Tải bản đầy đủ (.pdf) (167 trang)

Tục thờ tứ trấn thăng long ở Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 167 trang )

1


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là những nghiên cứu của cá nhân tôi.
Nếu có điều gì sai phạm, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả đề tài

Nguyễn Doãn Minh


3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

HN Hà nội
KHXH Khoa học xã hội
NCS Nghiên cứu sinh
Nxb Nhà xuất bản
Tp Thành phố
VHDT Văn hóa dân tộc
VHTT Văn hóa Thông tin
Bd Bản dịch
Pv Phỏng vấn


4

MỤC LỤC



LỜI CAM ĐOAN
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI
1.1. Tổng quan về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu
1.2. Giới thuyết khái niệm và cơ sở lý luận nghiên cứu
1.3. “Tứ trấn Thăng Long” trong không gian lịch sử, văn hóa, xã hội Thăng Long
– Hà Nội
Tiểu kết
CHƯƠNG 2: TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ TẠO DỰNG ĐẾN
TẠO DỰNG TRUYỀN THỐNG TRƯỚC NĂM 1945
2.1. Giai đoạn tạo dựng tục thờ ở “Tứ trấn” (1010-1802)
2.2. Giai đoạn “tạo dựng truyền thống” Tứ trấn từ của Thăng Long (1820-1945)
Tiểu kết
CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ
SAU NĂM 1945 ĐẾN NAY
3.1. Tục thờ Tứ trấn Thăng Long giai đoạn tự phát (1945-1986)
3.2. Tục thờ Tứ trấn Thăng Long giai đoạn phục hồi và kế tục sự tạo dựng truyền
thống từ sau 1986 đến nay
Tiểu kết
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG
LONG TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY
4.1. Tứ trấn Thăng Long qua sự so sánh với các “Tứ trấn” khác
4.2. So sánh tục thờ của các trấn trong Tứ trấn Thăng Long
4.3. Các xu hướng chuyển đổi của Tục thờ Tứ trấn hiện nay
4.4. Vai trò, ý nghĩa của tục thờ Tứ trấn Thăng long
4.5. Tứ trấn Thăng Long qua nhận thức của các đối tượng khác nhau trong xã hội
Tiểu kết

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
2
3
5
10
10
28
33
40
42
42
70
85
86
86
93
115
116
116
119
127
132
145
151
153

157
158
166


5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Thăng Long Tứ trấn” là cụm từ thường dùng để gọi tắt bốn di tích, bốn ngôi
đền thiêng tiêu biểu trấn giữ bốn phương của kinh thành Thăng Long xưa. Tương
truyền vào buổi đầu định đô ở miền đất này, với những đóng góp lớn lao của các vị
thần cho vương triều Lý, bốn ngôi đền đã lần lượt được dựng lên. Phía Đông là đền
Bạch Mã, thờ thần Long Đỗ. Phía Tây là đền Voi Phục, thờ thần Linh Lang. Phía
Nam là đền Kim Liên, thờ thần Cao Sơn. Phía Bắc là đền Quan Thánh, thờ thần
Huyền Thiên thượng đế (thường được gọi là Đức thần Trấn Võ - Vũ).
Vào dịp kỷ niệm 990 năm (năm 2000) và 1000 năm (năm 2010) của Thăng
Long Hà Nội, 4 ngôi đền được cho là Tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa đều
được đầu tư tu bổ tôn tạo từ một đến nhiều hạng mục kiến trúc và gắn biển: Công
trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Cũng nhân dịp kỷ niệm này, Hà Nội
đã có nhiều chương trình nghiên cứu như khai quật khảo cổ khu Hoàng thành Thăng
Long. Những tấm ảnh liên quan đến 4 di tích trên được chú thích là trấn Đông - đền
Bạch Mã, trấn Tây - đền Voi Phục, trấn Nam - đền Kim Liên, trấn Bắc đền Quan
Thánh (ảnh trưng bày tại di tích Hậu Lâu vào năm 2001). Cho đến năm 2012 Công
ty TTHH Thiên Kim Việt còn có văn bản gửi lên Ban Quản lý Di tích Danh thắng
Hà Nội Dự kiến kịch bản phần hội của các ngày lễ thánh Tứ trấn Thăng Long…
Quan niệm có Tứ trấn Thăng Long không phải ngẫu nhiên tồn tại. Quan niệm
này khá phổ biến trên các phương tiện truyền thông, cũng như trên các trang báo
mạng. Đặc biệt quan niệm này đã và đang là niềm tự hào của người dân sống và
sinh hoạt xung quanh Tứ trấn. Nhưng Thăng Long có Tứ trấn - bốn ngôi đền bảo vệ

ngay từ buổi đầu quy hoạch kinh đô với cùng tên gọi vào thời Lý (thế kỷ XI - XII)
như thuật ngữ “Thăng Long Tứ trấn” tạo ra? Hay Tứ trấn lần lượt được hình thành
qua thời gian và được “tạo dựng” thêm ý nghĩa trấn giữ? Những vấn đề trên thực sự
đang còn bỏ ngỏ. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là việc làm cần thiết, đáp ứng
nhu cầu khoa học trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về sự hình thành và biến đổi Tục
thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội qua các giai đoạn cũng như vai trò và vị trí của
tục thờ này trong cuộc sống đương đại.
2. Mục đích nghiên cứu


6

2.1. Phác thảo một cái nhìn tổng thể về tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” ở Hà
Nội từ khi hình thành cho đến ngày nay.
2.2. Bước đầu lý giải sự “tạo dựng truyền thống” ở tục thờ “Tứ trấn Thăng
Long”.
2.3. Kiểm chứng mức độ phù hợp của lý thuyết “tạo dựng truyền thống” (The
invention of traditional) với nghiên cứu trường hợp “Tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở
Hà Nội”.
Để đạt được những mục đích trên chúng tôi đặt ra những mục tiêu hoàn thành
sau:
- Mô tả quá trình tạo dựng tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” qua các phương diện
truyền thuyết, hệ thống thần điện, nghi lễ phụng thờ... bốn Đức thần ở Tứ trấn.
- Xem xét, đánh giá cơ sở, nền tảng về không gian văn hóa xã hội cho sự hình
thành và phát triển nơi thờ bốn vị thần trong 4 ngôi đền (Tứ trấn) ở Hà Nội, để từ đó
trả lời cho câu hỏi ngôi đền đó thờ ai, lai lịch, công trạng của vị thần đó trong lịch
sử như thế nào? Mục đích thờ các vị thần để làm gì? Sự biến đổi của di tích và sự
phụng thờ các vị thần này trong diễn trình lịch sử ra sao?
Mặt khác, từ kết quả khảo sát thực tế đề tài sẽ đi đến tìm hiểu các sinh hoạt tín
ngưỡng đã và đang diễn ra ở 4 ngôi đền; sự biến đổi của di tích và nghi lễ so với

truyền thống; người Hà Nội hiện đại đã và đang thực hành các tín ngưỡng tại 4 ngôi
đền ra sao; không gian văn hóa xã hội của Hà Nội ngày nay đã tác động đến sự biến
đổi của tục thờ ở Tứ trấn như thế nào?…
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng của đề tài là tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội. Cụ thể đó là
các vấn đề truyền thuyết, sự tích Đức thần, các cơ sở thờ tự, kiến trúc và điện thần,
lễ hội, nghi thức phụng thờ…được ghi chép trong thư tịch và trên thực địa liên quan
đến các vị thần ở bốn di tích tạo thành Tứ trấn bảo vệ Thăng Long - Hà Nội theo
quan niệm dân gian.
3.2. Phạm vi
- Phạm vi thời gian: Trong khuôn khổ các tư liệu cho phép, nghiên cứu tục thờ
từ khi tạo dựng cho đến nay.


7

- Phạm vi không gian: “Tứ trấn” gồm: trấn Đông là ngôi đền Bạch Mã hiện
nay có địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm; trấn
Tây là ngôi đền Voi Phục có địa chỉ Phố Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba
Đình; trấn Bắc là đền Quan Thánh, có địa chỉ số 194 phố Quan Thánh, Phường
Quan Thánh, Quận Ba Đình. Ba ngôi đền này đã hiện diện trên bản đồ có niên hiệu
Hồng Đức từ thế kỷ XV (1490); trấn Nam là ngôi đền Kim Liên, có địa chỉ số
148A, phố Kim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa.
Hiện nay, bốn ngôi đền tọa lạc trên địa bàn ba quận Hoàn Kiếm, Ba Đình,
Đống Đa. Đây cũng là 3 quận thuộc vào địa giới Hà Nội cổ từ thời Lê sơ và 3 quận
này cũng là vùng lõi của không gian văn hóa Thăng Long – Hà Nội. Vì vậy, phạm
vi nghiên cứu của đề tài sẽ bao gồm khu vực nội thành Hà Nội (địa bàn 3 quận
Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa), ngoài ra mở rộng so sánh với một số điểm phối
thờ ở địa bàn khác thuộc Hà Nội.

4. Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
4.1. Hướng tiếp cận
- Hướng tiếp cận lịch sử cụ thể là hướng tiếp cận do Franz Boas (1858-1942),
người Mỹ gốc Đức đề xuất vào năm 18951, trong đó nội dung nhấn mạnh: “Để giải
thích phong tục văn hoá, cần phân tích chúng trong ba khía cạnh cơ bản: điều kiện
môi trường, yếu tố tâm lý và lịch sử liên quan, trong đó lịch sử là quan trọng nhất”.
Đề tài đặt Tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội vào những bối cảnh lịch sử
cụ thể từ khi tạo dựng Thăng Long xưa, qua các giai đoạn lịch sử và trong bối cảnh
Hà Nội ngày nay để nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận thức cơ bản về Tục thờ
Tứ trấn ở Thăng Long. Câu hỏi đặt ra là: Tục thờ trên đã chịu sự tác động như thế
nào từ bối cảnh lịch sử cụ thể? Và tục thờ trên có thêm những “tạo dựng”, cũng như
tích hợp thêm những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng gì?...
Bên cạnh đó, đề tài cũng vận dụng hướng tiếp cận được sử dụng phổ biến
trong nghiên cứu văn hóa dân gian đó là tiếp cận nghiên cứu liên ngành gồm văn
hóa dân gian, lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật… Trên cơ sở đó, luận án kết
hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau để thực hiện đề tài như:
. Tác giả. Đào Thế Đức. Tập bài giảng Lý thuyết nhân học tại Học viện KHXH dành cho nghiên cứu sinh chuyên ngành

1

Văn hóa Dân gian.


8

4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Bao gồm các nguồn sử liệu được
ghi chép chính thống; các nguồn thư tịch cổ (minh văn trên bia, chuông, sách đồng,
biển gỗ, hoành phi, câu đối…), các ghi chép phi chính thống như trong truyền
thuyết dân gian; các công trình nghiên cứu đã công bố (tập hợp nhiều nhất có thể).

Đây là phương pháp khai thác tư liệu nghiên cứu tổng hợp của nhiều chuyên ngành,
của nhiều thế hệ nhằm hiểu được một cách tổng thể về Tứ trấn, cũng như đúc kết,
thừa kế và vận dụng được những phương pháp nghiên cứu của những công trình
trước. Từ đó tìm ra cách tiếp cận mới, cũng như những luận điểm mới và phát triển
nó trong nghiên cứu của mình.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Với phương pháp này, từ việc trực tiếp
quan sát, tham dự vào hoạt động sinh hoạt của một cộng đồng cụ thể nhà nghiên
cứu có thể tiếp cận gần nhất những kinh nghiệm và hiểu sâu hơn đối tượng nghiên
cứu, tiệm cận đến “cách nhìn của người trong cuộc”. Chúng tôi vận dụng phương
pháp này nhằm tìm hiểu sâu về đời sống tinh thần, văn hóa, phong tục và lịch sử…
những hoạt động văn hóa đang hiện diện trong cộng đồng ở Tứ trấn, từ đó đưa ra
những tư liệu và nhận định một cách khách quan về tục thờ Tứ trấn Thăng Long
trong cuộc sống đương đại. Cụ thể như: chúng tôi tham dự quan sát những hoạt
động nghi lễ trong dịp lễ hội ở từng trấn từ năm 2010 đến năm 2015. Trao đổi, tham
vấn các cụ thủ từ, những người làm công tác quản lý trực tiếp tại di tích về những
quy định của di tích cũng như những hoạt động của nhà đền. Bên cạnh đó chúng tôi
cũng quan sát hoạt động tín ngưỡng như lễ bái cầu khấn của người dân trong dịp lễ
mồng một, ngày rằm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp liên ngành: Đây là phương pháp kết hợp
nghiên cứu của nhiều ngành liên quan nhằm lý giải đối tượng một cách khách quan,
hợp lý và bản chất nhất. Dưới góc độ tiếp cận lịch sử góp phần phản ánh và lý giải
lịch sử hình thành và phát triển của Tứ trấn; Góc độ Văn hóa dân gian thì Tục thờ
Tứ trấn có sự hình thành và biến đổi như thế nào? Góc độ Nghệ thuật học thì hoa
văn trang trí, những biểu tượng của linh vật hay đồ thờ tự có ý nghĩa gì, hình tượng
của tượng thờ được phân tích dưới góc độ giải phẫu ra sao, đem lại những cảm nhận
thẩm mỹ như thế nào? Góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì thói quen, tập tục sinh hoạt,


9


tín ngưỡng của người dân tại Tứ trấn có gì giống và khác với những địa điểm hay
vùng miền phụ cận khác?...
5. Kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận án
- Cung cấp một hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ về Tục thờ Tứ trấn Thăng
Long ở Hà Nội.
- Phác thảo nên diện mạo tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” ở Hà Nội từ khi tạo
dựng cho đến ngày nay.
- Luận án đã vận dụng lý thuyết “Tạo dựng truyền thống” nhằm nghiên cứu về
tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” từ đó góp phần kiểm chứng mức độ phù hợp của lý
thuyết “tạo dựng truyền thống” trong việc “tạo dựng” tục thờ Tứ trấn Thăng Long
ở Hà Nội.
6. Bố cục của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần chính văn
của luận án được bố cục thành 4 chương như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 2: TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ TẠO DỰNG ĐẾN
“TẠO DỰNG TRUYỀN THỐNG” TRƯỚC NĂM 1945
Chương 3: SỰ PHỤC HỒI TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ SAU
NĂM 1945 ĐẾN NAY
Chương 4: MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG
TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY


10

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu
1.1.1. “Tứ trấn Thăng Long” qua các nguồn tư liệu
Tứ trấn Thăng Long là 3 ngôi đền và 1 ngôi quán tiêu biểu gắn liền với các vị

thần trấn giữ kinh đô Thăng Long được định hình tục thờ trong suốt chiều dài lịch
sử phong kiến Việt Nam. Mỗi di tích gắn với 1 vị thần, có lịch sử hình thành và
phát triển khác nhau nên các nguồn tư liệu đề cập đến Tứ trấn cũng có mức độ và
nội dung phản ánh khác nhau.
1.1.1.1. Nguồn tư liệu đề cập riêng đến từng trấn
*. Thư tịch cổ
Phần lớn các nguồn tư liệu này có trước năm 1945 đề cập đến từng di tích
trong Tứ trấn một cách riêng biệt. Những tập sách được biên soạn sớm vào thời
Trần (thế kỷ XIV) như Việt điện u linh (Việc u linh ở cõi nước Việt) của tác giả Lý
Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái (Những chuyện kỳ lạ thu góp được ở cõi Lĩnh
Nam) của hai tác giả Vũ Quỳnh và Kiều Phú cũng chỉ đề cập đến vị thần trấn phía
Đông.
Việt điện u linh [Bd,1972,113] giới thiệu về Đức thần Long Đỗ qua truyện
“Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương” thì đây là vị thần xuất hiện ở cửa
Đông, khi Cao Biền cho đắp thành Đại La thần đã hiện lên bảo với Biền rằng: “Tôi
là Long Đỗ vượng khí quân…”. Về vị thần này, “Vua Lý Thái Tông sắc phong thần
là Quảng Lợi vương. Năm Trùng Hưng 1 (1285) sắc phong 2 chữ Thánh Hựu. Năm
Hưng Long 21 (1313) gia phong 2 chữ Phu Ứng tiến bước lên đại vương”
[113,tr.86].
Với Lĩnh Nam chích quái [Bd,1990,72], truyện sông Tô Lịch gợi mở về vị thần
tên Tô Lịch và được Cao Biền đặt tên sông Tô Lịch [72, tr.75] và dường như thần
Tô Lịch với thần Long Đỗ được hợp thành một. Truyện kể rằng:...một buổi sớm,
Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy một trận gió lớn
nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt
nước… Biền rất kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm mộng thấy thần tới nói rằng:


11

“Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta

chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép [72, tr.75]?
Một số dị bản của Lĩnh Nam chích quái thì chép hai thần Tô Lịch và Long Đỗ
thành hai truyện riêng biệt. Đức thần Long Đỗ được phản ánh qua truyện thần chính
khí Long Đỗ: Thần đã có công đập tan bùa chú của viên quan đô hộ Cao Biền. Đời
vua Lý Thái Tổ phong làm Thăng Long Thành Hoàng đại vương. Đời Trần, phong
Đức thần làm Thuận Dụ Tự Ứng đại vương.
Qua hai tập sách trên cho thấy không có truyện nào kể về những vị thần thờ
trong các trấn Tây, trấn Nam, trấn Bắc. Thuật ngữ Tứ trấn cũng chưa thấy đề cập.
Phải đến cuối thế kỷ XIX những trang, dòng liên quan đến 4 di tích thuộc Tứ
trấn mới thấy xuất hiện trong một số bộ sách.
Tập sách Hà Nội địa dư (soạn xong năm 1852) [Bd,2007,56] là tập sách về địa
lý, lịch sử của tỉnh Hà Nội thời Tự Đức. Ba ngôi đền Bạch Mã, Voi Phục, Kim Liên
và ngôi quán Chân Vũ cũng được giới thiệu. Vị thần Bạch Mã Đại vương được ghi
chép theo Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, thần “là Tinh của thần Long Đỗ [56,
tr.66]. Về vị thần Cao Sơn đại vương sách này ghi rằng:
Ở phường Kim Liên(2), truyền rằng ngài là một trong 50 người con đi lên núi của
Lạc Long Quân, là sơn thần của ngọn núi bên trái núi Tản Viên: “Vào khoảng
năm Hồng Đức triều Lê thần đã âm phù giúp vua Lê Tương Dực lên ngôi. Ngôi
đền vốn thuộc huyện Phụng Hóa(3) thấy giữa khoảng núi rừng có một vực nước
gọi là vực Lâm rộng khoảng một mẫu, phía trên có một ngôi miếu lợp tranh, bên
phải có biển đề Cao Sơn Đại vương [56, tr.70].

Vị thần thờ ở đền Voi Phục được ghi là “đền thờ Hoằng Tế tối linh Đại
vương”, thần vốn là con vua Lý Thái Tông và một người phụ nữ ở hồ Dâm Đàm:
“Vua sai dựng ngôi miếu ở đó để thờ, lấy hai chữ “Linh Lang” làm tên húy của
thần. Triều đình ban cho sắc phong, lại miễn trừ cho dân trại Thủ Lệ 25 suất đinh để
trông nom quét dọn miếu. Tại di chỉ xưa của miếu, ngày nay cây cối mọc um tùm
xanh tốt” [56, tr.70-71].
. Nay thuộc phường Kim Liên, quận Đống Đa


2

. Huyện Phung Hóa dưới thời Lê Thái Tông (1433-1442) cho đến thời Nguyễn thuộc trấn Thanh Hoa, thời Pháp thuộc

3

huyện Phụng Hóa đổi thành huyện Nho Quan, hiện nay thuộc tỉnh Ninh Bình (dẫn theo bài Ninh Bình theo dòng lịch sử
/>

12

Vị thần thờ ở phía Bắc được ghi:
Thần vốn xuất hiện vào thời Minh Thành Tổ… Đời An Dương Vương nhà
Thục, có yêu tinh gà trắng hợp cùng ma quỷ hiện ra ở núi Thất Diệu. Thần đã
hiện ở núi Xuân Lôi dẹp trừ hết lũ ma quỷ. An Dương Vương bèn dựng miếu
thờ ở cổng thành phía Bắc” [56;tr.78-79].

Tập sách Đại Nam nhất thống chí [Bd,2007,56] (thảo xong năm 1861 đến năm
1882 hoàn thành - thời Tự Đức), được đánh giá là bộ sách địa lý học lịch sử đầy đủ
và lớn nhất của nước ta dưới thời phong kiến. Tập sách này ghi chép về thứ tự cũng
như nội dung lịch sử các vị thần trong 4 di tích trên có chỗ khác biệt. Ngôi đền thờ
thần Linh Lang được viết rất sơ lược:
(đền) ở trại Thủ Lệ, huyện Vĩnh Thuận(4). Tương truyền thần là con vua Lý Thái
Tông, hóa thân và hiển linh ở đây, nhân đấy lập đền thờ. Xét: Chỗ này có bãi
sông dài 435 trượng; rộng 43 trượng nước rất trong, mọc nhiều ấu và sen, có tên
nữa là hồ Linh Lang, đền ở phía bắc hồ, thường tỏ linh ứng [56; tr.601].

Về đền Bạch Mã cũng được trích dẫn từ Việt điện u linh tập, ngôi đền được
Cao Biền lập lên để thờ tinh anh ở Long Đỗ. Ngoài ra còn viết thêm một đoạn về
chuyện con ngựa trắng giúp vua Lý Thái Tổ đắp thành:

Đến đời Lý Thái Tổ dời kinh đô đến Thăng Long, vì đô thành hễ đắp lại lở nên
sai người đến đền cầu đảo. Chợt thấy con ngựa trắng từ trong đền đi ra, qua
thành một vòng, đi đến đâu có dấu vết đến đấy, rồi vào trong đền thì biến mất.
Sau theo vết ngựa đi để đắp thành thì thành không lở nữa. Bèn thờ làm Thành
Hoàng Thăng Long[56; tr.601-602]..

Về ngôi đền Kim Liên và quán Chân Vũ được lược chép có nội dung tương tự
như trong tập Hà Nội địa dư [56; tr.602,612].
Tập sách Hà Nội sơn xuyên phong vực [Bd,2007,56] biên soạn vào khoảng
cuối năm 1887. Đền thờ Long Đỗ thần quân Quảng Lại Bạch Mã đại vương được
viết giống như trong sách Việt điện u linh về việc Cao Biền trấn yểm không thành.
Không những vậy, Cao Biền còn phải lập đền thờ thần Long Đỗ. Bên cạnh đó sách
cũng nói về việc ngôi đền được trùng tu vào năm Chính Hòa (1687), qua bài văn bia
Bạch Mã thần từ bi ký [56,tr.189-191].
4

. Còn gọi là đền Voi Phục, miếu Hoàng Tử, di tích nay ở trong khuôn viên công viên Thủ Lệ, phường Ngọc Khánh, quận

Ba Đình.


13

Về ngôi đền Cao Sơn đại vương, bên cạnh cung cấp những thông tin như sách
Đại Nam nhất thống chí, sách Hà Nội sơn xuyên phong vực còn chép nguyên văn
văn bia “Cao Sơn Đại vương thần từ bi minh tịnh tự” do Lễ bộ Thượng thư, Quốc
Tử Giám Tế tửu Lê Tung soạn năm Hồng Thuận thứ 2 (1510)(5). Nội dung văn bia
nói về ngôi đền Cao Sơn Đại vương vốn ở huyện Phụng Hóa, vì âm phù giúp vua
Lê Tương Dực lên ngôi nên “dựng ngôi đền cao đẹp, sớm tối hương lửa là để báo
đáp ơn thần; ghi chép điển thờ, khắc ghi bia đá là cốt biểu dương sự linh thiêng”

[56, tr.191-197].
Về ngôi đền thờ Hoằng tế tối linh Đại vương [56, tr.200-201] và quán Chân
Vũ [56, tr.220-221] chép tương tự như sách Đại Nam Nhất thống chí.
Trong Tuyển tập văn bia Hà Nội [Bd,2quyển,1978,6] giới thiệu một số văn bia
tại các trấn: Trấn Đông (đền Bạch mã) có bài ký trên bia tạo lệ, bài ký trên bia sửa
chữa đền Bạch Mã, bài ký trên bia Yến Lão và từ chỉ, bài ký trên bia xây dựng
Phương đình. Trấn Nam (đền Cao Sơn đại vương) có bài văn bia kèm theo bài trần
thuật trên bia đền thần Cao Sơn đại vương. Trấn Bắc (quán Chân Vũ) có bài “Cảm
lẽ huyện diệu, tu dưỡng cõi lòng, trông nghe nhận hiểu vui theo đạo lý” và “Bài ký
trên bia ghi việc sửa quán Trấn Vũ”. Đó là những tư liệu quý giá lưu giữ các thông
tin liên quan đến ngôi đền, quán những lúc trùng tu, thay đổi kiến trúc, cảnh quan
cũng như quan niệm của những người công đức.
Trong những bản văn bia trên chỉ có nội dung của văn bia “Bài ký trên bia ghi
việc sửa quán Trấn Vũ” (1857) có đoạn viết: “Quán Trấn Vũ ở phía bắc thành là để
trấn giữ phương bắc”[6, QII, tr.56]; hay như đoạn “Huyền đế trấn giữ cõi trời phía
bắc, giữ nước giúp dân, nổi tiếng linh ứng” [6, QII, tr.57].
Hiện nay, có ba bức hoành phi ghi: Đông trấn chính từ tại đền Bạch Mã; Trấn
Nam phương tại đền Kim Liên; Tây trấn từ tại đền Voi Phục khẳng định vai trò vị
trí của Đức thần được thờ tại từng trấn. Nội dung những bức hoành phi câu đối còn
lại chủ yếu đề cao công trạng của các Đức thần.

5

. Theo Nguyễn Quang Hà – Nguyễn Quang Ngọc thì bản văn bia này là bản chép lại từ tấm bia ở núi Tử Trầm, xã Phụng

Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Về tấm bia Cổ tích linh từ bi ký dưới chân núi Tử Trầm (Hà Tây) do nhà sử học Lê
Tung soạn.Tạp chí Hán Nôm. Số 2 (69) năm 2005), tr50.


14


Ghi chép sâu thêm về tục lệ, quy định thờ cúng tại từng trấn có các tập tài liệu
chữ Hán sau đây(6):
+ Trấn Đông có các tài liệu: Hà khẩu phường hương lệ gồm những điều quy
ước về tế lễ và nghi thức tế lễ trong các tuần tiết hàng năm của phường Hà Khẩu,
phố Hàng Buồm, Hà Nội. Văn tế, chúc văn và sắc phong cho vị thần thờ ở phường
này. Bạch Mã từ Tam giáp hương lệ gồm 215 mỹ tự bao phong của các triều cho
thần Bạch Mã. Các câu đối trong đền (do Bùi Dương Lịch, Nguyễn Hữu Phiên, Đỗ
Lệnh Thiện, Phạm Quý Thích… soạn). Văn tế, văn cầu mưa… dùng trong đền. Bản
sửa lại lệ cúng tế và lệ khoán của 3 giáp Mật Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ thuộc
phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (Hà Nội). Bạch
Mã thần từ gồm bài ký đền thờ “Long Đỗ tối linh thượng đẳng thần” và danh hiệu
các triều đại ban cho vị thần này. Đại Nam thần lục đề cập đến các vị Thượng đẳng
thần trong đó có thần Bạch Mã, Linh Lang đại vương. Bị khảo lục đề cập đến Sự
tích đền Bạch Mã (Hà Nội).
+ Trấn Tây có các tài liệu: Hoàn Long Thủ Lệ trại thần tích ghi chép về sự
tích Linh Lang đại vương triều Lý, Linh Lang vương triều Lý, Linh lang vương
triều Trần.
+ Trấn Nam có tài liệu Hoàn Long Kim Liên phường khoán ước gồm 41 mục,
lập ngày 20 tháng 10 năm Thành Thái 18 (1906).
+ Trấn Bắc có các tài liệu: Trấn Vũ Quán lục (A.1040) biên soạn năm 1854 đề
cập đến sự tích đền Trấn Vũ, đồ thờ, tượng thánh, mũ áo, kinh sách, hoành phi câu
đối. Tài liệu Trấn Vũ quán mặc tích gồm văn bia về việc trùng tu quán Trấn Vũ của
Hoàng Cao Khải, bài ký hồ Tây của Nguyễn Văn Siêu, thơ đề vịnh quán Trấn Vũ
của Chu Tập Hi, Phan Đại Tâm, Cao Xuân Dục, Nguyễn Xuân Duẩn, Trần Tử Mẫn,
Hoàn Mạnh Trí, Nguyễn Thượng Phiên, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Tấn Cảnh,
Bùi Quang Tạo, Nguyễn Khắc Chuẩn. Trấn Vũ thần mộng hiển ứng ký (A.1204) ghi
chép về các việc như: Chuyện Phạm Công Trứ, Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Minh
Triết, Trịnh Cảnh Thụy, Nguyễn Đức Nguyên, Lê Quý Đôn… trước khi đi thi, đến
cầu mộng ở đền Trấn Vũ, được thần báo trước nhiều việc; Chuyện Tả Ao (tên thực

6

. Các văn bản này chúng tôi dựa trên cơ sở tra cứu tư liệu lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Chúng tôi mới tiếp cận

được văn bản bằng chữ Hán.


15

là Hoàng Chiêm, tự Đức Huyền) người xã Tả Ao, huyện Nghi Xuân giỏi về nghề
phong thủy; Chuyện Can Quốc công (Nguyễn Xí), người huyện Chân Phúc nghe lời
thần báo mộng, đã theo Lê Lợi đánh quân Minh lập nhiều chiến công.
*. Nguồn tư liệu của người nước ngoài
Nguồn tư liệu của người nước ngoài gồm ghi chép của những tác giả người
châu Âu vào khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến năm 1945. Các nguồn tư liệu này
đề cập đến nhiều lĩnh vực của Thăng Long - Kẻ Chợ được giới thiệu trong cuốn Hà
Nội qua tài liệu và tư liệu lưu trữ, 2 tập do Đào Thị Diến chủ biên [18]. Theo tập
sách này thì lĩnh vực tâm linh, thờ cúng đã được các tác giả nước ngoài dành một
thời lượng quan sát ghi chép đáng kể như: Phong tục của người đàng ngoài, lễ hội,
về các giáo phái, tượng thần phật, thờ cúng mê tín dị đoan và chùa chiền ở đàng
ngoài... Tuy nhiên, phần đề cập trực tiếp đến những ngôi đền, quán trong “Tứ trấn”
còn rất ít. Ba trấn được đề cập đến trong nguồn tư liệu phương Tây là trấn Đông đền Bạch Mã, trấn Bắc - đền Quan Thánh và trấn Nam - đền Kim Liên. Theo nguồn
tài liệu này thì vào đầu thế kỷ XX có hai đợt xếp hạng các công trình được bảo tồn:
Đợt 1 vào ngày 15/4/1905: Đền Quan Thánh (Huyền Thiên trấn võ tự) và
Đình Bạch Mã ở số 3 phố Voiles (phố Hàng Buồm) [18,tr.300,tr.336] là 2 trong 7
công trình được xếp hạng.
Đợt 2 vào ngày 16/5/1925 hai “trấn” trên lại tiếp tục nằm trong 19 công trình
được xếp hạng [18,tr.430].
Nguồn tư liệu trên đã cho ta biết được phần nào chính sách quản lý của chính
quyền bảo hộ Pháp đối với các di tích tôn giáo tín ngưỡng, từ trùng tu, tôn tạo, xếp

hạng…Ngoài ra, ở đây còn lưu giữ được nhiều tài liệu liên quan đến các hoạt động
của các “trấn” nửa đầu thế kỷ XX như:
Tài liệu ký hiệu SCDHN-783 bao gồm rất nhiều tài liệu nhỏ phản ánh hoạt
động của đình Bạch Mã ở phố Voils giai đoạn 1900-1936 (58 tờ) và tài liệu ký hiệu
SCDHN-759 [18, tr.512] phản ánh về hoạt động của đình Bạch Mã ở phố Soie, Hà
Nội giai đoạn 1921-1950 (224 tờ) (tham khảo Phụ lục trấn Đông tr.14-tr.29).
Tài liệu ký hiệu SCDHN-723 [18,tr.585] phản ánh hoạt động của đền Kim
Liên ở phố Liên Mỹ, Hà Nội 1928-1939 (31 tờ) và tài liệu SCDHN-733 phản ánh
hoạt động của các chùa, miếu, đền Kim Liên, Thánh Trần, Thất Mâu, Tiên Tích


16

đường Mandarine, Hà Nội giai đoạn 1933-1950 (58 tờ) (tham khảo Phụ lục trấn
Nam tr.125-tr.138).
1.1.1.2. Nguồn tư liệu đề cập đến hệ thống Tứ trấn Thăng Long
Nguồn tư liệu này chỉ bao gồm những tài liệu thư tịch.
Tập Bản đồ thời Hồng Đức (tham khảo Phụ lục, tr.3) được vua Lê Thánh Tông
cho vẽ đầy đủ về lãnh thổ Đại Việt và bản đồ các vương quốc trong vùng. Năm
1490 tập bản đồ hoàn thành, gồm 13 thừa tuyên (sau đó đổi làm xứ) trong đó có bản
đồ vẽ về Trung Đô (kinh thành Thăng Long). Bên cạnh việc vẽ lại quy mô đặc điểm
của thành Thăng Long bao gồm vị trí giáp ranh, các chiều cạnh Đông, Tây, Nam,
Bắc, đặc điểm thành Thăng Long, các địa danh như: điện Kính Thiên, Đoan môn,
Đông cung, Thái Miếu, phủ Phụng Thiên, hồ Hoàn Kiếm, Quốc Tử giám, điện Nam
Giao, hồ Tây, núi Khán Sơn, Giảng Võ, cửa Bảo Khánh, sông Tô Lịch… thì 3 ngôi
đền Bạch Mã, đền Linh Lang (Voi Phục, chữ Lang có bộ Vũ ở trên?) và quán Chân
Vũ cũng được định vị lần lượt vào 3 phương: Đông, Tây, Bắc theo thành Thăng
Long. Ngôi đền Kim Liên (Cao Sơn - trấn phía Nam chưa thấy xuất hiện trong bản
đồ này.
Bản đồ vẽ Trung đô (kinh thành Thăng Long) dù không phản ánh trấn phía

Nam, hay đề cập đến thuật ngữ “Tứ trấn” của thành Thăng Long, nhưng theo chúng
tôi đây có thể là tài liệu có niên đại sớm nhất phản ánh về vị trí những ngôi đền,
quán tạo thành Tứ trấn bảo vệ thành Thăng Long.
Đề cập đến Tứ trấn như một cấu trúc bảo vệ của kinh đô Thăng Long là tập
sách chữ Hán viết tay Hà Thành Linh tích cổ lục [27](7) (thời Nguyễn) (Ghi chép về
những di tích linh thiêng ở Hà Nội - ký hiệu A.497 Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Phần mục lục đề cập đến các di tích: Văn Miếu, Ngọc Sơn từ; Tứ trấn từ
(四鎭祠東鎭行帆庯
白馬大王祠西鎭守隸寨靈郎大王祠南鎭金蓮坊高山大王祠北鎭西湖真武觀

-

Đông trấn hàng Buồm phố Bạch Mã đại vương từ; Tây trấn Thủ Lệ trại Linh Lang

7

. Văn bản này chúng tôi chưa tiếp cận được với bản dịch, mà tự tra chữ xem qua một số đề mục trong tập sách..


17

đại vương từ; Nam trấn Kim Liên phường Cao Sơn đại vương từ; Bắc trấn Tây Hồ
Chân Vũ quán); cùng một số di tích khác.
Tiếp đến là tập sách Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ [84] của tác giả
Đặng Xuân Khanh (1956). Sách chữ Hán, có ký hiệu VHv.1471, chép tay bằng bút
sắt mực xanh trên giấy Tây, dày 87 trang khổ 14 x 21,5. Tờ đầu sách có dòng tên
sách và chữ ký; mặt sau có dòng lạc khoản ghi ngày tháng và nơi soạn sách, tài liệu
tham khảo và có một bài thơ chữ Hán thể thất ngôn bát cú của chính tác giả, nhan
đền “Thăng Long hoài cổ” . Nội dung sách chia làm nhiều chuyên mục nhỏ như:
thành trì, thị triền, núi sông, cổ tích, đền miếu, chùa quán và nhân vật, bố cục theo

thể loại sách địa chí cổ...Sách dành 2 dòng chữ Hán liệt kê: “Thăng Long Tứ trấn.
Đông trấn Hàng Buồm Bạch Mã đại vương từ. Tây trấn Thủ Lệ Linh Lang đại
vương từ. Nam trấn Kim Liên Cao Sơn đại vương từ. Bắc trấn Tây Hồ Trấn Vũ đại
đế từ”.
(昇龍四鎭東鎭行帆白馬大王祠西鎭守隸靈郞大王祠南鎭金蓮高山大王祠
北鎭西湖鎭武大帝祠).
Như vậy, có thể tạm xác định thuật ngữ “Thăng Long Tứ trấn” được xuất hiện
dưới dạng văn bản chữ Hán sớm nhất vào năm 1956, tức là sau khi Hà Nội đã được
giải phóng được hai năm. Có thể nhận thấy cách diễn giải về Thăng Long Tứ trấn
của tài liệu này là sự tương đồng hay làm rõ thêm cho thuật ngữ “Tứ trấn từ” đã
xuất hiện trong văn bản Hà Thành linh tích cổ lục có niên đại thời Nguyễn đã được
đề cập trước đó.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu
*. Những nghiên cứu, nhận định về từng trấn
Nghiên cứu sâu về trấn Bắc có Khóa luận tốt nghiệp năm 2000 của sinh viên
Nguyễn Đức Dũng (khoa Văn, trường Đại học KHXH &NV) với đề tài Khảo sát
Hệ thống văn bản khắc Hán Nôm đền Quán Thánh (chuyên ngành Hán Nôm)
[2000,19]. Khóa luận đề cập đến lịch sử, tên gọi, kiến trúc của ngôi đền. Đặc biệt về
hình tượng Huyền Thiên Chân Vũ đại đế, hình tượng quy xà, tác giả đã nêu ra 8
thuyết về nguồn gốc vị thần và cho rằng: “tín ngưỡng về vị thần Huyền Vũ (Chân
Vũ) có nguồn gốc từ sự sùng bái sao và sùng bái động vật thời nguyên thủy”; “Đấy


18

là phương pháp tạo thần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian” [19, tr.11-15]. Tác
giả cũng lý giải lý do Huyền Vũ được đổi thành Chân Vũ vì “kỵ húy Triệu Huyền
Lãng (Triệu Huyền Lãng được Tống Chân Tông nhận làm Thủy tổ) mà Huyền Vũ
bị đổi thành Chân Vũ. Sau này, có lẽ vì kỵ húy Tống Chân Tông mà Chân Vũ một
lần nữa lại phải đổi ra Trấn Vũ”[19, tr.15]. Đặc biệt những văn bản Hán được dịch

trong khóa luận góp phần phản ánh lý lịch của vị thần thờ cũng như những sự kiện
diễn ra tại ngôi quán trấn Bắc.
Nghiên cứu về trấn Tây có Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học năm
2000 của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Phương với đề tài: Đền Voi Phục Thủ Lệ di tích
và lễ hội [2000,69]. Luận văn đã nghiên cứu tìm hiểu khá chi tiết về di tích cũng
như lễ hội như: Tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên và xã hội của làng Thủ Lệ; Lịch sử
ra đời của đền Voi Phục…Cùng với phần Phụ lục, Luận văn là tài liệu tốt để tham
khảo, tìm hiểu sự hình thành và biến đổi của kiến trúc, lễ hội ở đây.
Bên cạnh đó mỗi trấn cũng được đề cập đến những khía cạnh khác nhau như:
- Về thần tích và truyền thuyết về các vị thần của từng trấn:
Tập sách Văn học dân gian người Việt – Góc nhìn thể loại [2006,32] tác giả
Kiều Thu Hoạch có nhận xét về “Truyện sông Tô Lịch” và “Truyện Thần chính khí
Long Đỗ” như sau:
Mấy truyện này tuy có khoác cái vỏ hoang đường của Đạo giáo, song vẫn phản
ánh khá rõ nét tinh thần bất khuất kiên cường của nhân dân ta, nhằm chống lại
mọi sự uy hiếp của bọn phong kiến phương Bắc [32, tr.677-678].

Tác giả cũng biện giải:
…cùng với hai sự kiện có ý nghĩa chính trị to lớn: đổi quốc hiệu là Đại Việt,
dời đô từ vùng rừng núi Hoa Lư về Thăng Long, vương triều Lý đồng thời
cũng kéo luôn một số nhân vật truyền thuyết quan trọng về kinh sư của mình
để phong thần, lập miếu cho họ biến thành các thần trấn giữ Thăng Long, trấn
giữ ngai vàng nhà Lý… [32, tr.21-22].

Tập sách Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội [2008,42]
đề cập đến vị Thành Hoàng của Quốc đô Thăng Long:
Tương truyền núi Nùng là cái rốn của con Rồng, nên gọi là Long Đỗ. “Truyện
thần Long Đỗ, tức linh khí của núi Nùng, lúc đầu vốn là một truyện riêng. Sau



19
này, trong quá trình lưu truyền đã nhập vào với truyện thần sông Tô Lịch, phản
ánh quan niệm vũ trụ nhị nguyên luận của người Việt cổ. Đồng thời về mặt lịch
sử, thần Long Đỗ vốn là Thành Hoàng của Hà Nội cổ, cũng đã diễn biến thành
thần Thành Hoàng của cả Quốc đô Thăng Long, phản ánh quá trình phát triển
và lớn mạnh, bền vững của vùng đất trung tâm của dân tộc ta” [42, tr223].

Tập sách Sự tích các vị thần Thăng Long – Hà Nội [2009,47] là tập hợp sự tích
của 120 vị thần ở kinh thành Thăng Long do các hội viên hội văn nghệ Hà Nội thực
hiện. Theo như lời nói đầu của sách thì cuốn sách được biên soạn dựa trên tư liệu từ
các bản thần tích lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các đình đền, cùng lời kể và
truyền thuyết, sau khi biên soạn mỗi sự tích là một câu chuyện kể mang đậm sắc
thái dân gian. Cuối mỗi sự tích nói rõ nơi thờ theo địa danh xưa và nay; giới thiệu
sơ bộ kiến trúc đình, đền; ngày mở hội và lễ vật đặc biệt trong ngày hội [47, tr.7].
Các vị thần thờ trong Tứ trấn được trình bày trong cuốn sách này như sau:
Về vị thần Cao Sơn - trấn phía Nam được tác giả Trần Văn Mỹ trình bày
thông qua giới thiệu các dị bản về sự tích, công trạng, các nơi thờ. Theo như vậy thì
sự tích thần Cao Sơn nằm trong huyền thoại thời dựng nước và giữ nước. “Thần là 1
trong 50 người con theo cha lên núi. Thần có công giúp Sơn tinh đánh Thủy tinh,
đánh Thủ lĩnh người Tây Âu tấn công nước Văn Lang. Thần được thờ cùng với Sơn
tinh, tức Đức thần Tản Viên. Đến thời Lê, thần Cao Sơn được lịch sử hóa. Thần có
tên là Nguyễn Hiền cùng với em ruột là Nguyễn Sùng (tức thần Quý Minh), đều là
con người chú ruột Nguyễn Tuấn (tức Sơn Tinh). Họ là người trang Thanh Uyên,
huyện Tam Nông, Phú Thọ”[47, tr.64]. Nhưng trong báo cáo “Thần tích – thần sắc”
của các chức sắc làng Kim Hoa, tổng Kim Liên, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông
gửi Viện Viễn đông Bác cổ năm 1938 thì vị thần ở đền Kim Liên là “Cao Sơn Đại
Vương, họ Cao tên Hiển, tự Văn Tràng, người nước Đại Minh, tỉnh Quảng Nam,
làng Bảo Sơn. Ngài sinh ngày 16 tháng 3, ngày hóa 12 tháng 8. Năm 29 tuổi đỗ
Hương cống. Năm Khánh Lịch thứ 6 đời nhà Lê (?) đỗ Tiến sĩ làm Thừa tướng, vua
sai đi đánh giặc, giặc phải hàng, nên được sắc phong là Đại Thừa tướng quyền

Nguyên súy, đến năm 78 tuổi về trí sĩ, thọ 103 tuổi, vua phong làm Cao Sơn Quốc
chủ Đại vương”.[47, tr.64-65]. Cũng trong truyện này có đề cập đến một số vị thần
ở tổng Hà Hồi, huyện Thường Tín, như đôi câu đối tại đình Phú Cốc, bài vị tại đình


20

làng Hà Hồi, bản thần tích “Cao Sơn linh quốc đại vương” của đình làng Quế
Phương, xã Liên Phương do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào ngày mồng
1 đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), nội dung nói về lai lịch vị thần vốn
từ phương Bắc vào đời nhà Minh.
Bản sưu tập này cho thấy vị thần Cao Sơn thờ ở đền Kim Liên có lai lịch chưa
thống nhất, phản ánh sự biến đổi điện thần qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Trường hợp này cũng thể hiện khá rõ ở nhiều địa phương có đình thờ Cao Sơn
khác, đặc biệt là ở Thanh Hoá.
Về vị thần Linh Lang - trấn phía Tây được trình bày theo bản dịch thần tích
Linh Lang đại vương do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc
nguyên niên (1572). Ngoài ra có giới thiệu một số tượng thờ trong đền cùng ngày
hóa của thần vào 10 tháng 2 âm lịch.
Sự tích thần Long Đỗ - Thành Hoàng Thăng Long được trích lại trong sách
Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái. Ngoài ra có mô tả thêm về kiến trúc và di
vật.
Phần viết về thần Trấn Vũ - trấn phía Bắc đề cập đến sứ mệnh kiềm chế con
cáo ở hồ Tây và lai lịch cùng quá trình tu luyện của thần. Bên cạnh đó, nội dung còn
cho biết thêm:
Năm 1102(8), vua Lý đã cho dựng quán thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thánh trấn
giữ phía Bắc; năm 1474, do mở rộng Hoàng Thành, quán được di ra ngoài và
xây ở phía Bắc kinh thành (thuộc đất làng Yên Quang, nay ở bờ Nam hồ Tây
và đường Quán Thánh, quận Ba Đình). Từ đó, quán không chỉ là nơi thờ của
Đạo giáo mà còn là nơi các đạo sĩ chuyên tu theo thuyết thần tiên và luyện các

phù phép [47, tr424-425].

Tập sách Truyện kể dân gian Hà Nội [2010, 94] chia làm 4 mục: Truyền
thuyết; Cổ tích; Giai thoại; Truyện cười. Trong bài tổng quan tác giả Kiều Thu
Hoạch có nhận xét riêng về sự xuất hiện vị thần Tô Lịch và thần Long Đỗ là:
Phản ánh ý thức dân tộc mạnh mẽ của nhân dân, không cho bọn thống trị ngoại
bang xây thành đắp lũy trên đất đai người Việt. Sức mạnh dân tộc được thể
. Đại Việt sử lược (thế kỷ XIV) (khuyết danh) ghi: Năm Nhâm Ngọ (năm 1102-ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 2:

8

Xây cất nhà chùa ba ngôi là: Khai Nguyên, Thái Dương và Bắc Đế. Dịch giả Nguyễn Gia Tường. Nxb Tp Hồ Chí Minh 1993,
tr61.


21
hiện qua biểu tượng thần linh của non sông Hà Nội - thần sông Tô Lịch, thần
Chính khí Long Đỗ - đã khiến tên đô hộ kiêm thầy phù thủy Cao Biền vô cùng
khiếp sợ và hoảng hốt, thoái chí, muốn quay về phương Bắc… [94, tr.21-22].

Trong mục Truyền thuyết của sách này, những truyện về Bạch Mã thần
[tr.158], truyện sông Tô Lịch [tr.160] được dẫn từ tập sách Tổng tập Văn học dân
gian người Việt xuất bản năm 2004, về nội dung truyện tương đồng với Việt điện u
linh và Lĩnh Nam chích quái.
Về Thánh Trấn Vũ [tr.166] và Thần Trấn Vũ [tr.325] đã được trình bày khá
chi tiết về lai lịch thần, công lao của thần giúp vua Lê Đại Hành trừ giặc Tống, giúp
vua Lý Thái Tổ trừ hồ tinh ở hồ Tây cũng như việc tu luyện của ngài…
Thần Cao Sơn có sự tích là anh em sinh đôi với Quý Minh [tr.105], hay nhân
vật Cao Sơn đại vương đời Lý [tr.209]…cung cấp thêm những dị bản về vị thần
Cao Sơn.

- Về tín ngưỡng và lễ hội:
Tập sách Lễ Hội Thăng Long [2003,107] đã trình bày các lễ hội của Tứ trấn
theo thứ tự từ tháng Giêng cho đến tháng mười âm lịch: trấn Tây vào ngày mùng 9
tháng 2 [107, tr.244]; trấn Đông vào ngày 12 tháng 2 [107, tr.348]; trấn Bắc vào
ngày 3 tháng 3 [107, tr.415]; trấn Nam vào ngày 16 tháng 3 [107, tr.531]. Mỗi trấn
trình bày tóm tắt vị thần được thờ, địa điểm, thời gian, đặc điểm, rước kiệu thờ.
Ngoài ra, trong chương II của sách Tín ngưỡng dân gian Hà Nội trong đời
sống văn hóa đô thị hiện nay [2010,91] tác giả Đỗ Thị Minh Thúy phản ánh về Biến
động của Tín ngưỡng dân gian Thăng Long - Hà Nội qua thực trạng cơ sở thờ tự,
sự thờ cúng và những ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa đô thị hiện nay,
trong đó Tứ trấn là một trong nhiều di tích trên địa bàn Hà Nội được tác giả đề cập
đến.
*. Những nghiên cứu, nhận định về Tứ trấn
Phải đến năm 1975 khi Hà Nội đã trở thành thủ đô của nước Việt Nam thống
nhất, thuật ngữ “Thăng Long Tứ trấn” mới được đề cập trở lại qua các ngôn thuyết
của các nhà nghiên cứu mà người khởi đầu là tác giả Trần Quốc Vượng. Trong sách
Hà Nội nghìn xưa khi viết về Thăng Long thời Lý ông đã nhắc đến ngôi đền Bạch
Mã là nơi thờ “thần Chính khí Long Đỗ, hay Tô Lịch giang thần, hay Thành Hoàng


22

Hà Nội gốc”, đồng thời cũng đề cập đến Ngựa trắng - Bạch Mã và giải thích Ngựa
trắng đi từ đông sang tây rồi trở về đông là “sự vận động biểu kiến của mặt trời”. Và
theo ông: “phía đông là đền Bạch Mã, phía tây là đền Voi Phục, phía Bắc là đền
Trấn Võ, phía nam là đền Cao Sơn (đình Kim Liên nay). Đó là “Thăng Long Tứ
trấn” trong quan niệm cổ truyền” [109, tr.142-143].
Như vậy, khái niệm “Thăng Long Tứ trấn” ngay từ đầu đã được tác giả Trần
Quốc Vượng xác định như là một “quan niệm cổ truyền”. Theo ông thì vua quan (và
dân chúng) thời Lý đã làm nhiệm vụ “quy hoạch” kinh thành Thăng Long nhưng lại

quy công cho thần thánh để nhằm mục đích thần thánh hóa mảnh đất kinh thành.
“Đất thánh” do thánh thần quy định, vạch một đường tròn “ma thuật” vốn là tín
ngưỡng từ thời bộ lạc di lưu lại. Kỳ thực, việc dời đô của nhà Lý đã kèm theo nhiều
nghi lễ phức tạp: cầu mưa, cầu phúc (với rồng vàng), sát sinh, trừ tà (với chó đốm
đen), hoạch định vùng đất thánh (với ngựa trắng) trong đó nghi lễ nông nghiệp và
những biểu tượng thần thoại cổ đã tái sinh và đổi mới, được lịch sử hóa và phong
kiến hóa trong biết bao nghi thức của nhà vua” [109,tr.144].
Năm 2001, một phần của khu vực Thành cổ Hà Nội được Bộ quốc phòng bàn
giao cho UBND Thành phố Hà Nội. Một cuộc hội thảo khoa học với nội dung xoay
quanh về tòa thành cùng tên đã tập trung được những bài viết của các tác giả hàng
đầu của nước nhà. Trong bài “Đôi điều về quy hoạch thành Thăng Long”, tác giả
Trần Quốc Vượng cho rằng: “Đất kinh thành thời xưa được coi là đất thiêng, không
gian thiêng. Đó là tính cách tôn giáo trong việc xây dựng đô thành. Vì thế mà có
“Tứ trấn” với 4 đền Long Đỗ - Bạch Mã (Đông), Linh Lang – Voi Phục (Tây),
Chấn Vũ – Bắc Đế (Bắc), Cao Sơn – Quý Minh (Nam - ở Kim Liên). “Tứ trấn” này
trên đại thể đều nằm trên “vòng thiêng” thành Đại La hay “Thăng Long ngoại
thành”…
Cũng trong hội thảo này, tác giả Hoàng Giáp (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) với
bài viết “Thuyết ngũ hành và Thành cổ Hà Nội” mặc dù không đề cập đến “Thăng
Long Tứ trấn”, nhưng tác giả cho rằng thành Hà Nội hiện nay (để phân biệt với
thành Hà Nội trong quá khứ được xây vào thời Quang Trung, thời Mạc, thời Lê,
thời Hồ, thời Trần và thành Thăng Long thời Lý) là dựa theo tư tưởng ngũ hành của
Trung Quốc cổ đại, trong đó phân tích về vị thần trấn cửa Bắc như sau:


23
… Cửa Bắc còn gọi là cửa Thần Vũ nên tường xây bằng đá hay chất liệu màu
xám. Cung thất ở phía Cửa Bắc như Văn Uyên các, thư phòng, nhà ăn… đều
lợp ngói màu đen. Màu đen màu xám tượng thủy khắc hỏa tránh mọi hỏa tai
cho cung điện. Vùng ngoại ô cửa bắc kinh thành thường lập đền thờ Trấn Vũ,

thần bảo vệ phương bắc, thần biểu tượng Nhâm Quý Thủy - Nguyên thủy
nguồn nước vô tận mà không có lửa nào chiến thắng được. Chính vì vậy thần
sẽ giúp kinh thành ngăn hỏa tai. Ngoài ra thần còn giúp ngăn ngừa giặc giã,
thiên tai dịch bệnh khác. Hiện phía ngoài cửa Bắc thành Hà Nội vẫn còn đền
thờ Trấn Vũ [Hoàng Giáp, 2001].

Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội 2010, trên cơ sở quan điểm
của tác giả Trần Quốc Vượng về đặc điểm đất thiêng, không gian thiêng trong “tính
cách tôn giáo trong việc xây dựng đô thành” của kinh thành Thăng Long xưa, một
loạt bài viết liên quan đến Thăng Long Tứ trấn đã được thực hiện đi sâu phân tích,
kiến giải ý nghĩa của Tục thờ Tứ trấn.
Trong sách Tín ngưỡng dân gian Hà Nội trong đời sống văn hóa đô thị hiện
nay, tác giả Đỗ Thị Minh Thúy đưa ra quan điểm về Tứ trấn như sau: “Mô hình
quan liêu trong trật tự bách thần Thăng Long - Hà Nội biểu thị theo hình tháp mà
đỉnh là thần Đại Thành Hoàng - thần Tô Lịch, Long Đỗ, Bạch Mã - các vị thần cai
quản kinh thành. Kết cấu dưới một bậc là bốn vị thần đứng chủ tế bốn phương của
kinh thành trong Thăng Long Tứ trấn: thần Bạch Mã phía Đông, Thần Linh Lang
phía Tây, thần Cao Sơn phía Nam, thần Huyền Thiên phía Bắc”[91, tr.22].
Giải thích cho việc thờ thần Long Đỗ từ thời thuộc Đường đến thời Tự chủ bà
đưa ra giả thiết: “Phải chăng đó là sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân
gian về thần lửa qua biểu tượng ngựa trắng. Còn Linh Lang - Thủy thần gắn bó với
hồ Tây, sông Tô. Trong khi thần núi - Cao Sơn lại được thờ ở phía nam. Như vậy,
tín ngưỡng Tứ trấn được phụng thờ ở kinh thành Thăng Long căn bản dựa trên tâm
linh người Việt, đáp ứng nhu cầu tâm linh cũng như nhu cầu thực tế mong muốn
kinh thành trường tồn và phát triển [91, tr.26].
Trong hội thảo khoa học quốc tế Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến,
anh hùng, vì hoà bình do Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long tổ
chức tại Hà Nội ngày 7-9/10/2010, tác giả Đỗ Quang Hưng với bài viết “Không



24

gian thiêng của Thăng Long – Hà Nội” đã nhận định “Thăng Long Tứ trấn” như là
một hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo của kinh thành Thăng Long xưa, phản ánh
sự thống nhất giữa ý thức quốc gia độc lập chủ quyền của nước Đại Việt, với ý thức
xây dựng một không gian thiêng biểu trưng cho sự trường tồn của “hồn nước” Đại
Việt. Theo ông thì “Tên gọi “Thăng Long Tứ trấn” chưa biết rõ xuất hiện vào lúc
nào, nhưng chắc rằng phải có khá sớm trong buổi đầu xây dựng kinh đô” và “Theo
quan niệm của người Đại Việt lúc đó, trời đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc
thì thành Thăng Long cũng phải có “Tứ trấn”, được xây dựng với bốn ngôi đền,
trong đó đều có một vị thần đầy quyền uy canh giữ cho kinh thành từ Thăng Long
xưa đến Đông Đô và Hà Nội hiện thời [4, tr.517].
Cũng trong bài viết này, tác giả cho rằng Tứ trấn là “vòng giữa” trong kết cấu
ba vòng của không gian tâm linh Thăng Long – Hà Nội, là vòng đã được các nhà
nghiên cứu tôn giáo, văn hóa dân gian nghiên cứu khá kỹ. Theo đó thì “Về phương
diện tâm linh, vòng giữa rất quan trọng là ở chỗ, nó định vị cơ bản hệ thống thần
linh chủ yếu của Thăng Long Hà Nội, một hệ thống đã được các triều đại lựa chọn,
định vị với sự phong thần “chính thức” ở cấp quốc gia, phù hợp với “luật phong
thủy”. Từ ý nghĩa này ông cho rằng “Thăng Long Tứ trấn” là “Một hệ thống kiến
trúc tôn giáo tín ngưỡng vừa có ý nghĩa biểu trưng về tâm linh của Thăng Long - Hà
Nội, vừa có ý nghĩa khẳng định những giá trị của quyền lực xã hội. Nhưng trên hết
Thăng Long Tứ trấn còn vật thể hóa những giá trị tinh thần, được gọi là “hồn nước”
của thành phố này cũng như một biểu tượng của sự bền vững “nước non một thuở
vững âu vàng”[4,tr.525].
“Thăng Long Tứ trấn” cũng là tiêu đề bài viết của tác giả Lê Văn Lan in trong
sách Dấu xưa chuyện cũ Thăng Long – Hà Nội. Ông cho rằng:
“Dễ dàng nhận ra cả bốn kiến trúc tín ngưỡng này đều nằm trên địa giới ngoài
cùng của kinh thành Thăng Long xưa. Chúng làm chức năng mốc giới (cột mốc).
Từ xưa người Thăng Long đã sáng tạo ra những thần thánh để thờ ở các mốc
giới này, chính vì thế làm cho việc cắm mốc giới trở nên thiêng liêng. Và khiến

các thế hệ người kinh đô xưa thêm vững tin vào sự bảo vệ chắc chắn cho nơi làm
ăn sinh sống của mình. Đấy là một đặc trưng của nền văn hóa Thăng Long” [28,
tr.44-47].


25

Từ kết quả khảo sát các nguồn cơ sở dữ liệu liên quan đến các trấn bao gồm
cơ sở văn bia, hoành phi, câu đối và thư tịch cổ trực tiếp đến các nguồn thư tịch cổ
gián tiếp như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi cho rằng Hà Thành linh tích cổ lục
có thể là tập sách sớm nhất đề cập đến thuật ngữ “Tứ trấn từ”. Và quan niệm theo
thuật ngữ này được tạo dựng muộn nhất là vào thời Nguyễn. Còn thuật ngữ “Thăng
Long Tứ trấn” xuất hiện muộn trong Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ được đề
niên đại vào năm 1956 bởi tác giả Đặng Xuân Khanh, sau đó được luận giải đầu
tiên bởi tác giả Trần Quốc Vượng vào năm 1975.
Như vậy, căn cứ vào ngôn thuyết của tác giả Trần Quốc Vương (Tứ trấn tồn
tại theo quan niệm cổ truyền, 4 điểm tạo thành không gian thiêng của kinh thành
Thăng Long); và của tác giả Hoàng Giáp về thuyết âm dương ngũ hành thì Tứ trấn
đã có mặt ngay từ thời kỳ định đô của vương triều Lý (1010-1125) được tạo dựng
gắn với lịch sử hình thành và phát triển của kinh thành Thăng Long qua các thời kỳ,
bắt đầu được định vị trên bản đồ Hồng Đức từ thời Lê (1490), là khái niệm được ghi
lại trong thư tịch sớm nhất với tên gọi “Tứ trấn từ” mà chúng tôi khảo cứu được là
vào thời Nguyễn (1831) và “Thăng Long Tứ trấn” (1956).
Tựu trung lại, nhận định chung của các nhà khoa học ngày nay về Tứ trấn là:
Bốn ngôi đền Bạch Mã - phía Đông, Voi Phục - phía Tây, Kim Liên - phía Nam,
Quan Thánh - phía Bắc là bốn điểm giới hạn cho “không gian thiêng” của kinh
thành Thăng Long. Đó là 4 điểm tôn giáo tín ngưỡng thiêng trấn giữ 4 hướng chính
của kinh thành Thăng Long, bảo vệ kinh thành Thăng Long, biểu tượng cho sự phát
triển bền vững của kinh thành Thăng Long.
1.1.3. Nhận định về nguồn tư liệu, tình hình nghiên cứu và vấn đề đặt ra

cho đề tài
*. Những nhận định sơ bộ về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu
a) Nhìn tổng quan, với tư cách là các di tích tiểu biểu, các trấn của Hà Nội đã
có mặt rất sớm trong các thư tịch cổ của nước ta. Cùng với thời gian nguồn tư liệu
về các trấn ngày càng được bổ sung, phong phú và đa dạng hơn. Có thể nhận thấy
sự đa dạng trong hệ thống tư liệu thời kỳ từ năm 1945 trở về trước (tạm gọi là tư
liệu cổ) bao gồm tài liệu chữ Hán và tài liệu nước ngoài. Nếu như các văn bản chữ
Hán cho ta một tập hợp tư liệu về các vị thần như: bước đầu cung cấp cho chúng ta


×