1
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
….......
TRẦN CẨM HƯỜNG
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG
PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
(Qua khảo sát thực tế tại trường Trung học phổ thông Phú Tân,
huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THÁI SƠN
Đồng Tháp, 2013
2
BẢNG QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT
BGH
: Ban giám hiệu
CB
: Cán bộ
GDCD
: Giáo dục công dân
GD - ĐT
: Giáo dục đào tạo
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
PPDH
: Phương pháp dạy học
PPTT
: Phương pháp thuyết trình
PPTCTCHT
: Phương pháp tổ chức trò chơi học tập
LĐ
: Lãnh đạo
LTN
: Lớp thực nghiệm
LĐC
: Lớp đối chứng
NV
: Nhân viên
SGK
: Sách giáo khoa
THPT
: Trung học phổ thông
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục chính
trị, Phòng Sau Đại học - Trường Đại học Vinh và các thầy giáo, cô giáo đã tham
gia giảng dạy tôi trong khoá học, đã dành nhiều tâm huyết truyền đạt những tri
thức quý báu, giúp tôi hoàn thành khoá học và luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thái Sơn - Người Thầy
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô trong hội đồng khoa
học, những người đã góp ý xây dựng đề cương luận văn giúp tôi thực hiện thành
công luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên môn GDCD
trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; gia đình và bạn bè đã động
viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Cà Mau, tháng 9 năm 2013
Người thực hiện
Trần Cẩm Hường
4
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP
Trang
5
11
11
PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI
HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN
1.1. Cơ sở lí luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và
11
phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công
dân
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và
31
phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công
dân trong trường Trung học phổ thông Phú Tân
Kết luận chương 1
Chương 2: THỰC NGHIỆM KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
41
43
VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG PHÚ TÂN, HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
2.1. Kế hoạch thực nghiệm
2.2. Nội dung thực nghiệm
2.3. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm
Kết luận chương 2
Chương 3: QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KẾT HỢP PHƯƠNG
43
43
68
73
75
PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
3.1. Quy trình kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ
75
chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung
học phổ thông
3.2. Một số giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình và phương
pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân trong
83
5
trường Trung học phổ thông
Kết luận chương 3
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
E. PHỤ LỤC
106
108
110
113
6
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của xã hội, ngành GD - ĐT
đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy và học. Trước tiên
phải kể đến việc xây dựng chương trình đổi mới từ Tiểu học đến Đại học, chương
trình đào tạo bồi dưỡng GV, đổi mới PPDH và đánh giá HS…..
Trong xu hướng cải cách và phát triển ngành giáo dục Việt Nam hiện nay nói
chung, bộ môn GDCD nói riêng đã và đang được Đảng, Nhà nước, Bộ GD - ĐT,
các ngành … ngày càng quan tâm. Đặc biệt, gần đây Thông tư 58/2011/PPTT - Bộ
GD - ĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ GD - ĐT về ban hành Quy chế đánh
giá, xếp loại HS trung học cơ sở và trung học phổ thông ra đời. Tại điều 3 Quy chế
này nêu rõ: “Kết quả nhận xét các biểu hiện về thái độ, hành vi của HS đối với nội
dung dạy học môn GDCD quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp
trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ GD - ĐT ban hành” sẽ là
một trong những căn cứ để xếp loại hạnh kiểm HS. Điều đó đã góp phần khẳng định
vị thế quan trọng của môn học này trong các trường phổ thông.
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tại trường THPT môn GDCD chưa thật thu
hút được sự quan tâm của các em HS. Kết quả học tập môn GDCD của HS ở
trường THPT còn thấp, các em chưa ý thức được tầm quan trọng của những phẩm
chất đạo đức trong cuộc sống, cũng như những qui định của pháp luật đối với đời
sống xã hội và sự phát triển của đất nước.
Điểm mấu chốt để giải bài toán hiệu quả dạy học môn GDCD nằm ở chỗ vận
dụng phương pháp phù hợp để truyền tải kiến thức đến người học một cách tối ưu.
Và để thực hiện điều này không thể thiếu vai trò của người thầy. Với đòi hỏi ấy,
những người giảng dạy càng lúc càng thể hiện tính quyết định đối với chất lượng
7
dạy và học. Đặc biệt hơn cả là phải biết làm chủ PPDH, bởi PPDH chính là lời giải
cho bài toán nâng cao hiệu quả dạy học.
Từ thực tế đó, đòi hỏi các thầy giáo, cô giáo cần phải không ngừng tìm tòi,
tích lũy kinh nghiệm, sáng tạo ra những ý tưởng hay, để từ đó có thể tạo ra một giờ
giảng sinh động, ấn tượng và chuyển tải kiến thức đến HS một cách hiệu quả nhất.
Tổ chức trò chơi học tập là sự lựa chọn của rất nhiều thầy cô trước áp lực thay đổi
PPDH để thu hút HS và đạt mục tiêu bài giảng. Nó là chiếc cầu nối đắc lực, hữu
hiệu và tự nhiên giữa GV và HS. Thông qua trò chơi, ý nghĩa của nội dung bài học
được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng nhưng đầy sâu sắc, dễ hiểu.
Trò chơi cũng là loại hình hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người.
Với những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy cũng như tìm hiểu, nghiên
cứu, thấy rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu về PPDH, đặc biệt là kết hợp
giữa nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, việc kết
hợp PPTT và PPTCTCHT hầu như còn rất ít. Hơn nữa, là đi sâu vào bộ môn
GDCD lại càng ít hơn. Vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Kết hợp phương pháp
thuyết trình với phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả
trong dạy học môn Giáo dục công dân (qua khảo sát tại trường THPT Phú Tân,
huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau).” làm đề tài luận văn khoa học Giáo dục, chuyên
ngành Lí luận và Phương pháp giảng dạy chính trị.
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề sử dụng Phương pháp tổ chức trò chơi học tập có
nhiều tác giả đã đề cập đến: Trò chơi học tập – Hình thức tích cực trong giảng dạy
hiện đại của Bùi Văn Thành đăng trên trang web www.pup.edu.vn; Phương pháp
giảng dạy tích cực “Trò chơi học tập”, đăng ngày 14/6/2011 trên
www.donga.edu.vn; Một số phương pháp dạy học, . Ở ba bài viết
8
này, các tác giả đề cập đến việc tổ chức trò chơi trong một tiết dạy ở bậc tiểu học
và đưa ra một số kinh nghiệm khi tổ chức trò chơi học tập.
Trong bài Tại sao phải lựa chọn phương pháp giáo dục “Trò chơi học tập”
đăng trên và bài Phương pháp trò chơi trong đổi mới phương
pháp dạy học ở tiểu học, đăng ngày 12/12/2011 trên trên cơ sở
phân tích những ưu, nhược điểm của trò chơi học tập, tác giả đã luận giải sự cần
thiết phải áp dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm giúp HS hứng thú hơn đối
với môn học. Đa số các tác giả chỉ mới dừng lại ở những kết luận chung chung,
chưa đi sâu nghiên cứu phương pháp này.
Xoay quanh vấn đề dạy học GDCD ở trường THPT có nhiều tác giả đề cập
như: Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên, Dạy và học môn GDCD ở các trường
THPT, Nhà xuất bản Đại học sư phạm - 2009; Nguyễn Văn Dũng - Phương pháp
dạy GDCD ở trường THPT, khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học Sư phạm Huế.
Trong hai tác phẩm này, các tác giả đều đã đề cập đến những phương pháp dạy học
cụ thể trong giảng dạy môn GDCD.
Về đổi mới phương pháp dạy học có các tác giả Trần Bá Hoành, Đổi mới
PPDH, chương trình và sách giáo khoa, NXB đại học sư phạm -2007; Đổi mới
PPDH môn đạo đức và GDCD tác giả Nguyễn Nghĩa Dân - 2009. Các tác giả đã đề
cập đến việc đổi mới nội dung và PPDH. Trong đó có sử dụng một số PPDH tích
cực trong dạy học GDCD.
Liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD có luận văn
thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Hòa, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy học môn GDCD - 2010.
Thực tế ở địa phương hiện nay vẫn chưa có bất cứ đề tài nào liên quan đến
phương pháp trò chơi học tập.
9
Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu tác giả thấy rằng đã có rất nhiều đề
tài về phương pháp giảng dạy GDCD trong trường THPT. Tuy nhiên vẫn chưa có
một đề tài nào đề cập đến việc sử dụng phương pháp trò chơi học tập đối bộ môn
GDCD ở trường phổ thông.
Từ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Kết hợp phương pháp thuyết trình và
phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy
học môn Giáo dục công dân (qua khảo sát tại trường Trung học phổ thông Phú
Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau)” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp là hoàn
toàn phù hợp.
Với những công trình nghiên cứu đã nêu trên là một nguồn tư liệu quý để tác
giả nghiên cứu và xây dựng luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Đề xuất kết hợp PPTT và PPTCTCHT vào dạy học môn GDCD nhằm nâng
cao hiệu quả dạy học bộ môn trong nhà trường phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ
Muốn đạt được mục đích đó, cần phải nghiên cứu làm rõ một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc kết hợp PPTT và
PPTCTCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong THPT Phú Tân,
huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Thực nghiệm kết hợp PPTT và PPTCTCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học môn GDCD trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đề xuất quy trình và một số giải pháp kết hợp PPTT và PPTCTCHT nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú
Tân, tỉnh Cà Mau.
10
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình kết hợp PPTT và PPTT trong dạy học
môn GDCD trong trường THPT.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu việc kết hợp PPTT với PPTCTCHT trong dạy học môn
GDCD khối lớp 10, 11, 12 tại trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu kết hợp tốt PPTT với PPTCTCHT trong dạy học bộ môn GDCD sẽ phát
huy được tính tích cực, tính tự lực nhận thức, tính tự giác của HS góp phần nâng
cao được hiệu quả dạy và học.
7. Ý nghĩa của Luận văn
Luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho các lớp cao học, sinh viên chuyên
ngành, GV ở các trường THPT.
Luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm vào hệ thống các PPDH bộ môn GDCD
ở các trường THPT.
Luận văn có thể được vận dụng trong thực tiễn công tác dạy học tại trường
THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
11
Luận văn sẽ được ứng dụng vào thực tiễn dạy và học nhằm nâng cao năng
lực tự học cho HS. Qua đó, nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD tại trường
THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
8. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì luận văn còn có 3
chương.
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết
trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
môn Giáo dục công dân;
Chương II: Thực nghiệm kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp
tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân
trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
Chương III: Quy trình và một số giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình
và phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn
Giáo dục công dân trong trường THPT.
12
B. NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP
THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
1.1. Cơ sở lí luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương
pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
PPDH không phải là một thực thể độc lập, vì mục đích tự thân, mà chỉ là
hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: hoạt động dạy học. Vì vậy, có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH.
Theo giáo trình Giáo dục học đại cương 2 của nhóm tác giả Bùi Thị Mùi,
Bùi Văn Ngà và Nguyễn Thị Bích Liên biên soạn thì khái niệm PPDH được trình
bày như sau: “PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của GV và HS
được thực hiện trong quá trình dạy học; trong đó cách thức dạy học của GV đóng
vai trò chủ đạo, cách thức hoạt động của HS đóng vai trò chủ động nhằm thực hiện
tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học” [38, 23].
Trong giáo trình Lí luận dạy học do phó giáo sư Lê Phước Lộc biên soạn thì
“PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động, phối hợp thống nhất giữa GV và HS
nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở nhà trường [35, 11].
Cũng có thể hiểu chung nhất về PPDH là những con đường, cách thức tiến
hành hoạt động dạy học.
13
1.1.1.2. Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là một trong những
PPDH xuất hiện sớm trong lịch sử dạy học. Cho đến ngày nay, phương pháp này
vẫn được sử dụng khá phổ biến đã đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình dạy học,
nhất là các môn khoa học xã hội và đặc biệt là các môn khoa học Mác – Lênin. Với
đặc thù tri thức bộ môn mang tính khái quát hóa cao thì PPTT là phương pháp
chiếm ưu thế hơn hẳn các PPDH khác. PPTT được gọi với nhiều tên khác nhau:
Phương pháp diễn giảng, phương pháp dùng lời, phương pháp truyền thống…Một
số quan niệm khác cũng chia PPTT ra thành 3 loại: kể chuyện, giảng giải,
diễn giảng.
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm PPTT, trong đó có một số quan
điểm đáng chú ý như sau:
Giáo dục học đại cương 2 của nhóm tác giả Bùi Thị Mùi, Bùi Văn Ngà và
Nguyễn Thị Bích Liên viết: “PPTT là phương pháp GV dùng lời nói sinh động để
trình bày tài liệu mới hoặc để tổng kết tri thức mà HS thu được” [38, 25].
Còn Phương pháp dạy học Giáo dục Công dân, tác giả Phùng Văn Bộ lại
cho rằng “PPTT là PPDH trong đó GV dùng lời nói sinh động, gợi cảm thuyết phục
để truyền thụ hệ thống tri thức GDCD cho HS theo chủ đích nhất định, nhờ vậy
người học sẽ tiếp thu bài giảng một cách có ý thức” [3, 58].
Viết trong giáo trình Dạy học và PPDH trong nhà trường, thì tác giả Phan
Trọng Ngọ cho rằng “PPTT là phương pháp GV sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập. Người học tiếp
nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lí chúng tùy theo tính chủ thể người
học và yêu cầu của dạy học” [39, 187].
14
PPTT là PPDH bằng lời nói sinh động của GV để trình bày một tài liệu mới
hoặc tổng kết những tri thức mà HS đã thu lượm được một cách có hệ thống, được
thể hiện dưới hình thức giảng giải, giảng thuật và diễn giảng phổ thông.
Như vậy, thuyết trình trong dạy học là việc người dạy dùng lời nói, hành
động, các phương tiện kĩ thuật dạy học trình bày, thuyết minh, giảng giải, phân tích
truyền tải những tri thức khoa học một cách có hệ thống logic, theo mục đích nhất
định. Do đó, người học tiếp thu tri thức một cách có ý thức theo một hệ thống logic
nhất định, nhằm thực hiện được mục đích và nhiệm vụ dạy học.
* Ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm:
Thứ nhất, với cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với logic nhận
thức và trình độ người nghe, PPTT đã chuyển tải đến người học một lượng lớn
thông tin cần thiết, phong phú, được cấu trúc theo một logic chặt chẽ, phản ánh nội
dung môn học.
Thứ hai, cho phép GV cung cấp cho người học những thông tin cập nhật đầy
đủ nhất so với SGK, giáo trình. Thông thường các tri thức được cung cấp trong
SGK, một số tài liệu trong nhà trường có được lạc hậu hơn so với sự phát triển hiện
tại của lĩnh vực khoa học đó. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra hết sức sôi động trên phạm vi
toàn cầu, thì bài thuyết trình của GV sẽ cung cấp những thông tin cập nhật từ nhiều
nguồn tài liệu khác nhau mà HS phải mất nhiều thời gian mới có thể tìm hiểu và
tổng hợp chúng. Chính vì vậy bài thuyết trình tốt mang đến một ý nghĩa tích cực
đối với người học.
Thuyết trình không giống với đọc hiểu, nó là giao tiếp trực tiếp giữa người
giảng và người nghe. Vì vậy, khi thuyết trình, thái độ và sự nhiệt tình của GV có
vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của người học, truyền
15
cảm hứng và sự sáng tạo. Bằng PPTT, người dạy không chỉ sử dụng ngôn ngữ nói
của mình tác động trực tiếp đến HS mà với tư cách mẫu mực, với những hành vi,
cử chỉ, thể hiện quan điểm, thái độ, niềm tin, phẩm chất nhân cách của người thuyết
trình sẽ có tác động mạnh mẽ đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và hành động đúng
đắn của người học. Đồng thời, cách thuyết trình có tính thuyết phục của GV là bài
học quý báu cho HS về việc sử dụng ngôn ngữ để trình bày một vấn đề do cuộc
sống yêu cầu, cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn đề;
Điểm đặc biệt là PPTT dễ thực hiện, không đòi hỏi phải sử dụng nhiều
phương tiện, kỹ thuật dạy học nên dễ dàng ứng dụng ở những nơi không có đủ điều
kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học;
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH theo hướng hiện đại nhằm
phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS; mặc dù PPTT là phương pháp tiêu biểu
cho hệ thống PPDH truyền thống nhưng với những ưu điểm nổi bật vừa trình bày ở
trên thì PPTT vẫn phát huy hiệu quả của nó, nhất là ở các môn khoa học xã hội.
- Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật thì PPTT cũng có những hạn chế nhất định.
Trước tiên, có thể thấy PPTT làm cho người học ít có cơ hội phát huy tính
tích cực, chủ động của mình. Vì khi sử dụng PPTT, người học thường chỉ thực hiện
nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép và tiếp thu một cách thụ động các kiến thức mà
người dạy cung cấp, từ đó người học mau chóng mệt mỏi, chán nản, buồn ngủ;
Sử dụng PPTT khó làm bộc lộ năng lực của HS, khó đánh giá mức độ hiểu
bài của HS trong thời gian học tập.
GV ít thu được thông tin phản hồi từ phía HS nên khó biết được những nội
dung kiến thức nào HS đã hiểu và những nội dung kiến thức nào HS chưa hiểu,
cũng vì vậy đôi khi GV có thể trình bày lại những gì HS đã biết hoặc có sẵn trong
tài liệu mà HS có thể tự học.
16
Việc HS ít có cơ hội trình bày quan điểm của mình cũng là nguyên nhân làm
hạn chế sự phát triển kĩ năng giao tiếp của các em;
Tính cá thể hóa trong dạy học thấp, do GV phải dùng một số biện pháp
chung cho cả nhóm học viên;
Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học
thấp hơn các phương pháp khác (Chú ý là điều kiện tiên quyết của việc học). Thông
thường vào khoảng 3 - 5 phút đầu người học chưa tập trung vào bài giảng. Từ 5 15 phút tiếp theo thì sự chú ý của người học đạt đến cao độ. Sau đó giảm dần từ
phút thứ 30 (nếu không có sự thay đổi biện pháp để thức tỉnh họ).
Ngoài ra, việc sử dụng PPTT còn hạn chế ở chỗ: mức lưu trữ thông tin của
người học rất ít. Vì hầu hết mọi người có tốc độ nói khoảng 100 - 200 từ/ phút, với
tốc độ đó thì 1 tiết học với PPTT có thể lên tới 8000 - 9000 từ. Trong khi đó trí nhớ
ngắn hạn của người học chỉ có thể tiếp nhận khoảng 800 - 1000 từ. Do đó trí nhớ
ngắn hạn thường xuyên bị quá tải. Vì vậy cần thiết phải có phương tiện hỗ trợ ghi
nhớ.
Như vậy, với PPTT, nội dung của bài dạy sẽ có tính hệ thống, tính logic cao,
người dạy chủ động được thời gian cũng như suốt quá trình dạy học. Song do quá
đề cao người dạy nên khi sử dụng PPTT, người học thường ít tích cực, chủ động
tiếp thu kiến thức môn học.
1.1.1.3. Phương pháp tổ chức trò chơi học tập
Trong Giáo trình Giáo dục học, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã đề cập
“Phương pháp trò chơi học tập là hình thức phản ánh hiện thực khách quan qua
hoạt động của người học với sự đan xen của những yếu tố tưởng tượng” [43, 226].
Cũng nội dung này, trong cuốn Dạy học và PPDH trong nhà trường, tác giả
Phan Trọng Ngọ cho rằng “PPDH bằng trò chơi là GV cung cấp và tổ chức cho học
17
viên tiến hành các tri thức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí óc và chân
tay) sau khi kết thúc trò chơi” [ 39, 289].
Theo , Phương pháp trò chơi trong đổi mới PPDH ở cấp tiểu
học, ngày 12/12/2011 thì “Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là
dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho HS. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS
được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển
tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp
học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.” [ 29, 1].
Đề cập đến khái niệm PPTCTCHT trong Trò chơi học tập – Hình thức tích
cực trong giảng dạy hiện đại đăng trên www.pup.edu.vn tác giả Bùi Văn Thành
cho rằng: “Phương pháp tổ chức trò chơi học tập có thể được hiểu là một trong
những phương thức, cách thức truyền tải thông điệp, một nội dung cụ thể nào đó
đến người nghe thông qua hình thức trò chơi – chơi mà học, từ đó ý nghĩa của nội
dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc
và dễ hiểu. Hay nói cách khác, trò chơi học tập là chiếc cầu nối hữu hiệu và thân
thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học trong giải quyết nhiệm vụ
chung và hướng tới đạt được mục tiêu của bài học.” [ 41, 2].
Qua cách trình bày trên, có thể thấy được một điểm chung là: khi sử dụng
PPTCTCHT sẽ tạo nên một tác dụng hấp dẫn, cuốn hút sự tập trung cao độ của
người học mà ít phương pháp nào có được. Hơn nữa, thông qua trò chơi, tình cảm
của người học đối với bạn và đối với GV được nảy nở và duy trì.
* Ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm:
Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS nên
duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học;
18
Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó
giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới;
Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp
tác cho HS. Bên cạnh đó, người học tham gia tích cực vào quá trình học. Họ có
quyền quyết định, tự giải quyết các vấn đề và phản ứng với kết quả của các quyết
định do mình đưa ra từ đó rèn khả năng phản ứng nhanh và các giác quan;
Mặt khác, trong trò chơi, nhất là những trò chơi trí tuệ, thường hàm chứa yếu
tố kích thích, thi đua, sự thử thách và khả năng nâng cao hiểu biết, sự sáng tạo và
tính kiềm chế của người chơi. Thông qua trò chơi giáo dục phẩm chất đạo đức cho
HS.
- Hạn chế:
GV và HS thường mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị trò chơi;
Kết quả trò chơi có thể ảnh hưởng đến tâm lí HS (người thua buồn, giận
hờn,..) không chú ý đến quá trình tiếp thu bài học;
Do hoạt động trò chơi mang tính vui tươi thường ồn ào nên dễ gây ảnh
hưởng đến lớp khác;
PPTCTCHT có tính chất phi khuôn mẫu về nội dung dạy học, vì vậy không
nên sử dụng một mình phương pháp này hoặc không nên lạm dụng chúng trong
việc truyền thụ kiến thức có tính hệ thống.
1.1.2. Cơ sở của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ
chức trò chơi học tập trong dạy học nói chung và dạy học Giáo dục công dân nói
riêng
1.1.2.1. Cơ sở triết học
Vấn đề PPDH được đề cập từ rất sớm và đã có khá nhiều nhà triết học quan
tâm, trong đó hướng tiếp cận của G.Hêghen (1770 – 1831) và C.Mác (1818 – 1883)
19
là hai hướng rất cần thiết cho việc lựa chọn phương pháp và phương tiện trong dạy
học.
Trong “Bút kí triết học” của V.I.Lênin có trích dẫn quan điểm của nhà triết
học G.Hêghen, “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật”. Mỗi sự
vật đều có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định. Hình thức
không bao giờ tồn tại riêng, tách rời nội dung và ngược lại. Mỗi sự vật đều có
phương pháp vận động riêng của mình. Vận động là cách tiếp cận về phương pháp
của G.Hêghen vào dạy học, cho ta phương pháp luận cực kì quý báu. Mỗi nội dung
bài dạy có một PPDH đặc thù mang lại hiệu quả nhất định. Vì vậy, không thể nhận
định một cách chung chung phương pháp này tốt, phương pháp kia không tốt, mà
cần phải xác định với nội dung này thì phương pháp phù hợp với nó là gì.
Hệ quả từ cách tiếp cận của Hêghen: Muốn xác định và sử dụng được PPDH
tối ưu, trước hết phải trả lời câu hỏi dạy cái gì? Sau đó mới đến câu hỏi dạy như thế
nào? Cách dạy phải luôn phù hợp với nội dung dạy học. Sự thay đổi nội dung dẫn
đến sự thay đổi PPDH, hình thành phương thức dạy học mới. Sự khác nhau giữa
phương thức dạy học này với phương thức dạy học khác ở cả mục đích, nội dung,
PPDH, chứ không đơn giản là chúng được dạy bằng phương pháp khác nhau.
Theo cách tiếp cận của C.Mác về phương pháp và phương tiện giúp ta rút ra
hai bài học quý báu về phương pháp luận trong dạy học:
Thứ nhất, có thể tách một cách tương đối giữa nội dung dạy học và PPDH,
tức là giữa cái (đối tượng dạy học) với cách (phương pháp triển khai đến đối tượng
– PPDH).
Thứ hai, trình độ và hiệu quả của hoạt động dạy học được quyết định bởi
phương pháp và phương tiện dạy học. Rõ ràng, cũng mục tiêu hình thành thao tác,
kĩ thuật cho người học, nếu chỉ bằng cách truyền kinh nghiệm của người thợ lành
nghề cho người học việc theo phương thức cầm tay chỉ việc, thì hiệu quả thấp hơn
20
nhiều so với việc đào tạo theo phương pháp khoa học và có các phương tiện máy
móc hiện đại hỗ trợ.
Hệ quả từ cách tiếp cận của C.Mác: Có nhiều phương pháp triển khai một
nội dung dạy học, trong đó có một phương pháp tốt nhất. Cho nên muốn đạt hiệu
quả cao trong dạy học phải trả lời được câu hỏi: Phương pháp nào là tối ưu nhất để
chuyển tải nội dung bài dạy đến người học? Phương tiện nào là tốt nhất?
1.1.2.2. Cơ sở tâm lí – giáo dục học
Quá trình học tập là quá trình tương tác trong môi trường học tập giữa HS
với GV cũng như giữa HS với nhau. Môi trường học tập cần khuyến khích tính tích
cực, tự lực, sáng tạo, sự phân hoá cùng sự cộng tác trong học tập.
Trong quá trình học tập, HS cần được tạo điều kiện tự kiến tạo tri thức trên
cơ sở tri thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm riêng của mình. Quá trình học tập
mang tính cá thể. Mỗi HS cần ý thức được những con đường, cách thức học tập
riêng của mình phù hợp với đặc điểm cá nhân.
Quá trình học tập đòi hỏi tính tự điều khiển, tính trách nhiệm của HS. HS cần
có trách nhiệm với quá trình và kết quả học tập trong giờ học cũng như trong việc
tự học, biết tự xác định mục đích, lập kế hoạch, đánh giá và điều khiển quá trình tự
học một cách tích cực. Bên cạnh việc học tập các tri thức mới, các giai đoạn ứng
dụng, luyện tập, thực hành, hệ thống hoá cũng như đào sâu và củng cố tri thức đóng
vai trò quan trọng trong học tập. Những tri thức chuyên môn hệ thống, những chủ
đề tích hợp, “liên môn” gắn với thực tiễn cuộc sống và xã hội, định hướng hành
động có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho HS giải quyết những tình huống
của cuộc sống và tình huống nghề nghiệp sau này.
Phương tiện dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn phải là
phương tiện của việc học. Các phương tiện hiện đại như đa phương tiện, Internet hỗ
trợ quá trình học tập và chuẩn bị cho HS làm quen với các phương tiện trong môi
21
trường làm việc và cuộc sống hiện đại. Vì vậy, cần tạo điều kiện cho HS sử dụng
các phương tiện hiện đại theo hướng tích cực hoá và tăng cường tính tự lực trong
học tập.
Việc chú ý vào các đặc điểm chuyên biệt về giới tính trong dạy học giúp phát
huy những điểm mạnh riêng của HS, theo đó sẽ hỗ trợ việc thực hiện quan điểm
bình đẳng giới trong dạy học.
1.1.2.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh
Lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc
khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên tính từ 15 – 25 tuổi và được chia
thành 2 thời kỳ:
Thời kỳ từ 15 – 18 tuổi: giai đoạn đầu của tuổi thanh niên.
Thời kỳ từ 18 – 25 tuổi: giai đoạn sau của tuổi thanh niên.
Lứa tuổi HS THPT thường rơi vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên. Ở độ
tuổi này, năng lực tư duy phát triển tương đối cao, khả năng nhận xét, so sánh và
liên hệ những thông tin nhận được để hình thành thái độ và định hướng hành động
tương đối rõ nét. Sự phát triển tư duy khoa học ở lứa tuổi này biểu hiện: Tri giác có
mục đích và ghi nhớ có chủ định; thái độ tình cảm đối với kiến thức môn học do
tính logic của vấn đề chứ không phải thuần túy do mô tả; có các hành động muốn
khẳng định nhận thức của mình thông qua việc nhận xét nội dung kiến thức; bước
đầu hình thành khuynh hướng nghề nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm nhận thức đó,
ngành giáo dục nước ta đã đề ra mục tiêu dạy học các môn học nói chung và môn
GDCD nói riêng hiện nay là: Đào tạo ra những con người nhanh nhạy, sáng tạo,
biết vận dụng những vấn đề lí luận vào thực tiễn, có những phẩm chất cần thiết,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
22
Để thực hiện mục tiêu dạy học nói trên, tổ chức hoạt động nhận thức cho HS
là cách tốt nhất giúp cho người học có được những năng lực, phẩm chất cần đào
tạo.
Tóm lại, hoạt động nhận thức ở lứa tuổi này đã phát triển ở mức độ cao, có
khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc. Khả năng tư duy và nhận
thức cũng sẽ dần được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện cá nhân.
1.1.2.4. Khái quát nội dung môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông
Xuất phát từ mục tiêu môn học, nội dung môn GDCD ở THPT được xác
định thành 5 phần chính với thời lượng phân phối như sau:
Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp
luận khoa học.
Gồm một số nội dung chủ yếu của Triết học nhằm trang bị cho HS những cơ
sở ban đầu về thế giới quan và phương pháp luận trong cuộc sống và là căn cứ lí
luận cho các phần sau.
Phần thứ hai: Công dân với đạo đức.
Một số giá trị đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là
sự phát triển tiếp nối của môn GDCD ở trung học cơ sở. Những chuẩn mực đạo đức
mà các em được học ở các lớp dưới được nâng lên thành những giá trị đạo đức, tư
tưởng, chính trị, lối sống của con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhằm giúp HS giải quyết hợp lí, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội.
Phần thứ ba: Công dân với kinh tế.
Cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về một số phạm trù, quy luật kinh
tế và phương hướng phát triển kinh tế ở nước ta. Trên cơ sở đó, giúp HS có thể xác
định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề hoặc các lĩnh vực hoạt
động khác sau khi ra trường.
23
Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội.
Giúp HS có những hiểu biết cơ bản về Chủ nghĩa xã hội và một số chính
sách quan trọng của Đảng và Nhà nước để HS có thể xác định được trách nhiệm
công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phần thứ năm: Công dân với pháp luật.
Cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp
luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm giúp HS có thể chủ động, tự
giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo
quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài những bài học chính trong SGK, chương trình còn dành một số thời
gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa về các vấn đề gắn với tình hình địa
phương. Để thực hiện nội dung và hình thức của các hoạt động này, GV cần căn cứ
vào các phong trào chính trị - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ mục
tiêu của môn học.
Năm phần trong chương trình trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng
thời có quan hệ với chương trình môn GDCD theo nguyên tắc tích hợp, đồng tâm
và phát triển.
1.1.3. Sự cần thiết của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương
pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân
Trong quá trình dạy học không một ai chỉ sử dụng duy nhất một PPDH. Các
PPDH được sử dụng phối hợp, xen kẽ với nhau tạo nên sự hoàn chỉnh về phương
pháp tác động. Cùng với trào lưu chung của sự phát triển xã hội, chúng ta đang tìm
kiếm và vận dụng sáng tạo các PPDH truyền thống với các PPDH hiện đại cho phù
hợp với điều kiện nhà trường Việt Nam hiện nay.
1.1.3.1. Sự cần thiết của việc kết hợp
24
Sự cần thiết phải phối hợp các PPDH với nhau xuất phát từ những nguyên
nhân sau:
Thứ nhất: Xuất phát từ thực trạng đổi mới PPDH của bộ môn GDCD hiện
nay.
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4
khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế
hóa trong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD - ĐT,
đặc biệt chỉ thị số 14 (4/1999).
Tại khoản 2 điều 28 Luật giáo dục đã quy định rõ: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho HS.”[ 36, 8].
Tại hội thảo “Đánh giá hiệu quả dạy học môn GDCD” tháng 4 năm 2009,
Bộ GD – ĐT nhận định: “Về PPDH: GV dạy GDCD đã có nhiều cố gắng trong
việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào SGK và GV còn
phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của HS trong dạy
học môn GDCD thực hiện chưa đạt yêu cầu đề ra của chương trình” [14, 5].
Trên thực tế hiện nay, việc đổi mới PPDH bộ môn đã được quan tâm thực
hiện và bước đầu mang lại những hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn tồn tại những
hạn chế nêu trên là do nhiều nguyên nhân như: Nội dung của bộ môn GDCD ở cấp
THPT mang nặng tính chính trị, nhiều bài tương đối dài và khó hiểu nhưng thời
lượng thì ít nên GV khó có thể triển khai thực hiện các PPDH theo hướng đổi mới;
Nhận thức của một bộ phận GV về đổi mới PPDH còn chưa đầy đủ như cho rằng
đổi mới PPDH là loại bỏ hoàn toàn các PPDH truyền thống và chỉ sử dụng PPDH
theo hướng hiện đại hoặc đồng nghĩa đổi mới phương pháp với đổi mới phương
25
tiện, thiết bị dạy học, nên cho rằng khi có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện
đại thì đã đổi mới được phương pháp. Xuất phát từ nguyên nhân trên, tác giả nhận
thấy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh quá trình đổi mới PPDH môn GDCD trong
nhà trường THPT hiện nay.
Thứ 2: Xuất phát từ quan điểm: Dạy học tích cực và phương pháp dạy học
truyền thống không đối lập nhau.
Một câu hỏi nữa lại được đặt ra “Dạy học tích cực” có đoạn tuyệt với PPDH
truyền thống không? Phải chăng trong dạy học tích cực thầy giáo chỉ là người định
hướng, đạo diễn cho HS tự khám phá tìm ra chân lí thì PPDH truyền thống không
còn cần thiết?
Trước hết, chúng ta thừa nhận cần phải đổi mới PPDH theo hướng tích cực
hóa hoạt động học tập của HS nhưng nếu loại bỏ tất cả mọi PPDH truyền thống là
suy nghĩ chưa phù hợp.
Chính nhà nghiên cứu thừa nhận vai trò định hướng đạo diễn của GV cũng
đồng thời thừa nhận vai trò trọng tài không thể thay thế được của người thầy – thầy
phải kết luận, phải khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận của HS. Khi
cuộc tranh luận của người học chưa đạt được ý kiến thống nhất về tính đúng đắn
của tri thức đang tìm hiểu, hoặc quá trình tranh luận đi lệch hướng. Trong lúc này
không thể thiếu vai trò của người thầy là người trọng tài khoa học. Thầy là người
kết luận có tính khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể lớp, giúp
người học xử lí đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá trình hoạt động
học tập. Người GV không thể hoàn thành vai trò trọng tài chỉ bằng một cách đơn
giản khẳng định: đúng, sai, đồng ý, không đồng ý mà để kết luận được vấn đề một
cách thuyết phục, GV phải giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, quy nạp,
diễn dịch, nêu vấn đề, .....kết hợp với các phương tiện trực quan. Đây chính là