Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Thị trường chứng khoán Trung Quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.51 KB, 33 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐỀ TÀI:
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRUNG
QUỐC

1


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………..4
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TTCK TRUNG QUỐC………………………..5
1. SỰ RA ĐỜI CỦA TTCK TRUNG QUỐC…………………………………....5
1.1. GIAI ĐOẠN THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG CỔ PHẦN………………....5
1.2. GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP CÁC TTCK KHU VỰC…………………...6
1.3. GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP CÁC SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN QUỐC GIA…………………………………………..7
2. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA TTCK TRUNG QUỐC……………………………..9
3. GIỚI THIỆU CẤU TRÚC, THÀNH PHẦN, LUẬT ĐIỀU
CHỈNH TTCK TRUNG QUỐC………………………………………………..10
3.1. CẤU TRÚC TTCK TRUNG QUỐC……………………………………10
3.1.1. THỊ TRƯỜNG SƠ CẤP……………………………………………..10
3.1.2. THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP…………………………………………..12
3.2. HÀNG HÓA TRÊN TTCK TRUNG QUỐC……………………………12
3.3. Q TRÌNH GIAO DỊCH………………………………………………13
3.4. CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT TRÊN TTCK TRUNG QUỐC………….14
3.5. CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN…………………………………….15
3.6. HỆ THỐNG LUẬT ĐIỀU CHỈNH VÀ CƠ QUAN
QUẢN LÝ TTCK TRUNG QUỐC……………………………………..16
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ VỀ TTCK TRUNG QUỐC………………………...18


1. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA TTCK TRUNG QUỐC……….18
2. NHỮNG TỒN TẠI CỦA TTCK TRUNG QUỐC…………………………...19
2.1. CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN BIẾN ĐỘNG BẤT THƯỜNG……………19
2.2. NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC MẶT TỒN TẠI…………………………21
2.2.1. NGUYÊN NHÂN TỪ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VĨ MÔ……………21
2.2.2. NGUYÊN NHÂN TỪ PHÍA CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT………..23
3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA TTCK TRUNG QUỐC…………………………………………24
3.1. TTCK CẦN PHÁT TRIỂN CÓ CHIỀU SÂU
VÀ TỪ BÊN TRONG…………………………………………………24
3.2. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT NGÂN HÀNG HỖ TRỢ
TÍCH CỰC CHO TTCK………………………………………………26
3.3. VAI TRỊ CỦA CƠNG TÁC VĨ MƠ,CƠNG TÁC QUẢN
LÝ VÀ HỆ THỐNG LUẬT CHỨNG KHOÁN………………………26
2


3.4. CƠNG TÁC ĐÀO TẠO CĨ VAI TRỊ QUAN TRỌNG……………27
3.5. PHÁT HÀNH CHỨNG KHỐN TRÊN TTCK
NƯỚC NGỒI………………………………………………………..27
CHƯƠNG III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM……………..29
1. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TTCK……………………………………………29
1.1. TẠO MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ THUẬN LỢI………………………….29
1.2. TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA CÁC BỘ NGÀNH……………..30
1.3. TĂNG CƯỜNG HÀNG HÓA CHO THỊ TRƯỜNG………………..30
1.4. KÍCH CẦU CHỨNG KHỐN……………………………………….31
1.5. CƠNG TÁC ĐÀO TẠO TUYÊN TRUYỀN…………………………31
2. TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC TỪ TTCK TRUNG QUỐC
TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY…………………………………………….32


3


LỜI MỞ ĐẦU
Trung Quốc – nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Thời gian gần đây, thị
trường Trung Quốc đã rơi vào tình trạng khủng hoảng. Tuy nhiên, Chính Phủ Trung
Quốc đã có những chính sách và cải cách có ý nghĩa quan trọng nhằm khơi phục lại
thị trường Trung Quốc và phát triển thị trường lên một tầm cao mới. Với 25 năm
tồn tại, kể từ khi hai Sở giao dịch chứng khốn chính thức đi vào hoạt động, thị
trường này đã mang những nét đặc trưng riêng và để lại những bài học quý giá
riêng.
Thị trường chứng khốn Việt Nam có nhiều nét tương đồng với thị trường
chứng khốn Trung Quốc. Do đó, những bài học từ thị trường chứng khốn Trung
Quốc có vai trị đặc biệt quan trọng.
Với đề tài “Thị trường chứng khoán Trung Quốc” chúng tôi hy vọng thông
qua việc nghiên cứu những mặt tích cực và hạn chế của thị trường chứng khốn
Trung Quốc, đặc biệt là trong cơng tác quản lý của Chính phủ và Uỷ ban chứng
khốn Trung Quốc, nhằm rút ra những bài học bổ ích cho thị trường chứng khoán
Việt Nam.

4


CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRUNG
QUỐC
1.

Sự ra đời của thị trường chứng khốn Trung Quốc
Sự hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc có

thể được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất của công cuộc cải cách hệ
thống tài chính ở Trung Quốc. Xem xét một cách tổng qt q trình hình thành của
thị trường chứng khốn Trung Quốc, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy quá trình
này được chia làm 3 giai đoạn rõ rệt.
1.1.
Giai đoạn thử nghiệm hệ thống cổ phần:
Trước những năm cuối của thập kỷ 70, Chính phủ Trung Quốc kiểm sốt
hồn tồn mọi kênh đầu tư. Mọi hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp thực hiện
đều được trợ vốn trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc được Chính phủ phân phối
tín dụng ngân hàng. Tồn bộ hệ thống tài chính thuộc sự chi phối của Ngân Hàng
Nhà Nước và bộ máy nhà nước thực hiện việc phân phối các dự án đầu tư tới các
khu vực ngành, các vùng thường khơng hiệu quả, trong nhiều trường hợp cịn gây
lãng phí vốn nghiêm trọng.
Từ đầu thập kỷ 80, khu vực tài chính của Trung Quốc đã trải qua một số thay
đổi lớn về thể chế. Tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước trong tổng vốn đầu tư giảm đi
nhanh chóng khi cải cách phân quyền tài chính được thực hiện. Rất nhiều ngân
hàng đặc biệt được thành lập hoặc tái thành lập, như những kênh tài chính chủ yếu
cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, thay thế cho tài chính ngân sách nhà
nước. Tuy nhiên, lãi suất vẫn bị kiểm sốt và kìm chế ở mức thấp, tổng tín dụng của
mỗi ngân hàng vẫn bị giới hạn theo kế hoạch tín dụng của Ngân hàng Trung Ương.
Chính phủ khơng ngừng can thiệp vào các hoạt động thường ngày của ngân hàng để
quyết định việc đầu tư tín dụng cho những dự án nào. Các ngân hàng buộc phải cho
vay những dự án mang định hướng chính trị và do đó phải bỏ qua một số dự án có
khả năng sinh lời. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy rằng họ không thể tiếp tục chỉ
trông chờ vào các nguồn trợ cấp của Chính phủ hay các khoản vay được hoạch định
để tiến hành hoạt động đầu tư, và do đó phát sinh nhu cầu về các nguồn tài chính
mới.
Cùng lúc đó thu nhập cá nhân tăng nhanh và một tỷ lệ lớn trong số tiền này
cần những cơ hội đầu tư. Do thiếu các cơng cụ tài chính lựa chọn, các cá nhân bắt
buộc phải giữ tiền mặt hoặc gửi tiền vào các ngân hàng nhà nước, nơi mà lãi suất


5


được kìm chế ở mức thấp hơn so với lãi suất thị trường. Cuối năm 1985, có khoảng
2.194 tỷ Nhân dân tệ (NDT) tiền gửi trong các ngân hàng, chiếm khoảng 38% GNP.
Trong năm 1981, Chính phủ bắt đầu phát hành trái phiếu kho bạc để bù đắp
thâm hụt ngân sách. Sau đó một số chính quyền địa phương và tỉnh cũng phát hành
trái phiếu. Cho đến 1989, tổng số chứng khoán lưu hành trên thị trường chủ yếu là
các trái phiếu. Cuối 1989, tổng số chứng khoán phát hành đạt 166 tỷ NDT, trong đó
có 99% là trái phiếu. Mặc dù các nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng hệ thống cổ phần
là giải pháp cuối cùng cho việc cải cách các doanh nghiệp Trung Quốc, nhưng mãi
đến cuối thập kỷ 80, chỉ có rất ít thử nghiệm với hệ thống cổ phần. Nguyên nhân
chính là do Chính phủ chưa sẵn sàng để chấp nhận sự thực rằng quan hệ sở hữu nhà
nước là không hiệu quả và việc phát triển các công ty cổ phần đồng nghĩa với việc
tư nhân hóa từng phần. Hầu hết các cổ phiếu do các công ty cổ phiếu phát hành đều
là các cổ phần dạng trái phiếu, không bị mất khả năng thanh toán và được đảm bảo
thanh toán lợi tức và trả gốc. Hệ thống cổ phần dưới hình thức sơ khai chưa phát
triển được thực hiện thí điểm nhằm tăng cường hiệu quả của các doanh nghiệp nhà
nước. Tuy nhiên do những lo ngại nêu trên, Chính phủ đã quy định rằng các doanh
nghiệp nhà nước, tùy theo từng trường hợp được chấp nhận, chỉ có thể phát hành
trái phiếu và giấy nhận nợ.
1.2.
Giai đoạn thành lập các thị trường chứng khoán khu vực:
Trong những năm 1980, các thị trường chứng khoán khu vực đã bắt đầu đi
vào hoạt động ở một số nơi như Thượng Hải, Bắc Kinh, Thẩm Dương, Vũ Hán,
Thiên Tân, Trùng Khánh, Quảng Châu, Cáp Nhĩ Tân và Thâm Quyến. Tất cả các
giao dịch cổ phiếu đều được tiến hành một cách khơng chính thức.
Giao dịch chứng khoán trên thị trường Thượng Hải xuất hiện từ những năm
1984 và thị trường hầu như dành riêng cho các giao dịch trái phiếu.

Năm 1982, một số doanh nghiệp được lựa chọn đã được phép tái tổ chức, trở
thành các cơng ty cổ phần và phát hành chứng khốn. Tháng 11 năm 1984, Công ty
thiết bị âm thanh Feile Thượng Hải đã phát hành một lượng cổ phần của mình ra
cơng chúng, đây là đợt chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) đầu tiên ở Trung
Quốc.
Cho đến năm 1989, khối lượng các giao dịch cổ phiếu chỉ chiếm 1% tổng thu
nhập từ chứng khoán trên thị trường chứng khoán Thượng Hải. Hai cổ phiếu đầu
tiên được phát hành của công ty thiết bị âm thanh Feile và công ty công nghiệp
Yenchung đã được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC) năm 1984, với
tổng khối lượng giao dịch trên dưới 200.000 NDT.
Cuối năm 1987, có tám quầy giao dịch được mở ở Thượng Hải, trong đó có
bốn quầy là của các cơng ty giao dịch chứng khốn chuyên nghiệp, các công ty này
sẽ giúp các doanh nghiệp phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu. Bốn công ty chứng
6


khoán này được thành lập năm 1988 và 1989, là các cơng ty: Cơng ty chứng khốn
Quốc tế, Cơng ty chứng khốn Haitung, Cơng ty chứng khốn Shenyin và Cơng ty
chứng khoán Chenshing.
1.3.
Giai đoạn thành lập các Sở giao dịch chứng khoán quốc gia:
Năm 1990, kỳ họp thứ 7 của Hội nghị Trung ương lần thứ 13 của Đảng Cộng
Sản Trung Quốc đã thông qua việc thành lập các Sở giao dịch chứng khoán ở các
thành phố lớn. Và thị trường vốn của Trung Quốc bắt đầu được xem là hình thành
một cách hồn thiện bằng sự ra đời chính thức của Sở giao dịch chứng khoán
Thượng Hải vào ngày 19 tháng 12 năm 1990 và Sở giao dịch chứng khoán Thâm
Quyến vào ngày 3 tháng 7 năm 1991.
Sở giao dịch chứng khốn Thượng Hải áp dụng mơ hình thành viên và chỉ
tiến hành những giao dịch giao ngay, không thực hiện những giao dịch kỳ hạn. Sở
giao dịch này có những thành viên trên khắp đất nước, do đó nó có thể thực hiện

chức năng như một trung tâm giao dịch chứng khốn tồn quốc. Cuối năm 1993, số
lượng thành viên của Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải là 481.
Trong cuộc bùng nổ cải cách năm 1992, Chính phủ đã thông qua một kế
hoạch khung để thử nghiệm hệ thống cổ phần ở các doanh nghiệp. Cuối năm 1993,
khoảng 10.000 doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu ở Trung Quốc, mặc dù phần lớn
trong số đó là các cổ phiếu không được chuyển nhượng. Tháng 10 năm 1994, 168
công ty được chấp nhận cho niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải,
một con số tương đối lớn so với mức 8 công ty năm 1991. Cuối năm 1994, tổng
mức vốn của thị trường đạt 461 tỷ NDT trên thị trường Thượng Hải và tổng giá trị
giao dịch năm 1994 đạt 417 tỷ NDT.
Thâm Quyến là đặc khu kinh tế đầu tiên được thành lập ở Trung Quốc. Ngân
hàng phát triển Thâm Quyến đã phát hành cổ phiếu đầu tiên vào năm 1987 tại Thâm
Quyến và đã huy động được số vốn là 7,93 triệu NDT. Từ năm 1989 đến năm 1990,
có 5 chứng khốn cơng ty được phát hành ở Thâm Quyến và các cổ phiếu này được
giao dịch một cách sôi động trên thị trường OTC. Sở giao dịch chứng khốn Thâm
Quyến chính thức ra đời vào tháng 7 năm 1991, và Sở giao dịch được phép phát
hành cổ phiếu B nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc.
Số lượng các chứng khoán niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến là
18 chứng khoán vào cuối năm 1991, và tăng lên 139 vào tháng 9 năm 1994. Tổng
giá trị giao dịch đạt 196 tỷ NDT năm 1994, tăng 88 lần so với năm 1991. Cũng năm
1994, Sở giao dịch chứng khốn Thâm Quyến có hơn 400 thành viên. Hơn 50 công
ty môi giới từ Hồng Kông và nước ngoài đã giao dịch cổ phiếu B tại Sở giao dịch
chứng khốn Thâm Quyến.
Có rất nhiều sự khác biệt giữa Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Sở
giao dịch chứng khốn Thâm Quyến. Nhiều cơng ty niêm yết trên Sở giao dịch
7


chứng khốn Thâm Quyến là các cơng ty liên doanh có mối quan hệ chặt chẽ với
Hồng Kơng, điều này cho phép họ nhiều cơ hội hướng ra quốc tế. Ngược lại, Sở

giao dịch chứng khoán Thượng Hải chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và được
kiểm soát chặt chẽ dưới sự quản lý của cơ quan trung ương. Đối với hoạt động đầu
tư nước ngoài, Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải yêu cầu tất cả nhà đầu tư
nước ngồi phải mua cổ phiếu B thơng qua một tổ chức chứng khoán được Sở giao
dịch chứng khoán Thượng Hải chấp nhận; trong khi đó Thâm Quyến cho phép các
nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu B trực tiếp hoặc thơng qua trung gian.
Bảng 1. Qúa trình phát triển thị trường vốn Trung Quốc
Năm
1980
1981
1982
1984

1984
1986
1987
1990
1990
1991
1992
1992
1993

Sự kiện
Hoạt động trao đổi trong khu vực bắt đầu được tiến hành ở các
thành phố lớn, giao dịch cổ phiếu khơng chính thức được thực
hiện
Phát hành trái phiếu kho bạc Nhà nước
Chính quyền Trung ương phát hành trái phiếu kho bạc nhằm bù
đắp thâm hụt

- Doanh nghiệp Nhà nước phát hành trái phiếu doanh nghiệp
cho người lao động
- Một số doanh nghiệp Nhà nước được phép phát hành cổ phiếu
cho người lao động trong doanh nghiệp
- Một số doanh nghiệp Nhà nước được lựa chọn để chuyển đổi
thành công ty cổ phần và phát hành cổ phiếu, bên cạnh trái
phiếu
Công ty Shanghai Feile Audio Equipment phát hành cổ phiếu ra
công chúng
- Thị trường OTC đầu tiên khai trương
- Cơng ty Tín thác và Đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động
Hội đồng Nhà nước ủy quyền cho Ngân hàng Nhân Dân Trung
Hoa quản lý thị trường chứng khốn
Phiên họp tồn thể lần thứ 7 của Hội đồng Trung ương lần thứ 13
của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thông qua việc thành lập các
Sở giao dịch chứng khoán ở các thành phố lớn
Khai trương Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải (SHSE)
Khai trương Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến (SZSE)
Các doanh nghiệp nhà nước được phép phát hành cổ phiếu B
giành cho giao dịch của người nước ngồi
Ủy ban Giám quản Chứng khốn Trung Quốc được thành lập
(CSRC)
Một số công ty bắt đầu phát hành cổ phiếu tại các sở giao dịch
8


1994
1998

nước ngồi bao gồm Hồng Kơng và Mỹ

Quốc hội thơng qua Luật Công ty lần đầu tiên
Quốc hội thông qua Luật Chứng khoán lần đầu tiên

2. Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Trung Quốc
Từ khi ra đời chính thức từ năm 1991 đến nay, với 25 năm tồn tại, thị trường
chứng khoán Trung Quốc đã trải qua nhiều biến động phức tạp. Có thể chia sự phát
triển này thành 6 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Từ năm 1990-1993: Thị trường có nhiều sinh khí. Thị trường
chứng khốn bắt đầu đi vào hoạt động. Do tâm lý háo hức của nhà đầu tư và do
lượng chứng khốn khơng nhiều, giá cả chứng khoán tăng đột biến, đạt mức đỉnh
vào tháng 8 năm 1993. Thị trường trong giai đoạn này tương đối sôi nổi.
Giai đoạn 2: Từ năm 1993-1996: Hai năm đình trệ.Sau khi đạt mức đỉnh vào
giữa năm 1993, giá chứng khoán liên tục giảm mạnh. Thị trường chứng khốn
Trung Quốc trải qua hai năm đình trệ cho đến giữa năm 1996, khi chỉ số DJ China
đột ngột tăng đến 125%.
Giai đoạn 3: Từ năm 1996-1999: Thị trường chứng khốn có những biến
động phức tạp nhưng chỉ số DJ China ln nằm ở mức trên 100 điểm. Chính phủ
Trung Quốc thậm chí đã phải thực hiện “giảm nóng” cho thị trường hai lần, vào
tháng 12 năm 1996 và tháng 4 năm 1997. Năm 1997, Chính phủ Trung Quốc đã
phải đặt hạn ngạch cho lượng chứng khoán phát hành. Song song với các mức tăng
trưởng cao, thị trường trong giai đoạn này cũng trải qua những cuộc đình trệ ngắn
hạn. Ở cuối giai đoạn này, thị trường chứng khoán Trung Quốc trải qua một cuộc
khủng hoảng và không hồi phục cho đến tháng 5 năm 1999.
Giai đoạn 4: Từ năm 1999-2007: Thị trường chứng khoán dần phục hồi
nhờ những cải cách của Chính phủ. Thị trường chứng khốn giảm, Chính phủ
Trung Quốc đã thực hiện nhiều cải cách nhằm phục hồi thị trường. Ngày 31/1/2004,
Quốc vụ viện ban hành điều lệ liên quan đến cải cách mở cửa và phát triển thị
trường. Tháng 8/2004 và tháng 11/2005, Đại hội Đảng tồn quốc đã 2 lần sửa lại
luật chứng khốn, từng bước củng cố thể chế pháp luật cơ bản. Đầu năm 2006, thị
trường chứng khoán Trung Quốc đã tăng trưởng trở lại và tới cuối năm 2006 đạt

2.500 điểm, tăng gấp 2 lần. Thị trường chứng khoán Trung Quốc đã khả quan hơn,

9


khi đó hầu hết các nhà kinh tế đều dự đốn chứng khốn Trung Quốc sẽ cịn tiếp tục
tăng cao hơn.
Giai đoạn 5: Năm2008: Thị trường chứng khoán suy giảm. Hai năm này thị
trường chứng khoán Trung Quốc đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu. Điều đó thể hiện ở việc chỉ số Shanghai
Composite rớt tận 2/3 giá trị.
Giai đoạn 6: Từ năm 2009 đến nay: Thị trường chứng khốn có nhiều biến
động phức tạp. Sau 5 năm duy trì diễn biến ổn định trong giai đoạn 2009-2013, thị
trường chứng khoán Trung Quốc bắt đầu quá trình tăng điểm nhanh và mạnh mẽ,
bắt đầu từ tháng 6-2014 và kéo dài liên tục đến nửa đầu năm 2015. Cụ thể, các chỉ
số Shanghai Composite và Shenzhen Composite Index đã tăng tới 190%. Tuy
nhiên, đà tăng trưởng kéo dài suốt một năm đã xuất hiện các dấu hiệu đổ vỡ khi thị
trường chứng khoán Trung Quốc quay đầu sụt giảm mạnh kể từ ngày 15-6-2015 với
tổng mức giảm lên tới trên 30%. Tuy nhiên, thị trường chứng khốn Trung Quốc
hiện đang có dấu hiệu phục hồi và phát triển trở lại.
3. Giới thiệu cấu trúc, thành phần và luật điều chỉnh thị trường chứng khoán
Trung Quốc
3.1. Cấu trúc thị trường chứng khoán Trung Quốc.
Giống như các thị trường chứng khoán khác trên thế giới, thị trường chứng
khoán Trung Quốc bao gồm thị trường sơ cấp là nơi phát hành chứng khoán lần đầu
và thị trường thứ cấp là nơi chứng khoán đã phát hành được mua đi bán lại.
3.1.1. Thị trường sơ cấp (thị trường IPO)
Ở Trung Quốc, phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp bao gồm phát
hành rộng rãi ra công chúng và phát hành hạn chế. Phát hành rộng rãi ra công chúng
là cho phép tất cả các nhà đầu tư hợp pháp được phép mua. Phát hành hạn chế là

giới hạn các nhà đầu tư ở người lao động của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính
hoặc các doanh nghiệp có mối quan hệ gần gũi.
Việc phát hành chứng khốn rộng rãi ra cơng chúng ở Trung Quốc cũng
tương tự như ở các nước phương Tây. Trước năm 2000, Uỷ ban chứng khoán Trung
Quốc (CSRC), Ủy ban kế hoạch nhà nước, Ủy ban cải cách hệ thống kinh tế Nhà
nước và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cùng phối hợp để ấn định một mức phát
hành chứng khoán hàng năm, tức là đặt hạn ngạch cho phát hành chứng khốn mới,
dựa trên phân tích tình hình tài chính vĩ mô, tốc độ cải cách doanh nghiệp nhà nước
10


và hoạt động của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, từ tháng 3 năm 2000, Hội
đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành Các quy định về việc phê chuẩn Phát hành
chứng khốn, theo đó, hệ thống đặt hạn ngạch như trên bị loại bỏ, và được thay thế
bởi các quy định của Luật chứng khốn (Securities Law 1999) hồn tồn mới.
Theo những quy định, các cơng ty chứng khốn sẽ lựa chọn các doanh nghiệp
ứng cử viên, xin phê chuẩn của chính quyền địa phương và đề xuất lên Uỷ ban
chứng khoán Nhà nước, trên cơ sở Điều 14 Luật chứng khoán Trung Quốc năm
1999, Ủy ban chứng khoán thành lập Ủy ban xem xét vấn đề Phát hành và niêm yết
chứng khoán (Public Offering and Listing Review Committee) với chức năng kiểm
tra, thẩm định các hồ sơ dựa trên các tiêu chuẩn quy định trong Luật, kết hợp với
tham khảo ý kiến của các chuyên gia hàng đầu trong ngành nhằm lựa chọn và phê
chuẩn những doanh nghiệp được phép phát hành.
Một công ty muốn phát hành rộng rãi ra công chúng phải đáp ứng được
những yêu cầu sau, theo Những quy định liên quan đến việc phát hành, niêm yết
chứng khốn (2000): Cổ đơng sáng lập khơng được có một sự vi phạm pháp luật
nào trong vịng 3 năm gần nhất và phải nắm giữ ít nhất 35% tổng số vốn thành lập
của công ty, tương đương với ít nhất là 30 triệu Nhân dân tệ (3,7 triệu USD). Cổ
phần phát hành rộng rãi ra công chúng phải chiếm ít nhất 25% tổng số vốn cổ phần
của cơng ty phát hành. Cổ phần phát hành cho người lao động của công ty không

vượt quá 10% tổng vốn cổ phần. Đối với những cơng ty có tổng vốn cổ phần từ 400
triệu Nhân dân tệ trở lên (48 triệu USD), việc phát hành chứng khoán phải được Ủy
ban chứng khoán Nhà nước phê chuẩn, với mức phát hành ra công chúng không
vượt quá 25% tổng vốn cổ phần, nhưng không dưới 15%.
Để đảm bảo thị trường IPO hoạt động hiệu quả , Ủy ban chứng khoán Trung
Quốc điều chỉnh để hệ số P/E (Price/Equity) luôn nằm trong khoảng 15 đến 20, tức
là thấp hơn nhiều so với tỷ số P/E trên thị trường thứ cấp (thường ở mức trung bình
là 40), điều đó khiến cho thị trường sơ cấp trở nên tương đối an tồn. Theo Luật
chứng khốn Trung Quốc, khi có sự bảo lãnh phát hành chứng khốn, giá chứng
khốn sẽ được định trên cơ sở có sự thương lượng với nhà bảo lãnh, và được sự phê
chuẩn của Ủy ban chứng khoán.
Trong tháng 3 năm 2001, các cơ chế chính đã chính thức được thành lập để
phát hành cổ phiếu. Vào tháng 2 năm 2004, hệ thống tài trợ đã được giới thiệu cho
công chúng lần đầu. Theo đó mơ hình định giá cho đợt IPO đã thay đổi từ phương
pháp giá cố định sang phương pháp xây dựng sổ sách.
3.1.2. Thị trường thứ cấp
11


Ở Trung Quốc, chứng khoán được trao đổi với hệ thống thành viên và tập
trung giao dịch điện tử. Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và sở giao dịch
chứng khoán Thâm Quyến cung cấp địa điểm và cơ sở vật chất cho các giao dịch
tập trung. Các nhà đầu tư tham gia vào thương mại thông qua các thành viên chỉ
định của hai sàn. Các thành viên chấp nhận và thực hiện lệnh giao dịch của khách
hàng thông qua các nhân viên phục vụ của họ hoặc các thiết bị tự phục vụ như điện
thoại, thiết bị đầu cuối tự phục vụ hoặc Internet, nhằm giảm thiểu các công việc
hành chính. Hệ thống này được trang bị bởi mạng truyền hình vệ tinh, có khả năng
khớp lệnh với tốc độ 5000 giao dịch mỗi giây. Ở thị trường thứ cấp, có hội đồng
chính, hội đồng quản trị SME và ChiNext trong đó:
1.


Hội đồng chính:
Đến cuối tháng 5 năm 2010, đã có 1.863 cơng ty niêm yết. Tổng giá trị
vốn hóa thị trường là RMB23. 95 nghìn tỷ với vốn hóa thị trường chuyển
nhượng của RMB14.35 nghìn tỷ đồng, đứng thứ ba trên thế giới. Các nhà
đầu tư đã mở gần 138 triệu tài khoản chứng khoán và hơn 30 triệu tài
khoản đầu tư vốn.

2.

Hội đồng quản trị SME:
Đến cuối tháng 5 năm 2010, đã có 310 cơng ty niêm yết. Vốn phát hành
cổ phiếu là 76.85 tỷ cổ phần với vốn cổ phiếu chuyển nhượng là 36.27 tỷ
cổ phần. Tổng giá trị thị trường là RMB1.54 tỷ với giá trị thị trường cổ
phiếu chuyển nhượng là RMB676 tỷ (RMB là tên viết tắt của Renminbi,
đơn vị cơ bản cho tiền Trung Quốc

3.

ChiNext:
Nó cịn được gọi là “thị trường thứ ba” và đã chính thức hoạt động vào
ngày 30 tháng 10 năm 2009. Một mặt, ChiNext cung cấp một kênh cho
các cổ phiếu của các công ty hủy niêm yết được giao dịch. Mặt khác,
ChiNext giải quyết các vấn đề giao dịch của cổ phiếu pháp nhân của một
số công ty còn lại từ hệ thống STQA và NET ban đầu.

3.2. Hàng hóa trên thị trường chứng khốn Trung Quốc
Sau khi hai Sở giao dịch chứng khoán được thành lập, có hai loại chứng
khốn được phát hành bởi các cơng ty Trung Quốc là chứng khoán loại A và chứng
khoán loại B. Chứng khoán loại A dành riêng cho người Trung Quốc, chủ yếu giao

dịch bằng đồng nhân dân tệ. Chứng khoán loại B được định giá bằng đồng nhân dân
tệ nhưng được giao dịch. Thị trường chứng khoán B được mở cửa cho nhà đầu tư
trong nước kể từ tháng 2 năm 2001. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép tiếp
12


cận thị trường chứng khoán A kể từ ngày 1/12/2002. Ngồi ra, cịn có chứng khốn
H, phát hành bởi các công ty Trung Quốc và giao dịch trên Sở giao dịch chứng
khốn Hồng Kơng, chứng khốn N trên Sở giao dịch chứng khoán New York,
chứng khoán S trên Sở giao dịch chứng khoán Singapore. Tỷ lệ của chứng khoán N
và S so với các chứng khốn cịn lại là rất nhỏ.
Tính đến 6/2003, các cơng ty niêm yết đã phát hành 611 tỷ cổ phiếu với tổng
giá trị thị trường đạt 4162,953 tỷ nhân dân tệ, tổng giá trị thị trường của các cổ
phiếu được phép giao dịch đạt 704,487 tỷ nhân dân tệ. Bên cạnh đó, các cơng ty
Trung Quốc đã phát hành 81 loại chứng khoán trên thị trường chứng khốn Hồng
Kơng và các thị trường nước ngồi khác. Ngoài ra, các nhà phát hành của Trung
Quốc kết hợp với các cơng ty ở nước ngồi, phát hành 71 loại cổ phiếu thượng hạng
trên Sở giao dịch Hồng Kông với tổng vốn huy động đạt 44,02 tỷ USD.
Bảng tổng kết hàng hóa trên thị trường chứng khốn Trung Quốc
Năm 1992-2002

1992
Cổ phiếu phát hành (tỷ 6,9
cổ phiếu)
Cổ phiếu giao dịch (tỷ 3,8
cổ phiếu)
Tín phiếu kho bạc phát 46,1
hành (tỷ RMB)
TP chính phủ phát 68,4
hành (tỷ RMB)

TP giao dịch
(triệu trái phiếu)

1998
252,7

1999
308,9

2000
379,2

2001
521,8

2002
587,5

215,4

293.2

475,8

315,2

301,6

380,9


401,5

465,7

488,4

593,4

14,8

15,8

8,3

14,7

32,5

203,1

170,7

197,9

204,7

329,2

Bảng trên cho thấy số lượng và giá trị các loại hàng hóa trên thị trường chứng
khốn Trung Quốc đều tăng mạnh, trong đó cổ phiếu và tín phiếu kho bạc chiếm ưu

thế về cả tỉ trọng và tốc độ tăng.
3.3. Qúa trình giao dịch
Trên sàn giao dịch của Sở giao dịch chứng khốn Thượng Hải, chỉ có các nhà
mơi giới ăn hoa hồng ở Mỹ, những nhân viên môi giới ở Trung Quốc được chủ
(công ty môi giới) trả lương cộng với một khoản tiền thưởng. Hoạt động của Sở
giao dịch chứng khoán Thượng Hải dựa vào 4 nguyên tắc: trao đổi chứng chỉ chứng
13


khoán và chuyển quyền sở hữu tự động. Người muốn bán trước tiên phải lưu ký các
chứng chỉ chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khốn. Sau đó một thành viên của sở
này có thể đăng ký giá chào bán trên máy tính của mình, trong khi người muốn mua
đang nhập các giá đặt mua. Nếu giá chào bán và giá chào mua khớp nhau, giao dịch
sẽ diễn ra. Sauk hi kiểm tra là người bán đã gửi các chứng chỉ, Sở giao dịch chứng
khốn Thượng Hải sẽ tính số dư trên tài khoản của các thành viên và mọi việc thanh
tốn thực sẽ diễn ra hơm sau. Sự ra đời và ứng dụng các công nghệ thông tin đã cho
phép các giao dịch được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, giảm thiểu đến mức thấp
nhất chi phí về thời gian và giấy tờ.
3.4. Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc
Khi mới thành lập, trên hai Sở giao dịch chỉ có 10 cơng ty niêm yết. Cùng với
quá trình đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển nhanh chóng
của thị trường chứng khốn, tổng số cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn
Trung Quốc đã tăng nhanh chóng trên 2700 công ty.
Một công ty muốn được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khốn phải hoạt
động dưới hình thức một công ty cổ phần và được phê chuẩn bởi các cơ quan chức
năng, quan trọng nhất là Uỷ ban thương mại và kinh tế nhà nước. Theo luật công ty
và Các quy định về phát hành và giao dịch chứng khốn, một cơng ty muốn được
niêm yết phải thỏa mãn các điều kiện:
- Là một công ty được thành lập hoặc chuyển đổi sang hình thức một cơng ty
cổ phần, được phê chuẩn bởi cơ quan có thẩm quyền và phát hành cổ phiếu rộng rãi

ra công chúng.
- Tổng mệnh giá cổ phiếu phát hành khơng ít hơn 50 triệu Nhân dân tệ (6
triệu USD)
- Có lợi nhuận trong 3 năm hoạt động gần nhất.
- Có ít nhất 1000 cổ đơng mỗi người nắm giữ lượng cổ phiếu có tổng mệnh
giá không dưới 1000 nhân dân tệ, cổ phần dành cho cơng chúng phải chiếm ít nhất
25% tổng số vốn cổ phần. Với những cơng ty có tổng số vốn cổ phần trên 400 triệu
Nhân dân tệ (48 triệu USD), tỷ lệ này là 15%.
Từ năm 1993, nhằm thực hiện chính sách cơng nghiệp quốc gia và phân bổ
nguồn lực sản xuất hiệu quả hơn giữa các ngành, các đơn vị, chủ trương về phát
hành chứng khoán mới hướng vào các ngành cơng nghiệp có tầm quan trọng chiến
lược, các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và lớn. Do đó, thành phần cơng ty
14


niêm yết đã có sự chuyển hướng từ ngành bất động sản, thương mại sang ngành
ngun vật liệu thơ, hóa dầu, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp trụ cột
như ô tô và điện tử. Trung Quốc không chỉ muốn hiện đại hóa các ngành này mà
cịn muốn qua đó, tạo động lực cho phát triển kinh tế.
3.5. Các cơng ty chứng khốn
Trước khi hai Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến được
thành lập, các cơng ty chứng khốn Trung Qc chủ yếu thực hiện các giao dịch về
trái phiếu. Từ năm 1991, với sự phát triển của thị trường chứng khốn, các cơng ty
chứng khoán tăng mạnh về số lượng và hoạt động kinh doanh trên hầu hết các lĩnh
vực trước đó được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại, trong đó quan trọng
nhất là bảo lãnh phát hành và giao dịch chứng khốn.
Các cơng ty chứng khốn Trung Quốc phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn
1991-1996. Khi đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Bộ tài chính và Ngân hàng
đặc biệt (Specilized Bank) lần lượt thành lập các phịng chứng khốn của mình.
Tháng 10 năm 1992, chính phủ Trung Quốc thành lập 3 cơng ty chứng khốn chủ

chốt: Huaxia ở Bắc Kinh, Guotai ở Thượng Hải và Nanfang ở Thâm Quyến. Những
công ty chứng khoán này nhận được sự hậu thuẫn của các ngân hàng, nhanh chóng
chiếm ưu thế trong các lĩnh vực bảo lãnh phát hành và các hoạt động kinh doanh
khác.
Năm 1996, Chính phủ Trung Quốc điều chỉnh các quy định về cơng ty chứng
khốn, theo đó các cơng ty này phải tách rời hoàn toàn khỏi Ngân hàng trung ương.
47 cơng ty chứng khốn được tách ra khỏi các chi nhánh của Ngân hàng Nhân dân
Trung Quốc, 763 đại lý chứng khoán bị tách ra khỏi các tổ chức tài chính khác như
ngân hàng thương mại, cơng ty bảo hiểm… dưới hình thức thu hồi giấy phép kinh
doanh, chuyển nhượng hay sát nhập… Làn sóng sát nhập và thơn tính (M&As) diễn
ra mạnh mẽ trong thời gian này.
Các cơng ty chứng khốn được chia làm 2 loại: cơng ty chứng khốn tổng
hợp và cơng ty chứng khốn mơi giới. Loại thứ nhất thực hiện tất cả các dịch vụ về
chứng khốn, từ mơi giới đến bảo lãnh phát hành. Loại thứ hai chỉ được thực hiện
một nghiệp vụ duy nhất là mơi giới chứng khốn. Điều kiện để trở thành một cơng
ty chứng khốn tổng hợp là cơng ty đó phải có số vốn tối thiểu là 500 triệu Nhân
dân tệ (60 triệu USD). Những công ty không đủ tiêu chuẩn để trở thành một công ty
môi giới chứng khoán, nếu muốn tiếp tục kinh doanh phải tái cơ cấu lại, sát nhập
hoặc liên kết…
15


3.6. Hệ thống Luật điều chỉnh và Cơ quan quản lý thị trường chứng
khoán Trung Quốc
Tháng 10 năm 1992, Uỷ ban chứng khoán thuộc Hội đồng Nhà nước (State
Council Securities Commission SCSC) và Uỷ ban chứng khoán Trung Quốc (China
Securities Regulatory Commission CSRC) được thành lập, cùng chia sẻ quyền quản
lý, giám sát thị trường chứng khoán với Ngân hàng nhân dân Trung Quốc và một số
cơ quan khác. Tháng 4/1998, thực hiện kế hoạch cải cách của Hội đồng nhà nước,
hai Uỷ ban này được hợp nhất, một hệ thống giám sát tập trung được thành lập.

Theo Luật chứng khoán Trung Quốc ra đời năm 1999, Uỷ ban chứng khoán
Trung Quốc là cơ quan tối cao trong lĩnh vực chứng khoán, với các chức năng ban
hành luật, quản lý, giám sát, điều hành, điều tra và thi hành các quy định về xử phạt.
Hệ thống Luật chứng khoán cũng dần được hoàn thiện, đặc biệt là từ sau khi
SCSC và CSRC ra đời. Tháng 4 năm 1993, Hội đồng Nhà nước ban hành văn bản
pháp luật đầu tiên về quản lý thị trường chứng khoán- Các quy định về phát hành
và giao dịch chứng khoán (Provisional Regulations concerning Stock issuance and
Trading), bao gồm các điều khoản điều chỉnh các hoạt động về phát hành, giao dịch
chứng khoán, tiếp quản cơng ty, lưu ký, thanh tốn bù trừ và đăng ký chứng khốn,
cơng khai thơng tin, cơng tác kiểm tra và các hình phạt, phương pháp giải quyết
tranh chấp… trên thị trường chứng khoán. Luật Xử lý vi phạm mới (Criminal Law)
năm 1997 bổ sung thêm các quy định hình thức xử phạt đối với những vi phạm trên
thị trường chứng khốn.
Ngày 1 tháng 7 năm 1994, Luật cơng ty (Company Law) của Trung Quốc có
hiệu lực. Trong đó có các điều khoản quy định những loại hình cơng ty nào được
phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu, quy trình phát hành, niêm yết, đăng ký và
chuyển nhượng chứng khoán…
Ngày 1 tháng 12 năm 1996, Quy định về Các tổ chức chứng khốn trong
nước và nước ngồi được phép giao dịch chứng khốn đầu tư nước ngồi có hiệu
lực. Văn bản này đưa ra những tiêu chuẩn để các tổ chức chứng khốn trong cơng
nước và nước ngồi, bao gồm các cơng ty mơi giới chứng khốn và các nhà bảo
lãnh phát hành, được phép giao dịch chứng khoán đầu tư nước ngồi niêm yết trên
thị trường chứng khốn Trung Quốc và ở nước ngoài.
Ngày 1 tháng 7 năm 1999, Luật chứng khốn Trung Quốc chính thức có hiệu
lực, đánh dấu một bước quan trọng trong q trình hồn chỉnh hệ thống luật chứng
khoán của đất nước này.
16


Luật chứng khoán Trung Quốc năm 1999 đặt ra nhiều hạn chế đối với các

loại hình nhà đầu tư được phép tham gia thị trường chứng khốn: Cán bộ cơng nhân
viên của Sở giao dịch chứng khốn, cơng ty chứng khốn và các cơ quan quản lý
chứng khốn khơng được phép giao dịch chứng khoán, dù là trực tiếp hay gián tiếp.
Các quỹ ngân hàng không được phép tham gia thị trường. Người môi giới không
được phép cho khách hàng vay chứng khốn. Các doanh nghiệp nhà nước khơng
được phép đầu cơ trên thị trường chứng khốn…
Luật chứng khốn cịn quy định nghiêm ngặt trách nhiệm của các chủ thể
tham gia thị trường, đi kèm với nó là các hình thức xử phạt đối với trường hợp vi
phạm. Chương 11 của Luật bao gồm 36 mục quy định chi tiết các biện pháp xử lý
hành chính, bao gồm tịch thu thu nhập bất hợp pháp, phạt tiền, thu hồi giấy phép
kinh doanh. Mục thứ 17 còn quy định cả những trách nhiệm hình sự, thường khơng
có trong luật liên quan đến thương mại của cả nước.
Luật chứng khoán Trung Quốc thể hiễn rõ nỗ lực của Nhà nước Trung Quốc
trong việc xây dựng một thị trường chứng khốn thơng thống, dễ tiếp cận và cơng
bằng và đã có những tác động quan trọng đến sự phát triển và hội nhập của thị
trường chứng khoán Trung Quốc.

CHƯƠNG II:

17


ĐÁNH GIÁ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRUNG
QUỐC

Những thành tựu đạt được của thị trường chứng khoán Trung Quốc
Sau 25 năm tồn tại, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã đạt được những
thành tựu quan trọng trên một số phương diện. Trung Quốc được coi là thị
trường lớn nhất châu Á, với trên 25 nghìn tỷ nhân dân tệ vốn thị trường, hơn 2700
công ty niêm yết trên 150 triệu tài khoản chứng khoán và trên 80 triệu tài khoản đầu

tư.
Thành công quan trọng nhất là Trung Quốc đã cơ bản hình thành được
một thị trường chứng khốn, đã tạo được những nền móng đầu tiên cho kênh huy
động vốn trung và dài hạn này. Chủ thể thị trường tương đối phong phú đa dạng và
được mở rộng với tốc độ tương đối cao, bao gồm các công ty niêm yết, nhà đầu tư,
tổ chức trung gian, công ty tư vấn, kiểm toán…
Hoạt động quản lý, vận hành của Ủy ban chứng khoán Nhà nước Trung
Quốc được thực hiện khá linh hoạt và hiệu quả. Luật chứng khoán ra đời là một
thành tựu thể hiện quyết tâm của Chính phủ nước này trong việc phát triển một thị
trường chứng khoán thơng thống, minh bạch, cơng bằng, hiệu quả và có khả năng
hội nhập.
Cơ sở vật chất cho thị trường chứng khoán cũng được chú trọng đầu tư.
Hiện nay Trung Quốc đã có hệ thống giao dịch vi tính hóa trên tồn quốc STAQ
(Securities Trading Automated Quotations) mơ phỏng hệ thống NASDAQ của Mỹ.
Ngồi ra, cịn có một hệ thống giao dịch điện tử quốc gia NET (National Electronic
Trading) dành riêng cho giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước và trái
phiếu kho bạc.
Trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngồi, mặc dù Luật chứng khốn
cịn hạn chế nhà đầu tư về nhiều mặt nhưng Trung Quốc vẫn thu hút được sự quan
tâm của nhiều tổ chức. Ngược lại, các công ty Trung Quốc cũng thâm nhập được
vào thị trường chứng khoán của nhiều nước. Việc tăng cường niêm yết trên Sở
giao dịch nước ngoài đem lại cho Trung Quốc một số lợi ích: Các cơng ty trong
nước đã học hỏi được kinh nghiệm quản lý, hệ thống kế toán và các luật liên quan
của các thị trường được tổ chức hoàn hảo trên thế giới, đẩy mạnh mối quan hệ giữa
Trung Quốc với thị trường vốn quốc tế. Các công ty hàng đầu Trung Quốc niêm yết
trên Sở giao dịch Hồng Kơng cịn góp phần phát triển Sở giao dịch này thành một
trung tâm tài chính quan trọng của thế giới.
1.

18



Thị trường chứng khoán Trung Quốc đã thực hiện được những vai trò
cơ bản: thu hút vốn cho nền kinh tế, kích thích các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả,
thúc đẩy công cuộc cải tổ hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
2.

Những tồn tại của thị trường chứng khoán Trung Quốc
2.1 Chỉ số chứng khoán biến động bất thường
a. Sự tăng trưởng cao

Thị trường chứng khoán Trung Quốc đã đạt được những mức tăng trưởng
đáng kinh ngạc từ năm 1994 đến năm 2001, nếu nhìn vào biến động chỉ số Dow
Jones Trung Quốc (Dow Jones China Index). Chỉ số DJ Trung Quốc là chỉ số tổng
hợp của 549 loại chứng khoán, với 282 chứng khoán của Sở giao dịch Thượng Hải
và 267 chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến. Bảng dưới đây
cho thấy chỉ số DJ Trung Quốc tăng trưởng nhanh hơn hẳn các chỉ số khác trên thế
giới, bao gồm chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản, chỉ số Hangseng của Hồng Kông,
chỉ số DJ STOXX 600 của Châu Âu và chỉ số DJ của 11 thị trường mới nổi trên thế
giới.

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN CHÍNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI (1994-2001)

Thu nhập
tích lũy
Thu nhập
hàng năm
Mức độ
biến động

Lãi/rủi ro

DJIA

STOXX

Nikkei 225

Hanseng
-4,13%

DJ các TT
mới nổi
-41,16%

DJ Trung
Quốc
79,82%

166,95%

68,74%

-39,47%

13.06%

6,76%

-6,06%


-0,53%

-6,41%

7,61%

15,80%

14,53%

20,80%

31,09%

27,92%

51,10%

0,83

0,46

-

-

-

0,15


Tăng trưởng về thu nhập tích lũy trong giai đoạn 1994-2001 của thị trường
chứng khoán Trung Quốc đạt gần 80%, chỉ đứng thứ hai sau Mỹ. Chỉ số tăng
trưởng về thu nhập hàng năm của Trung Quốc đạt gần 7,61%, gần bằng với tốc độ
tăng trưởng GDP.

19


Thị trường chứng khốn Trung Quốc trung bình đạt 1.776,09 điểm Index từ
năm 1990 đến năm 2015. Vào năm 2007 đạt mức cao nhất mọi thời đại 6.092,05
điểm Index vào tháng Mười.
b. Sự tăng trưởng cao chưa thực sự phản ánh hiệu quả
Kết quả hoạt động của thị trường chứng khốn chưa hẳn đã phản ánh chính
xác tình hình kinh tế nước này. Năm 1994 và 1995 là hai năm mà chỉ số chứng
khoán của Trung Quốc giảm mạnh nhất, cụ thể là 50%, trong khi nền kinh tế nước
này vẫn đạt mức tăng trưởng cao về GDP. Nếu bỏ qua năm 1994 thì thu nhập trung
bình của 7 năm còn lại trong giai đoạn sẽ tăng mạnh từ 7,61% lên 16,8%. Nếu bỏ
qua cả năm 1995 thì thu nhập trung bình của 6 năm cịn lại sẽ tăng vọt lên mức
23,3%.
c. Biến động bất thường
Các nhà phân tích cho rằng thị trường này đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại
khơng đồng đều. Có thể thấy rõ qua “sự kiện 1996” (1996 Oddity), “ngày bất
thường” (Single-day Oddity)
Sự kiện năm 1996
Chúng ta xem xét sự biến động chỉ số chứng khoán DJ China Index trong các
năm 1994-2001. Sau khi giảm 30% vào tháng 3 đầu năm 1993 và giảm hơn 60%
sau 18 tháng hoạt động, chỉ số DJ Trung Quốc trải qua hai năm rưỡi phục hồi và đạt
trở lại giá trị gốc là 100 điểm vào ngày 31/12/1993. Sau khi đạt mức 100 điểm một
lần nữa vào giữa năm 1994, chỉ số này tiếp tục giảm. Năm 1996, DJ China Index

tăng 125% lên đỉnh 150 điểm và bắt đầu một thời kỳ biến động nhưng luôn nằm
trên mức 100 điểm, thậm chí trên 150 điểm. Sauk hi đạt mức 200 điểm vào giữa
năm 1997, chỉ số này có 3 lần tăng vọt liên tiếp vào năm 2000, nhưng không lần
nào vượt qua ngưỡng 250. Chỉ số đạt mức đóng cửa ngày 21/8/2000 là 249,80
điểm. Một thời kỳ suy thoái bắt đầu từ tháng 7 năm 2001, khi chỉ số chứng khốn
tụt trở lại vị trí năm 1996. Như vậy, trong 8 năm 1994-2001, chỉ số này đã 5 lần
tăng vọt, trong đó sự tăng trưởng 125% vào năm 1996 được coi là một tác nhân có
ý nghĩa quan trọng cho cả thời kỳ. Năm 1996 được các nhà kinh tế học gọi là “sự
kiện 1996” đối với thị trường chứng khoán Trung Quốc.
 Những ngày đặc biệt của thị trường chứng khốn Trung Quốc
Thị trường chứng khốn Trung quốc cịn có những ngày đặc biệt khi chỉ số
chứng khốn biến động mạnh mẽ, gọi là “ngày bất thường” (Single-day Oddity).



20


20 NGÀY ĐẶC BIỆT CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRUNG QUỐC
1994-2001
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

TB

Ngày tăng mạnh nhất
01/08/94
18/05/95
03/08/94
05/08/94
10/08/94
05/09/94
19/05/94
07/10/94
26/04/96
22/02/95

% tăng
34,20
28.57
19,18
16,59
16,44
15,93
11,37
10,91
10,24
10,04
17,35

Ngày giảm mạnh nhất
23/05/95
05/10/94

09/08/94
16/12/96
17/12/96
14/10/94
18/12/97
22/05/97
29/09/94
16/05/97
TB

% giảm
-17,20
-12,27
-10,73
-9,95
-9,86
-9,36
-9,28
-8,97
-8,42
-8,28
-10,43

Các chuyên gia kinh tế cho biết nếu một nhà đầu tư trên thị trường này bỏ lỡ
mất 10 ngày tăng trưởng mạnh nhất này anh ta sẽ bị thua lỗ 65% trong cả giai đoạn,
cho dù anh ta có tham gia vào thị trường này tất cả các ngày còn lại, kể cả năm tăng
trưởng cao 1996.
2.2. Nguyên nhân của các mặt tồn tại
2.2.1. Nguyên nhân từ công tác quản lý vĩ mơ
a. Sự phân biệt các loại chứng khốn

Sự phân biệt các loại chứng khốn, kết hợp với chính sách kiểm soát chặt
chẽ đồng nhân dân tệ đã giúp Trung Quốc tránh được cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ. Tuy nhiên, nó khơng những tạo ra rào cản giữa các nhà đầu tư nước ngồi
với thị trường chứng khốn Trung Quốc.
• Rất nhiều chứng khốn thượng hạng của các cơng ty Trung Quốc
chỉ được niêm yết trên các Sở giao dịch nước ngồi và các nhà đầu
tư trong nước khơng được phép giao dịch: CNOOC, China
Unicom… đều là những công ty hàng đầu của Trung Quốc, nhưng
lại là những thành phần quan trọng nhất của chỉ số Hang Seng chứ
không phải DJ China Index.
• Khách hàng, nhà cung cấp, thậm chí là cơng nhân viên của các cơng
ty này, nếu là người Trung Quốc, đều không được phép giao dịch
chứng khốn của cơng ty. Như vậy, chính các nhà đầu tư trong
nước, nội lực của thị trường, lại không tiếp cận được với những
chứng khốn hảo hạng của nước mình.
• Các nhà đầu tư tổ chức khơng được khuyến khích ,cịn các cá nhân
với ít kinh nghiệm và lịng tin, tham gia vào thị trường chứng khoán
21


A với những giao dịch ngắn hạn nhằm ăn chênh lệch giá. Điều đó
giải thích vì sao tâm lý đầu cơ bao trùm lên thị trường chứng khoán
loại A, thị trường chứng khốn loại B thì thiếu sinh khí, cịn các nhà
đầu tư nước ngoài vẫn giữ thái độ dè dặt.
Thị trường chứng khốn Trung Quốc cũng có những bất cập làm cho tính
thanh khoản bị yếu. Thị trường này bị chia làm ba phần: thị trường liên ngân hàng,
thị trường hối đoái và thị trường phiếu voucher, với các đối tượng tham gia khác
nhau, ít khi trong kinh doanh có sự đan xen giữa các phân đoạn này.
b. Cấu trúc thị trường chứng khoán Trung Quốc là trở ngại lớn
Theo nghiên cứu của nhiều nhà phân tích, hai Sở giao dịch chứng khốn

của Trung Quốc, tuy có quy mơ tương đương và giao dịch các loại hàng hóa giống
nhau nhưng lại phân biệt về hệ thống quản lý, khác nhau về xu hướng biến động và
khơng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Sự tồn tại song song hai Sở giao dịch như
vậy là không cần thiết, đặc biệt là trong xu thế vi tính hóa thị trường chứng khốn
như hiện nay. Trung Quốc có thể sát nhập hai Sở giao dịch này, và tách một bộ phận
của Sở giao dịch Thâm Quyến thành một Sở giao dịch mới dành riêng cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
c. Quy định về cổ phiếu không được phép giao dịch
Mỗi thị trường chứng khoán trên thế giới đều tồn tại một số lượng nhất
định những cổ phiếu không được phép giao dịch, bao gồm cổ phiếu thuộc cổ phần
nhà nước, cổ phần nắm giữ chéo, cổ phần cá nhân… Sự tồn tại các cổ phiếu không
được phép giao dịch khiến tỷ lệ thả nổi của các thị trường chứng khoán là khác
nhau. Chỉ số thả nổi của một thị trường chứng khoán được đo bằng giá trị thị trường
của các cổ phiếu được phép tự do giao dịch chia cho tổng giá trị thị trường.
So với các thị trường trên thế giới thì thị trường Trung Quốc có tỷ lệ thả
nổi ở mức rất thấp, trung bình là 30%. Nguyên nhân của tình trạng này là do sở hữu
nhà nước trong các công ty niêm yết là rất lớn. khi một cơng ty nhà nước của Trung
Quốc được chuyển sang hình thức công ty cổ phần và niêm yết trên thị trường
chứng khốn, chỉ có 1/3 cổ phần của nó được bán ra cơng chúng, 2/3 cịn lại vẫn
thuộc sở hữu nhà nước và cổ phiếu thuộc cổ phần này không được phép giao dịch
trên thị trường chứng khoán. Tỷ lệ sở hữu nhà nước trung bình trong các chứng
khốn Trung Quốc là 45%, với mức cao nhất là 89%. Hiện tượng này gây ra những
trở ngại lớn cho sự phát triển lành mạnh của thị trường này, nhưng lại không dễ
dàng giải quyết bởi nó là một đặc điểm mang tính lịch sử.
d. Những hạn chế đối với nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư nước ngồi
Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều gặp những hạn chế nhất định trên
thị trường chứng khoán Trung Quốc. Các quỹ đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu
tư vào đây nếu họ thành lập liên doanh với các công ty trong nước và phải xin phê
22



chuẩn từ Cục quản lý ngoại hối nhà. Bên cạnh đó, lãi suất vay đồng nhân dân tệ đối
với người nước ngồi vẫn cịn cao hơn 1% so với lãi suất vay đồng USD. Quản lý
ngoại hối chặt chẽ phần nào tạo ra rào cản đối với đầu tư nước ngồi trên thị trường
chứng khốn Trung Quốc.
Đối với các nhà đầu tư tổ chức trong nước, trở ngại đối với việc tham gia
thị trường là quy mô vốn không đủ lớn, thị trường trong giai đoạn bất ổn, Chính
phủ chưa có những ưu đãi hợp lý.
2.2.2. Ngun nhân từ phía các công ty niêm yết
a. Giới thiệu hệ số P/E và hệ số P/B
Hệ số P/E (price to earning) là hệ số giữa giá cổ phiếu (thị giá) và thu
nhập hàng năm của một số cổ phiếu đem lại cho người nắm giữ. Tại các thị trường
đã phát triển, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì cơng ty
đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư tin tưởng trong tương lai, mức thu nhập
trên một cổ phiếu sẽ tăng nhanh. Trường hợp cơng ty có hệ số P/E thấp có thể là do
thị trường đánh giá không cao công ty đó, hoặc chưa hiểu biết nhiều về cơng ty. Hệ
số P/B ( price to book value) là tỷ số giữa giá cổ phiếu (thị giá) và giá trị ghi sổ của
cổ phiếu đó. Người ta có thể tính ra các hệ số P/E và P/B trung bình cho cả thị
trường.
b. Nguyên nhân hiện tượng P/E của Trung Quốc cao
Theo các nghiên cứu thì hệ số P/E của Trung Quốc đạt trên mức 70%.
Ngun nhân vì hầu hết các cơng ty niêm yết của Trung Quốc đều bắt nguồn từ các
doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa. Do đó, cấu trúc công ty cũng như cơ chế
hoạt động vẫn mang dấu ấn nặng nề của mơ hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Các cơng ty này khơng đảm bảo được những mục tiêu quan trọng nhất của một
công ty cổ phần là tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo quyền lợi cho các cổ đơng, thể
hiện ở:
• Các quyền lợi về tài sản khơng rõ rang do chính phủ và các cơ quan
hành chính can thiệp quá sâu rộng với vai trị của một cổ đơng và một
nhà quản trị ở Trung Quốc, các công ty được thành lập khơng phải do

những địi hỏi của thị trường, mà từ một quá trình phê chuẩn rườm rà
các thủ tục hành chính của chính phủ. Trong những cơng ty này khơng
có sự phân biệt về người có quyền lợi và trách nhiệm của một cổ đông
nhà nước, những quyền lợi nào được bảo vệ, và đối tượng nào được
hưởng quyền lợi gì. Ban giám đốc của cơng ty thường chịu trách
nhiệm với chính phủ nhiều hơn các cổ đơng. Những người đứng đầu
cơng ty có quyền lợi q lớn và thường làm lợi cho bản than, đi ngược
lại quyền lợi của các cổ đơng nhỏ. Trong khi đó, sự can thiệp chóng
23




chéo của các cấp chính phủ làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động
của công ty.
Hầu hết các công ty này tìm cách tăng vốn và kiếm lợi nhuận bằng
cách chia nhỏ cổ phiếu dưới dạng tăng thêm nhiều ưu đãi cho các cổ
đông gốc. Họ dùng các khoản vốn tăng thêm để đầu tư vào những lĩnh
vực không liên quan gì đến hoạt động kinh doanh của chính cơng ty
mà không cần hỏi ý kiến của các cổ đông. Một số cơng ty đầu cơ trên
thị trường, thậm chí thao túng chính cổ phiếu của cơng ty, làm cho thị
trường biến động mạnh và thất thường, tính rủi ro tăng cao.

3. Những bài học kinh nghiệm từ sự phát triển của thị trường chứng khoán
Trung Quốc
3.1. Thị trường chứng khốn Trung Quốc cần sự phát triển có chiều sâu
và từ bên trong
Phát triển có chiều sâu và từ bên trong có nghĩa là thị trường chứng khốn
tăng trưởng tăng do giá chứng khoán tăng, kết quả của việc các cơng ty niêm yết
làm ăn có hiệu quả, chứ khơng phải do sự mở rộng, phát hành tràn làn các loại

chứng khốn mới. Để làm được điều đó, điều quan trọng nhất là phải tăng cường
hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết và nâng cao năng lực của các cơng ty
chứng khốn.
a. Cải thiện cơ chế quản lý và hoạt động của cơng ty chứng khốn và cơng ty
niêm yết.
Trong thời gian qua, Ủy ban chứng khốn Trung Quốc (CSRC) đã nhận thấy
rõ vai trò của quản trị cơng ty trong phát triển thị trường chứng khốn và có những
cải tổ tương đối quan trọng. CSRC đã đưa ra yêu cầu rất cao về tính minh bạch,
đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc của các
công ty niêm yết, qua đó khuyến khích các cơng ty áp dụng những thơng lệ quản trị
tốt nhất.
• Về tính minh bạch, CSRC yêu cầu các công ty niêm yết công bố các bản
báo cáo quý chưa kiểm toán để cung cấp cho các nhà đầu tư những thơng
tin tài chính cập nhật hơn. Ngồi ra, các cơng ty niêm yết cịn phải cơng
bố trong báo cáo thường niên của mình những biện pháp cụ thể để hoạt
động quản trị của công ty được thực hiện tốt như họ đã cam kết trong năm
tài chính trước đó. Các cơng ty niêm yết phải giải thích và đưa ra lí do của
những điểm khác biệt giữa nguyên tắc về quản trị công ty của mình với
các ngun tắc và chuẩn mực chính của CSRC. Mọi kế hoạch trong tương
lai có liên quan đến những điểm khác biệt này đều phải được nêu rõ trong
báo cáo thường niên. Các công ty niêm yết cũng cần phải công bố những
24


thơng tin chi tiết về tình trạng sở hữu cổ phiếu của các cổ đơng kiểm sốt
và các cá nhân liên quan. Như thế, các cổ đông mới nắm được bất kỳ mối
quan hệ nào giữa các bên tham gia.
• Các nhà quản lý thị trường cho rằng, vấn đề quản trị công ty không chỉ
gắn liền với các công ty niêm yết mà còn liên quan đến các tổ chức trung
gian. Nhiều tổ chức trung gian cũng gặp những vấn đề giống như các công

ty niêm yết của Trung Quốc như: mâu thuẫn về lợi ích giữa các cổ đơng
và nhà đầu tư… Để giải quyết điều đó, CSRC đã ban hành bộ luật về các
nguyên tắc hoạt động áp dụng đối với các tổ chức trung gian, thiết lập
chương trình giám sát để đảm bảo việc kiểm sốt nội bộ và quản lý rủi ro
hợp lý trong các tổ chức trung gian. Các công ty quản lý quỹ và các cơng
ty chứng khốn phải chấp hành nghiêm ngặt việc phân biệt rõ chức năng
của bộ phận giao dịch với khách hàng và bộ phận tác nghiệp, cũng như
quản lý tách biệt rõ rang tài khoản của khách hàng và tài khoản công ty.
Việc CSRC đổi mới hoạt động quản trị của công ty giữa các bên tham gia
vào thị trường Trung Quốc đã giúp cải tiến chất lượng cho các thị trường
và giữ vững niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngồi nước.
• Ngồi ra, CSRC cịn giới thiệu chương trình Guiding Suggestions on
Establishing the Independent Director System (Hướng dẫn thành lập hệ
thống Nhà quản lý tự chủ), u cầu tất cả các cơng ty có chứng khoán
niêm yết trên Sở giao dịch phải áp dụng để phát triển một hệ thống giám
đốc tự chủ. Hệ thống này phải chiếm ít nhất 1/3 thành viên Ban giám đốc.
b. Thực hiện các giải pháp để việc phát hành chứng khốn mới có hiệu quả
Kiểm tra gắt gao các khoản tiền mà ngân hàng rót vào các cơng ty chứng
khốn, cơng ty niêm yết, u cầu các cơng ty chứng khốn có trách nhiệm cao hơn
trong việc bảo lãnh phát hành cổ phiếu mới và cổ phiếu bổ sung. Vào ngày
1/10/2003 Ủy ban chứng khoán đã ban hành các quy định nhằm quản lý chặt chẽ
hơn việc Phát hành chứng khốn lần đầu IPO của các cơng ty Trung Quốc. Theo đó,
số tiền huy động từ hoạt động IPO không được phép vượt quá hai lần tài sản rịng
của cơng ty trong tài khoản trước đó. Một cơng ty muốn phát hành IPO phải thỏa
mãn các yêu cầu: được thành lập không dưới 3 năm trước khi đệ đơn xin tham gia
IPO, các cổ đơng kiểm sốt cơng ty phải được giữ nguyên trong nhiệm kỳ 3 năm và
phải có khả năng kinh doanh độc lập, doanh số bán các sản phẩm của người nắm
giữ cổ phần lớn nhất không được vượt quá 30% tổng doanh số bán ra trong 3 năm.
Một công ty xin phát hành IPO không được ủy thác bán sản phẩm hoặc mua nguyên
liệu thô quá 30%. Thu nhập từ việc sử dụng tài sản của cổ đơng lớn nhất của cơng

ty đó cũng không được vượt quá 30% tổng doanh thu của lĩnh vực kinh doanh chủ
25


×