên xây dựng chủ nghóa xã hội (CNXH).
Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi CNXH ở Đông Âu
sụp đổ, Liên Xô tan rã thì CNXH ở Việt Nam và Cuba không những đứng vững mà
còn qua cơn thử thách cam go có ý nghóa sinh tử, hai đất nước, hai dân tộc vẫn tiếp
tục sánh vai vững bước trên con đường xã hội chủ nghóa (XHCN). Hiện nay, Việt
Nam và Cuba là hai nước XHCN ở hai đầu Đông - Tây bán cầu, Việt Nam đang tiến
hành sự nghiệp Đổi mới và Cuba đang tiến hành công cuộc Cải cách đất nước. Công
cuộc Đổi mới ở Việt Nam và Cải cách ở Cuba đã và đang giành được những thành
tựu to lớn, toàn diện, góp phần tăng cường thực lực, nâng cao uy tín và vò thế của hai
nước ở khu vực và trên trường quốc tế.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền dân tộc, đôi bên cùng có lợi và trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả đã phát
triển rất mạnh mẽ trong thời gian qua, đặc biệt trong lónh vực chính trò, ngoại giao,
hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật (KHKT), văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế… mà cơ
sở của mối quan hệ là chủ nghóa Mác - Lênin, tư tưởng Jose Marti, tư tưởng Hồ Chí
Minh và chủ nghóa quốc tế của giai cấp công nhân. Đầu thế kỷ XXI, đứng trước
những khó khăn, vận hội mới và lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba bước sang trang
mới với nhiều hứa hẹn.
Tuy hai nước Việt Nam và Cuba có một quá trình quan hệ gắn bó lâu dài và hết
sức mật thiết, nhưng đến nay ở cả Việt Nam và Cuba đều chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ này. Đặc biệt, sự nghiên cứu



3
về mối quan hệ toàn diện giữa hai nước từ năm 1959 đến 2005 đến nay hầu như còn
bỏ ngỏ. Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba (1959 2005)” để thực hiện luận án tiến só, nhằm lấp khoảng trống đó trong Sử học của hai
nước và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể vận dụng vào việc tăng
cường quan hệ bang giao giữa hai nước trong hiện tại và tương lai.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay, quan hệ Việt Nam - Cuba ít nhiều đã được một số nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước quan tâm. Sau đây, chúng tôi xin được điểm qua tình hình
nghiên cứu vấn đề này.
2.1. Các công trình trong nước
- Sách Thăm đất nước Cuba anh hùng của tác giả Nguyễn Công Hòa, Nhà xuất
bản (Nxb) Lao Động, Hà Nội, 1961. Nội dung chủ yếu của tập ký sự nhằm nói lên
tình hữu nghò sâu sắc, nồng nhiệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Cuba và khí thế cách
mạng đang dâng lên vô cùng mạnh mẽ của nhân dân Cuba, đồng thời tập ký sự này
cũng cố gắng đề cập tới vấn đề bản chất và triển vọng của cuộc cách mạng Cuba,
điều mà vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, cán bộ và nhân dân ta đang hết sức
chú ý.
- Sách Lòch sử Cách mạng Cuba – Giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc 1953 1959 của Phạm Xuân Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1976. “Tuy chỉ tập trung
nghiên cứu một trong những giai đoạn oanh liệt nhất của lòch sử cách mạng Cuba,
nhưng tác giả cuốn sách đã dành Chương mở đầu để giới thiệu khái quát về đất nước,
con người và truyền thống anh hùng bất khuất của nhân dân Cuba, trong đó có
một mục nói về thân thế, sự nghiệp , tư tưởng yêu nước và cách mạng của Jose
Marti”[184, tr.4]. Năm 2002 Nxb Khoa học Xã hội tái bản cuốn sách trên. “So với
lần xuất bản thứ nhất, lần tái bản này, tác giả đã thêm vào đầu đề cũ của cuốn sách
hai chữ Tìm hiểu để thể hiện đúng tính chất của một công trình nghiên cứu với thái
độ cẩn trọng và khiêm tốn hơn. Còn về nội dung, lần xuất bản thứ hai này cơ bản in


4

lại nguyên văn lần trước, nhưng có sửa chữa, bổ sung một số điểm theo sự góp ý của
các bạn đồng nghiệp”[184, tr.5].
- Sách Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghò của Trung ương Hội hữu nghò Việt
Nam - Cuba, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1997. Nội dung của công trình này chủ yếu giới
thiệu khái quát lòch sử, đất nước, con người và những thành tựu của cách mạng Cuba,
đồng thời ghi lại sơ lược bước đường của mối tình đoàn kết, hữu nghò trong sáng,
thủy chung, mẫu mực gắn bó nhân dân hai nước suốt gần bốn mươi năm qua.
- Nguyễn Ngọc Mão (1995), Quá trình hình thành và phát triển của phong trào
ủng hộ Việt Nam ở Cuba giai đoạn 1959 - 1975, Luận án phó tiến só khoa học lòch sử,
Viện Sử học, Hà Nội. Đây là công trình chuyên khảo duy nhất có đề cập quan hệ
Việt Nam - Cuba mà cho đến thời điểm này chúng tôi đã tiếp cận được. Nội dung
chủ yếu của Luận án trình bày tương đối hệ thống quá trình hình thành và phát triển
của phong trào ủn g hộ Việt Nam ở Cuba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước giai đoạn 1959 - 1975, nhất là sự ủng hộ về chính trò và tinh thần. Qua những
diễn biến trong quá trình nhân dân Cuba ủng hộ Việt Nam, có thể thấy được nguồn
gốc sâu xa, tính chất và đặc điểm của phong trào đoàn kết đó, đồng thời nổi lên vò
trí, vai trò và ý nghóa quốc tế của sự nghiệp cách mạng Việt Nam [169, tr.4].
Ngoài ba cuốn sách và một luận án kể trên, một số bài viết sau đây cũng ít nhiều
đề cập đến quan hệ Việt Nam - Cuba ở các giai đoạn với mức độ đậm nhạt khác
nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu . Đó là:
- Trần Quỳnh Cư (1967), Mấy nét về Mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ ủng hộ
cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu lòch sử, số
99.
- Trần Huy Liệu (1968), Gắn liền cuộc chiến tranh nhân dân vó đại của ta với sự
ủng hộ to lớn của các bạn quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu lòch sử, số 109.
- Ca Văn Thỉnh (1973), Jose Marti và tình đoàn kết lâu đời giữa nhân dân Cuba
và Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5.


5

- Nguyễn Minh Phương (1979), Cuba tấm gương sinh động về chủ nghóa quốc tế
vô sản, Tạp chí Cộng sản, số 1. Bài viết chủ yếu đề cập tinh thần quốc tế vô sản cao
cả của Cuba trước và sau thắng lợi của Cách mạng tháng Giêng 1959, đồng thời
nhấn mạnh sự giúp đỡ vô tư, hào hiệp của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đối
với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
- Nguyễn Ngọc Mão: Vài nét về sự ủng hộ của Cuba đối với sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lòch sử, số 1 (202), 1982; Cuba và Mỹ Latinh trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lòch sử, số 2
(221), 1985; Tinh thần Granma và chủ nghóa quốc tế của Cuba, trong Kỷ yếu Hội
thảo khoa học kỷ niệm 30 năm ngày đổ bộ của con tàu Granma (1956 - 1986).
- Nguyễn Đăng Vinh, Ngô Văn Chung trong bài Quân đội của Hòn đảo Tự do,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, có đề cập sơ lược sự ủng hộ của Cuba đối với
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
- Hai bài viết của Ngô Phương Bá và Lý Văn Sáu trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học
nhân kỷ niệm 30 năm ngày Cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 - 1-1-1989) do
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia tổ chức, có đề cập đến tình đoàn
kết chiến đấu Việt Nam - Cuba và một vài khía cạnh về cội nguồn và đặc điểm của
mối tình đoàn kết đó.
- Nguyễn Khắc Sứ (2005), Việt Nam - Cuba: Quan hệ truyền thống, mẫu mực,
thủy chung, Tạp chí Cộng sản, số 23, tháng 12-2005.
- Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba, Đỗ
Văn Tài có bài đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 2-12-2005 với tựa đề 45 năm mối
tình hữu nghò thủy chung son sắt Việt Nam - Cuba.
Ngoài ra, nhân dòp kỷ niệm lần thứ 150 ngày sinh Jose Marti (28-1-1853 – 28-12003), Trung ương Hội hữu nghò Việt Nam - Cuba và Trung tâm Khoa học Xã hội và
Nhân văn quốc gia đã phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo khoa học. Mười bản báo cáo
và tham luận tại cuộc hội thảo chủ yếu nói về thân thế, sự nghiệp của Jose Marti –
nhà yêu nước vó đại, nhà tư tưởng cách mạng kiệt xuất, nhà văn hóa lớn, nhà ngoại


6

giao thiên tài. Đáng chú ý nhất là hai bản tham luận : Những nét tương đồng giữa
Jose Marti và Hồ Chí Minh của Hoàng Hiệp và Tư tưởng Jose Marti: Cội nguồn của
tình đoàn kết Cuba - Việt Nam của Ngô Phương Bá.
2.2. Các công trình nước ngoài
Theo hiểu biết của chún g tôi, đến nay hầu như chưa có công trình nào của các
nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về quan hệ toàn diện giữa Việt Nam và Cuba
trong cả quá trình hay từng giai đoạn lòch sử. Chỉ có một số tác phẩm hay bài báo đề
cập đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ. Cụ thể:
- Sách Tran Buu Kiem in Cuba Cuadernos de Solida ridad, La Habana, 1969, đề
cập đến chuyến thăm hữu nghò chính thức Cuba tháng 6-1969 của ông Trần Bửu
Kiếm, ủy viên Đoàn Chủ tòch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
(MTDTGPMNVN), Trưởng ban Đối ngoại của Mặt trận.
- Với tựa đề Vì Việt Nam, cuốn sách do Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam
xuất bản tại La Habana năm 1974, đã tổng kết những hoạt động ủng hộ và đoàn kết
của nhân dân Cuba đối với Việt Nam trong suốt 10 năm từ 1963 đến 1973.
- Vla-đi-mi-trốp (1980), Cuba – 20 năm chính sách đối ngoại mới, Nxb Quan hệ
quốc tế, Mát-xcơ-va. Tác phẩm chỉ có một đoạn ngắn đề cập đến tình đoàn kết của
Cuba dành cho Việt Nam thông qua bài phát biểu của Fidel Castro tại Đại hội I
Đảng Cộng sản Cuba tháng 12 năm 1975.
- Tác phẩm E.Cheguevara, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1987, có đăng hai
bài phát biểu của Cheguevara về Việt Nam, chủ yếu nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của cách mạng Việt Nam, nhất là nói hình thức, nội dung và bản chất cuộc chiến
tranh nhân dân có ý nghóa lớn đối với khu vực Mỹ Latinh và châu Phi.
- Raul Vandes Vivo – nhà báo, nhà ngoại giao Cuba đã viết tác phẩm với tựa đề
Tối mật, Những người Cuba trên đường Hồ Chí Minh, Công ty Xuất bản Đối ngoại
Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao - Du lòch, Hà Nội, 1990. Nội dung tác phẩm chủ
yếu đề cập đến sự tham gia của Cuba vào việc xây d ng

ng Tr


ng S n - đường


7
mòn Hồ Chí Minh từ năm 1974 đến đầu năm 1975, góp phần vào thắng lợi hoàn
toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Như vậy, trong điều kiện và phạm vi tiếp cận đối với lòch sử vấn đề được nghiên
cứu, từ trước đến nay, theo chúng tôi được biết, ở trong và ngoài nước đã có một số
nhà nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Cuba, nhưng đều là những công
trình mang tính thời luận và ở mức độ manh nha, họ chỉ đề cập đến khía cạn h này
hay khía cạnh khác của mối quan hệ mà chưa có một công trình tập trung hay
chuyên sâu nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về lòch sử quan hệ Việt
Nam - Cuba từ năm 1959 đến 2005. Chúng tôi không dám nghó mình là người đi tiên
phong trong vấn đề này, bởi sự nghiên cứu của chúng tôi trên cơ sở kế thừa và phát
triển những gì mà chúng tôi tiếp cận được như đã nêu ở trên.
3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Như tên của đề tài đã xác đònh, đối tượng nghiên cứu của luận án là Quan hệ Việt
Nam - Cuba từ năm 1959 đến năm 2005. Đề tài được chúng tôi nghiên cứu dưới giác
độ của khoa học lòch sử và quan hệ quốc tế hiện đại.
Về thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận án trải dài từ ngày 1-1-1959 (khi nền
Cộng hòa Cách mạng Cuba được thành lập) cho đến hết năm 2005. Sở dó chúng tôi
lấy năm 2005 làm mốc kết thúc cho công trình nghiên cứu bởi vì: đây là thời điểm tư
liệu lòch sử cho phép tiếp cận được, đồng thời cũng là mốc son lòch sử kỷ niệm 45
năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hơn thế nữa, trải qua 15 năm
(1991 - 2005), sau sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô, phong trào cách
mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, nhiều mối quan hệ quốc tế sụp đổ theo,
nhưng quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam và Cuba vẫn tiếp tục phát triển tốt đẹp,
bất chấp mọi biến động thăn g trầm của lòch sử.
Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn ý thức sâu sắc rằng, logic vấn đề của đề tài đòi hỏi
luận án cần thiết phải có một phần khái quát về lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba

trước năm 1959, và quan hệ hai nước từ năm 2005 đến nay cũng được chúng tôi


8
điểm qua một cách sơ lược những sự kiện quan trọng, để thấy được chiều hướng phát
triển không ngừng của mối quan hệ này.
Đề cập đến mối quan hệ Việt Nam - Cuba trong gần nửa thế kỷ là một phạm vi
nghiên cứu quá rộng đối với một luận án tiến só. Nhưng tác giả luận án vẫn chọn
phạm vi nghiên cứu này vì cho đến thời điểm hiện tại, ở cả hai nước Việt Nam và
Cuba vẫn chưa có một công trình khoa học nào nói về lòch sử quan hệ Việt Nam Cuba một cách hệ thống và toàn diện.
Về không gian, nghiên cứu Lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba (1959 - 2005) tức
là nghiên cứu mối quan hệ giữa hai chủ thể chủ yếu trong quan hệ quốc tế, đó là
Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH), sau này là Cộng hòa XHCN Việt Nam (gọi
tắt là Việt Nam) với Cộng hòa Cuba (gọi tắt là Cuba), trong đó có quan hệ giữa
MTDTGPMNVN và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
(CMLTCHMNVN) với Cộng hòa Cuba. Còn giữa chính quyền Việt Nam Cộng hòa
(còn gọi là chính quyền Sài Gòn – tay sai của Mỹ, 1955 - 1975) ở miền Nam Việt
Nam với Cộng hòa Cuba, trong khoảng thời gian 1959 - 1975, không những không
có mối quan hệ gì mà còn là kẻ thù của nhau, cho nên chúng tôi không đề cập đến
trong luận án này.
Về nội dung, tên của đề tài cho phép hiểu quan hệ Việt Nam - Cuba là quan hệ
hai chiều. Và, trọng tâm của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện quan hệ giữa
Việt Nam với Cuba từ năm 1959 đến 2005. Tuy nhiên, do hạn chế về quy đònh chế
độ bảo mật của tài liệu lưu trữ, cho nên chúng tôi dù rất cố gắng cũng chỉ xin được
phép giới hạn đi sâu vào một số lónh vực chủ yếu và nổi bật của quan hệ giữa hai
nước từ năm 1959 đến 1991, nhất là quan hệ về chính trò - ngoại giao, hợp tác kinh
tế, KHKT, trao đổi thương mại, hợp tác văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, bưu điện,
xây dựng… Thời kỳ 1991 - 2005, chúng tôi chủ yếu đề cập đến quan hệ chính trò ngoại giao, còn hợp tác kinh tế và một số mối quan hệ khác chúng tôi chỉ xin đề cập
đến những nét cơ bản. Nội dung chuyên sâu của vấn đề này chúng tôi hy vọng sẽ có



9
dòp trình bày trong một công trình nghiên cứu khác, khi tư liệu lưu trữ cho phép tiếp
cận được.
Việc nghiên cứu lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba trong phạm vi thời gian và
không gian nói trên, được đặt trong sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến
mối quan hệ song phương trên các lónh vực, trong từng giai đoạn lòch sử nhất đònh.
4. NGUỒN TƯ LIỆU
Như đã trình bày ở phần Lòch sử nghiên cứu vấn đề, quan hệ Việt Nam - Cuba từ
trước đến nay chưa được khảo sát một cách đầy đủ. Những công trình hiện có thường
tập trung nghiên cứu về lòch sử cách mạng Cuba (nhất là giai đoạn cách mạng giải
phóng dân tộc 1953 - 1959), về Jose Marti, về sự ủng hộ của Cuba đối với cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam… Trong khi
quan hệ toàn diện giữa Việt Nam và Cuba từ 1959 đến 2005 thì chưa thấy một công
trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống. Cho nên, khi thực hiện luận án, chúng
tôi chủ yếu dựa vào những nguồn tài liệu tản mạn trên nhiều lónh vực khác nhau để
cố gắng xâu chuỗi những sự kiện nhằm tái hiện lòch sử quan hệ hai nước một cách
toàn diện, có hệ thống. Cụ thể, những nguồn tư liệu chính được khảo cứu trong luận
án theo thứ tự ưu tiên như sau:

u Các văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Cuba như đường lối,
chủ trương, chính sách đối ngoại (bao gồm cả chính trò đối ngoại và kinh tế đối
ngoại) của hai nước; các bài phát biểu quan trọng, những cuộc trả lời phỏng vấn của
các đồng chí lãnh đạo Đản g và Nhà nước hai nước có liên quan đến lòch sử quan hệ
giữa Việt Nam và Cuba như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh… Fidel Castro,
O.Dorticos, Raul Castro… Đây là tư liệu gốc, rất quan trọng, mang tính đònh hướng
cho sự phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba qua các thời kỳ, tác giả luận án đã dựa
vào để nghiên cứu.


v Tài liệu về quan hệ giữa Việt Nam với Cuba (1959 - 2005) được sử dụng
nghiên cứu phục vụ luận án này chủ yếu là những tư liệu gốc, hiện đang lưu trữ tại


10
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ở Hà Nội. Các tài liệu này được lưu trữ ở các Phông
Phủ Thủ tướng, Quốc hội, Phông lưu trữ của các Bộ, Ngành Trung ương… bao gồm
hồ sơ các chuyến thăm hữu nghò chính thức lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai Đảng,
hai Nhà nước, hai Quốc hội, của các đoàn đại biểu các ban của Đảng, các Bộ,
Ngành, đòa phương, các tổ chức chính trò - xã hội..; các Hiệp ước, Tuyên bố chung,
Thông cáo chung, Thông cáo báo chí, các Hiệp đònh, Nghò đònh thư, Thư thỏa thuận,
Biên bản các kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế và KHKT Việt
Nam - Cuba và tư liệu thống kê từ các cơ quan chức năng.

w Các tác phẩm, sách và luận án … ít nhiều có nói đến quan hệ Việt Nam - Cuba.
x Các nguồn Tài liệu tham khảo của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), nhất là
Tài liệu tham khảo đặc biệt (TKĐB) có đề cập đến quan hệ giữa hai nước.

y Bản tin Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghò của Trung ương Hội hữu nghò Việt
Nam - Cuba, xuất bản hàng tháng, lưu hành nội bộ.

z Các bài viết được đăng tải trên các báo xuất bản hàng ngày ở Việt Nam và
Cuba (thông qua bản dòch của TTXVN); các tạp chí như Tạp chí Cộng sản, Nghiên
cứu lòch sử, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Thương mại, Tạp chí Kinh tế, Đầu tư,
Kỷ yếu các cuộc Hội thảo khoa học v.v.

{ Nguồn tài liệu điền dã: đó là nguồn tài liệu (cả bằng văn bản và phim, ảnh)
mà tác giả luận án đã có dòp đi đến một số công trình có sự hợp tác giữa Việt Nam
và Cuba như khách sạn Thắng Lợi (Hà Nội), Trung tâm bò giống Moncada (Ba Vì,
Hà Tây), xí nghiệp gà giống Ba Vì (Hà Tây), xí nghiệp gà giống Lương Mỹ (Hà

Tây), bệnh viện hữu nghò Việt Nam - Cuba Đồng Hới (Quảng Bình), đường Hồ Chí
Minh… Nguồn ảnh tư liệu của Phòng lưu trữ phim, ảnh thuộc TTXVN và Sở Văn hóa
- Thông tin tỉnh Quảng Bình.
Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào những thông tin và các số liệu từ các trang webs
của:
- Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

: www.vietnam.gov.vn

- Bộ Ngoại giao

: www.mofa.gov.vn


11
- Bộ Thương mại

: www.mot.gov.vn

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư

: www.mpi.gov.vn

- Bộ Nông nghiệp và PTNT

: www.agroviet.gov.vn

- Bộ Y tế

: www.moh.gov.vn


- Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện

: www.moet.edu.vn

- Bộ Xây dựng

: www.xaydung.gov.vn

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ CỤC LUẬN ÁN
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên nền tảng lý luận chủ nghóa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt
Nam về quan hệ quốc tế. Chủ yếu là dựa vào Chủ nghóa duy vật lòch sử để giải
quyết những vấn đề mang tính lí luận đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài. Dựa
vào cơ sở phương pháp luận này, để thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự
kiện trong cùng một mối quan hệ cũng như giữa các mối quan hệ với nhau.
Chúng tôi dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và ý kiến của các
nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước… làm nền tảng cho việc phân tích và đánh giá hàng
loạt các sự kiện trong tiến trình phát triển lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba, một tiến
trình thốn g nhất, đặc thù, không lặp lại, từ đó giúp tác giả luận án nhận đònh đúng
đắn và có nhữn g kiến giải khoa học phù hợp với quy luật vận động, phát triển của
nó.
Nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của luận án là phục dựng quá trình quan hệ
nhiều mặt giữa hai nước Việt Nam - Cuba trong gần nửa thế kỷ qua, chúng tôi sẽ
vận dụng kết hợp các phương pháp chính là phương pháp lòch sử và phương pháp
logíc, cùng các phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, loại suy… Đặc biệt, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thống kê để đònh
lượng hóa các sự kiện lòch sử bằng những con số, đồng thời kết hợp với phương pháp
điền dã nhằm khảo sát thực tế… tăng thêm sự phong phú, sinh động và tính xác thực
của luận án.



12
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của
luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1959 - 1975
Trong chương này, sau khi khái quát quan hệ Việt Nam - Cuba trước năm 1959,
chúng tôi trình bày những nội dung chính như: bối cảnh lòch sử thời điểm thiết lập
quan hệ Việt Nam - Cuba, với những nét cơ bản về tình hình thế giới, khu vực, bước
phát triển mới của cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và công cuộc xây
dựng chế độ XHCN ở Tây bán cầu của nhân dân Cuba và bước chuyển giai đoạn của
cách mạng Việt Nam; quan hệ chính trò, ngoại giao và hợp tác quốc phòng; hợp tác
kinh tế, KHKT và trao đổi thương mại; hợp tác về y t , văn hóa, giáo dục và một số
lónh vực khác.
Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1975 - 1991
Trong chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề chính như: hoàn cảnh lòch sử
mới của bước phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba; quan hệ chính trò, ngoại giao;
hợp tác kinh tế, KHKT và trao đổi thương mại; hợp tác y tế, văn hóa - nghệ thuật,
giáo dục - đào tạo và một số lónh vực hợp tác khác giữa hai nước từ năm 1975 đến
năm 1991.
Chương 3: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1991 - 2005
Nội dung chính của chương này bao gồm: những biến động to lớn và sâu sắc của
tình hình thế giới và khu vực từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ
XX tác động đến quan hệ Việt Nam - Cuba; đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại
của Việt Nam; “thời kỳ đặc biệt trong hòa bình” của Cuba; quan hệ chính trò, ngoại
giao và hợp tác về quốc phòng - an ninh; những nét cơ bản về hợp tác kinh tế, đầu
tư, trao đổi thương mại và các lónh vực hợp tác khác.
Chương 4: Đặc điểm, bài học kinh nghiệm và triển vọng quan hệ Việt Nam Cuba những thập niên đầu thế kỷ XXI.
Trên cơ sở diễn tiến lòch sử của mối quan hệ Việt Nam - Cuba trong suốt 47 năm
(1959 - 2005), chương này chúng tôi tập trung phân tích những đặc điểm và bài học



13
kinh nghiệm được rút ra từ mối quan hệ giữa hai nước trong thời gian trên, đồng thời
trên cơ sở những căn cứ xác đáng, tác giả luận án nêu lên triển vọng mối quan hệ
Việt Nam - Cuba trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Cuối mỗi chương của luận
án đều có phần tiểu kết.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
6.1. Luận án là công trình khoa học đầu tiên đã phục dựng bức tranh toàn cảnh,
có hệ thống và khá toàn diện về lòch sử quan hệ Việt Nam - Cuba từ khi cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc Cuba thành công, nền Cộng hòa Cách mạng Cuba được
thành lập (1-1-1959) đến năm 2005 trong bối cảnh thế giới và khu vực đầy biến
động phức tạp với những bước thăng trầm của nó.
6.2. Luận án cung cấp những cứ liệu lòch sử và luận chứng khoa học thuyết phục
để góp phần khẳng đònh mối quan hệ hữu nghò truyền thống, hợp tác toàn diện Việt
Nam - Cuba được xây đắp trên cơ sở vững chắc, trở thành mối quan hệ quốc tế điển
hình và tiêu biểu trong các mối quan hệ quốc tế của thời đại ngày nay.
6.3. Những bài học kinh nghiệm, kết luận được rút ra, những kiến nghò được đề
xuất có thể góp phần giúp các cơ quan chức năng Việt Nam tham khảo trong việc
hoạch đònh phương hướng, xây dựng chương trình hợp tác toàn diện, lâu dài và bền
vững, nhằm không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa hai dân tộc và
nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba.
6.4. Những kết quả nghiên cứu và tư liệu thu thập được có thể dùng làm tài liệu
tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, tìm hiểu
về quan hệ Việt Nam - Cuba nói riêng và quan hệ quốc tế thời kỳ hiện đại của Việt
Nam nói chung.
6.5. Công trình nghiên cứu hoàn thành, trong chừng mực nhất đònh có thể góp
phần khiêm tốn vào việc thắt chặt và tăng cường mối quan hệ đoàn kết hữu nghò
Việt Nam - Cuba cả trong hiện tại và tương lai.



14
Chương 1

QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA 1959 - 1975
1.1. KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA TRƯỚC NĂM 1959
Việt Nam và Cuba xa nhau nửa vòng trái đất – một nước ở Đông Nam Á bên bờ
Thái Bình Dương, một nước ở trên hải đảo trong vùng biển Caribê thuộc Đại Tây
Dương. Hai nước có ngôn ngữ, lòch sử và hai nền văn hóa rất khác nhau. Đến thời
cận - hiện đại, hai dân tộc luôn có nhiều điểm tương đồng trong sự nghiệp đấu tranh
chống chủ nghóa thực dân , chủ nghóa đế quốc; về tinh thần kiên cường, bất khuất đấu
tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho nhân loại. Việt Nam và Cuba đều là những
dân tộc cần cù, thông minh, anh dũng và sáng tạo. Hơn thế nữa, hai nước đều đi lên
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên đònh với chủ nghóa Mác - Lênin và cùng
chung lý tưởng xây dựng CNXH.
So với quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia khác thì quan hệ Việt Nam Cuba có phần muộn màng hơn. Tuy nhiên, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX,
khi cả Việt Nam và Cuba còn nằm dưới ách thống trò của thực dân nước ngoài, cùng
chung kiếp nô lệ, đã có một người con ưu tú của dân tộc Cuba sớm biết đến Việt
Nam. Đó chính là Jose Marti, nhà yêu nước vó đại, nhà tư tưởng và văn hóa lỗi lạc,
người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, được nhân dân
Cuba tôn vinh là vò “Thánh Tông đồ” của nền độc lập Cuba. Chính ông là người đã
có bài viết với tựa đề “Cuộc dạo chơi trên đất An Nam” (Un paseo por La tierra de
los Anamitas), được đăng trong Tạp chí Tuổi vàng dành cho thiếu nhi Cuba. Nội
dung bài viết “kể về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt là cuộc vật lộn của
nhân dân An Nam với thiên nhiên, với sự thống trò tàn bạo của chủ nghóa thực dân
Pháp, bóc lột và cướp đoạt tàn nhẫn tài nguyên thiên nhiên và chà đạp thô bạo lên
nhân cách con người lao động Việt Nam”[10, 2-12-2005]. Nhờ bài viết đó, nhân dân
Cuba và Mỹ Latinh mới bắt đầu hiểu chút ít về Việt Nam, và chính vì thế, bài viết
được đăng tải rộng rãi không chỉ ở Cuba mà còn ở Mỹ Latinh. Sau này, trong cuộc



15
trò chuyện với Thủ tướng Cuba Fidel Castro, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói,
chính Jose Marti là người Mỹ Latinh đầu tiên hiểu về Việt Nam. Và đến ngày nay,
mỗi lần nghó tới quan hệ Cuba - Việt Nam, mọi người đều thừa nhận rằng, chính
Jose Marti là người gieo mầm cho mối quan hệ hữu nghò giữa hai nước.
Đối với nhân dân Việt Nam, “thế kỷ XIX trở về trước, cũng ít có người biết đến
Cuba”[151, tr.94]. Đầu thế kỷ XX, người Việt Nam mới biết có một nước Cuba ở
Tây bán cầu. Đó là một vài trí thức may mắn được du học tại châu Âu hoặc ít nhiều
có đọc sách báo thì biết rằng, Cuba là một đảo quốc nhỏ thuộc quần đảo Antillas ở
vùng biển Caribê, miền Trung Mỹ xa xôi, nơi sản xuất xì gà La Habana nổi tiếng.
Người Việt Nam đầu tiên hiểu biết sâu sắc về Cuba phải nói đó là Nguyễn Ái Quốc
– Hồ Chí Minh. Chính Nguyễn Ái Quốc đã từng tiếp xúc với các đồng chí Cuba
trong Quốc tế Cộng sản vào những năm 20 thế kỷ trước, nhờ đó khi cuộc Cách mạng
Cuba mở đầu bằng cuộc tiến công pháo đài Moncada của Phong trào 26-7-1953 kết
hợp những cuộc đấu tranh chính trò, nổi dậy của quần chúng ở các đô thò, Người đã
nhìn thấy tiền đồ vẻ vang của nó. Và “với tầm nhìn chiến lược, Chủ tòch Hồ Chí
Minh đã sớm nhận thấy vò trí và vai trò của Cách mạng Cuba đối với phong trào
chống đế quốc, giải phóng dân tộc trên thế giới”[214, tr.66].
Sự kiện ngày 1-1-1959 đã làm cho nhiều người Việt Nam hướng về một dân tộc
ở châu Mỹ, nơi nhân dân Cuba nổi dậy đánh đổ một chế độ độc tài do đế quốc Mỹ
nuôi dưỡng và xây dựng, cũng có nghóa là lần đầu tiên đánh đổ chủ nghóa thực dân
mới của Mỹ ở châu Mỹ Latinh. Không cam chòu thất bại, sau đó, Mỹ thi hành chính
sách phục thù toàn diện đối với Cuba.
Sau khi đánh đổ chủ nghóa thực dân cũ của Pháp (7-1954), Việt Nam lại phải
đương đầu với chế độ thực dân mới do Mỹ thiết lập ở miền Nam, đó là chính quyền
tay sai Ngô Đình Diệm.
Lòch sử đã xếp đặt, Việt Nam và Cuba trở thành hai lực lượng xung kích cách
mạng chống một tên đế quốc khổng lồ. Khẩu hiệu chiến lược của Cuba là “Tổ quốc
hay là chết, chúng ta nhất đònh thắng” và của Việt Nam là “Thà hi sinh tất cả chứ



16
nhất đònh không chòu mất nước, không chòu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập tự
do”. Do hoàn cảnh lòch sử của thời đại đã làm cho hai dân tộc gần gũi nhau, thông
cảm, gắn bó với nhau và chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, mối tình đoàn kết
hữu nghò ấy đã trở thành tình anh em chiến đấu, mẫu mực cho tình hữu nghò giữa các
dân tộc trong thời đại ngày nay. Và, như lời cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:
“Việt Nam và Cuba là anh em sinh đôi cùng chung một chiến hào chống Mỹ”[151,
tr.94]. Sự đoàn kết giữa hai dân tộc tất yếu tăng thêm sức mạnh của cuộc chiến đấu
chống kẻ thù chung. Hai dân tộc và nhân dân hai nước đã gặp nhau, tình hữu nghò
tuy mới mẻ nhưng nồng nàn, đượm vẻ truyền thuyết, chiến đấu bên nhau, sẵn sàn g
hi sinh vì nhau, chia sẻ cho nhau những của cải vật chất ít ỏi của mình không hề tính
toán thiệt hơn và lại càng không bao gi sợ sự trả thù của đế quốc Mỹ.
1.2. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐIỂM THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM CUBA
1.2.1. Những nét cơ bản tình hình thế giới, khu v c
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với việc đánh bại hoàn toàn chủ nghóa phát xít,
tương quan so sánh lực lượng có sự thay đổi căn bản, “một trật tự thế giới mới được
hình thành, chấm dứt ưu thế tuyệt đối của chủ nghóa đế quốc và các thế lực phản
động trong mối quan hệ quốc tế”[169, tr.12].
Lần đầu tiên trong lòch sử, hệ thống các nước XHCN đã hình thành từ châu Âu
sang châu Á với số dân gần 1 tỷ người, tạo nên thế liên hoàn hỗ trợ, giúp đỡ nhau
xây dựng CNXH và phối hợp với nhau trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghóa đế
quốc.

ây là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau chiến tranh thế giới thứ

hai. Sự kiện này làm thay đổi so sánh lực lượng trên vũ đài quốc tế, có lợi cho Liên
Xô và các nước XHCN. Với tư cách là một hệ thống thế giới, các nước XHCN đứng
đầu là Liên Xô đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Liên Xô đã trở thành
một cường quốc có uy tín, có ảnh hưởng rất lớn và là một nhân tố không thể thiếu

trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Trên cơ sở đó, đầu năm 1949, Hội đồng


17
tương trợ kinh tế (SEV) được thành lập gồm các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô
nhằm mục đích tăng cường hợp tác đa phương giữa các nước XHCN.
Năm 1949, các nước phương Tây đã thành lập Liên minh quân sự Bắc Đại Tây
Dương (NATO), tiếp đó họ phục hồi và tái vũ trang Tây Đức, cuối cùng là quyết
đònh kết nạp Tây Đức vào NATO, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của Liên Xô và
các nước XHCN khác. Trước tình hình đó, tháng 5-1955, Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu đã kí kết “Hiệp ước hữu nghò, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau” (còn
gọi là khối Hiệp ước Vácsava). “Trong khuôn khổ tổ chức Hiệp ước Vácsava, những
mối quan hệ chính trò và quân sự giữa các nước XHCN được củng cố và hình thành
cơ chế phối hợp thường xuyên trên lónh vực đối ngoại”[169, tr.13].
Nhằm đối phó lại âm mưu đẩy lùi CNXH với học thuyết “Trả đũa ồ ạt” (ra đời
đầu những năm 50 của thế kỷ trước) dựa trên ưu thế về vũ khí chiến lược của Mỹ,
Liên Xô đã có những cố gắng lớn trong việc bảo vệ những thành quả cách mạng của
cộng đồng XHCN bằn g việc thúc đẩy nhanh chóng nền KHKT quân sự và đạt được
những thành tựu rực rỡ nh : thử thàn h công bom nguyên tử (9-1949), chế tạo thành
công máy bay ném bom chiến lược và tàu ngầm nguyên tử (cu i nh ng n m 50). Đặc
biệt, Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới phóng thành công vệ tinh lên vũ trụ
(1957), đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nền khoa học Xô Viết [169].
Có thể khẳng đònh rằng, cho đến cuối những năm 50 (thế kỷ XX), hệ thống
XHCN thế giới ra đời, được củng cố và ngày càng phát triển thể hiện qua các mối
quan hệ liên kết chặt chẽ và đa dạng. Hệ thống này trở thành đối trọng hữu hiệu
trước chủ nghóa tư bản (CNTB), tạo ra cục diện có lợi cho CNXH, cho phong trào
giải phóng dân tộc. Vào thời điểm năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận
xét: “Chiến thắng của quân đội Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai đưa lại
những thay đổi to lớn trên thế giới… Phe XHCN đứng đầu là Liên Xô ra đời và ngày
càng lớn mạnh… Từ 13 năm nay, hệ thống XHCN đã có ảnh hưởng ngày càng sâu

rộng đối với toàn bộ tình hình thế giới”[119, tr.83]. Trong lòch sử quan hệ quốc tế ra
đời một loại quan hệ quốc tế kiểu mới song phương và đa phương giữa các nước


18
XHCN với nhau. Tuy còn nhiều vấn đề tồn tại và bước đầu nảy sinh những bất đồng,
nhưng có thể nói từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 50, quan hệ
giữa các nước XHCN về cơ bản là tốt, sự hợp tác tương trợ được phát huy hiệu quả,
làm tăng cường sức mạnh về mọi mặt và giúp cho các nước XHCN tăng cường tiềm
lực và nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Hệ thống XHCN thế giới trở thành chỗ
dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ,
chống lại chính sách gây chiến xâm lược của các nước đế quốc và ngày càng trở
thành nhân tố không thể thiếu được trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế [128].
Được sự cổ vũ bởi những chiến thắng chủ nghóa phát xít và nhất là trình độ giác
ngộ của nhân dân đã được nâng cao, sau chiến tranh thế giới thứ hai phong trào giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc đòa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ, làm cho hệ
thống thuộc đòa của chủ nghóa đế quốc bắt đầu tan rã. Các nước đế quốc buộc phải
từng bước rút lui và thừa nhận nền độc lập của các dân tộc. Đi đầu phong trào giải
phóng dân tộc là các nước Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, được các chính
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, nên
cuộc đấu tranh hết sức gay gắt và quyết liệt. Thực tế ở những nước này đã nổ ra
cuộc đụng độ về ý thức hệ.
Đại đa số các nước thuộc đòa và nửa thuộc đòa khác đã giành được độc lập chính
trò và đi theo con đường dân tộc chủ nghóa. Về chính sách đối ngoại, họ có khuynh
hướng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược, nhưng muốn đứng trung lập giữa hai
hệ thống chính trò nhằm tranh thủ viện trợ của cả hai phe, họ tự coi là “Thế giới thứ
ba” và nổ lực liên kết với nhau trong các tổ chức khu vực, trong Phong trào Không
liên kết và đặc biệt tại các diễn đàn Liên Hợp Quốc. Sự tham gia ngày càng tích cực
của các nước Á, Phi, Mỹ Latinh với tư cách là chủ thể mới vào các hoạt động quốc
tế, làm cho quan hệ quốc tế dần dần mang tính chất toàn cầu. Chính sách đối ngoại

của các nước mới độc lập, tuy có mặt hạn chế, song về cơ bản phù hợp với mục tiêu
đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các nước


19
XHCN, cho nên trong nhiều vấn đề lớn của thời đại, họ thường có chung lập trường
với các nước XHCN.
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt
nhất và tàn phá nặng nề nhất trong lòch sử nhân loại. Riêng Mỹ là nước thắng trận
duy nhất không bò chiến tranh tàn phá, lại còn giàu lên rất nhiều và trở thành nước
đứng đầu thế giới tư bản chủ nghóa (TBCN). Đồng thời Mỹ cũng trở thành cường
quốc số 1 về quân sự. Các nước tư bản châu Âu và Nhật Bản đã phải dựa vào sự
giúp đỡ của Mỹ để phục hồi nền kinh tế kiệt quệ của mình. Đây chính là cơ hội tốt
nhất để Mỹ vươn lên nắm quyền lãnh đạo thế giới TBCN. Trên thực tế, Mỹ đã thông
qua “viện trợ” kinh tế buộc các nước tư bản phải chấp nhận những điều kiện của
Mỹ, chòu sự khống chế của Mỹ về chính trò, nói cách khác là phải tuân theo những
chiến lược và chính sách mà Mỹ đònh ra. Đến giữa thập niên 50, Mỹ đã xác lập được
vai trò lãnh đạo Tây Âu và Nhật Bản. Tuy nhiên, sự “chấp thuận” của các nước này
cũng chỉ là tạm thời, cuộc đấu tranh chống lại sự khống chế của Mỹ tất yếu sẽ diễn
ra [128, tr.10-11].
Vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã nhìn nhận Liên Xô
như một lực lượng chính có khả năng lớn nhất, có thể cản trở giấc mộng bá chủ thế
giới của mình. Khi thất bại của phe Trục trở nên tất yếu, cũng là lúc Mỹ bắt đầu thi
hành chính sách nhằm kìm chế Liên Xô. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính sách
này ngày càng trở nên kiên quyết, theo chiều hướng đối đầu, dẫn đến sự tan rã của
liên minh Xô - Mỹ. Cùng lúc đó, các nước tư bản đế quốc lại phải đối phó với phong
trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở các thuộc đòa cũ và phong trào
đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
ở chính quốc, càng làm cho tình hình chính trò ở một số nước không ổn đònh.
Để xoa dòu những mâu thuẫn nội bộ, giai cấp tư bản thống trò ở các nước phương

Tây tìm cách chỉa mũi nhọn đấu tranh của nhân dân ra bên ngoài, cho rằng CNXH
mà thành trì là Liên Xô và các nước XHCN khác là nguồn gốc dẫn đến các cuộc
khủng hoảng ở các nước tư bản và hệ thống thuộc đòa. Do đó một cuộc chiến tranh –


20
còn gọi là “Chiến tranh lạnh” nhằm khuất phục Liên Xô và các lực lượng XHCN đã
bùng nổ và ngày càng lan rộng trên qui mô toàn cầu. Chiến tranh lạnh là cuộc đối
đầu giữa một bên là các lực lượng đế quốc do Mỹ cầm đầu và bên còn lại là các lực
lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình do Liên Xô là trụ cột, trên tất cả các lónh vực
kinh tế, chính trò, tư tưởng, ngoại giao, văn hóa, chạy đua vũ trang… ngoại trừ đối
đầu trực tiếp bằng quân sự. Cuộc chiến tranh trong hòa bình này đã kéo dài hơn bốn
thập kỷ và tác động rất lớn đến chiều hướng phát triển của các mối quan hệ quốc tế
[176, tr.17].
Đông Nam Á là một trong những khu vực căn g thẳng nhất trong thời kì chiến
tranh lạnh. Ngay sau khi Hiệp đònh Genève về Đông Dương được ký kết (7-1954),
các nước đế quốc đứng đầu là Mỹ đã nghó ngay đến những biện pháp đối phó với
phong trào giải phóng dân tộc và các nước XHCN ngày càng lớn mạnh ở châu Á.
Chính vì thế, tháng 9-1954, Mỹ đã lôi kéo được 7 nước (Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu
Dilân, Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam
Á” (Southeast Asia Treaty Organization - SEATO)(*). “Thực chất đây là một liên
minh quân sự, trong đó các nước tham gia cam kết phối hợp hành động để chống lại
phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này”[128, tr.82]. Không còn nghi ngờ gì
nữa, SEATO thành lập dưới sự lãnh đạo của Mỹ nhằm chống lại phong trào giải
phóng dân tộc ở châu Á, trước hết là ở Việt Nam và Trung Quốc. Liên minh đó cũng
là một bộ phận trong hệ thống bao vây các nước XHCN bằng những căn cứ quân sự,
nằm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ.
Trong khi đó khu vực Mỹ Latinh từ lâu được coi là “sân sau” của Mỹ. Từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ củng cố ảnh hưởng ở khu vực này bằng cách tăng
cường đầu tư trực tiếp và thu được những khoản lợi nhuận rất lớn. Về mặt chính trò,

Mỹ khống chế Mỹ Latinh bằng các Hiệp ước ký kết giữa các nước châu Mỹ như:
Hiệp ước Chapultepec (Mêhicô) năm 1945, Hiệp ước Rio de Janeiro (Brazil) năm
1947, Hiệp ước Bogota (Côlômbia) năm 1948 và Hiến chương Tổ chức các nước
(*) Có sách dòch là “Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á”.


21
châu Mỹ có hiệu lực từ tháng 12-1951. Tùy theo tình hình quan hệ với Liên Xô và
mức độï hoạt động của các phong trào cách mạng, tiến bộ của nhân dân Mỹ Latinh
mà tính chất chống cộng sản được gia giảm trong các văn kiện. Ở Hội nghò Caracas
(3-1954), trong lúc chiến tranh lạnh đang tăng cao thì một nghò quyết mang tính chất
chống cộng sản mạnh mẽ hơn được thông qua theo đề nghò của Mỹ.
Th c t , từ nửa cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Mỹ Latinh không còn là
“sân sau” yên ổn của Mỹ nữa, trở thành “Lục đòa bùng cháy”. Khắp nơi đều có
phong trào đấu tranh của nhân dân đòi dân sinh, dân chủ và đòi chính phủ phải có
chính sách bớt lệ thuộc vào Mỹ. Nhiều nơi diễn ra đấu tranh vũ trang như Bôlivia,
Vênêzuêla, Côlômbia, Nicargoa… [128, tr.273]. Cách mạng giải phóng dân tộc Cuba
thành công đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Mỹ Latinh đấu tranh chống ách áp chế, mở
ra cho nhân dân các nước con đường độc lập thực sự và tiến bộ xã hội.
1.2.2. Cuba sau thắng lợi của cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc
Trong bối cảnh thế giới và khu vực nói trên, năm 1953, cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc ở Cuba đã nổ ra và giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 1-1-1959. Về
tính chất của cuộc cách mạng Cuba, lúc đầu, theo như Báo cáo của Đảng Xã hội nhân
dân Cuba thì “đây là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và ruộng đất, là một
cuộc cách mạng yêu nước và dân chủ, một cuộc cách mạng nhân dân tiên tiến”[126,
tr.9]. Nhưng Đảng Xã hội nhân dân Cuba cũng nhận đònh rằng, sự phát triển phù hợp
với logic của cách mạng sẽ dẫn đến CNXH. Sự phát triển đó, nhanh hay chậm là do
nhân dân Cuba quyết đònh, trong điều kiện phát triển của tình hình thế giới.
Ngày 2-1-1959, Chính phủ liên hiệp lâm thời Cuba được thành lập. Thời kỳ đầu,
chính phủ này còn bò những phần tử cơ hội và phản động len vào thao túng. Chức vụ

Tổng thống và Thủ tướng chính phủ đều nằm trong tay những kẻ sẵn sàng theo lệnh
Mỹ. Fidel Castro Ruz bấy giờ làm Tổng Tư lệnh quân đội cách mạng. Trước tình hình
đó, Đảng Xã hội nhân dân Cuba đã nêu khẩu hiệu: “Tất cả quyền lực cách mạng
chuyển vào tay quân đội”[126, tr.8]. Trên cơ sở đó, Đảng Xã hội nhân dân Cuba phối
hợp chặt chẽ với Fidel Castro tiến hành thanh lọc chính phủ. Bọn phản động cơ hội, từ


22
tên Tổng thống trở xuống, đều bò gạt ra ngoài chính phủ cách mạng, nhiều tên trong
bọn chúng đã chạy trốn sang cầu cứu đế quốc Mỹ, hòng dựa vào lực lượng quân sự
bên ngoài để cứu vãn lại quyền lợi và đòa vò của chúng. Nhưng âm mưu của chúng bò
thất bại, cách mạng Cuba ngày càng củng cố và phát triển, nhân dân Cuba ngày càng
kiên quyết bảo vệ những thành quả của cách mạng mà mình đã mang xương máu ra
để giành lại.
Tháng 2-1959 Fidel Castro trở thành Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Cuba.
“Tuy chưa phải là đảng viên Cộng sản, nhưng Fidel chòu ảnh hưởng của CNXH, đã
thi hành một loạt chính sách tiến bộ”[128, tr.170]. Ngay năm đầu tiên, chính quyền
Cộng hòa cách mạng đã ban bố một loạt sắc luật về Cải cách ruộng đất (5-1959), Cải
cách đô thò (10 -1960), sắc luật về quốc hữu hóa tư bản nước ngoài và toàn bộ các xí
nghiệp công nghiệp… rồi sau đó tuyên bố xây dựng CNXH ở Cuba. Rõ ràng, tình hình
phát triển ở Cuba trực tiếp đánh vào quyền lợi của tư bản độc quyền Mỹ ở Cuba với
tài sản trò giá khoảng 1 tỷ USD và là một đòn đã kích mạnh mẽ vào chiến lược của đế
quốc Mỹ ở Tây bán cầu.
Khi Cách mạng Cuba v a m i thành cơng, những hành động xâm lược công khai
của Mỹ chống Cuba chưa lộ rõ. Bởi vì, Mỹ đã rất chủ quan cho rằng, với sức mạnh
đang ở đỉnh cao của Mỹ có thể làm thay đổi được đường lối của Chính phủ cách mạng
Cuba bằng những biện pháp kinh tế và ngoại giao mà không cần phải vũ trang xâm
lược trực tiếp. Trong nhận thức của Mỹ, cũng như một số nước Mỹ Latinh, cách mạng
Cuba chẳng qua chỉ là một cuộc đảo chính nhà nước hoặc như những phong trào dân
chủ khác nhằm lật đổ chế độ độc tài thường xảy ra ở khu vực, như ở Pêru (1956),

Côlômbia (1957) hay ở Vênêzuêla (1958). Hơn nữa, Mỹ đã lầm tưởng, Fidel Castro –
linh hồn của cách mạng Cuba – chỉ là một chiến só yêu nước muốn thay thế chính
quyền độc tài bằng một chính quyền dân chủ hơn [169, tr.19].
Quả là điều bất ngờ đối với Mỹ, cách mạng Cuba là cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc lấy chủ nghóa Mác - Lênin làm ngọn cờ tư tưởng, một trường hợp điển hình ở
châu Mỹ Latinh [169]. Và dần dần Mỹ tỏ ra rất lo ngại, nhanh chóng tìm cách trả đũa


23
lại bằng cách cấm vận thương mại, bao vây kinh tế và cắt quan hệ ngoại giao hoàn
toàn với Cuba. Hơn nữa, chính phủ Mỹ còn tìm cách tiêu diệt cách mạng Cuba đang
có nguy cơ lan rộng sang các nước khác ở khu vực Mỹ Latinh. Đặc biệt, Mỹ huấn
luyện và vũ trang cho một bộ phận người Cuba lưu vong phản động, chuẩn bò đổ bộ
lên vònh Giron ở phía Nam Cuba nhằm lật đổ chính phủ Fidel và thủ tiêu thành quả
cách mạng.
Sự can thiệp và lật đổ của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Cuba bò thất bại, Fidel
Castro công khai tuyên bố đưa cách mạng Cuba đi lên CNXH, một nơi xưa nay vẫn là
khu vực ảnh hưởng truyền thống của Mỹ, chỉ cách Mỹ hơn 90 dặm, là một đòn tấn
công mạnh mẽ vào chính sách của đế quốc Mỹ muốn biến châu Mỹ thành “sân sau”
của mình. Đồng thời, Cách mạng Cuba thành công và tuyên bố đứng trong hàng ngũ
các nước XHCN là một thắng lợi có ý nghóa lớn lao của CNXH.
Đế quốc Mỹ coi thắng lợi của cách mạng Cuba như một sự thách thức đối với
chính sách bá quyền của họ ở châu Mỹ Latinh, cần phải trừng phạt, bao vây, cô lập,
thậm chí tìm cách ám sát lãnh tụ của nhân dân Cuba, hòng xóa bỏ ngọn cờ CNXH ở
Tây bán cầu.

c bi t, ngày 3-10-1960, hai Viện của Quốc hội Mỹ tuyên bố trung

thành với Học thuyết Mơn-rô, mà nội dung chủ yếu là cấm các nước bên ngoài châu
Mỹ can thiệp vào công việc của châu Mỹ, và nếu cần sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn

mọi “hành động lật đổ hoặc xâm lược” ở Tây bán cầu . Thực chất, đây là tuyên bố
chống lại các cuộc cách mạng của nhân dân Mỹ Latinh mà trước tiên là cách mạng
Cuba [128, tr.171-172].
Chính phủ Mỹ có lập trường thù đòch với Chính phủ Cách mạng Cuba, điều đó đã
làm sâu sắc hơn tình cảm dân tộc chống Mỹ của nhân dân Cuba, thôi thúc chính phủ
Cuba đi theo con đường khác với Mỹ và xây dựng mối quan hệ ngày càng mật thiết
với Liên Xô và các nước XHCN. Thủ tướng Fidel Castro và các nhà lãnh đạo Cuba
rất nhạy bén với thời cuộc và hiểu rằng, muốn duy trì được một nền độc lập dân tộc
thật sự thì độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. “Công cuộc giải phóng dân tộc và
giải phóng xã hội của chúng ta gắn bó chặt chẽ với nhau, tiến lên là một tất yếu lòch


24
sử, dừng lại là hèn nhát và phản bội”[85, tr.38]. Để bảo vệ thành quả của cách mạng,
chính phủ Fidel Castro đẩy mạnh cải tạo và xây dựng CNXH ở trong nước, mặt khác
dựa vào các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô để đấu tranh với sự đe dọa xâm lược
của đế quốc Mỹ.
Với nhận thức đúng đắn đó, đã dẫn tới bước phát triển mới của tiến trình lòch sử
cách mạng Cuba. Đó là việc Cuba thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô (5-1960)
và các nước XHCN khác trong năm 1960, trong đó có nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đang là ngọn cờ tiêu biểu cho độc lập dân tộc và CNXH ở Đông Nam Á, chỗ dựa
vững chắc và là người bạn đáng tin cậy của cách mạn g Cuba [169].
1.2.3. Bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ từng bước bành trướn g vào châu Á
nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Cuối năm 1949, một văn kiện quan trọng của
Ủy ban an ninh quốc gia Mỹ đã chỉ ra rằng: “An ninh ở Đông Nam Á đối với Mỹ là
cực kỳ quan trọng, nếu nó rơi vào tay cộng sản thì ảnh hưởng của nó sẽ mang tính thế
giới… Mặc dù bản thân Đông Nam Á chỉ có ý nghóa chiến lược thứ yếu, nhưng nó đã
trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trên tuyến ngăn chặn trong toàn bộ chính
sách châu Á của Mỹ”[176, tr.127].

Đặc biệt đối với Việt Nam, từ năm 1950, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào
cuộc chiến tranh của thực dân Pháp. Mỹ đã vứt bỏ chính sách “trung lập”, bắt đầu
công khai ủng hộ, tích cực giúp đỡ Pháp và chính quyền bù nhìn Bảo Đại về quân sự
và kinh tế… Từ năm 1950 đến 1954, Mỹ đã viện trợ quân sự cho Pháp 2,6 tỷ USD,
chiếm 78% chi phí của Pháp trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương [176, tr.128].
Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam,
hất cẳng Pháp và từ đó biến Việt Nam thành nơi thí nghiệm các chiến lược, chiến
thuật của Mỹ, hòng đánh bại cách mạng Việt Nam và rút kinh nghiệm để đối phó với
phong trào cách mạng thế giới.
Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của
nhân dân Việt Nam, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến


25
miền Nam Việt Nam thành thuộc đòa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng
tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời lấy miền Nam làm
căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống XHCN thế giới ở Đông Nam Á,
hòng đè bẹp và đẩy lùi CNXH ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước XHCN khác.
“Đế quốc Mỹ chắc mẩm có thể khuất phục được nhân dân Việt Nam mà không bò
trừng phạt và không gây ra xung đột quốc tế mở rộng do có sự bất hòa trong hệ thống
XHCN”[101, tr.294]. Đất nước Việt Nam, vì vậy, trở thành nơi thử thách sức mạnh và
uy tín của đế quốc Hoa Kỳ, như chính gi i cầm quyền Mỹ đã thú nhận.
Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn
cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Mỹ muốn chứng tỏ rằn g, lực lượng quân sự và
kinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặn
đứng bước tiến của CNXH ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Cuối những năm 50, trên cơ sở nhận đònh tình hình miền Nam dưới chế độ Mỹ Diệm, Hội nghò l n th 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (11959) đã xác đònh: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền
Nam là khởi nghóa giành chính quyền về tay nhân dân, bằng lực lượng chính trò của
quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân”[177, tr.117]. Đây là
quyết đònh táo bạo và sán g suốt của Đảng ta, là bước chuyển hướng quan trọng của

cách mạng miền Nam từ đấu tranh hòa bình, đòi hiệp thương tổn g tuyển cử thống
nhất đất nước sang đấu tranh vũ trang khởi nghóa giành chính quyền.
Trong khi đó miền Bắc, hậu phương lớn của miền Nam, đến năm 1960, tuy đã
hoàn thành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, những nhiệm vụ lòch sử
của cách mạng dân chủ nhân dân được thực hiện, song do hậu quả của hàng nghìn
năm phong kiến và gần một thế kỷ dưới ách thống trò của thực dân đế quốc, của
những năm tháng chiến tranh ác liệt nên cơ sở vật chất còn rất nghèo nàn, lạc hậu.
Nhà nước dân chủ nhân dân đang phải đứng trước những nhiệm vụ to lớn, nặng nề
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.


×