Tải bản đầy đủ (.doc) (99 trang)

Đánh giá tác động của chính sách vay vốn ưu đãi của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tới các hộ nông dân để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện thuận thành tỉnh bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (476.51 KB, 99 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận tôt
nghiệp này là trung trực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 23 tháng 5 năm 2010
Người cam đoan

Nguyễn Thị Thiện

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình học tập cũng như khóa luận tôt nghiệp này ngoài sự
cố gắng nỗ lực của bản thân là sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và động việc
giúp đỡ của các tổ chức tập thể, gia đình, bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn trường
Đại học Nông nghiệp Hà nội đã tạo điều kiện giúp tôi học tập và nghiên cứu.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Trường
ĐHNN – Hà nội nói chung, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn nói riêng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
tại trường. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, TS.Trần Đình Thao và
các thầy cô trong bộ môn Phân tích định lượng đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
thành khóa luận này.
Tôi bày tỏ lòng cảm ơn đến tập thể cán bộ nhân viên Phòng giao dịch Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và bà
con nhân dân trong huyện đã cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề
tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người
thân đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế và bản thân còn ít kinh nghiệm nên không


tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự động viên, đóng góp ý kiến của thầy
cô, gia đình và bạn bè.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2010
Sinh viên

Nguyễn Thị Thiện

ii


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu sâu vào tác động của việc cho vay và
sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi theo chương trình của Chính phủ. Đề tài được tiến
hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh. Hướng nghiên cứu chính của đề tài là tập trung tìm hiểu thực trạng cho
vay và sử dụng nguồn vốn ưu đãi cho việc phát triển nông nghiệp mà đặc biệt là chú
trọng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện. Trước thực trạng đó tìm hiểu
về những vấn đề liên quan trong cơ chế cho vay, khả năng tiếp cận nguồn vốn của
các hộ nông dân, các trang trại và tác động của chương trình tới đời sống người
nông dân cũng như sự bền vững của kinh tế trang trại.
Qua quá trình thực tế đề tài đã tìm hiểu và góp phần hệ thống hóa cơ sở lý
luận những vấn đề liên quan tới cho vay vốn, phát triển kinh tế trang trại đặc biệt
vai trò của yếu tố vốn trong hiệu quả sản xuất kinh doanh khu vực nông nghiệp,
nông thôn của huyện. Qua đây, các nhà nghiên cứu khác nhau cũng có nhìn nhận
về kinh tế trang trại trên thế giới và việt nam một cách khác nhau. Đề tài cũng đã
khái quát hóa các khái niệm về kinh tế trang trại, đặc trưng, các loại hình kinh tế
trang trại, các yếu tố tác động tới hiệu quả kinh tế, vai trò của NHNo&PTNT đối
với nông nghiệp và kinh tế trang trại nói riêng.
Quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương
pháp so sánh làm phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Phương pháp mô tả đã

mô tả tiến trình cho vay vốn ưu đãi phát triển kinh tế trang trại, dưới góc độ vốn đầu
tư, vốn vay của NHNo&PTNT, kết quả về chi phí, thu nhập của trang trại. Phương
pháp so sánh trước và sau khi vay vốn đã đánh giá một phần tác động của vốn tới
hiệu quả của các chỉ tiêu định lượng và định tính của đề tài. Sử dụng phương pháp
phân tích cây vấn đề và SWOT để nhìn thấy những hạn chế và vướng mắc trong
hiệu quả của việc vay vốn ưu đãi tới các hộ phát triển trang trại, từ đó đưa ra những
giải pháp nâng cao hiệu quả của chương trình

iii


Thời gian tìm hiểu thực tế các trang trại trên địa bàn huyện, tình hình cho
vay kinh tế trang trại của NHNo&PTNT huyện Thuận Thành còn chiếm tỷ lệ nhỏ,
chương trình cho vay vốn phát triển kinh tế trang trại đã đánh giá được tác động tới
đời sống của người nông dân, đặc biệt là các hộ làm kinh tế trang trại. Song chương
trình cho vay vốn ưu đãi chưa thực sự hiệu quả do nhiều nguyên nhân như sự tiếp
cận của nguồn vốn chưa đến với nông dân, cơ chế vay, thời hạn và lãi suất,….Các
trang trại trên địa bàn huyện chủ yếu là trang trại chăn nuôi lợn, do xu hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện theo hướng chăn nuôi. Hiệu quả sử
dụng vốn còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố từ ngân hàng cũng như trang trại như
trình độ của chủ trang trại, thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,….Tuy nhiên tồn tại trong
hiệu quả sử dụng vốn là do chưa hạch toán được kinh tế trong sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ưu đãi đối với các trang trại thì ngân hàng
và các chủ trang trại cần có sự liên kết chặt chẽ, mỗi tổ chức cá thể phải nâng cao
trách nhiệm và định hướng được giải pháp về công tác cho vay, cơ chế cho vay, chú
trọng nâng cao kiến thức cho chủ trang trại.
Do trình độ kinh nghiệm bản thân và thời gian có hạn nên đề tài chỉ dừng lại
mô tả quá trình cho vay và tác động của chương trình cho vay ưu đãi tới các hộ làm
kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành. Để tài mô tả khái quát các chỉ
tiêu định tính của các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của chương trình mà chưa đi

sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới từng ngành sản xuất nông nghiệp của
trang trại, và sự tiếp cận của nông dân tới nguồn vốn vay từ các ngân hàng hay tổ
chức khác nhau và hiệu quả của nó như thế nào?.

iv


MỤC LỤC
Bảng 4.1: Diễn biến nguồn vốn qua 3 năm hoạt động của NHNo & PTNT huyện Thuận Thành ( 20072009 )........................................................................................................................................................................48
Bảng 4.2 : Diễn biến dư nợ vốn đầu tư trung và dài hạn của NHNo & PTNT huyện Thuận Thành qua
3 năm (2007 – 2009)...............................................................................................................................................50
Bảng 4.3 : Doanh số vay vốn ưu đãi của các trang trại tại NHNo & PTNT................................................53
Bảng 4.4 : Kết quả sản xuất và hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ qua điều tra..........................................55
Bảng 4.5: Hiệu quả sử dụng vốn vay của trang trại điều tra ( Tính bình quân cho 1 trang trại )...........57
Bảng 4.6: Mức vốn vay, thời gian, lãi suất cần vay của các hộ điều tra.......................................................58
Bảng 4.7: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập của trang trại trước và sau khi vay vốn..............61
Bảng 4.8 : Kinh nghiệm quản lý trang trại ảnh hưởng tới thu nhập trước và sau khi vay vốn...............62
Bảng 4.9 : Tuổi của chủ trang trại ảnh hưởng tới thu nhập trước và sau khi vay vốn..............................63
Bảng 4.10 : Sự thay đổi quy mô trang trại trước và sau khi vay vốn Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Thuận Thành năm 2009...........................................................................................................67
Bảng 4.11: So sánh thu nhập giữa trang trại được vay vốn ưu đãi và trang trại chưa được vay vốn ưu
đãi qua điều tra thực tế đầu năm 2010...............................................................................................................69
Bảng 4.12: So sánh thu nhập giữa các trang trại vay vốn ít và trang trại vay vốn nhiều..........................70
Bảng 4.13: So sánh thu nhập giữa các trang trại phát triển các ngành khác nhau....................................72
Bảng 4.14 So sánh thu nhập của trang trại phát triển các ngành nghề khác nhau trước và sau khi vay
vốn............................................................................................................................................................................73
Bảng 4.15 Lao động sử dụng trong các ngành nghề của trang trại trước và sau khi vay vốn..................74

v



DANH MUC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 : Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Thuận Thành qua các năm ( Tính
theo giá cố định năm 1994).....................................Error: Reference source not found
Bảng 3.2 : Cơ cấu ngành nông nghiệp chủ yếu của huyện Thuận Thành qua các năm
(2007-2009).............................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.1: Diễn biến nguồn vốn qua 3 năm hoạt động của NHNo & PTNT huyện
Thuận Thành ( 2007-2009 )....................................Error: Reference source not found
Bảng 4.2 : Diễn biến dư nợ vốn đầu tư trung và dài hạn của NHNo & PTNT huyện
Thuận Thành qua 3 năm (2007 – 2009)......................Error: Reference source not found
Bảng 4.3 : Doanh số vay vốn ưu đãi của các trang trại tại NHNo & PTNT......Error:
Reference source not found
Bảng 4.4 : Kết quả sản xuất và hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ qua điều tra. Error:
Reference source not found
Bảng 4.5: Hiệu quả sử dụng vốn vay của trang trại điều tra ( Tính bình quân cho 1
trang trại )................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.6: Mức vốn vay, thời gian, lãi suất cần vay của các hộ điều tra............Error:
Reference source not found
Bảng 4.7: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập của trang trại trước và sau khi
vay vốn....................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.8 : Kinh nghiệm quản lý trang trại ảnh hưởng tới thu nhập trước và sau khi
vay vốn....................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.9 : Tuổi của chủ trang trại ảnh hưởng tới thu nhập trước và sau khi vay vốn
.................................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.10 : Sự thay đổi quy mô trang trại trước và sau khi vay vốn Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Thuận Thành năm 2009. Error: Reference source not
found
Bảng 4.11: So sánh thu nhập giữa trang trại được vay vốn ưu đãi và trang trại chưa
được vay vốn ưu đãi qua điều tra thực tế đầu năm 2010.Error: Reference source not
found

Bảng 4.12: So sánh thu nhập giữa các trang trại vay vốn ít và trang trại vay vốn
nhiều........................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.13: So sánh thu nhập giữa các trang trại phát triển các ngành khác nhau.....Error:
Reference source not found
vi


Bảng 4.14 So sánh thu nhập của trang trại phát triển các ngành nghề khác nhau
trước và sau khi vay vốn.........................................Error: Reference source not found
Bảng 4.15 Lao động sử dụng trong các ngành nghề của trang trại trước và sau khi
vay vốn....................................................................Error: Reference source not found

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, HỘP
Sơ đồ 3.1 Đánh giá tác động...........................................Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ 4.1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA NHNo & PTNT HUYỆN THUẬN THÀNH. .Error:
Reference source not found
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn cơ cấu nguồn vốn qua 3 năm....Error: Reference source not found
Hình 4.2 Đồ thị biểu diễn doanh số cho vay kinh tế trang trại của NHNo & PTNT
ThuậnThành...................................................................Error: Reference source not found
Hộp 1:......................................................................Error: Reference source not found
Hộp 2.......................................................................Error: Reference source not found
Hộp 3.......................................................................Error: Reference source not found

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NNNo&PTNT

: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn


KTTT

: Kinh tế trang trại



: Lao động

VNĐ

: Việt Nam đồng

GTSX

: Giá trị sản xuất

NH

: Ngân hàng

TT

: Trang trại

UBND

: Ủy ban nhân dân

NN – NT


: Nông nghiệp – nông thôn

NHCSXH

: Ngân hàng chính sách xã hội

WB

: Ngân hàng thế giới

GCN

: Giấy chứng nhận

NTTS

: Nuôi trồng thuỷ sản

AGRIBANK

: Ngân hàng nông nghiệp và PTNT

TN

: Thu nhập

DN

: Doanh nghiệp


DSCV

: Doanh số cho vay

viii


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xóa đói giảm nghèo là nội dung xuyên suốt trong chiến lược phát triển của thế
giới cũng như Việt Nam. Mục đích của chương trình chống nghèo khó là làm cho
mọi người có khả năng tốt hơn để có một cuộc sống theo lối bền vững. Sự phát triển
kinh tế trang trại ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa là cần
thiết vì nó có khả năng tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người dân thiếu việc
làm ngày hôm nay và cho những lực lượng lao động đang lớn lên. Sự phát triển
kinh tế của đất nước kéo theo đời sống kinh tế của các hộ nông dân tăng lên, bên
cạnh đó một bộ phận lớn người nghèo đang là vấn đề đáng lo ngại trong chiến lược
phát triển đất nước. Phát triển kinh tế trang trại (KTTT) là chủ trương nhất quán và
lâu dài của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Kể từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ về
phát triển KTTT, nước ta đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình trang trại mang lại
hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, tận dụng
tốt diện tích mặt nước và đất đai, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập của đất
nước. KTTT đã góp phần không nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo, phát triển đất
nước. Để có được những thành tựu như hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn (NHNo&PTNT) là công cụ quan trọng và hữu hiệu trong việc xóa
đói giảm nghèo. Vốn vay của NHNo&PTNT đã giúp cho hàng nghìn hộ thoát
nghèo, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, hỗ trợ vốn cho hàng nghìn

người đi hợp tác lao động nước ngoài, cho hàng nghìn sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn vay vốn học tập…..Nhưng trong đó một sự tăng lên đáng kể từ việc phát triển
kinh tế trang trại đã làm tăng thu nhập cho các hộ nông dân, làm tăng mức sống và
thoát nghèo.
Cũng như các địa phương trong cả nước, Bắc Ninh đang trong quá trình đổi
mới cơ cấu kinh tế xã hội và nâng cao mức sống người dân.Trong điều kiện từ chi

1


nhánh đến phòng giao dịch các huyện, thị xã phải thuê, mượn trụ sở làm việc, song
tập thể và đoàn viên công đoàn đơn vị nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt
nhiệm vụ chuyên môn, hăng hái tham gia phong trào thi đua phục vụ sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt trong lĩnh vực cho vay
phát triển kinh tế trang trại.
Tuy nhiên việc tiếp cận và sư dụng vốn hiệu quả lại là một việc không dễ đối
với các nông hộ, hầu hết các nông hộ ngại việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng
chính thống bởi nhiều thủ tục và phức tạp mặc dù lãi suất thấp hơn và không phải
có tài sản thế chấp so với vay của tín dụng không chính thống, bên cạnh đó vay từ
nguồn các tổ chức tín dụng chính thống thường không đáp ứng đủ số lượng và thời
gian mà hộ có nhu cầu. Bên cạnh đó việc phát triển kinh tế trang trại ngày càng phát
triển và được mở rộng, nhu cầu về vay vốn từ NHNo&PTNT là rất lớn. Liệu các
chương trình cho vay vốn ưu đãi hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các
hộ nông dân và tác động của chính sách vay vốn ưu đãi đến các hộ nông dân như
thế nào, đặc biệt là các hộ sản xuất trang trại đã sử dụng vốn vay như thế nào? Có
hiệu quả không? Họ có nhu cầu vốn vay như thế nào? Để làm rõ tác động của chính
sách cho vay vốn ưu đãi tới các hộ nông dân để phát triển kinh tế trang trại trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác động của
chính sách vay vốn ưu đãi của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
tới các hộ nông dân để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận

Thành tỉnh Bắc Ninh ”
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng của chương trình cho vay vốn ưu đãi của NHNo&PTNT
tỉnh Bắc Ninh và việc sử dụng vốn vay của nông hộ sản xuất phát triển kinh tế trang
trại trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở đó đánh giá tác
động của chương trình cho vay ưu đãi tới các nông hộ phát triển kinh tế trang trại.

2


1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Tìm hiểu thực trạng cho vay vốn ưu đãi ở NHNo&PTNT huyện và sử dụng
vốn vay nhằm phát triển kinh tế trang trại của hộ nông dân trên địa bàn huyện
Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh.
+ Phân tích những tác động của chương trình cho vay vốn ưu đãi của
NHNo&PTNT tới sự phát triển kinh tế và kinh tế trang trại của hộ nông dân trên địa
bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh.
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tiếp cận của chương
trình cho vay và sử dụng vốn vay ưu đãi một cách hiệu quả đối với nông dân và
nâng cao hiệu quả chương trình cho vay vốn ưu đãi của NHNo&PTNT đối với việc
phát triển trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh.
• Câu hỏi nghiên cứu
+ Nguồn vốn ưu đãi được quản lý và cho vay như thế nào?
+ Việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của nông dân có dễ dàng hay không?
+ Hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ nông dân làm kinh tế trang trại như thế
nào?
+ Tác động của chính sách tới hộ nông dân phát triển kinh tế trang trại như thế
nào?
+ Chính sách vay vốn ưu đãi cần thay đổi gì? Có nên tiếp tục cho vay trong thời

gian tới hay không?
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình cho vay vốn ưu đãi của ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn.
Các hộ nông dân vay vốn phát triển kinh tế trang trại
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi không gian : Huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
1.3.2.2 Phạm vi thời gian
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01/2010 đến 05/2010.
+Các số liệu trong đề tài thu thập từ các năm 2007 đến 2009.
3


1.3.2.3 Phạm vi nội dung:
+ Các chương trình cho trang trại vay vốn ưu đãi của ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
+ Tình hình vay vốn và sử dụng vốn vay của các trang trại trên địa bàn huyện
+ Tác động của chính sách cho vay vốn ưu đãi đến hộ nông dân phát triển
trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

4


PHẦN II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY
VỐN ƯU ĐÃI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
2.1.1 Khái niệm, phân loại và những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế

trang trại.
2.1.1.1. Khái niệm kinh tế trang trại
Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân,
được hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế
phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất ở một số nước châu Âu.
Kinh tế trang trại là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế phát
triển và đang phát triển. Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước
ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về kinh
tế trang trại là điều không thể tránh khỏi. Thời gian qua các lý luận về kinh tế trang
trại đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông
tin đại chúng. Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa
học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại.
Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang
trại gia đình trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của các
hộ tiểu nông sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cung cấp khép kín, vươn lên sản
xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh.
Theo một số nhà khoa học trên thế giới thì khái niệm về kinh tế trang trại
như sau:
- Xuất phát từ quan điểm của Lê Nin: “ Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo
diện tích, nhưng lại hóa thành ấp trại lớn xét về quy mô sản xuất” đòi hỏi khi nói về
quy mô, có thể hiểu đó là quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể hiểu đó là

5


quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập. Lê Nin đã phân biệt kinh tế trang trại “
Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu
nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt”.
- Quan điểm của Mác đã khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đình là

sản xuất hàng hóa, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng có
điểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt.
- Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, và một số vùng lãnh thổ ở Châu
Á : như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khác trong khu vực. Họ quan
niệm: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp của hộ gia đình
nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông,
vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hóa, tiếp cận với thị trường, từng bước
thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”.
- Theo Nguyễn Phượng Vỹ thì lại cho rằng: “ Trang trại là một hình thức tổ
chức kinh tế trong nông – lâm – ngư nghiệp, phổ biến hình thành trên cơ sở kinh tế
hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hóa”
- Trong Nghị quyết Trung ương số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 cũng xác
định: “…trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hóa quy mô lớn
hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có
hiệu quả”
- Lê Thị Xuân cho rằng: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế
trong nông – lâm – ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang
tính sản xuất hàng hóa có nhu cầu cao hơn về thị trường, về khoa học công nghệ, có
giá trị, tỷ suất hàng hóa và thu nhập cao hơn so với mức bình quân của các hộ gia
đình trong vùng. (Lê Thị Xuân, 2005, Đại học Nông nghiệp Hà Nội)
Quan điểm trên đã nêu được bản chất của kinh tế trang trại là hộ nông dân,
nhưng chưa đề cập đến vị trí của chủ trang trại trong toàn bộ quá trình sản xuất sản
phẩm của trang trại.
Riêng về các quan điểm kinh tế trang trại, các nhà khoa học trong nước nhận
xét về kinh tế trang trại như thế nào? Sau đây em xin được đề cập đến một số nhà
khoa học trong nước đã đưa ra như sau:
6


Quan điểm 1 : “Kinh tế trang trại ( hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại,

….) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp
tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định được
chủ trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ”.
Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng
hóa, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trong quá
trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy rõ vai trò của hộ gia đình trong các hoạt
động kinh tế và sự phân biệt giữa người chủ với người lao động khác.
Quan điểm 2: “ Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở
mức độ cao”.
Quan điểm trên cho thấy cơ bản quyết định của kinh tế trang trại là sản xuất
hàng hóa ở trình độ cao nhưng chưa thấy được vị trí, vai trò của nền kinh tế trang
trại trong nền kinh tế thị trường và chưa thấy được vai trò của người chủ trang trại
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm 3 cho rằng: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng
hóa lớn trong Nông – Lâm – Ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác ở nông
thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình phát triển sản xuất
kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng
vốn bỏ ra, có trình độ đưa thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng
hóa tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao”.
Quan điểm đã khẳng định kinh tế thị trường( kinh tế hàng hóa đã phát triển
cao) là tiền đề chủ yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại. Đồng
thời khẳng định vai trò vị trí của chủ trang trại trong quá trình quản lý trực tiếp quá
trình sản xuất kinh doanh của trang trại.
Từ các quan điểm trên đây ta có thể rút ra khái niệm chung về kinh tế trang
trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông- Lâm- Ngư nghiệp,
có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng của một người chủ độc lập,sản xuất được tiến hành trên quy mô

7



ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản
lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.”
2.1.1.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề nông nghiệp
thế giới, ngày nay trang trại gia đình là lại hình trang trại chủ yếu trong nền nông
nghiệp các nước, ở các nước đang phát triển trang trại gia đình có vai trò to lớn
quyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở đây tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cung
cấp cho xã hội được sản xuất từ các trang trại gia đình. Ở nước ta kinh tế trang trại
mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây song vai trò tích cực và quan trọng
của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như xã hội và
môi trường.
-

Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển

các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân
tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao mặt khác quy đây thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt
công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát
triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai
thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp
nông thôn so với kinh tế nông hộ. Do vậy , phát triển kinh tế trang trại góp phần tích
cực vào thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
-

Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số

hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động. Điều

này rất có ỹ nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những
vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay. Mặt khác phát triển
kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn
và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh
doanh….do đó phát triển kinh tế trang trại có vai trò rất quan trọng trong việc giải
quyết các vấn đề xã hội hiện nay, đặc biệt xã hội vùng nông thôn.
-

Về mặt môi trường, sản xuất kinh tế trang trại một cách tự chủ và vì lợi ích

thiết thực lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và
8


quan tâm bảo vệ các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, trước hết là trong phạm vi
không gian sinh thái trang trại và phạm vi từng vùng.Các trang trại ở trung du, miền
núi đã góp phần trong việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc
và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai góp phần to lớn trong việc bảo về môi
trường sinh thái trong nước.
2.1.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nước công nghiệp hóa Tây
Âu, C.Mác đã là người đầu tiên đưa ra nhận xét chỉ rõ đặc trưng cơ bản của kinh tế
trang trại và kinh tế tiểu nông. Người chủ trang trại sản xuất và bán tất cả sản phẩm
kể cả thóc giống. Còn người tiểu nông, họ sản xuất và tiêu thụ hầu hết các sản phẩm
làm ra, họ mua bán càng ít càng tốt.
Chính phủ đã có Nghị quyết 03/2000/NQ- CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang
trại. Thi hành Nghị quyết của Chính phủ, Liên Bộ Nông Nghiệp và PTNT và Tổng
cục thống kê chỉ rõ các đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại như sau:
- Mục đích của sản xuất trang trại là sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa
với quy mô lớn.

- Mức độ tập trung hóa, chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao
hơn hẳn ( vượt trội ) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như :
đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thủy sản hàng hóa.
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất,
sử dụng lao động gia đình và lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu
nhập vượt trội so với kinh tế hộ.
Trải qua hàng thế kỷ, phát triển kinh tế trang trại thực tế đã chứng minh đặc
trưng cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu của
thị trường. Người chủ trang trại là người trực tiếp sản xuất quản lý. Các tài sản cũng
như sản phẩm thuộc quyền sở hữu gia đình và được pháp luật bảo hộ.
Do đặc điểm địa lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội của từng vùng có sự khác
nhau nên việc hình thành trang trại diễn ra không đồng đều giữa các vùng. Đặc

9


điểm hình thành các trang trại phụ thuộc vào điều kiện đất đai, dân số, cơ cấu sản
xuất đang hình thành, sự phát triển của kết cấu hạ tầng, trình độ canh tác,…
Đặc điểm kinh tế trang tại gia đình ở tỉnh Bắc Ninh chủ yếu là phần lớn
nguồn gốc hình thành các loại đất của KTTT đều tích tụ từ các vùng hoang hóa,
hoặc khó canh tác, gặp nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng. Ngoài ra một số trang trại
được hình thành trên cơ sở tích tụ ruộng đất sang nhượng quyến sử dụng đất cho
những người có khả năng phát triển kinh tế trang trại. Những đối tượng trang trại
hình thành qua con đường tích tụ ruộng đất thông qua hình thức chuyển đổi thường
là những người có vốn, có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp.
 Kinh tế trang trại giống và khác kinh tế hộ nông dân
Chỉ tiêu
Mục đích sản xuất

Quy mô sản xuât
Trình độ sản xuất
Mức độ quan hệ với thị trường
Khả năng tích lũy tái sản xuất

Kinh tế hộ gia đình (tự
cung tự cấp )
Chủ yếu là để tiêu dùng
Nhỏ
Thấp
Ít
Ít

Kinh tế trang trại
Chủ yếu là để bán
Lớn
Cao
Nhiều
Nhiều

Kinh tế trang trại xuất phát kinh tế hộ gia đình nói chung, hộ nông dân là một
trong các hộ làm trang trại.
Chủ hộ và trang trai đều là cá nhân chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
của mình, sự khác nhau chủ yếu là trang trại sản xuất sản phẩm hàng hóa cho xã hội
còn nông hộ sản xuất sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của hộ là chủ yếu.
Quy mô sản xuất của trang trại lớn hơn quy mô sản xuất của hộ nông dân.
Kinh tế trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng. Như vậy về
cơ bản trang trại vẫn là kinh tế hộ, nhưng là hộ sản xuất hàng hóa.

2.1.1.4 Các loại hình kinh tế trang trại


10


- Trong nền kinh tế tự cấp tự túc và buổi đầu của nền kinh tế hàng hóa, hộ
tiểu nông không chỉ là đơn vị sản xuất cơ bản mà còn là đơn vị tiêu dùng. Nó chỉ sử
dụng tiền vốn và sức lao động của chính gia đình hộ nông dân ( nông hộ ) với mục
đích tối đa hóa lợi ích, còn ruộng đất có thể thuộc sở hữu của nông hộ hoặc có thể
đi thuê hoặc lĩnh canh. Đó chính là trang trại gia đình tự cấp tự túc. Lực lượng sản
xuất ngày càng phát triển, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới ra đời
cho phép mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp,
thay đổi quan hệ sản xuất. Theo đó các trang trại sản xuất hàng hóa ra đời với tư
cách là kết quả của quá trình tích tụ tư bản, mà trước hết là tích tụ ruộng đất trong
nông nghiệp. Mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối đa hóa lợi nhuận của sản xuất nông
nghiệp là tiêu chí cơ bản để phân định hộ tiểu nông ( trang trại gia đình tự cấp tự
túc) với trang trại sản xuất hàng hóa – tổ chức kinh doanh trong nông nghiệp theo
cơ chế thị trường. Vì thế, sản xuất nông nghiệp của trang trại sản xuất hàng hóa
mang tính chất kinh doanh, còn hộ tiểu nông thì không. Với tư cách là một tổ chức
kinh doanh nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường, các trang trại cũng tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau, được phân loại dựa trên tiêu chí về bản chất kinh tế - xã
hội, chế độ sở hữu và địa vị pháp lý, như các tổ chức kinh doanh trong các ngành
công nghiệp – dịch vụ.
- Hộ kinh doanh cá thể ( DN gia đình) trong nông nghiệp chính là kinh tế
nông hộ hay chính là trang trại gia đình sản xuất hàng hóa. Theo đó, trang trại gia
đình chủ yếu sử dụng tiền vốn, ruộng đất và sức lao động của gia đình để sản xuất
nông sản hàng hóa. Do vậy, tiền vốn và ruộng đất cũng phải được tích tụ đến mức
đủ lớn để trang trại có thể sản xuất có hiệu quả, nhờ đầu tư lớn hơn hộ tiểu nông.
Như vậy, hơn 11 triệu nông hộ hiện nay chính là các trang trại gia đình tự cấp tự túc
và sản xuất hàng hóa ở những mức độ khác nhau.
- DN cá nhân kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại cá nhân sản xuất

nông sản hàng hóa. Trang trại cá nhân do 1 cá nhân đầu tư vốn với tư cách là chủ sở
hữu duy nhất, và chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê. Chủ trang trại có thể mua
hoặc thuê, lĩnh canh ruộng đất của người khác để tạo lập trang trại. Trang trại gia

11


đình và trang trại cá nhân đều giống nhau về mặt sở hữu vốn đầu tư, những khác
nhau ở chỗ chủ yếu sử dụng sức lao động gia đình hay sức lao động làm thuê.
- Công ty hợp doanh kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại hợp danh.
Trong đó, có 2 loại chủ sở hữu, 2 loại thành viên công ty. Một loại chủ ( thành viên)
là đồng chủ sở hữu chủ và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của
mình vào trang trại, chỉ được phân chia lợi tức và rủi ro theo tỉ lệ vốn góp và không
có quyền quản lý trang trại, gọi là thành viên góp vốn, một loại chủ cũng là đồng sở
hữu chủ và được hưởng lợi tức và chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp của mình vào trang
trại, nhưng phải chịu trách nhiệm vô hạn trước cả khoản công nợ của trang trại, nên
có quyền quản lý trang trại được gọi là thành viên hợp danh. Cũng như trang trại cá
nhân, trang trại hợp danh chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê, có thể có quyền
sở hữu ruộng đất hoặc thuê đất, lĩnh canh đất của người khác. Nhưng do khả năng
về vốn lớn hơn, nên quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại hợp danh lớn hơn
trang trại cá nhân.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại
hữu hạn. So với trang trại cá nhân và trang trại hợp danh, khả năng vốn của trang
trại hữu hạn lớn hơn do huy động vốn của nhiều người hơn, nên có thể mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh lớn hơn, áp dụng công nghệ cao hơn, sử dụng nhiều người
lao động làm thuê hơn, có thể là chủ sở hữu ruộng đất và cũng có thể đi thuê hoặc
lĩnh canh ruộng đất của người khác.
- Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại cổ phần chịu
trách nhiệm hữu hạn. Do huy động vốn cổ phần rộng rãi trong xã hội, trang trại cổ
phần có khả năng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh lớn nhất, sử dụng nhiều sức

lao động làm thuê nhất, có thể mua hoặc thuê, lĩnh canh ruộng đất của người khác.
- Nông, lâm, trường quốc doanh, các công ty Nhà nước kinh doanh nông,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản chính là trang trại Nhà nước, do Nhà nước đầu tư
và làm chủ sở hữu từ 51% vốn sở hữu của DN trở lên.Do Nhà nước đầu tư vốn lớn,
nên các trang trại Nhà nước cũng có khả năng to lớn trong việc mở rộng quy mô
kinh doanh, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, sử dụng nhiều
sức lao động làm thuê.
12




Nếu phân loại theo tiêu chí ngành kinh doanh chuyên môn hóa, nông trang

hay nông trường là trang trại chuyên doanh nông nghiệp theo nghĩa hẹp: trồng trọt,
chăn nuôi gia súc, gia cầm ; lâm trường là trang trại chuyên doanh trồng rừng; trang
trại kinh doanh tổng hợp (VAC) thường có hiệu quả cao hơn trang trại chuyên
doanh trong đó

V: vegatation chỉ các loại cây, kể cả cây lâm nghiệp, A :

Aquaculture là nuôi trồng các loại thủy hải sản, C: Cage là chuồng trại chăn nuôi
gia súc, gia cầm.
Các trang trại gia đình được tái lập trong lòng các DN nông nghiệp lớn, về bản chất,
chính là trang trại dự phần hay công ty dự phần trong nông nghiệp. Trong đó trang
trại lớn và hộ gia đình nhận khoán cùng bỏ vốn đầu tư kinh doanh trên cùng một
quá trình, một địa bàn sản xuất, hưởng lợi và phân chia rủi ro theo một cách nào đó,
do các bên tự nguyện, bình đẳng thỏa thuận, nhưng không làm phát sinh một tổ
chức kinh doanh có tư cách pháp lý mới, mà dựa vào tư cách pháp lý đã có của
trang trại lớn. Hình thức tổ chức kinh doanh này vừa tận dụng ưu thế của các trang

trại gia đình trong các khâu sản xuất sinh học, và ưu thế của DN quy mô lớn kinh
doanh dịch vụ đầu vào – đầu ra của sản xuất nông nghiệp, vừa khắc phục nhược
điểm của trang trại gia định là quy mô nhỏ và nhược điểm của DN lớn là có nhiều
cấp quản lý trung gian.


Đặc điểm của kinh tế trang trại

Các trang trại đã hình thành, đang và sẽ phát triển theo xu hướng chủ yếu sau:
- Tích tụ và tập trung sản xuất: Lợi ích kinh tế khi bán sản phẩm thừa do
mình làm ra đã thúc đẩy các hộ sản xuất tăng sản lượng và tỷ trọng hàng hóa.Từ đó
các hộ tích lũy vốn và mở rộng quy mô sản xuất. Còn tập trung là các hộ có điều
kiện về nguồn vốn đầu tư ban đầu mở rộng quy mô sản xuất từ đó tăng sản lượng và
tỷ trọng sản xuất.
- Chuyên môn hóa sản xuât: Xu hướng phát triển kinh tế trang trại, sản xuất
ngày càng đi sâu vào chuyên môn hóa, nhưng do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà
sản xuất chuyên môn hóa trong các trang trại phải kết hợp với sản xuất đa dạng một
cách hợp lý mới có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực đất đai, khí hậu, cơ sở

13


vật chất và kỹ thuật, sức lao động, đồng thời hạn chế những rủi ro về thiên tai và
biến động của thị trường.
- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất
Quá trình phát triển nông nghiệp ngày càng mạnh, nên việc nâng cao trình độ kỹ thuật
vào sản xuất là một xu hướng tất yếu gắn liền với việc nâng cao năng suất cây trồng vật
nuôi, nâng cao năng suất lao động. Để nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản
xuất các trang trại phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản
xuất, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học và đặc biệt công nghệ sinh học.

- Hợp tác và cạnh tranh: Các trang tại muốn sản xuất hàng hóa phải hợp tác
và liên kết với nhau và với đơn vị tổ chức kinh tế khác. Trước hết trang trại phải
hợp tác với các trang trại khác để giúp đỡ nhau giải quyết tốt hơn những vấn đề sản
xuất kinh doanh, với các tổ chức bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh, hợp tác với
các tổ chức thương mại, dịch vụ để tiêu thụ nông sản phẩm. Mặt khác có những
hoạt động trang trại không thể thực hiện được do thiếu vốn, thiếu máy móc thiết
bị….phải liên kết với các trang trại với nhau. Đi đôi với hợp tác trang trại phải cạnh
tranh với các đơn vị khác để có thể tiêu thụ sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý để có
tích lũy, tái sản xuất mở rộng.
2.1.1.5 Những yếu tố quan trọng tác động đến phát triển kinh tế trang trại


Nhân tố khách quan

a) Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Phải nêu lên các vấn đề: sản phẩm, đặc điểm sản phẩm nông nghiệp khi tiêu
thụ như ( tươi sống, khó khăn trong việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang
tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muộn không thể đáp ứng ngay lập tức,vì đốí
tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sông cần có thời gian để sinh trưởng,
phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch, do vậy dù giá nông sản rất cao, các nông
trại phải mất hàng tháng thậm chí hàng năm mới có được nông sản để cung cấp ra
thị trường )
Đối tượng khách hàng là ai? khách hàng mua nông sản phẩm cũng được
phân chia theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Chẳng hạn như nhóm khách hàng
có thu nhập cao, nhóm khách hàng có thu nhập trung bình và nhóm khách hàng có
14


thu nhập thấp. Ngoài ra chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng của từng vùng
cũng như đặc điểm yêu cầu về sản phẩm mà khách hàng đặt ra.

Một đặc điểm đáng chú ý nữa là yếu tố văn hoá và đặc điểm tôn giáo mà
khách hàng đang tuân thủ….
Tóm lại thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng là vấn đề sống còn của
trang trại
b) Chính sách đất đai
Hiện nay, Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều cho
phát triển kinh tế trang trại như: chính sách giao đất giao rừng, dồn điền đổi thửa,
điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài.
Bên cạnh đó, nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn lạc hậu,
chính vì vậy mà cải tạo lại những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là vô
cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại và vấn đề
vốn và lao động.
c) Chính sách vốn tín dụng
Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung ương đến địa
phương, đặc biệt là hệ thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển
nông nghiệp nông thôn ngày càng tiến xa hơn và vững chắc. Bên cạnh hệ thống
ngân hàng rất lớn, xong việc kinh doanh tiền tệ, và việc bảo tồn vốn là điều tiên
quyết lại từ phía ngân hàng nên chính điều này gây không ít khó khăn khi các nhà
đầu tư vào kinh tế trang trại nhưng thiếu tài sản thế chấp.
d) Các chính sách khác
Như chính sách thuế bảo hộ nông sản phẩm nông nghiệp, xuất nhập khẩu
hàng nông nghiệp,chính sách ưu tiên cán bộ nông nghiệp làm việc ở vùng sâu vùng
xa nhằm khắc phục về kĩ thuật cho các nhà đầu tư kinh tế trang trại…
e) Do thị trường nhập khẩu các nông sản từ nước ngoài
Đất nước ta do thời gian trải qua chiến tranh quá dài, nên điều kiện kinh tế
rất khó khăn, nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp phát triển kém. Chính
điều này làm mất đi thế cạnh tranh so với các nước traong khu vực cũng như các
nước trên thế giới. Nước ta xuất khẩu sản phẩm chủ yếu là thô, giá rẻ, nhưng nhập
15



khẩu lại là những sản phẩm có tính giá cao. Trong khi đó, thì máy móc và chế biến
của ta lại lạc hậu về công nghệ, thiếu về chủng loại
g) Các yếu tố về thời tiết, khí hậu, dịch bệnh
Đây là một yếu tố có sức tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tế
trang trại, vì đối tượng của kinh tế trang trại là các sinh vật sống, có thời gian sinh
trưởng và phát triển phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên. Trong những năm vừa qua, đất
nước ta đang trong thời kì đổi mới, bắt đầu nền công nghiệp hoá đất nước hình
thành, các nhà máy, công xưởng, nhà cửa mọc lên như nấm, cũng đồng nghĩa với
việc nạn phá rừng tràn lan gây lên thảm hoạ về môi trường như hạn hán, lũ lụt xảy
ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái
là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng, điều này khiến không ít
các nhà quản lý cũng như các chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư. Cụ thể là các loại
dịch bệnh luôn hoành hành làm cho những nhà chăn nuôi phải đau đầu khi mà hết
bệnh lở mồm long móng ở gia súc lại đến bệnh cúm tuýp A H1N1, H5N1 ở gia
cầm, dịch bệnh lợn tai xanh…Ta thấy rằng dịch bệnh là một hiểm hoạ cao nhất đới
với người làm nông nghiệp.
• Nhân tố chủ quan
a) Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ trang trại
Con người Việt Nam ta từ xưa tới nay vốn tính cần cù chịu thương chịu khó,
tính vươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng lớn. Điều này là điều kiện cho phát
triển một đất nước mạnh mẽ về cả vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó, các chủ trang
trại thường không được đào tạo hoặc là đào tạo một cách chắp vá, điều này khiến
không ít các chủ trang trại làm ăn bị thua lỗ dẫn đến phá sản .
b) Quy mô diện tích trang trại
Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi
tốt quanh năm, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn. Ngoài ra, đất đai
còn là hàng hoá đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì ngày càng tốt lên, độ
phì nhiêu ngày càng cao, diện tích canh tác ngày càng lớn chứ không như các tài
sản khác là có sự hao mòn và dẫn đến hư hỏng. Bên cạnh đó diện tích đất tuy lớn

nhưng đất canh tác lại thiếu vì nước ta phân thành bốn vùng rõ rệt là vùng núi cao,
16


vùng đồng bằng, vùng cao nguyên, vùng trung du nhưng diện tích vùng đồng bằng
phù hợp cho phát triển kinh tế trang trại thì bình quân trên đầu người lại it mà vùng
núi và trung du lại nhiều. Để cải tạo và tạo ra vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó
khăn, thậm chí là không thể.
c) Lao động của trang trại
Lực lưọng lao động dồi dào trên 70% dân số nước ta phân bố ở nông thôn,
tính cần cù chịu khó, tính tiếp thu tốt. Tuy nhiên, trình độ lao động thấp, tác phong
công nghiệp hầu như không có, dẫn tới kỉ luật trong lao động kém làm ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả lao động. Lực lượng lao động không tập trung mà phân bố
rải rác khắp nơi nên việc quy tụ lại một chỗ gặp rất nhiều khó khăn như chỗ ăn ở,
quản lý. Điều này cũng là nhân tố làm tăng chi phí đầu vào ảnh hưởng lớn tới việc
tăng giá thành sản phẩm
d) Đầu tư của các chủ trang trại
Đầu tư cho kinh tế trang trại vốn không cần lớn như đầu tư cho công nghiệp,
đầu tư dần trong quá sản xuất hoặc chu kì sản phẩm. Điều này có thể giãn cách thời
gian huy động vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn thông qua các
chương trình dự án như:135,ODA,ADB,WB….đây cũng là một hình thức đầu tư
gián tiếp và lâu dài. Bên cạnh đó, nước ta là nước đang trong quá trình quá độ, sau
những năm cải cách nền kinh tế còn khó khăn,chính vì vậy việc bảo hộ và bảo trợ
cho nôngnghiệp còn thấp, các chủ trang trại chủ yếu là từ các hộ gia đình thành lập
tự phát với lượng vốn khởi điểm thấp. Vốn huy động từ nguồn vay của ngân hàng,
do không có tài sản thế chấp hoặc có thì cũng không đủ để đáp ứng lượng vốn cần
thiết để phát triển với quy mô cao.
e) Công nghiệp chế biến sản phẩm
Đây là vấn đề rất lớn có tác động đến việc phát triển kinh tế trang trại. Điều
mà Đảng và Nhà nước luôn cần quan tâm nhưng không phải là không vướng mắc.

Sản phẩm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, thu hoạch trong thời gian
ngắn nên số lượng rất lớn, dẫn tới việc đầu tư vào công nghệ chế biến rất tố kém và
hiệu quả lại không cao, vì đặc thù sản phẩm chế biến nông nghiệp mang tính đơn
nhất, tức là mặt dây chuyền thì chỉ chuyên chế biến một vài loại sản phẩm của nông
17


×