A. LI M U
Trong quỏ trỡnh nc ta ang chuyn t nn kinh t k hoch húa tp
trung sang nn kinh t th trng, di sc ộp mnh m ca t do thng mi
v quỏ trỡnh ton cu húa, phỏp lut v hp ng ca Vit Nam tuy ó c
hon thin nhng vn cũn nh hng ca c ch c: Nh nc vn can thip
sõu vo quyn t do kh c.
B. NI DUNG
I. Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hoá trong hợp
đoòng thuơng mại
1/ Khỏi nim hp ng mua bỏn hng húa
Quan h mua bỏn hng húa c xỏc lp v thc hin thụng qua hỡnh thc
phỏp lớ l hp ng mua bỏn hng húa. Hp ng mua bỏn hng húa cú bn
cht chung ca hp ng, l s tha thun nhm xỏc lp, thay i hoc chm
dt cỏc quyn v ngha v trong quan h mua bỏn. Lut thng mi 2005
khụng a ra nh ngha v hp ng mua bỏn hng húa song cú th xỏc nh
bn cht phỏp lớ ca hp ng mua bỏn hng húa trong thng mi trờn c s
quy nh ca B lut dõn s v hp ng mua bỏn ti sn. T ú cho thy hp
ng mua bỏn hng húa trong thng mi l mt dng c th ca hp ng
mua bỏn ti sn. Mt hp ng mua bỏn cú th l tha thun v vic mua bỏn
hng húa hin ti hoc mua bỏn hng húa s cú mt thi im no ú
trong tng lai.
2/ c im
Hp ng mua bỏn hng húa cú nhng c im nht nh.
Th nht, v ch th, hp ng mua bỏn hng húa c thit lp gia cỏc
ch th ch yu l thng nhõn. Thng nhõn l ch th ca hp ng mua
bỏn cú th l thng nhõn Vit Nam hoc l thng nhõn nc ngoi. Ngoi
1
chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng
có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Hoạt động của bên
chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật thương mại khi chủ
thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại.
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thiết lập
theo cách thức nào mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hóa
giữa các bên. Hợp đồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói,
bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng
hóa. Luật thương mại 2005 quy định: “ Hàng hóa bao gồm: Tất cả các loại
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với
đất đai”.
Thứ tư, về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.
Như vậy, từ những điều vừa phân tích ở trên, ta thấy trong hợp đồng mua
bán hàng hóa có quyền tự do giao kết hợp đồng, các chủ thể có quyền tự thỏa
thuận về hợp đồng mà các điều kiện của hợp đồng không trái với quy định
của pháp luật. Tiếp theo, bài viết sẽ phân tích vai trò, ý nghĩa của việc bảo
đảm quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại.
3/ Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa trong thương m¹i
3.1. Về mặt kinh tế và pháp lí
Hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ để các chủ thể thực hiện các
hoạt động kinh doanh, thương mại của mình. Nó đóng vai trò là công cụ pháp
lý bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, là công cụ giải quyết khi có tranh
chấp, bảo đảm trật tự trong giao lưu kinh tế, thương mại. Về mặt pháp lý, hợp
2
đồng được coi là công cụ bảo vệ các quyền tài sản của tổ chức, cá nhân, là
một trong những cách thức quan trọng và phổ biến nhất để xác lập và bảo vệ
quyền sở hữu. Việc pháp luật đưa ra các quy định bảo đảm sự phân bố có hiệu
quả các nguồn lực của các doanh nghiệp và các nguồn lực của xã hội nói
chung, nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế theo quy luật của thị trường.
Việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng cũng chính là bảo đảm cho quyền
tự do kinh doanh được thực hiện trên thực tế.
Đối với các chủ thể, việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng có vai trò quan
trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do sở hữu, tự do kinh tế, tự do
cạnh tranh, chủ động quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
3.2. Về mặt xã hội
Việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng có vai trò quan trọng cho việc quản
lý và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền cơ bản của
con người về dân sự, kinh tế như: quyền sở hữu cá nhân, tự do kinh doanh,
quyền tự do cư trú.
II. NỘI DUNG CỦA QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT
ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Từ những nghiên cứu về về pháp luật hợp đồng mua bán hành hóa cho
thấy rằng quyền tự do giao kết hợp đồng mua bán hành hóa trong hoạt động
thương mại thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau, chủ yếu là thông qua
các nội dung cơ bản sau: quyền quy định việc lựa chọn đối tác và đối tượng
của hợp đồng; quyền thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng; quyền lựa chọn hình thức hợp đồng và quyền tự
do quy định việc giải quyết tranh chấp hợp đồng.
1.
Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng của hợp đồng.
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quy định quyền tư do giao kết
hợp đồng với ý nghĩa như là nguyên tắc cơ bản được quy định và bảo đảm
3
thực hiện trong các văn bản phá luật như Bộ luật dân sự, Luật thương mại.
Theo đó nguyên tắc tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa là một trong những nguyên tắc vô cùng quan trọng. Theo nguyên tắc này
các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng hoặc tự do không giao kết hợp
đồng với chủ thể nhất định.
Theo nguyên tắc này tất cả các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật đều
có quyền tự do quyết định việc giao kết hợp đồng mà không một chủ thể hay
tổ chức cá nhân nào được ngăn cản, can thiệp vào quyền này một cách bất
hợp pháp. Nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung :
Một là các bên có quyền tự quyết định việc đưa ra đề nghị hay không
đưa ra đề nghị hợp đồng giao kết mua bán hàng hóa cũng như nội dung của
đề nghị giao kết hợp đồng. Khi nhận được đề nghị, các bên có quyền quyết
định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị. Việc quyết định ký hay không
ký vào hợp đồng là do chí của các bên không bị ảnh hưởng bởi ý chí hay sự
ép buộc của bên kia hay người thứ ba nào khác.
Hai là, các bên có quyền lựa chọn ký kết hợp đồng với các chủ thể này
và từ chối ký kết hợp đồng với các chủ thể khác. Các thương nhân có quyền
tự do quyết định họ sẽ ký kết hợp đồng với ai? Họ có quyền quyết định ai sẽ
là người sẽ bán hàng cho mình, cũng như họ có quyền thỏa thuận các điều
khoản hợp đồng cụ thể trong hoạt động thương mại. Nguyên tắc này được coi
là nền tảng của một trật tự kinh tế mang tính ở trên thị trường cạnh tranh.
Tuy nhiên nguyên tắc này cũng có trường hợp ngoại lệ nhất định. Để bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng, trật tự công cộng quyền tự do lựa chọn đối
tác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải được thực hiện không trái với quy
định của pháp luật, đạo đức xã hội, trật tự công cộng. Xuất phát từ yêu cầu
quản lý của nhà nước, lợi ích chung nhà nước có thể tác động vào quyền tự do
thương mại trong một số lĩnh vực kinh tế. Trong những trường hợp đó một số
hàng hóa bị cấm kinh doanh (khi thực hiện một số hợp đồng mua bán hàng
hóa như: ma túy, thuốc nổ, vũ khí đều bị coi là vô hiệu) hoặc chỉ mua được từ
4
một nơi cung cấp thường là các doanh nghiệp nhà nước thuộc khu vực kinh tế
nhà nước. Đối với những khu vực nhất định hoặc những hàng hóa nhà nước
cấm các chủ thể không được phép ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong
lĩnh vực hoặc đối với hàng hóa cấm kinh doanh đó. Ngoài ra, trong một số
trường hợp vì lợi ích quốc gia lợi ích công cộng, pháp luật quy định các
trường hợp đặc biệt buộc các doanh nghiệp phải ký kết hợp đồng mua bán
hàng hóa (thường đối với một bên chủ thể là nhà nước)
Nhìn chung pháp luật về hợp đồng được xây dựng trên cơ sở các quy
phạm tùy nghi tức là chỉ áp dụng khi các bên không thỏa thuận được. Tuy
nhiên pháp luật về hợp đông mua bán hàng hóa cũng quy định một số nguyên
tắc chung mang tính bắt buộc trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Tính bắt buộc chung của pháp luật thể hiện ở chỗ trong giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa các bên phải tuân theo một số nguyên tắc, quy định pháp
luật mà các bên không thể loại trừ hay sửa đổi chúng theo thỏa thuận của
mình.trong trường hợp các bên không tuân thủ các quy định này thì hợp đồng
sẽ vô hiệu. việc pháp luật quy định các trường hợp ngoại lệ trên xuất phát từ
mục đích thực hiện chính sách kinh tế của nhà nước, bảo vệ lợi ích chung của
xã hội, bảo vệ trật tự công cộng bảo vệ người thứ ba có liên quan do hoạt
động thương mại thường chứa đựng nhiều rủi ro đảm bảo sự công bằng, bình
đẳng trong quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói
riêng.
2.
Quyền thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng.
Trong hoạt động thương mại luật thương mại (2005) đã thể hiện cụ thể
quyền này thông qua việc quy định về các hợp đồng thương mại, quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ được luật thương
mại điều chỉnh khi các bên không có thỏa thận trong hợp đồng. Nguyên tắc
này đã thể hiện giá trị pháp lý của nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận của
các bên trong hợp đồng cao hơn giá trị pháp lý của các quy định của luật
5
thương mại 2005 về quyền và nghĩa vụ của các bên. Cũng như Bộ luật dân sự,
luật thương mại 2005 đã đưa ra các quy định tùy nghi khi quy định về nội
dung của hợp đồng nhằm đảm bảo quyền tự do giao kết hợp đồng của các bên
trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng các thỏa
thuận của các bên so với quy định của pháp luật.
Trên thực tế có những thỏa thuận đạt được nhưng không thể hiện sự
thống nhất ý chí của hai bên. Đó là các trường hợp thỏa thuận bị khiếm
khuyết do một bên bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa. Trong trường hợp này
hợp đồng bị vô hiệu do vi phạm nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận. Tuy nhiên
chỉ trong trường hợp nhầm lẫn dẫn đến sai sót đáng kể liên quan đến bản chất,
mục đích, đối tượng, nội dung cơ bản của hợp đồng thì mới dẫn đến hợp đồng
vô hiệu. Thường thì đó là những nhầm lẫn về đặc điểm hoặc tình chất, đối
tượng của hợp đồng hoặc tư cách chủ thể. Các nhầm lẫn khác không đáng kể
thì không làm vô hiệu hợp đồng, trường hợp này các bên có thể đính chính
các sai sót.
Một số quy định ngoại lệ về nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa trong thương mại:
Một là, các điều khoản về giá đối với một số hàng hóa được nhà nước
quy định
Hai là, trong thực tiễn giao kết hợp đồng, sự xuất hiện phổ biến các loại
hợp đồng mẫu đã làm hạn chế quyền tự do thỏa thuận hợp đồng, nhất là đối
với bên ở vào vị trí thế yếu trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa này.
Về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa: về
nguyên tắc, một khi hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc
đối với các bên. Các bên có nghĩa vụ tuân thủ và tôn trọng thực hiện các nội
dung đã thỏa thuận trong hợp đồng không bên nào được thay thế, chấm dứt
một cách tùy tiện. Đây là nội dung của nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự chịu
trách nhiệm. Trong trường hợp một bên đơn phương không thực hiện, hủy bỏ,
chấm dứt việc thực hiện hợp đồng không có lý dochinhs xác thì phải chịu
6
những hậu quả bất lợi theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của
pháp luật trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về xử lý trường hợp
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
3. Quyền tự do quy định hình thức của hợp đồng
Theo nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, các bên có thể xác lập hợp
đồng dưới bất kì hình thức nào theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự
thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, hợp đồng coi như được hình thành.
Nguyên tắc này được quy định trong Điều 401, khoản 2 Điều 154 Bộ luật dân
sự năm 2005 và các quy định của Luật thương mại năm 2005.
Ở Việt Nam, trước khi có Luật thương mại năm 1997, theo quy định tại
Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 thì hợp đồng kinh tế được ký kết
bằng văn bản, tài liệu giao dịch, công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt
hàng. Hình thức của hợp đồng là bắt buộc, những hợp đồng được ký kết
không bằng văn bản sẽ không được xem là hợp đồng kinh tế. Do vậy những
thỏa thuận về nội dung của hợp đồng nếu không được thể hiện bằng văn bản
sẽ vô hiệu. Khi có tranh chấp về nội dung thì cũng không thể giải quyết được
vì hợp đồng có thể bị coi là vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của hợp
đồng. Như vậy quyền tự do thỏa thuận của các bên không được pháp luật tôn
trọng và thừa nhận. Với những quy định bó hẹp, cứng nhắc hình thức của hợp
đồng chỉ hợp pháp nếu được thể hiện bằng văn bản hay tài liệu giao dịch, thì
có thể làm lỡ các cơ hội làm ăn.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật thương mại năm 1997 thì hợp
đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới một trong các hình thức
sau: lới nói, văn bản (hình thức văn bản bao gồm cả điện báo, Telex, Fax, thư
điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác), hành vi cụ thể. Với những
quy định rất tùy nghi như vậy cho thấy xu hướng đề cao quyền tự định đoạt
của các chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng. Quy định này là một bước tiến
mới trong lịch sử pháp luật về hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng mua
7
bán hàng hóa nói riêng ở nước ta. Tự do về hình thức sẽ giúp cho các bên
tham gia quan hệ chọn lựa hình thức thể hiện hợp đồng phù hợp nhất.
Luật thương mại năm 2005 đã tiếp tục kế thừa những quy định về hình
thức hợp đồng của Luật thương mại năm 1997. Theo quy định tại Điều 24
Luật thương mại năm 2005 thì: “1. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể
hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2.
Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải
được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.
Và Điều 15 Luật thương mại năm 2005 cũng quy định: “Trong hoạt
động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ
thuật theo quy định của pháp luật thì thừa nhận có giá trị pháp lý tương
đương văn bản”.
Việc thừa nhận giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng điện tử trong hoạt
động thương mại đã cho thấy pháp luật hợp đồng của Việt Nam ngày càng
đảm bảo tốt hơn quyền tự do hình thức hợp đồng của các chủ thể nhằm đáp
ứng yêu cầu phát triển thực tiễn hoạt động thương mại trong thời đại nền kinh
tế số, yêu cầu hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh việc thừa nhận rộng rãi quyền tự do lựa chon hình thức hợp
đồng, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam cũng quy định những trường hợp
ngoại lệ. Đó là đối với một số hợp đồng quan trọng nhất định đòi hỏi việc
thực hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng phải thực sự rõ ràng, chắc
chắn. Vì vậy, hợp đồng phải tuân thủ hình thức do pháp luật quy định như:
Phải được lập bằng văn bản, có công chứng hoặc phải được đăng ký, xin phép
bởi cơ quan có thẩm quyền…
Theo Luật thương mại năm 2005 các hợp đồng sau phải được lập thành
văn bản: Hợp đồng hàng hóa quốc tế Điều 27; Hợp đồng đại diện cho thương
nhân Điều 145; Hợp đồng đại lý Điều 168.
Đối với một số loại hợp đồng pháp luật còn quy định những trường hợp
hợp đồng phải được đăng ký hoặc công chứng, chứng thực: Hợp đồng trao
8
đổi tài sản, hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thuê nhà, hợp đồng chuyển
quyền sử dụng đất,...
Việc các bên tự do lựa chọn hình thức hợp đồng dựa trên những lý do:
Thứ nhất, đảm bảo thống nhất với quy định tại Khoản 2 Điều 122 BLDS năm
2005: “Hình thức giao dịch dân sự chỉ là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
nếu pháp luật có quy định”. Thứ hai, trong thực tiễn hoạt động thương mại
việc giao kết hợp đồng bằng văn bản đảm bảo cho các bên thận trọng hơn
trong làm ăn với nhau.
4. Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
Về nguyên tắc các bên trong hợp đồng có quyền lựa chọn hình thức, cơ
quan giải quyết tranh chấp hợp đồng nói cách khác, hình thức giải quyết tranh
chấp, cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp, nơi giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại… phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Theo quy định
tại Điều 317 Luật thương mại năm 2005 khi có tranh chấp các bên có thể tự
quyết định việc giao kết bằng một trong các hình thức như:
“1. Thương lượng giữa các bên;
2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được
các bên thỏa thuận chon làm trung gian hòa giải;
3. Giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án. …”.
Tuy nhiên, Luật thương mại lại không quy định cơ quan trọng tài hay tòa
án nào có quyền giải quyết, nếu là trọng tài thì là trọng tài kinh tế phi chính
phủ được thành lập hợp pháp, trọng tài thương mại quốc tế, các tổ chức trọng
tài do các bên tự thành lập… và nếu là tòa án thì là tòa kinh tế hay tòa dân sự?
Luật thương mại cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không quy
định cụ thể về thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại mà chỉ dừng lại ở
quy định mang tính nguyên tắc là tuân theo thủ tục tố tụng của trọng tài hoặc
tòa án do các bên lựa chọn… (Đây là phần tao đan đánh thêm, may đọc ở vở
xem nếu không thêm được thi bỏ đi nhé!)
9
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các văn bản pháp luật chuyên ngành cho thấy
một số văn bản quy định việc giải quyết tranh chấp không đảm bảo quyền tự
do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng, quyền tự định đoạt
của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó còn có văn bản
quy định các bên phải thực hiện một khâu giải quyết trung gian bởi cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành, trước khi tranh chấp được đưa ra tòa án hoặc
cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Quy định này có những bất cập sau:
- Thứ nhất, nó làm hạn chế quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết
tranh chấp.
- Thứ hai, trái với quy định tại Điều 317 Luật thương mại về nguyên tắc
giải quyết tranh chấp thương mại.
- Thứ ba, quyết định giải quyết của cơ quan quản lý nhà nước thường
mang yếu tố chủ quan của chủ thể quản lý. Thứ tư, việc quy định thêm một
khâu giải quyết trung gian trước khi các bên có quyền tự do lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp hợp đồng làm kéo dài quá trình giải quyết tranh
chấp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các chủ thể.
III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỂ ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ
DO GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG
THƯƠNG MẠI
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chung, hợp đồng
mua bán hàng hóa nói riêng thống nhất, đồng bộ với các hệ thống pháp luật
có liên quan như pháp luật về cạnh tranh, pháp luật về đầu tư,…
Thứ hai, hoàn thiện các qui định của Bộ luật dân sự năm 2005 về vấn đề
sửa đổi qui định về hình thức hợp đồng: Bộ luật dân sự năm 2005 đã bảo đảm
nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng. Tuy nhiên, khoản 2 điều 401
Bộ luật dân sự năm 2005 lại quy định các trường hợp ngoại lệ mà hợp đồng
được giao kết theo một hình thức nhất định. Việc vi phạm hình thức này
không làm vô hiệu hợp đồng, “ trừ trường hợp pháp luật quy định khác”. Quy
10
định này mâu thuẫn với quy định hình thức hợp đồng là một trong những điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng. Hơn nữa, “ trường hợp pháp luật có quy định
khác” là trường hợp nào? Được quy định ở đâu? Cũng cần có quy định cụ thể.
Theo nhóm em, để đảm bảo không trái nguyên tắc tự do hợp đồng trong
trường hợp các bên có vi phạm điều kiện hình thức hợp đồng nhưng trên thực
tế các bên vẫn thừa nhận sự tồn tại của hợp đồng, đã thực hiện các quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực.
Cần bỏ đoạn “ trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”, bởi vì việc quy
định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng không phù
hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận. Hợp đồng là sự thống nhất ý
chí của giữa các bên, hình thức hợp đồng là sự thể hiện ý chí đó. Vì vậy, mọi
sự thể hiện ý chí đích thực của các bên cần được coi là hợp pháp. Pháp luật
nên tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, không nên căn cứ vào việc vi phạm
điều kiện hình thức hợp đồng mà tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong khi các bên
có sự thống nhất ý chí trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng
và tự nguyện thi hành. Theo đó, cần sửa đổi quy định hình thức hợp đồng là
diều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Thứ ba, phải đảm bảo tính chất thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng, hạn chế
sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ tài sản, chống lại các hành vi lạm
dụng quyền lực độc quyền, nhất là độc quyền nhà nước.
11
C. KẾT LUẬN
Theo quan niệm truyền thống, tự do trong hợp đồng là một nguyên tắc cơ
bản của pháp luật hợp đồng. Thực tế phát triển của hợp đồng và pháp luật hợp
đồng qua hơn 200 năm đã khẳng định cả về mặt lý luận và thực tiễn: không
thể có công bằng và công lý trong quan hệ hợp đồng nếu như quyền tự do hợp
đồng được thừa nhận tuyệt đối, đặc ngoài sự tác động của Nhà nước. Xu
hướng phát triển của pháp luật hợp đồng các nước trên thế giới,và Việt Nam
cho thấy, với mục đích bảo đảm công bằng trong quan hệ hợp đồng, lợi ích
chung của xã hội và trật tự công cộng, Nhà nước cần tác động mạnh mẽ hơn
nữa nhằm bảo vệ quyền tự do trong hợp đồng thương mại.
12