Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

Giáo trình tài chính tiền tệ 6: Tài chính doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1 MB, 30 trang )

Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

BÀI 6: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Nội dung
• Hiểu cơ cấu tài sản và nguồn vốn của

doanh nghiệp thông qua bảng cân đối
kế toán.
• Hiểu các loại thu nhập, chi phí và lợi
nhuận của doanh nghiệp được phản
ánh trong báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh.
• Hiểu và áp dụng được các phân tích
chỉ số tài chính của doanh nghiệp.

Mục tiêu

Thời lượng

• Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức cơ

• 9 tiết

bản về tài chính doanh nghiệp, các quyết
định tài chính của doanh nghiệp.
• Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức cụ
thể về các bản báo cáo tài chính của doanh
nghiệp, và phân tích các chỉ số tài chính
của doanh nghiệp...

v1.0



113


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống
Công ty Alpha sau khi cân nhắc kỹ đã quyết định là sẽ
phải tăng cường sản xuất để tận dụng thời cơ thị trường
đang có nhu cầu lớn đối với sản phẩm bánh kẹo. Tuy
nhiên với sự mở rộng quy mô của doanh nghiệp ở mức
cao, ông Quang được tư vấn nên chuyển đổi hình thức
doanh nghiệp thành công ty cổ phần. Khi thuê chuyên gia
tư vấn, ông Quang cần phải đưa cho người tư vấn các báo
cáo tài chính quan trọng của công ty để các chuyên gia tiến hành phân tích
Câu hỏi
Anh chị hãy giới thiệu cho ông Quang các báo cáo tài chính cơ bản của doanh nghiệp, thành
phần của các báo cáo và lý do tại sao phải phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp. Đồng thời
anh chị hãy giải thích cho ông Quang tại sao lại nên chuyển đổi doanh nghiệp thành công ty cổ
phần khi doanh nghiệp cần vốn lớn.

114

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp


6.1.

Tổng quan về tài chính doanh nghiệp

Có thể thấy điểm khác biệt của chương này so với các chương khác trong nội dung
nghiên cứu của phần tài chính trong môn học này là trong khi nghiên cứu tài chính
doanh nghiệp, đối tượng nghiên cứu không là một loại quan hệ tài chính cụ thể mà là
sự vận dụng các mối quan hệ đó như thế nào trong phạm vi một doanh nghiệp để đạt
được những mục tiêu của doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói
chung. Nếu như trong các mục khác tên mục được đặt theo loại hình quan hệ tài
chính, ví dụ như bảo hiểm, ngân sách Nhà nước hay tín dụng thì tên của chương này
lại được đặt theo chủ thể của mối quan hệ, mà cụ thể ở đây là doanh nghiệp.
6.1.1.

Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ tài chính thuộc phạm vi của một
doanh nghiệp.
Nó có thể là các quan hệ tài chính trong nội bộ doanh
nghiệp, cũng có thể là mối quan hệ giữa doanh nghiệp
và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Như vậy có thể
nhận thấy tài chính doanh nghiệp là sự tổng hoà của các
loại quan hệ tài chính, trong tài chính doanh nghiệp
cũng có quan hệ tín dụng, quan hệ bảo hiểm, quan hệ
ngân sách Nhà nước và cũng có cả mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Có thể nói rằng tài chính doanh nghiệp giống như sự thu nhỏ của toàn bộ các quan hệ
tài chính vào trong phạm vi một doanh nghiệp, doanh nghiệp tham gia bất kỳ một lĩnh
vực nào thì tài chính doanh nghiệp sẽ nghiên cứu lĩnh vực đó, nhưng có thể nói rằng
tài chính doanh nghiệp bao gồm những quyết định cơ bản nhất sau đây:
• Quyết định vốn hoạt động cho doanh nghiệp

• Quyết định cơ cấu vốn của doanh nghiệp
• Quyết định đầu tư cho doanh nghiệp
• Quyết định quản trị rủi ro đối với hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các quyết định đó chủ yếu đều dựa trên việc hiểu và phân tích được các bảng
báo cáo tài chính, do vậy nội dung chính của chương tài chính doanh nghiệp sẽ
không nằm ngoài việc giúp học viên hiểu được các bảng báo cáo này.
6.1.1.

Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp có hai vai trò cơ bản:
• Đảm bảo nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp. Đây là vai trò đầu tiên, có ý nghĩa
căn bản đối với sự tồn tại của doanh nghiệp trong thời gian đầu bởi vì để khởi lập
và tồn tại, bao giờ điều đầu tiên một doanh nghiệp quan tâm cũng phải là nguồn
vốn kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp không có được sự đảm bảo về vốn kinh
doanh từ phía hoạt động tài chính doanh nghiệp thì nguy cơ hoạt động kém hiệu
quả và khả năng phá sản luôn luôn thường trực và có thể dẫn tới sự suy giảm trong
hiệu suất, thậm chí là không thể hoạt động nổi của doanh nghiệp. Nguồn vốn kinh
doanh có thể được huy động thông qua nhiều kênh, nhưng chủ yếu thường là
những kênh như vay vốn ngân hàng, huy động vốn từ các kênh dẫn vốn trực tiếp
như phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.
v1.0

115


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Tăng cường hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Mặc dù đây không phải là vai trò đầu

tiên quyết định sự ra đời của tài chính doanh
nghiệp nhưng cùng với quá trình phát triển của
một doanh nghiệp cũng như sự phát triển nói
chung của nền kinh tế thì vai trò này càng ngày
càng tỏ ra có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Phải
cần tới sự quản lý giám sát của các hoạt động
giám sát tài chính, doanh nghiệp mới có thể tạo
ra tính hiệu quả trong kinh doanh, bằng cách đó lại tạo ra một sự tin tưởng từ phía
các nhà đầu tư, các thành viên trong doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thể dễ
dàng huy động được vốn vay trong trường hợp cần thiết. Thực tế đã chứng minh
rằng một doanh nghiệp muốn hoạt động hiệu quả thì không thế thiếu được nguồn
vốn kinh doanh huy động từ bên ngoài, mà tiêu chí để một doanh nghiệp có được
xét cho vay hay không thông thường lại được thẩm định ngay từ việc xét tới tính
hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Vì vậy có thể nói hiện
nay vai trò ra đời sau này mới là quan trọng nhất đối với tài chính doanh nghiệp.
6.2.

Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp

Sở dĩ phải phân loại tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp bởi vì trong thực tế tài sản
và nguồn vốn được coi là hai mặt của một vấn đề. Tài sản của doanh nghiệp nếu được
biểu diễn dưới dạng giá trị sẽ được gọi là vốn. Tiền dùng để mua tài sản đó được hình
thành từ đâu thì nơi đó chính là nguồn vốn. Do đó thực chất quản lý tài sản và nguồn
vốn của doanh nghiệp chính là việc quản lý nguồn tài trợ cho tài sản và quản lý tài sản
của doanh nghiệp.
Ví dụ 6-1: Nếu doanh nghiệp có một lô đất trị giá 2 tỷ VNĐ, doanh nghiệp đó đang có
một tài sản là một lô đất, đồng thời có một lượng vốn là 2 tỷ. Lô đất này doanh nghiệp
phải vay tiền để mua, tức là nguồn vốn của doanh nghiệp để tài trợ cho lô đất là nguồn
vốn vay nợ, với số tiền vay nợ là 2 tỷ đồng.
Tài sản là những gì doanh nghiệp sở hữu và dự định sẽ mang lại lợi ích về mặt kinh tế

cho doanh nghiệp.
Vốn là sự thể hiện bằng tiền các giá trị tài sản mà doanh nghiệp có.
Nguồn vốn là hình thức doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho tài sản.
Tài sản và nguồn vốn bao giờ cũng có tổng giá trị bằng nhau, vì bất cứ tài sản nào
cũng được tạo ra bởi một nguồn vốn, và bất kỳ một nguồn vốn nào cũng sẽ tạo ra một
tài sản. Đây là nguyên tắc chung nhất khi quản lý tài sản và nguồn vốn. Tài sản và
nguồn vốn được thể hiện trong bảng báo cáo tài chính có tên là Bảng cân đối kế toán
(balance sheet) của một doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán giống như một bức ảnh chụp lại tình trạng tài sản và nguồn vốn
của doanh nghiệp vào một thời điểm nào đó. Nó bao gồm hai phần chính: Tài sản và
Nguồn vốn
6.2.1.

Tài sản lưu động

Tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm lớn, đó là tài sản lưu động và tài
sản cố định. Trong đó tài sản lưu động mang đặc điểm:
116

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Có thời gian sử dụng nhỏ hơn một năm.
• Chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm trong vòng một năm hoặc một chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Vòng quay của tài sản lưu động là một vòng khép kín trong một
1
chu kỳ kinh doanh. Vòng quay đó được thể hiện như sau:
Tiền


Các khoản phải thu

Nguyên vật liệu

Thành phẩm

Bán thành phẩm

Hình 6-1: Sơ đồ vòng quay tài sản lưu động của doanh nghiệp

Đối với tài sản lưu động, một vấn đề phải quan tâm tới là tính lỏng (Liquidity)
của nó, bởi vì tính lỏng của tài sản biểu thị khả năng nhanh chóng chuyển đổi ra tiền
mà không làm mất đi giá trị của tài sản. Tài sản có tính
lỏng càng cao thì càng dễ chuyển sang tiền, có nghĩa là
nhanh chóng tạo ra nguồn vốn cho doanh nghiệp. Tất
nhiên tiền sẽ là tài sản có tính lỏng cao nhất. Thứ tự
sắp xếp giảm dần tính lỏng của tài sản như: Tiền, đầu
tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, tồn kho. Các
loại tài sản lưu động thuộc vào nhóm tài sản có tính
lỏng cao nhất, vì vậy còn có thể gọi nhóm này là tài
sản có tính lỏng.
• Trong nhóm tài sản lưu động có những khoản mục nhỏ hơn, bao gồm: Tiền: Có ba
hình thức tồn tại của tài sản dưới dạng tiền, đó là: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và
tiền đang chuyển.
o Tiền mặt ở đây được hiểu là lượng tiền mặt được giữ trong quỹ tại doanh nghiệp,
lượng tiền này chủ yếu được phục vụ các giao dịch với số lượng không nhiều,
nhằm mục đích thanh toán ngay trong phương thức thanh toán bằng tiền mặt.
o Tiền gửi ngân hàng là một loại tiền khác, loại tiền này được sử dụng để phục
vụ cho mục đích thanh toán nhưng không trực tiếp bằng tiền mặt. Những hình

thức thanh toán này thường là thông qua dạng dịch vụ do ngân hàng cung cấp,
ví dụ như chuyển tiền, chuyển khoản hay là thanh toán bằng phương thức tín
dụng chứng từ.
o Ngoài ra còn có một loại tiền khác, nó không phải là tiền mặt thực có trong quỹ
của doanh nghiệp, cũng không còn là tiền ngân hàng nữa bởi vì nó đã được
trích ra từ ngân hàng để chuyển đi thanh toán nhưng chưa đến nơi, cũng có thể

Trong vòng quay này cần lưu ý một điểm là với doanh nghiệp thương mại, sẽ không có thành phẩm và
bán thành phẩm mà thay vào đó là hàng hoá rồi đến ngay các khoản phải thu.
1

v1.0

117


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

nó là tiền từ nơi khác chuyển đến nhưng doanh nghiệp cũng chưa nhận được.
2
Vì thế loại tiền này được gọi là tiền đang chuyển .
Vì tiền là loại tài sản dùng để thanh toán cho nên việc nghiên cứu tiền của doanh
nghiệp như thế nào sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể đánh giá được chính xác khả
năng trả nợ nhanh và có kế hoạch sử dụng lượng tiền hiện có một cách hợp lý nhất.
6.2.1.1. Đầu tư tài chính ngắn hạn (Marketable Securities)3

Đầu tư tài chính được hiểu là việc doanh nghiệp sử dụng một lượng vốn nhất định để
sử dụng vào các mục đích kinh doanh tài chính khác bên cạnh lĩnh vực kinh doanh
chính, chủ yếu là nhằm tránh sự lãng phí và ứ đọng vốn. Có thể nhận định việc đầu tư
tài chính nói chung của doanh nghiệp là nhằm những mục đích sau:

• Tận dụng khoản vốn tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn
• Đảm bảo sự an toàn về vốn, phân tán rủi ro khi tập trung vốn ở một nơi và đảm
bảo đầy đủ khả năng thanh toán trong trường hợp cần thiết mà không phải dự trữ
quá nhiều tiền tại quỹ.
• Tranh thủ những cơ hội có thể được để thu lợi từ việc đầu tư tài chính
• Thu lợi từ việc tham gia vào các liên doanh, liên kết hay hợp đồng hợp tác
kinh doanh.
Các hình thức đầu tư tài chính tương đối đa dạng, nhưng nói chung có thể quy về các
dạng như sau:
• Đầu tư chứng khoán
• Góp vốn để hình thành liên doanh liên kết
• Cho vay
• Kinh doanh mua bán ngoại tệ.
Trong những hình thức nói trên thì phổ biến nhất là đầu tư tài chính dưới dạng mua
bán chứng khoán. Vậy có thể thấy đầu tư tài chính ngắn hạn là những tài sản đầu tư tài
chính có thời hạn thu hồi vốn không quá một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Như
vậy kể cả những loại đầu tư tài chính có thời hạn lâu năm nhưng tính đến thời hạn thu
hồi vốn còn chưa tới một năm thì vẫn được coi là đầu tư tài chính ngắn hạn trong kỳ
kế toán đó.
Đối với đầu tư tài chính cũng như một số loại tài sản khác, nó cần phải được lập một
quỹ dự phòng giảm giá đầu tư tài chính 4 để đề phòng những rủi ro trong trường hợp
đầu tư tài chính không thành công, đặc biệt cần thiết trong trường hợp đầu tư mua bán
cổ phiếu. Khoản dự phòng này do doanh nghiệp tự trích ra để đảm bảo sẽ không bị
“hụt hơi” về mặt tài chính do không có dự phòng trong trường hợp các khoản đầu tư
tài chính bị thua lỗ.
2

Thẻ tín dụng và thẻ thanh toán cũng thuộc nhóm tiền đang chuyển này.

3


Hình thức đầu tư tài chính này sẽ chỉ được xét đến ở những doanh nghiệp phi tài chính, đó là các
doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ nhưng không phải trong lĩnh vực tài chính.
4

Tất cả các khoản dự phòng đều là những khoản chi phí phải bỏ ra, vì vậy trong bảng cân đối kế toán
nó phải được ghi trong ngoặc đơn thể hiện giá trị âm.
118

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

6.2.1.2. Các khoản phải thu

Sau khi sử dụng tiền để tiến hành sản xuất hoặc kinh doanh, thông thường doanh
nghiệp sẽ bán hàng hoặc tiến hành cung cấp dịch vụ để thu tiền về. Như vậy, kết thúc
một chu trình kinh doanh. Nhưng không phải lúc nào bán hàng ra doanh nghiệp cũng
thu được tiền về ngay, bởi vì trong thực tế còn nhiều loại quan hệ giữa người bán và
người mua đòi hỏi có một sự chấp nhận và hợp tác lẫn nhau. Nếu như người mua
không có đủ tiền để trả ngay thì người bán sẽ cấp tín dụng thương mại, có nghĩa là cho
người mua trả chậm, thông thường cách này vẫn được gọi là mua bán chịu. Tất nhiên,
với việc mua bán chịu như vậy thì vốn của bên bán, tức là tiền hàng, sẽ bị đọng lại ở
bên mua. Vì thế có một loại tài sản mới phát sinh, đó là các khoản phải thu. cụ thể ở
đây có khoản phải thu của khách hàng.
Ngoài ra, các khoản phải thu còn có khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ
và các khoản phải thu khác.
Khoản trả trước cho người bán xuất hiện khi bên mua
có nhu cầu ổn định về nguồn hàng hoặc muốn tạo điều

kiện để người bán có điều kiện thuận lợi để sớm hoàn
thành hợp đồng. Và như vậy cho đến khi hợp đồng
chưa được hoàn tất thì khoản tín dụng cấp cho người
bán đó vẫn còn được coi là một khoản phải thu. Khoản
ứng trước cho người bán đặc biệt thường xuất hiện
trong hợp đồng mua bán máy móc thiết bị vì loại hợp
đồng này có giá trị lớn, nếu người mua không thực
hiện sẽ làm cho người sản xuất bị thiệt hại rất lớn, vì vậy một khoản tiền trả trước
được coi như là khoản đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng từ phía bên mua hàng.
Đây cũng là một hình thức tín dụng thương mại đã được nhắc tới ở phần trên.
Với các khoản phải thu nội bộ thì một đặc điểm của doanh nghiệp có xuất hiện loại
khoản phải thu này là phải có nhiều cấp, và các khoản phải thu này bắt nguồn từ việc
cấp trên bỏ tiền ra chi hộ cấp dưới và sau đó yêu cầu cấp dưới phải hoàn trả hoặc
là giữa các đơn vị khác cấp chi hộ nhau. Cũng có thể đó là khoản phải thu mà một đơn
vị dự tính sẽ nhận được từ một đơn vị khác thuộc cùng nội bộ một doanh nghiệp. Và
như vậy trong nội bộ của một doanh nghiệp liên hợp cũng sẽ xuất hiện nhiều dạng
phải thu.
Các khoản phải thu khác xuất hiện từ một nguồn thường là không ổn định, tất nhiên
là không nằm vào một trong những loại phải thu ở trên. Nó có thể là phải thu do hoàn
thuế, phải thu lãi suất gửi ngân hàng...
Đối với các khoản phải thu, doanh nghiệp cũng cần có kế hoạch theo dõi cụ thể và có
phương án thích ứng để kịp thời thu được vốn về một cách hợp lý nhất. Tuy nhiên
không phải lúc nào tất cả các khoản phải thu đều được bù đắp đầy đủ, vì thế cho nên
doanh nghiệp phải để dành một khoản nhất định gọi là dự phòng phải thu khó đòi.
Trong trường hợp không đòi được từ các khoản phải thu khó đòi thì lượng tiền từ quỹ
dự phòng phải thu khó đòi sẽ được đem ra sử dụng để bù đắp.
6.2.1.3. Hàng tồn kho (Inventory)

Khi nói tới tài sản lưu động, những người không nghiên cứu về kinh tế nói
chung thường nghĩ rằng hàng tồn kho chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp,

v1.0

119


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

nhưng thực ra hàng tồn kho chỉ là một bộ phận nhỏ trong số tài sản lưu động của một
doanh nghiệp.
Hàng tồn kho cũng được chia thành nhiều loại gồm:
Tài sản lưu động trong giai đoạn chờ tiến hành sản xuất. Bao gồm hàng mua đang
đi đường, nguyên vật liệu đã nhập kho và công cụ dụng cụ sản xuất đang trong kho.
Nguyên vật liệu và bán thành phẩm đang trong quá
trình sản xuất: Không chỉ bao gồm bán thành phẩm,
ở đây cần phải tính tới cả chi phí kinh doanh dở dang
chưa hoàn tất, bao gồm cả những khoản tiền phải
trả như chi phí nhân công, chi phí nhà xưởng... chứ
không chỉ có giá trị của bán thành phẩm được đưa vào
sản xuất.
Thành phẩm đang chờ tiêu thụ. Chỉ có những doanh nghiệp sản xuất mới có thành
phẩm. Còn đối với các doanh nghiệp thương mại thành phẩm và bán thành phẩm được
gộp chung thành hàng hoá.
Hàng tồn kho khác: Ví dụ như hàng đang đi đường hoặc hàng đang gửi bán.
Đối với hàng tồn kho doanh nghiệp cũng có một mối quan tâm, là hàng tồn kho bị
giảm giá. Sự giảm giá của hàng tồn kho cũng có hai loại, đó là giảm giá hữu hình tức
là tài sản thực sự bị giảm giá do chất lượng giảm đi và thứ hai là giảm giá vô hình do
sự tiến bộ về khoa học công nghệ. Để tránh những thiệt hại bất ngờ do sự giảm giá
này và sự giảm giá hữu hình gây ra doanh nghiệp cũng cần phải có một quỹ dự phòng
giảm giá hàng tồn kho trong những trường hợp đặc biệt.
Đối với các tài sản lưu động, cần lưu ý là tính lỏng của các tài sản này khác nhau, theo

thứ tự giảm dần từ Tiền, Đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu và tồn kho.
6.2.2.

Tài sản cố định

Bên cạnh những khoản tài sản lưu động và đầu tư tài
chính ngắn hạn, doanh nghiệp nào cũng phải có những
khoản tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Đối nghịch với tài sản lưu động, tài sản cố định
không chỉ có thời hạn lớn hơn một năm mà còn cần
phải có giá trị đủ lớn, ở Việt Nam hiện nay là lớn hơn
10 triệu.5
Đối với tài sản cố định, giá trị của nó không được chuyển thẳng vào sản phẩm ngay
trong một chu kỳ kinh doanh mà nó sẽ được chuyển dịch giá trị trong nhiều kỳ kinh
doanh, liên quan đến nhiều chu trình sản xuất. Điều này dẫn đến việc xuất hiện một
khái niệm mới: khấu hao tài sản cố định (Depreciation). Việc khấu hao tài sản cố
định như thế nào phụ thuộc vào mức độ chuyển giá trị tài sản cố định vào trong sản
phẩm tại mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh là thế nào. Và thường khấu hao thường được
tính theo thời hạn là năm. Khi hết thời hạn khấu hao, nếu tài sản vẫn còn giá trị
5

Tiêu chí để xét một tài sản có phải là cố định hay không ở Việt Nam là có thời hạn sử dụng lớn hơn
một năm và có giá trị lớn hơn 10 triệu. Nếu thời hạn sử dụng lớn hơn một năm mà giá trị của tài sản
không đạt tới 10 triệu thì nó được quản lý như tài sản lưu động dưới dạng công cụ, dụng cụ sản xuất.
120

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp


sử dụng thì sẽ được đem ra thanh lý hoặc tiếp tục sử dụng nhưng lúc này không còn
được tiếp tục tính khấu hao nữa.6
Về cách thức phân loại tài sản cố định thì có thể phân loại theo tiêu chí phổ biến nhất
hiện đang được sử dụng, đó là Tài sản cố định hữu hình và Tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình có thể cảm nhận được sự hiện hữu của nó bằng các giác quan
cụ thể, đó là nhà xưởng, cơ sở vật chất nói chung hay là những loại máy móc thiết bị
có thời hạn sử dụng lâu hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản cố định vô
hình là những loại tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, nó thể hiện một
lượng giá trị lớn đã phải bỏ ra để có được. Tài sản cố định vô hình thường tồn tại dưới
dạng chi phí, ví dụ như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí bản quyền tác giả, chi
phí lợi thế kinh doanh hay chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ. (Lợi thế thương
mại cũng là một loại tài sản cố định vô hình.) Sở dĩ có hiện tượng tài sản cố định vô
hình là do việc tính toán một lượng chi phí quá lớn vào trong một kỳ kinh doanh sẽ
làm cho bảng báo cáo tài chính của kỳ đó quá xấu, trong khi thực sự bản quyền hay
kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng trong nhiều năm.
Còn nếu phân theo tiêu chí sở hữu của tài sản thì có thể phân thành hai loại, đó là tài
sản do doanh nghiệp sở hữu và tài sản thuê ngoài.
• Tài sản do doanh nghiệp sở hữu. Là những tài sản của doanh nghiệp, do đó
doanh nghiệp có toàn quyền định đoạt việc sử dụng hoặc quyền chuyển giao,
nhượng bán tài sản này cho những đơn vị hoặc cá nhân khác.
Các quyền này có thể đi liền với nhau nhưng cũng có thể tách rời, khi nào doanh
nghiệp thực sự nắm tài sản trong tay, được quyền sử dụng tài sản và có quyền định
đoạt đối với tài sản thì lúc đó một tài sản mới được coi là tài sản do doanh nghiệp
sở hữu.
• Tài sản đi thuê bên ngoài7.Tài sản thuê ngoài
cũng là một phần quan trọng trong cơ cấu tài sản
của nhiều doanh nghiệp. Đặc biệt là với những
doanh nghiệp sản xuất, việc sở hữu một dây chuyền
máy móc thiết bị với giá trị cao là một điều tương

đối khó khăn. Trong khi đó, một số doanh nghiệp
do những đặc thù kinh doanh riêng không tận dụng
hết công suất của máy móc, thiết bị mà họ sở hữu.
Vì vậy giải pháp được đưa ra ở đây là các doanh nghiệp sẽ đi thuê thiết bị, thuê
văn phòng từ bên ngoài và đến kỳ thì sẽ trả tiền phí thuê mướn theo hợp đồng thuê
mướn đã ký. Riêng với máy móc thiết bị thì còn tồn tại một hình thức thuê mướn
đặc biệt, đó là thuê mua tài chính (leasing). Leasing có nghĩa là doanh nghiệp sẽ
6

Ở Việt Nam, tài sản cố định chủ yếu được khấu hao phổ biển theo phương pháp đường thẳng, tức là
mỗi năm đều trích ra một lượng chi phí nhất định giống nhau để bù đắp lượng giá trị ban đầu của tài sản
cố định. Tuy nhiên vẫn còn cách thức khấu hao nhanh nhằm tăng tốc độ khấu hao, đẩy mạnh việc thu
hồi vốn.
7

Lưu ý rằng mặc dù tài sản cố định thuê tài chính không thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhưng vẫn
được đưa vào bảng cân đối kế toán vì nó được quản lý và trích khấu hao như một tài sản do doanh
nghiệp sở hữu.
v1.0

121


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

ký hợp đồng thuê máy móc thiết bị trong một thời hạn nhất định nào đó, khi hợp
đồng đáo hạn hoặc doanh nghiệp sẽ mua lại số máy móc thiết bị đó hoặc doanh
nghiệp sẽ tiếp tục ký hợp đồng thuê chính số máy móc thiết bị đó.
Thiết bị được thuê theo điều kiện leasing gọi là tài sản cố định thuê tài chính. Giả sử
một hợp đồng không thoả mãn đầy đủ điều kiện của leasing thì hợp đồng đó sẽ được

xem là hợp đồng thuê thiết bị bình thường, thường gọi là hợp đồng thuê thiết bị hoạt
động, và tài sản thuê đó được gọi là tài sản cố định thuê hoạt động. Trong bảng cân
đối kế toán chỉ có các tài sản thuê tài chính mới được phép phản ánh, còn các tài sản
thuê hoạt động không được phép đưa vào trong bảng.
6.2.3.

Nợ phải trả (Liabilities)

Trong các phương thức huy động vốn cho hoạt động
của doanh nghiệp, có thể tổng hợp các nguồn huy động
vốn lại thành hai nhóm chính, đó là vốn do vay nợ mà
có và vốn do tự doanh nghiệp có được, do vậy cũng có
hai nhóm nguồn vốn chính trong bảng cân đối kế toán
là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
Nợ phải trả là số tiền không thuộc sở hữu của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp đang vay, thuê tài chính hoặc
đang có quyền sử dụng một cách hợp pháp. Do đó
doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoàn trả số tiền đó sau
một thời hạn nhất định.
Tương ứng với các khoản bên Nguồn vốn, nợ phải trả
bao gồm những khoản sau:
• Khoản vay nợ : Là các khoản đi vay thông qua các hình thức tín dụng phổ biến
như vay ngân hàng, vay từ các tổ chức tín dụng và các khoản vay nợ khác. Cần lưu
ý rằng khoản phải trả của tín dụng thương mại sẽ được tính vào khoản phải trả ở
mục sau. Nguyên nhân của cách tính này bắt nguồn từ việc tín dụng thương mại có
tính chất giống một khoản phải trả-phải thu hơn là một khoản tín dụng vay nợ
thông thường. Một khoản nợ phải trả lãi sẽ được coi là một khoản vay.
• Khoản thuê tài chính: Khi ký kết một hợp đồng leasing, tất nhiên sẽ có một
khoản phải trả phát sinh, đó là tiền thuê thiết bị. Tuy nhiên vì tính chất đặc biệt của
leasing nên phải tách riêng khoản tiền này ra để quản lý riêng, không gộp chung

vào các khoản phải trả như thuê tài sản cố định hoạt động thông thường.
• Khoản phải trả: Đây là một khoản trong số các khoản nợ phải trả của doanh
nghiệp, nó bao gồm các khoản phải trả xuất phát từ việc chưa phải thanh toán ngay
mà quyết toán cuối kỳ như nợ tiền hàng chưa đến kỳ thanh toán, nợ thuế phải nộp
cho ngân sách Nhà nước, nợ lương phải trả cho công nhân viên. Một bộ phận quan
trọng khác của các khoản phải trả là nợ tiền hàng do mua chịu và nợ xuất phát từ
tín dụng thương mại. Những khoản nợ xuất phát từ việc chưa phải thanh toán ngay
thường dẫn doanh nghiệp đến việc muốn cầm giữ chúng càng lâu càng tốt, hiện
tượng chiếm dụng này diễn ra có thể do doanh nghiệp có những khó khăn về vốn
hoặc tỏ ra yếu kém trong quản lý tài chính, cũng có thể đơn giản chỉ vì doanh
nghiệp muốn cầm giữ thêm vốn để tiến hành kinh doanh.
122

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Khoản ký quỹ, ký cược nhận trước: Sự phát sinh
của mục này bắt nguồn từ thực tế là mỗi hợp đồng
thường có điều khoản đảm bảo thực hiện hợp
đồng, và điều khoản này thường quy định việc đảm
bảo thực hiện hợp đồng sẽ bằng tiền mặt, tức là có
một khoản ký quỹ trước. Vì vậy nên doanh nghiệp
nhận ký quỹ có nghĩa là đã nhận trước một số tiền
hàng. Đây cũng là một khoản phải trả nhưng việc
trả này chỉ được thanh toán xong sau khi giao hàng cho người đặt cọc hoặc trong
trường hợp bên mua hàng không thực hiện hợp đồng thì một phần số tiền này sẽ
trở thành tiền phạt vi phạm hợp đồng và trở thành tài sản của doanh nghiệp.
Để phân loại nợ phải trả cũng sử dụng tiêu chí như trong bảng cân đối kế toán, đó là

tiêu chí theo thời hạn của khoản nợ, lần lượt sẽ có những khoản nợ như sau:
Nợ phải trả ngắn hạn
Là các khoản nợ sẽ đáo hạn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Như
vậy các khoản nợ dù là dài hạn nhưng trong vòng một năm sẽ phải thanh toán thì vẫn
phải tính vào mục nợ ngắn hạn.
Trong các khoản nợ ngắn hạn thì có thể sử dụng các tiêu thức sau để phân loại:
• Vay ngắn hạn: các doanh nghiệp thường vay ngắn hạn để trả những khoản nợ
không lớn và đầu tư vào những tư liệu sản xuất cần phải trả tiền ngay, ví dụ như
mua nguyên vật liệu. Trong trường hợp doanh nghiệp không thu kịp tiền để trả nợ
thì cũng có thể vay ngắn hạn để trả nợ, sau đó khi thu được tiền thì lại hoàn trả
khoản vay này.
• Nợ dài hạn đến hạn trả: Đây là những khoản nợ đã vay từ lâu nhưng chuẩn bị đáo
hạn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh, vì vậy doanh nghiệp phải
liệt kê để có kế hoạch trả nợ kịp thời. Thông thường những khoản vay dài hạn này
là những khoản vay có giá trị lớn nên nếu doanh nghiệp không có kế hoạch trả nợ
hợp lý thì sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính.
• Các khoản phải trả ngắn hạn khác: Ngoài vay ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn
trả doanh nghiệp còn có những khoản phải trả khác dưới đây.
Nợ phải trả dài hạn
Là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên một năm
hoặc trên một chu kỳ kinh doanh. Thường Nợ dài hạn
được sử dụng vào mục đích đầu tư vào tài sản cố định
và các khoản tài sản lưu động có giá trị lớn. Nợ dài hạn
bao gồm vay dài hạn và các khoản nợ dài hạn khác.
Cơ cấu các khoản vay dài hạn và nợ dài hạn khác cũng
tương tự như cơ cấu nợ ngắn hạn, chỉ lưu ý một điểm
là nợ dài hạn có giá trị lớn nên dù thời gian trả nợ còn
dài cũng cần phải có kế hoạch đảm bảo nguồn tài
chính để có thể trả nợ kịp thời. Các khoản nợ dài hạn khác chủ yếu là thuê tài chính.
Các khoản nợ khác

Trong số các khoản nợ khác có thể kể tới việc nhận ký quỹ, ký cược dài hạn và các
khoản chi phí trích trước. Đó là những khoản chi phí dù cho chưa phát sinh nhưng vẫn
v1.0

123


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

được dự trù trước để đảm bảo sự ổn định cho doanh nghiệp, ví dụ như các khoản
lương phải trả cho công nhân viên hay các khoản tiền bỏ ra để sửa chữa, thay thế tài
sản cố định.
6.2.4.

Nguồn vốn chủ sở hữu (Equity)

Nguồn vốn chủ sở hữu là những nguồn vốn do doanh nghiệp tự có hoặc doanh nghiệp
có được mà không phải trả lại cho người cấp vốn. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
nguồn vốn chủ sở hữu là vốn cổ đông trong doanh nghiệp cổ phần.
Nguồn vốn kinh doanh
Đây là nguồn vốn tạo ra các tài sản phục vụ cho hoạt
động của doanh nghiệp. Nguồn vốn kinh doanh hình
thành từ hai nhóm chính, nhóm thứ nhất là từ đóng góp
của chủ doanh nghiệp ngay lúc mới khởi sự doanh
nghiệp (vốn điều lệ) và từ nguồn vốn kinh doanh góp
thêm trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Nhóm thứ hai là nguồn bổ sung từ lợi nhuận giữ lại.
Nguồn vốn thứ hai lấy từ khoản lợi nhuận không chia, có nghĩa là khi có lợi nhuận,
các chủ doanh nghiệp quyết định không chia cho những người nắm giữ cổ phiếu mà sẽ
giữ lại để bổ sung vào nguồn vốn điều lệ, mở rộng sản xuất. Đây là một nguồn bổ

sung vốn quan trọng cho mỗi doanh nghiệp.
Quỹ
Mỗi doanh nghiệp thông thường thành lập các quỹ để phục vụ các mục đích khác
nhau, nhưng nói chung có ba loại quỹ như sau:
• Quỹ phát triển kinh doanh: Nhằm để phục vụ cho việc đầu tư nghiên cứu cải tiến
công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh. Đây là một quỹ có tính chiến lược ảnh
hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp về sau, chẳng hạn: đầu tư mua sắm máy
móc thiết bị nhà xưởng…
• Quỹ dự trữ tài chính: Đây là quỹ bắt buộc phải có trong mỗi doanh nghiệp, theo
luật doanh nghiệp quy định thì số tiền mỗi doanh nghiệp phải có trong quỹ dự trữ
tài chính ít nhất bằng 10% vốn điều lệ. Mục đích và lợi ích của quỹ dự trữ tài
chính có thể tham khảo thêm trong chương bảo hiểm.
• Quỹ khen thưởng và phúc lợi: Quỹ khen thưởng phúc lợi không phải là một loại
quỹ bắt buộc, tuy nhiên tất cả các doanh nghiệp đều không thể thiếu được quỹ này
bởi vì số tiền trong quỹ sẽ được sử dụng vào mục đích phúc lợi hoặc khuyến
khích, khen thưởng nhân viên khi đạt được kết quả tốt trong công việc.
Chênh lệch giá
Có hai loại chênh lệch giá, đó là:
• Chênh lệch đánh giá lại tài sản: Thường thì loại chênh lệch này áp dụng đối với
tài sản cố định, đó là khi giá cả của tài sản bị biến động, có thể theo hướng lên
hoặc hướng xuống. Mặc dù trên lý thuyết giá cả có thể diễn biến theo hai chiều
nhưng trên thực tế thì giá cả của tài sản chỉ có đi xuống chứ không thể tăng lên
được. Ngoài ra khi doanh nghiệp góp vốn liên doanh thì có thể có sự chênh lệch
giữa giá trị của tài sản trên sổ sách kế toán và giá trị thực tế của tài sản, trong
trường hợp này cũng cần phải đánh giá lại tài sản.
124

v1.0



Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Chênh lệch tỷ giá: Xảy ra khi trong thực tế có sự biến động về tỷ giá nhưng trong
sổ sách kế toán sự thay đổi này chưa được phản ánh. Vì vậy sẽ có một sự chênh
lệch về nguồn vốn của doanh nghiệp do tỷ giá thay đổi. Sự thay đổi này sẽ chỉ diễn
ra ở những doanh nghiệp có phát sinh hoạt động giao dịch sử dụng ngoại tệ.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Là nguồn vốn dùng cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm
thiết bị, máy móc nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn này có ý nghĩa đối với sự tồn tại của một
doanh nghiệp, bởi vì nếu như không có sự cải tiến và
đổi mới trong kinh doanh thì một doanh nghiệp rất dễ đi
vào ngõ cụt và từ đó dẫn đến tình trạng suy thoái.
Như vậy, toàn bộ nội dung các loại tài sản và nguồn
vốn của một doanh nghiệp đã được trình bầy một cách
tổng quát, một điểm học viên cần lưu ý trong phần này
là nguyên tắc bút toán kép. Nếu có một hoạt động kinh tế nào diễn ra, hoạt động đó
cần phải được phản ánh vào ít nhất hai hạng mục trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp, thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu tài sản và nguồn vốn nhưng tổng cộng
lại tổng tài sản và tổng nguồn vốn vẫn phải bằng nhau.
Ví dụ 6-2: Nhà máy thép Phát Hoà sử dụng 100 triệu tiền mặt và 150 triệu vay ngân
hàng để mua một lô thép nguyên liệu trị giá 250 triệu từ Trung Quốc. Như vậy bảng
cân đối kế toán cuối kỳ của nhà máy sẽ là:
• Tiền mặt giảm 100 triệu
• Nguyên liệu tăng 250 triệu
• Vay ngân hàng tăng 150 triệu.
Vì cả tiền mặt và thép nguyên liệu đều nằm ở phía tài sản nên tổng tài sản thay đổi là
150 triệu, nửa nguồn vốn cũng tăng 150 triệu do sự gia tăng của vay ngân hàng nên
tổng cộng nguồn vốn và tài sản của nhà máy thép Phát Hoà vẫn bằng nhau.
6.3.


Phân tích thu nhập, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp

Công thức tổng quát dùng để xác định lợi nhuận của bất kỳ hoạt động kinh tế nào là
lợi nhuận = thu nhập – chi phí, cách tính toán lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng vậy.
Do đó, điều đầu tiên cần làm khi xác định lợi nhuận của doanh nghiệp là phải tìm
được các loại thu nhập và chi phí của một doanh nghiệp.
6.3.1.

Các loại thu nhập của doanh nghiệp

Thu nhập của doanh nghiệp trong một năm hoặc một kỳ kinh doanh là toàn bộ các
nguồn thu mà doanh nghiệp có được trong năm hoặc trong kỳ kinh doanh đó. Căn cứ
để phân loại thu nhập là từ những nguồn thu, theo đó có các loại thu nhập sau:
Thu nhập từ sản xuất kinh doanh:
Thu nhập từ sản xuất kinh doanh chính là doanh thu. Đây là bộ phận thu nhập lớn nhất
của một doanh nghiệp, vì nó xuất phát từ lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp.
Trong số tiền thu được từ bán hàng phải lưu tâm tới các khoản giảm trừ đó là những
khoản làm giảm doanh thu, có thể có những khoản giảm trừ sau:

v1.0

125


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Chiết khấu thanh toán: Khi tiền hàng được thanh toán sớm, người bán thường đưa
cho người mua một khoản tiền gọi là chiết khấu thanh toán.
• Giảm giá hàng bán: trong điều kiện hàng bán bị ảnh hưởng bởi sự giảm giá thì đây

sẽ được coi là một khoản giảm trừ đối với doanh thu của người bán
• Hàng bán trả lại: Khi hàng bán ra kém chất lượng, không đạt yêu cầu của hợp đồng
và bị trả lại thì khoản hàng hoá bị trả lại này cũng được tính vào các khoản giảm trừ.
• Thuế gián thu đánh vào đầu ra: có nhiều loại thuế gián thu đánh vào đầu ra của
doanh nghiệp, trong trường hợp này khoản thuế phải nộp đó phải được tính vào
các khoản giảm trừ. Các loại thuế đó là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu.
Khi lấy tổng doanh thu trừ đi các khoản giảm trừ sẽ có doanh thu thuần.
Doanh thu thuần là khoản doanh thu được sử dụng để tính toán lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Thu nhập từ đầu tư tài chính:
Tương ứng với các khoản chi phí đầu tư tài chính, có các khoản thu nhập từ các hoạt
động đầu tư tài chính như sau:
• Thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán
• Thu nhập từ hoạt động liên doanh
• Thu nhập về cho thuê tài sản
• Thu lãi tiền cho vay, lãi bán chịu hàng hoá
• Thu lãi bán ngoại tệ
• Thu lãi kinh doanh bất động sản
Thu nhập bất thường:
Là khoản thu nhập không mang tính thường xuyên và hầu hết không dự tính trước
được. Nó cũng tương ứng với các khoản chi phí bất thường đã liệt kê, đó là:
• Thu nhập từ tiền nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
• Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng do đối tác không tuân thủ quy định trong hợp đồng
• Tiền thuế được hoàn trả trong trường hợp hoàn thuế
• Tiền thu các khoản nợ khó đòi đã được trích từ quỹ dự phòng nợ khó đòi
• Tiền thu từ sai sót trong công tác ghi sổ kế toán của các kỳ trước
6.3.2.

Các loại chi phí của doanh nghiệp


Chi phí là toàn bộ các khoản hao phí về vật chất, về lao động mà doanh nghiệp đã
phải bỏ ra để có được thu nhập trong một kỳ kinh doanh nhất định và được biểu hiện
bằng tiền.
Chi phí được biểu hiện bằng tiền. Như vậy chi phí không bao gồm những khoản tiền
chưa bỏ ra trong kỳ kế toán và không liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc có
được thu nhập. Như vậy, sẽ có những khoản chi sẽ không tính vào chi phí như chi
phúc lợi, chi các quỹ từ thiện... hoặc cũng có những khoản đã chi nhưng không tính
ngay vào chi phí ví dụ như tài sản cố định sẽ tính vào chi phí dần dần theo mức độ hao
mòn của nó. Nhóm chi phí quan trọng nhất trong các chi phí của doanh nghiệp là chi
phí sản xuất kinh doanh.
126

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh có thể được thực hiện theo một số tiêu chí,
dưới đây là các tiêu chí thông dụng:
Tại khu vực sản xuất phát sinh chi phí sản xuất, chi phí này gồm hai loại chi phí bộ
phận, đó là chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
• Chi phí sản xuất trực tiếp là tất cả những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản
xuất của doanh nghiệp, nó bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí
nhân công trực tiếp.
• Chi phí sản xuất chung là chi phí chung phục vụ cho việc sản xuất, nó sẽ không
biến đổi phụ thuộc vào việc trong kỳ doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu sản
phẩm. Chi phí sản xuất chung là chi phí không biến đổi, nó bao gồm chi phí cho
dụng cụ lao động, chi phí khấu hao tài sản cố định của khu vực sản xuất, chi phí
nhân công không trực tiếp sản xuất, chi dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác.

Ngoài khu vực sản xuất sẽ có hai loại chi phí phát sinh, đó là chi phí hành chính và
chi phí bán hàng
• Chi phí bán hàng sẽ bao gồm những chi phí phát sinh tại khâu bán hàng như
lương nhân viên, khấu hao tài sản cố định, chi dịch vụ mua ngoài, ngoài ra còn phải
tính đến hai khoản chi phí đặc trưng của khâu này là chi phí lưu thông và chi phí
tiếp thị.
• Chi phí hành chính cũng được tính bên cạnh những chi phí của các khâu khác, nó
cũng bao gồm các bộ phận tương tự như khâu sản xuất và bán hàng. Đặc điểm chi
phí hành chính là một loại chi phí gián tiếp và vì nó không liên quan trực tiếp đến
việc sản xuất kinh doanh nên việc tổ chức sắp xếp bộ máy hành chính sao cho hiệu
quả, tránh lãng phí là một ưu tiên đối với các doanh nghiệp.
Chi phí đầu tư tài chính: Phát sinh từ những hoạt
động đầu tư tài chính của doanh nghiệp, có thể xếp
những loại chi phí sau vào nhóm này:
• Chi đầu tư chứng khoán
• Chi hoạt động liên doanh
• Chi phí cho thuê bất động sản
• Chi phí liên quan đến hoạt động giao dịch ngoại tệ
• Các khoản lỗ xuất phát từ hoạt động tài chính
• Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính
Chi phí hoạt động khác: Là những loại chi phí xuất phát từ những hoạt động không
thường xuyên của doanh nghiệp, những hoạt động này có thể xuất phát từ nguyên
nhân chủ quan, tức là do doanh nghiệp thấy cần thiết có những hoạt động này, nhưng
cũng có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan, tức là doanh nghiệp bị bắt
buộc phải chi những khoản đó, có thể có những khoản chi phí bất thường sau:
• Chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định
• Tiền phạt do vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật
• Các khoản chi do bù đắp những sai sót trong công tác ghi sổ kế toán
v1.0


127


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

6.3.3.

Tính toán và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp

Việc tính toán lợi nhuận của doanh nghiệp có hai mục đích. Mục đích đầu tiên là để
tính toán số thuế phải nộp vì thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên lợi nhuận mà doanh
nghiệp có được, mục đích thứ hai là để xác định thu nhập ròng sau thuế của doanh
nghiệp là bao nhiêu, hay doanh nghiệp có lãi tới đâu. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp chính là một công cụ hữu ích để trợ giúp cho các tính toán này.
Bước đầu tiên trong quá trình tính toán lợi nhuận của
doanh nghiệp là tính toán từng loại lợi nhuận cụ thể.
Đối với mảng hoạt động sản xuất kinh doanh, khi lấy
doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán sẽ có lợi
nhuận gộp. Lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi các khoản
chi phí hợp lý hợp lệ khác có liên quan tới hoạt động
sản xuất kinh doanh ( chi phí bán hàng, chi phí quản
lý) sẽ cho lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh. Cần lưu
ý ở đây là các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ có nghĩa là
những khoản chi phí này phải có hoá đơn chứng từ hợp lệ và có liên quan tới việc có
8
được lợi nhuận.
Doanh nghiệp không chỉ có được lợi nhuận từ việc kinh doanh mà doanh nghiệp còn
tiến hành cả những hoạt động đầu tư tài chính, những hoạt động này cũng đem lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp, ngoài ra còn có cả lợi nhuận bất thường. Như vậy tổng lợi
nhuận mà doanh nghiệp sẽ phải kê khai để nộp thuế sẽ là lợi nhuận trước thuế

9
(EBT) , nó bằng lợi nhuận sản xuất kinh doanh cộng với lợi nhuận do đầu tư tài chính
và các khoản lợi nhuận khác. Đây là căn cứ để doanh nghiệp kê khai nộp thuế.
Sau khi đã tính toán xong thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp sẽ sử dụng khoản thu
nhập đó để làm những công việc sau:
• Nộp thuế thu nhập. Việc nộp thuế thu nhập là một nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi
doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp nào cũng phải bỏ ra 25% thu nhập trước thuế
để làm nghĩa vụ này với Nhà nước. Chỉ có những doanh nghiệp nào đang được
khuyến khích hoặc nhận được ưu đãi thì mới được miễn hoặc giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp trong một thời gian. Doanh nghiệp nào có điều kiện thì sẽ phải nộp
hơn. Những trường hợp này đều đã được quy định cụ thể trong luật thuế thu nhập
doanh nghiệp. Sau khi nộp xong thuế, phần thu nhập còn lại được gọi là thu nhập
sau thuế, hay lợi nhuận ròng (Net Income).
• Trích lập quỹ dự phòng tài chính. Doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc
trích lập các quỹ dự phòng rủi ro, có rất nhiều loại rủi ro, chỉ từ đầu chương mà
cũng đã có đến mấy loại rủi ro như giảm giá hàng tồn kho, giảm giá đầu tư tài
chính, nợ khó đòi... vì thế nên việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro là một yêu cầu bắt
buộc đối với các doanh nghiệp, tỷ lệ hiện nay là từ 5% lợi nhuận sau thuế cho tới
khi nào đạt đủ 10% vốn điều lệ của mỗi doanh nghiệp.
8

Lý do của việc chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý hợp lệ là vì những khoản chi phí không hợp lý
hợp lệ sẽ không được cơ quan thuế thừa nhận khi tính thuế, và do đó sẽ làm cho việc tính toán thu nhập
chịu thuế bị sai lệch.
9

EBT = Earning Before Taxes, EBT rất gần với EBIT = Earning Before Interests and Taxes, lợi nhuận
trước thuế và chi phí lãi.
128


v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

• Bù đắp các khoản chi phí không hợp lý hợp lệ. Trong mỗi kỳ kế toán thường
xuyên xuất hiện những khoản chi phí không hợp lý, hợp lệ, và những khoản này
không được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, như vậy cũng có nghĩa
là doanh nghiệp không được kê khai những khoản này trước thuế khi lập báo cáo
tài chính. Chính vì thế trong khoản lợi nhuận còn lại, doanh nghiệp phải để ra một
số tiền nhằm bù đắp những khoản chi này để phù hợp với thực tế sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình.
• Trích lập các quỹ khác. Sau khi bù đắp các khoản
chi không hợp lý hợp lệ, coi như doanh nghiệp đã
hoàn thành các nghĩa vụ bắt buộc, và doanh nghiệp
có quyền sử dụng số lợi nhuận còn lại phục vụ cho
các mục đích riêng theo ý mình. Đầu tiên doanh
nghiệp sẽ quan tâm đến việc giữ lại bao nhiêu lợi
nhuận không chia nhằm mục đích tái đầu tư mở rộng
và phát triển sản xuất kinh doanh. Sau đó doanh
nghiệp cũng để ra một tỷ lệ nhất định trích lập các
quỹ như quỹ đầu tư phát triển hoặc các quỹ phúc lợi,
khen thưởng nhằm phục vụ những mục đích khuyến
khích sản xuất.
• Trả cổ tức và lãi liên doanh. Đây là phần mà những người bỏ vốn ra thành lập
doanh nghiệp cũng như những người mua cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ được
hưởng khi doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tuy nhiên, cổ tức hoàn toàn có thể bằng
không nếu như doanh nghiệp quyết định không chia lãi mà để lại toàn bộ lợi nhuận
để phát triển sản xuất kinh doanh.
Một điểm lưu ý khi tính toán thu nhập và chi phí của doanh nghiệp là có những khoản

thu nhập và chi phí mặc dù phát sinh nhưng không làm phát sinh dòng tiền, những
khoản này được gọi là những hạng mục phi tiền mặt. Đó là lý do làm các nhà quản lý
và các nhà đầu tư phải chú ý tới một bảng báo cáo thứ ba gọi là báo cáo lưu chuyển
tiền tệ. Nhưng vì nội dung đó không thuộc phạm vi của các vấn đề cơ bản về tài chính
doanh nghiệp nên không được nêu ra ở đây.
Ví dụ 6-3: Nhà máy thép Phát Hoà xuất xưởng một lô thép thanh trị giá 100.000 USD
cho khách hàng là công trình nhà cao tầng ở chung cư Linh Đàm. Bên đối tác mua
hàng nhưng sẽ thanh toán vào quý I năm sau, khi đó nhà máy Phát Hoà có một hạng
mục phi tiền mặt, đó là thu nhập 100.000 vào hiện tại nhưng dòng tiền về hiện giờ là
0. Tiền sẽ chỉ về vào quý I năm sau, nghĩa là nó không đồng nhất với doanh thu.
6.4.

Phân tích chỉ số tài chính của doanh nghiệp

Việc nghiên cứu các bảng báo cáo tài chính và các hạng mục trong các bảng báo cáo
đó sẽ không có ý nghĩa nếu nó không được sử dụng một cách khoa học và có hệ
thống, đó là lý do tại sao lại có hoạt động phân tích chỉ số tài chính doanh nghiệp.
6.4.1.

Các tiêu chí để phân tích chỉ số tài chính doanh nghiệp

Một hoạt động quan trọng của người chịu trách nhiệm quản lý tài chính cho một
doanh nghiệp là công việc phân tích tài chính. Nếu như các chỉ số được lập nên nhằm
v1.0

129


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp


mục đích quản lý thông qua các công cụ tài chính, thì cần phải có người biết nhìn và
phân tích những chỉ số đó để chỉ ra mặt được hoặc chưa được trong hoạt động của một
doanh nghiệp, từ đó tìm ra phương án hiệu quả nhất đối với công việc của doanh
nghiệp trong kỳ tới. Việc sử dụng những chỉ số tương đối sẽ dẫn tới yêu cầu phải so
sánh và phân tích mới có thể đem lại nhận định chính xác về tình hình của một doanh
nghiệp. Thông thường chỉ số của một doanh nghiệp sẽ được so sánh theo những tiêu
chí sau:
• So sánh giữa chỉ số và chỉ tiêu đặt ra
• So sánh giữa chỉ số của cùng doanh nghiệp trong
các kỳ khác nhau
• So sánh giữa chỉ số của doanh nghiệp và các doanh
nghiệp khác cùng ngành trong kỳ
• So sánh giữa chỉ số của doanh nghiệp và các chỉ số
bình quân
Khi đã so sánh được theo hệ thống tiêu chí kể trên
doanh nghiệp mới có thể thấy được khả năng của mình
đến đâu, đang ở vị thế nào và đã làm được gì. Trên cơ
sở đó, những giải pháp phù hợp sẽ được đưa ra nhằm
giúp cho doanh nghiệp có được kết quả tốt nhất, hoặc
giúp nhà đầu tư lựa chọn doanh nghiệp tốt nhất để đầu tư vào đó.
Các chỉ số tài chính của doanh nghiệp có thể được hình thành từ ngay một bảng báo
cáo, nhưng cũng có thể là sự kết hợp từ nhiều bảng báo cáo khác nhau lại. Do đó, cần
phải có một sự phân loại tổng quát để việc phân tích này dễ hiểu, dễ hình dung hơn.
Khi phân tích các chỉ số, có thể chia ra làm ba nhóm lớn sau đây:
6.4.2.

Nhóm chỉ số phản ánh khả năng thanh toán

Các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán thể hiện việc doanh nghiệp có thể trả tiền
được đúng hạn khi các khoản nợ phải trả sắp đáo hạn hay không. Việc trả nợ sẽ phải

huy động từ các tài sản hiện có của doanh nghiệp, do đó nếu muốn đo lường khả năng
thanh toán các tỷ số nói chung sẽ là một tài sản nào đó chia cho nợ phải trả ngắn hạn.
Chỉ số thanh toán tổng quát

Chỉ số thanh toán tổng quát = Tổng tài sản / Nợ phải trả ngắn hạn

Chỉ số này không thật sự hữu ích vì trong tử số có cả các tài sản cố định, vốn là các tài
sản có tính lỏng thấp, nghĩa là nếu chuyển hoá các tài sản này thành tiền sẽ làm cho
giá trị của nó suy giảm rất nhiều.
Chỉ số thanh toán hiện thời

Chỉ số thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động / Nợ phải trả ngắn hạn

Chỉ số này có tính thực tế cao hơn chỉ số thanh toán tổng quát vì lúc này tử số chỉ bao
gồm các tài sản có tính lỏng. Tuy nhiên, tính thực tế của chỉ số này cũng không thật sự
cao vì các tài sản có tính lỏng lại bao gồm độ lỏng khác nhau, một số tài sản lưu động
có tính lỏng tương đối thấp hơn so với các tài sản khác nên không sẵn sàng sử dụng để
chuyển hoá thành tiền mặt cho thanh toán nợ sắp đáo hạn.
130

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp
Chỉ số thanh toán nhanh

Chỉ số thanh toán nhanh = (Tiền + Các khoản tương đương tiền) / Nợ phải trả ngắn hạn

Chỉ số này còn được gọi là chỉ số thử acid, và nó có tính thực tế cao nhất vì nó chỉ bao
gồm các tài sản có tính lỏng cao nhất là tiền và tương đương tiền, đây có thể là các

khoản chứng khoán, trái khoán ngắn hạn và như vậy nó có thể chuyển hoá thành tiền
tốt nhất để phục vụ cho việc trả nợ.
Nếu chỉ số này là cao thể hiện doanh nghiệp có nhiều
tiền hơn để trả nợ sắp đáo hạn, nhưng việc nó quá cao
lại thể hiện doanh nghiệp sử dụng tài sản một cách
không hợp lý, do đó nhóm chỉ số này nên được xác
định ở mức hợp lý. Một căn cứ có thể được sử dụng
để đánh giá việc doanh nghiệp quản lý tài sản ngắn
10
hạn và nợ ngắn hạn tốt hay không là chỉ số NWC (vốn lưu động ròng). NWC được
xác định bằng tài sản lưu động - nợ ngắn hạn. Nói chung NWC phải là một số dương
thể hiện việc doanh nghiệp có đủ nguồn lực để có thể trả nợ ngắn hạn. Ngược lại nếu
NWC là âm thể hiện việc doanh nghiệp có vấn đề về năng lực tài chính.
6.4.3.

Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động

Nhóm chỉ số thứ hai thể hiện việc doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tới mức nào, đặc
biệt là sử dụng và quản trị các tài sản nhằm mục đích sinh lợi. Ở đây chưa nhắc tới
tính sinh lợi của tài sản mà chỉ đơn thuần là hiệu quả hoạt động của các tài sản.
Chỉ số vòng quay tài sản: Thể hiện các tài sản trong doanh nghiệp quay vòng nhanh
chóng tới đâu, tài sản quay vòng càng nhanh thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản đó càng
cao. Có thể liệt kê sơ lược một số chỉ số như sau
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động

Chỉ số vòng quay hàng tồn kho: Doanh thu thuần / giá vốn hàng bán
Chỉ số vòng quay tổng tài sản: Doanh thu thuần / Tổng tài sản
Chỉ số kỳ thu tiền bình quân: Phải thu / Doanh thu bình quân ngày
6.4.4.


Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi

Bên cạnh các chỉ số thể hiện khả năng hoạt động của doanh nghiệp, các chỉ số thể hiện
khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cũng có vai trò rất quan trọng, các chỉ số này
thường là những chỉ số đầu tiên được nhắc tới khi phân tích hoạt động tài chính của
doanh nghiệp. Các chỉ số sinh lợi thường được nhắc tới dưới dạng tỷ suất lợi nhuận.
Chỉ số đó có thể là:
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) = Lợi nhuận ròng / Vốn đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận ròng / NV CSH

10

v1.0

NWC = Net Working Capital
131


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

Phân tích DuPont:
Vì ROE là một chỉ số rất thường xuyên được dùng trong phân tích tài chính doanh
nghiệp nên việc chỉ số này thay đổi như thế nào được sự theo dõi rất sát sao. Để có thể
đánh giá chính xác hơn nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi trong ROE, một phương pháp
được sử dụng rất phổ biến là phân tích DuPont, đó là việc chia nhỏ chỉ số ROE thành
các chỉ số có liên quan để tìm hiểu sự thay đổi của ROE chịu ảnh hưởng lớn nhất của
chỉ số nào.

Phân tích DuPont

ROE =

Net Income Sales Asset
×
×
Sales
Asset Equity

Nhóm đầu tiên là LN ròng/ Doanh thu thuần, phản ánh tỷ suất sinh lợi trên doanh thu,
thuộc vào nhóm chỉ số sinh lợi.
Nhóm thứ hai là DT thuần/ Tổng tài sản, thể hiện vòng quay của tài sản trong doanh
nghiệp, thuộc nhóm chỉ số hoạt động.
Nhóm thứ ba là Tài sản/NV CSH, phản ánh mức độ vay nợ của doanh nghiệp.
Như vậy bản thân mỗi chỉ số trong phân tích DuPont đã là một chỉ số độc lập phản
ánh một mảng khác nhau trong hệ thống các chỉ số tài chính doanh nghiệp. Bằng việc
kết hợp các chỉ số với nhau, có thể tìm hiểu được sự biến động trong ROE chịu ảnh
hưởng lớn nhất của chỉ số nào trong số những chỉ số kể trên.
6.4.5.

Nhóm chỉ số phản ánh các gánh nặng của doanh nghiệp

Nguồn vốn nợ phải trả là một nguồn vốn quan trọng
trong doanh nghiệp, tuy nhiên nguồn vốn này luôn
kèm theo nghĩa vụ, đó là việc doanh nghiệp phải trả lại
tiền lãi hàng năm và tiền gốc khi đến hạn. Với việc
phải trả lại những khoản tiền này, doanh nghiệp sẽ có
những mối đe doạ rủi ro nhất định, do đó doanh nghiệp
phải đánh giá một cách cẩn trọng các nghĩa vụ nợ của

mình nếu muốn có được sự an toàn trong hoạt động.
Đó là lý do sinh ra nhóm chỉ số này.
Nhóm chỉ số phản ánh các gánh nặng của doanh nghiệp

Gánh nặng nợ của doanh nghiệp = Tổng nợ / Tổng tài sản.
Mức độ sinh lợi của lãi vay = Lợi nhuận ròng / Chi phí lãi vay.

132

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

TÓM LƯỢC CUỐI BÀI

• Mỗi doanh nghiệp đều được tổ chức theo một cách thức nhất định, và người quản lý tài chính
của doanh nghiệp phải ra các quyết định tài chính cho doanh nghiệp, bao gồm quyết định huy
động vốn, quyết định sử dụng vốn, quyết định giá cả….
• Để có thể ra được quyết định, nhà quản lý phải hiểu được tình hình tài chính của doanh
nghiệp, việc nắm bắt tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm tình hình tài sản –
nguồn vốn của doanh nghiệp, tình hình thu nhập – chi phí của doanh nghiệp, và tình hình lưu
chuyển tiền mặt của doanh nghiệp.
• Khi quản lý tài sản và nguồn vốn, người ta sử dụng bảng cân đối kế toán, trong đó tài sản bao
gồm các tài sản ngắn hạn (có thời hạn dưới 1 năm) và các tài sản dài hạn (có thời hạn sử dụng
trên 1 năm nên được khấu hao), nguồn vốn bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu (do
chủ doanh nghiệp đóng góp hoặc do doanh nghiệp giữ lại từ lợi nhuận để tăng quy mô vốn).
• Khi quản lý thu nhập và chi phí, người ta sử dụng bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, trong đó có 3 loại thu nhập: doanh thu, thu nhập từ đầu tư tài chính và thu nhập bất
thường. Tương tự như vậy, có ba loại chi phí: chi phí sản xuất kinh doanh (trong đó có chi

phí sản xuất, chi phí quản lý và chi phí bán hàng), chi phí đầu tư tài chính và chi phí bất
thường. Sau khi lấy thu nhập trừ đi chi phí sẽ có lợi nhuận.
• Để thuận tiện cho việc quản lý tài chính của doanh nghiệp, người ta sử dụng các chỉ số tài
chính dựa trên việc tính toán các thông số từ các báo cáo tài chính, có ba nhóm chỉ số cơ bản
bao gồm: chỉ số thanh khoản, chỉ số hoạt động và chỉ số lợi nhuận.

v1.0

133


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

1. Sự khác biệt quan trọng nào dẫn tới việc người ta lựa chọn hình thức công ty cổ phần chứ
không phải là công ty một chủ?
2. Bảng cân đối kế toán có khác biệt không nếu được lập khác đi một vài ngày?
3. Tại sao có thể sử dụng khái niệm tài sản trong bảng cân đối kế toán khi thực ra đó là các
khoản vốn được đo đếm bằng tiền?
4. Doanh nghiệp có thể có lợi nhuận trước thuế là âm hay không khi lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp vẫn là dương?
5. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm hay không?
6. Có phải các chỉ tiêu phân tích tài chính của doanh nghiệp đều phải xác định mức tối nhất là
giá trị càng cao càng tốt hoặc càng thấp càng tốt hay không?

134

v1.0



Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

PHỤ LỤC

C. MẪU BIỂU BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Bảng Cân đối kế toán

Đơn vị:...................

Mẫu số B 01 - DNN

Địa chỉ:...................

(Ban hành theo QĐ số 48/2006 /QĐ-BTC
ngày 14/ 9/2006 của Bộ trưởng BTC)

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tại ngày......tháng ... năm ....
Đơn vị tính:.............
Mã số
TÀI SẢN

v1.0

A

B

A - TÀI SẢN NGẮN HẠN

(100 = 110 + 120 +1 30 + 140 + 150)

100

Thuyết
minh

Số

Số

cuối năm

đầu năm

C

1

2

(…)

(...)

(…)

(...)

(…)


(...)

I. Tiền và các khoản tương đương tiền

110

(III.01)

II. Đầu tư tài chính ngắn hạn

120

(III.05)

1. Đầu tư tài chính ngắn hạn

121

2. Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn
hạn (*)

129

III. Các khoản phải thu ngắn hạn

130

1. Phải thu của khách hàng


131

2. Trả trước cho người bán

132

3. Các khoản phải thu khác

138

4. Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (*)

139

IV. Hàng tồn kho

140

1. Hàng tồn kho

141

2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*)

149

V. Tài sản ngắn hạn khác

150


1. Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ

151

2. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước

152

3. Tài sản ngắn hạn khác

158

(III.02)

135


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

B - TÀI SẢN DÀI HẠN

200

(200 = 210 + 220 + 230 + 240)
I. Tài sản cố định

210

1. Nguyên giá


211

2. Giá trị hao mòn luỹ kế (*)

212

3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang

213

II. Bất động sản đầu tư

220

1. Nguyên giá

221

2. Giá trị hao mòn luỹ kế (*)

222

III. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

230

1. Đầu tư tài chính dài hạn

231


2. Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn
(*)

240

1. Phải thu dài hạn

241

2. Tài sản dài hạn khác

248

3. Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (*)

249

(....)

(.....)

(....)

(.....)

(....)

(.....)

(....)


(.....)

(III.05)

239

IV. Tài sản dài hạn khác

TỔNG CỘNG TÀI SẢN

(III.03.04)

250

(250 = 100 + 200)
NGUỒN VỐN
A - NỢ PHẢI TRẢ

300

(300 = 310 + 320)
I. Nợ ngắn hạn

310

1. Vay ngắn hạn

311


2. Phải trả cho người bán

312

3. Người mua trả tiền trước

313

4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

314

5. Phải trả người lao động

315

6. Chi phí phải trả

316

7. Các khoản phải trả ngắn hạn khác

318

8. Dự phòng phải trả ngắn hạn

319

II. Nợ dài hạn


320

1. Vay và nợ dài hạn

321

2. Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm

322

136

III.06

v1.0


Bài 6: Tài chính doanh nghiệp

3. Phải trả, phải nộp dài hạn khác

328

4. Dự phòng phải trả dài hạn

329

B - VỐN CHỦ SỞ HỮU

400


(400 = 410 + 430)
I. Vốn chủ sở hữu

410

1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu

411

2. Thặng dư vốn cổ phần

412

3. Vốn khác của chủ sở hữu

413

4. Cổ phiếu quỹ (*)

414

5. Chênh lệch tỷ giá hối đoái

415

6. Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu

416


7. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

417

II. Quỹ khen thưởng, phúc lợi

430

TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN

III.07

(....)

(....)

440

(440 = 300 + 400 )

CÁC CHỈ TIÊU NGOÀI BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Chỉ tiêu

Số

Số

cuối năm


đầu năm

1- Tài sản thuê ngoài
2- Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công
3- Hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược
4- Nợ khó đòi đã xử lý
5- Ngoại tệ các loại
Lập, ngày ... tháng ... năm ...
Người lập biểu

Kế toán trưởng

Giám đốc

(Ký, họ tên)

(Ký, họ tên)

(Ký, họ tên, đóng dấu)

Ghi chú:
(1) Số liệu trong các chỉ tiêu có dấu (*) được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...).
(2) Các chỉ tiêu không có số liệu thì không phải báo cáo nhưng không được đánh lại "Mã số".
(3) Doanh nghiệp có kỳ kế toán năm là năm dương lịch (X) thì "Số cuối năm" có thể ghi là
"31.12.X"; "Số đầu năm" có thể ghi là "01.01.X".
v1.0

137



×