CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC LAO ĐỘNG VÀ ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT
CỦA QUÁ TRÌNH MẮC SỢI DỌC
2.1, ĐẶC TRƯNG TÓM TẮT CỦA QUÁ TRÌNH:
Mắc là quá trình chuẩn bị sản xuất cho dệt, trong quá trình mắc hệ thống sợi
dọc được định hình lần thứ nhất để phục vụ cho máy dệt. Mục đích của quá trình
mắc là bố trí các sợi song song với nhau và cuộn lên một trục mắc với số lượng sợi
cần thiết và theo một chiều dài quy định.
Quá trình mắc rất quan họng, vì cùng một lúc, có số lượng lớn sợi tham gia,
phải có sức căng thống nhất và đều đặn trong toàn bộ chiêu dài sợi dọc và phải sắp
xếp đúng đắn. Các phế tật trong quá trình mắc ảnh hưởng lớn tới quá trình gia công
sợi tiếp theo trong sản xuất, và đặc biệt là ảnh hường tới sự làm việc của máy dệt,
làm giảm năng suất máy, ảnh hưởng xấu tới chất lượng vải thành phâm. Ngoài ra,
việc mắc không đúng cũng làm cho lượng sợi phế tăng trong các quá trình gia công
kế tiếp trọng nhà máy dệt.
Máy mắc làm việc theo một chu kỳ thời giạn chặt chê để quấn trên trục mắc
một chiều dài sợi đã định. Sau đó máy dừng lại, lấy trục mắc đã gia công xong, lắp
trục mắc mới vào máy và cứ tiếp tục như vậy. Khi sợi bị đứt máy mắc sẽ ngừng
làm việc.
Trong quá trình mắc không tránh khỏi có những lần dừng máy để thay búp sợi
ở giá mắc (mắc gián đoạn), thay và lắp các trục mắc, tu sửa hàng ngày, bảo dưỡng
máy, loại trừ sợi đứt.
Do quá trình công nghệ mắc có tầm quan trọng lớn nên công nhân mắc theo
nguyên tắc chỉ phục vụ một máy họ sẽ đứng máy theo kiểu đứng canh, có kết hợp
một mức độ cần thiết việc đi tua dọc theo giá mắc. Trong thời gian máy làm việc,
công nhân mắc sử dụng một phần lớn thời gian để quan sát tình trạng làm việc của
máy, tình hình các giá mắc và chất lượng của sợi. Việc nâng vùng phục vụ cho
công nhân mắc trong tình hình kỹ thuật hiện nay chưa có thể làm được.
Các thao tác cơ bản do công nhân mắc làm trong khi máy dừng có: nối đứt
sợi, thay và lắp trục mắc, thay búp sợi đối với mắc gián đoạn, quạt bụi cho máy.
2.2. TỔ CHỨC LAO ĐỘNG PHỤC VỤ MÁY MẮC:
Yêu cầu chính đề ra cho công nhân đứng máy mắc là làm sao cho chất lượng
sợi mắc tốt, tạo cho máy dệt có năng suất cao. Điều này chỉ có thể có được khi tố
chức chỗ làm việc cho công nhân mắc hợp lý, hợp lý hóa các thao tác, chế độ bảo
dưỡng thiết bị đúng đắn, và công việc sản xuất được kế hoạch hóa trong cả ca.
2.2.1. Tổ chức chỗ làm việc:
Chỗ làm việc của công nhân mắc cần được tổ chức sao cho phù hợp với
nguyên tắc sử dụng thiêt bị.
Ở nơi làm việc của công nhân mắc (trên tường hay trên cột) cần treo các bản
công nghệ, trong đó ghi chi số sợi mắc và thông số mắc: chi số sợi, chiều dài và tốc
độ mắc, mức gia công của công nhân mắc và đơn giá công việc.
Trong nơi làm việc của công nhăn mắc cần cỏ những trang bị sau:
- Có những hòm, hộp đặc biệt, có bao, túi để bảo vệ các dụng cụ và thiết bị lao
động; các hòm hộp thì để ở cạnh máy, còn các loại túi thì treo ở trên tường.
- Có những ghế dài để công nhân mắc đứng lên đó khi phải nối đứt những sợi
ờ hàng trên của giá mắc. Đối với các máy có tốc độ cao thì các ghế dài được
đặt ở phần trước hai bên giá mắc, gần khung báo hiệu.
- Thiết bị nâng các trục mắc đã mắc xong ra khỏi máy và xếp chúng vào một
chỗ.
- Có hòm để đựng các búp sợi không đảm bảo chất lượng bị loại ra trong quá
trình sản xuất; hòm này đặt ờ cuối giá mắc và đặt ờ nhiều nơi.
- Có các bao, túi để chứa bông phế, bao túi được treo cạnh tường.
- Có kéo để nối sợi.
- Có dao để cắt sợi dọc khi gia công xong một trục mắc (băng mắc) và cắt sợi
bị cuộn vào trục (khi đứt sợi).
- Có các trục thép bọc nỉ để đè lên sợi khi lấy ra và lắp vào các trục mắc.
- Có các móc để giữ các cơ cấu ép trục mắc khi thay trục.
- Có móc để giữ các bulông mang vòng bi ờ đầu trục mắc.
- Có giá để đặt các trục mắc.
- Có phấn màu đề đánh dâu các trục mẳc đã gia công xong.
- Có các phiếu mẫu để cho thợ sửa máy hoặc người cân sợi ghi vào khi gia
công xong trục mắc; các phiếu mẫu được kẹp vào trục.
- Có chổi lông để chải các màng bông bụi bám trên quạt.
- Có các chổi lông để chải máy và giá mắc.
- Có các chổi cán dài, quấn giẻ rách để quét bụi ở khung giá mắc (giữa các giá
để búp sợi và cơ cau hãm sợi).
- Có chổi để quét sàn.
- Có giẻ rách để lau các chi tiết máy khi làm sạch.
- Có các móc để làm sạch các lỗ dầu.
- Có các phau đựng dầu.
Tại chỗ làm việc của các máy có tốc độ cao cần cung cấp sợi ờ dạng búp sợi,
và các búp sợi này được xếp trong các xe lớn (xe goòng). Các lõi còn của búp sợi
do công nhân mắc lấy ra khỏi các cọc đễ lõi sẽ được đặt vào một cái xe và chờ khỏi
chồ làm việc. Các trục đã mắc xong sẽ do công nhân vận chuyển chở ra khỏi nơi
làm việc; và công nhân này cũng lắp các trục chưa mắc lên máy. Các búp sợi không
đảm bảo chất lượng sẽ được xếp vào trong một cái hòm đặc biệt trong quá trình sản
xuất, nhân viên kiểm tra búp sợi đã kiểm tra và loại ra khỏi nơi làm việc (trong ca
làm việc).
2.2.2 Nhận và giao ca:
Công nhân mắc cần phải nhận chỗ làm việc trước khi bắt đầu làm việc, do
công nhân ca trước khi kết thúc ca sản xuất cho công nhân ca sau.
Khi nhận và giao ca, công nhân cần phải tìm hiểu máy làm việc ra sau; quan
sát máy móc, kiểm tra tình hình kỹ thuật của máy móc (tình trạng của đồng hồ đo
chiều dài, tính chính xác của bộ tự động dừng điện khi sợi đứt). Sau đó kiểm tra
tình trạng ổn định của giá mắc) sự phù hợp số sợi mắc thực tế và số sợi mắc tính
toán, tính chất đúng đắn của quá trình luồn sợi trên giá mắc (qua các bộ phận hãm,
qua những cái dẫn sợi định hướng và qua các móc tự hãm điện). Kiểm tra các búp
sợi dự trữ trên giá mắc xem mắc có đúng không và có thể mắc không bị gián đoạn
hay không (trên tất cả các búp sợi dự trữ các đầu sợi có được mối với đầu sợi của
các búp sợi đang làm việc hay không).
Công nhân mắc cần phải (chuẩn bị nơi làm việc để giao ca sao cho người nhận
ca tránh được những sự ngưng trệ xảy ra trong sản xuất.
Nếu có những trục trặc, sự cố trong sản xuất mà công nhân mắc không khắc –
phục được trước khi giao ca thì họ cần phải báo cho người phận ca biết những điều
đó. Công nhân mắc sẽ giao ca theo thứ tự sau: Trước khi kêt thúc ca, theo tín hiệu
của thợ sửa chữa, công nhân mắc hãm máy, kiểm tra và quét sân. Sau đó giao bông,
sợi phế cho phó quản đốc. Theo nguyên tắc sử dụng kỹ thuật thì không cho phép
người công nhân ra khỏi nơi làm việc mà không có sự bàn giao với công nhân nhận
ca hoặc là quản đốc. Khi giao ca, công nhân mắc, người nhận ca và quản đốc kiểm
tra chỉ số của đồng hồ và ghi vào sổ chấm công.
2.2.3 Nội dung cơ bản các thao tác của công nhân mắc và mức tiêu hao thời
gian đứng máy mắc:
Thay đổi các búp sợi (hay lõi các búp sợi) trên các giá cửa mảy mắc:
° Trong quá trình mắc liên tục: Công nhân Mắc và công nhân lắp búp sợi sẽ lấy
các búp sợi ở trong các hòm hay các túi, lấy các lõi búp sợi ra, đặt các búp sợi đẩy
lên cọc cắm (cọc vừa rút lõi ra) và nối đầu sợi tự do của các búp sợi đang tở sợi với
đầu búp sợi dự trữ.
Điểm ghi Bắt đầu là thời điểm chạm tay vào búp sợi kết thúc là lúc rút tay ra khỏi
sợi.
Tiêu hao thời gian: 15 giây/lần.
° Trong quá trình mắc gián đoạn: Công nhân mắc hay công nhân lắp búp sợi sẽ lấy
các búp sợi trong hòm hay túi, lấy các lõi búp sợi ra và ở chỗ vừa lấy lõi ra sẽ lắp
các búp sợi đẩy vào, bứt bỏ sợi thừa còn lại ờ lõi, bỏ các lõi này vào hòm vả nối các
đầu sợi vừa bứt ra với đầu sợi của búp sợi đầy. Các búp sợi được thay vào giá cùng
một lúc khi máy dừng.
Điểm dấu: Bẳt đầu là lúc chạm tay vào búp sợi, kết thúc là lúc rút tay ra khỏi sợi.
Tiêu hao thời gian: 10 giây/lần.
Nối đứt:
Cách thực hiện: Đứt một sợi nghĩa là trong một chỗ chỉ có một sợi đứt, đứt một
nhóm sợi nghĩa là trong một chỗ có từ 2 sợi đứt trở lên. Công nhân mắc đi đến giá
mắc, tới chỗ có đầu sợi bị đứt, luồn đầu sợi qua thanh định hướng và đưa đầu sợi
vào máy, tìm đầu sợi bị đứt nằm trên trục mắc, dùng kéo nối, nối 2 đẩu sợi lại và
cho máy chạy.
Điếm ghi: Bắt đầu là thời điểm dừng máy (tính từ lúc thùng ma sát dừng), kết thúc
là thời điểm cho máy chạy.
Tiêu hao thời gian: đối với máy tốc độ cao là 45 giây/lần, đối với mắc) mắc dùng
búp sợi là 40 giây/lần.
Lấy ra và lắp vào các trục mắc:
Cách thực hiện: Công nhân mắc sẽ hãm máy khi đồng hồ đo chiều dài chỉ đứng
chiều dài công ngnệ quy định. Sau đó chuẩn bị để lấy trục mắc đã gia công xong,
lấy ra, lắp trục mới, đặt đồng hồ đo chiều dài, mở máy, chỉnh lý trục mắc sau khi
lắp.
Điểm ghi: Bắt đầu là thời điểm dừng máy (tính từ lúc trục ma sát dừng), kết thúc là
thời điểm mớ máy (tính từ lúc trục ma sát bắt đàu quay).
Tiêu hao thời gian: 5 phút đối với máy mắc cao tốc, là 4 phút đối với máy mắc
dùng búp sợi.
Đặt dây tách:
Cách thực hiện: Công nhân mắc cầm kim, sâu vào lỗ kim một sợi dây nhỏ, luồn
kim có sợi dây đi lại 2 lần qua một sợi dọc, làm từ phải qua trái, và nối các đầu dây
bằng nút (áp dụng để dệt vải nhiêu màu).
Điểm ghi: Bắt đầu là thời điểm chạm tay vào kim, kết thúc là thời điểm rút tay ra
khỏi sợi.
Tiêu hao thời gian: 319 giây/lần.
Kiểm tra kiểu mốc theo mẫu:
Cách thực hiện: Công nhân mắc sợi cần bản vẽ mắc (hình vẽ ký hiệu), kiểm tra
giừa hình vẽ mâu với tình hình mắc sợi thực tế trên giá mắc vệ số luợng và màu sắc
trên toàn bộ trục (áp dụng để dệt vải nhiều màu).
Điểm ghi: Bắt đầu là thời điểm chạm tay vào bản mầu mắc, kết thúc là thời điểm
rút tay khỏi sợi
Tiêu hao thời gian: 280 giây/lần.
2.2.4. Đặt kế hoạch làm việc:
Công nhân mắc sẽ lên kế hoạch cho công việc của mình sao cho trong suốt
thời gian gia công xong một trục mắc và trong cả ca sản xuất công việc được phân
bổ đều đặn và đúng đắn. Họ sẽ áp dụng cách quan sát tích cực trong quá trình đi tua
phục vụ sản xuất, và trong khi đi tua họ cũng áp dụng rộng rãi các biện pháp phòng
ngừa.
Qua việc kế hoạch hóa công việc, công nhân mắc phải cố gắng ngăn ngừa
được những sản phẩm không đảm bảo chất lượng (các trục mắc kém chất lượng) và
giảm thời gian ngừng máy không thể tránh trong quá trình làm việc của máy tới ít
nhất.
Năng suất của máy mắc được tính theo số lượng sợi mắc được. Việc tính toán
thống kê được tính bằng số trục mắc theo chiều dài sợi trên trục mắc (kèm theo số
sợi) và theo khối lượng sợi trên trục dệt. Để phục vụ cho việc thống kê các mức gia
công của công nhân mắc, người ta cần bố trí thống kê viên. Việc tính toán hợp lý
khối lượng sợi gia công của công nhân mắc phải xét đến độ sai lệch về chiều dài va
độ ngậm ẩm của sợi trong quá trình sản xuất, đây là những điều làm sai lệch kết
quả sản xuất thực tế của công nhân. Để kiểm tra sản phẩm mỗi khi có một trục mắc
vừa quấn xong người ta cần phải kẹp một biểu mẫu đặc biệt trong đó có ghi đặc
trưng sợi và loại máy, thời gian làm xong trục mắc đó.
2.3. CÁC CƠ SỞ TÍNH TOÁN MỨC GIA CÔNG CỦA CÔNG NHÂN MẮC:
2.3.1. Cơ sở định mức kỹ thuật của quá trình mắc đồng loạt:
Người ta lấy thời gian gia công xong một trục mắc làm chu kỳ sản xuất.
- Mức gia công của công nhân mắc trong một ca sản xuất (Mb) được xác định theo
công thức sau:
Hb = H1.H0 (m)
(2.1)
Trong đó:
H1 - Mức năng suất thiết bị trong một ca sản xuất.
H1 - Mức phục vụ quy định của công nhân mắc.
Nếu lấy theo điển hình: H0 = 1, Hb =1.
- Để tính toán mức gia công của công nhân măc một cách đầy đủ, người ta xác định
mức năng suất thiết bị trong điều kiện phục vụ quy định (mức điển hình) bằng một
máy.
- Mức năng suất thiết bị trong một ca sản xuất được xác định bằng công thức:
H1 = A.K (m)
(2.2)
Trong đó:
A - Năng suất lý thuyết tính bằng mét; trong một ca sản xuất.
K - Hệ số thời gian làm việc có ích của máy.
- Năng suất lý thuyết tính bằng mét trong một ca sản xuất được xác định theo công
thức:
A = V.T (m)
(2.3)
Trong đó:
V - Tốc độ dài tính bằng mét của quá trình mắc.
T - Thời gian tính bằng phút của một ca sản xuất. Tốc độ dài V được xác định bằng
công thức:
y = π .db.nb.Kc’ (m/phút)
(2.4)
Trong đó:
π - Hằng số ( π = 3,14) .
db - Đường kính tính bằng mét của trục mắc.
Kc’ - Hệ số tính toán độ trượt giữa trục mắc và trục ma sát
- Số vòng quay của trục ma sát trong một phút (nb) được xác định theo công thức:
nb = n.d.z1.Kc/dM.z2 (vòng/phút)
(2.5)
Trong đó:
n - Số vòng quay của hục môtơ trong một phút.
d - Đường kính puli tính bằng mm của trục môtơ.
dM- Đường kính puli tính bằng mm của trục máy.
z1, z2 – Số răng của các bánh xe trong quá trình truyền động từ môtơ tới trục ma sát
(chủ động - bị động).
Kc - Hệ số tính tới độ trượt do truyền động giữa động cơ và trục mắc.
- Hệ số thời gian làm việc có ích của máy (K) được xác định theo công thức:
K = Ka.Kb
(2.6)
Trọng đó:
Ka = TM/(TM + T. + Tc)
(2.7)
và
Kb = (T-Tb)/T
(2.8)
Với:
TM - Thời gian gia công xong một trục mắc.
TM = Lc/V (giây, phút)
(2.9)
Với:
Lc - Chiều dài sợi quấn trên trục mắc (đơn vị: m).
Ta - Thời gian công nghệ phụ, tính cho một trục mắc và không trùng với thời
gian máy.
Ta = t1.y1 + t2.y2 + t3.y3 + t4.y4 (giây, phút) (2.10)
Trong đó:
t1 – Định mức thời gian đề thay búp sợi, trong đó người ta chi tính tới trường
hợp mắc gián đoạn, vì rằng nếu mắc liên tục thì thời gian này trùng với thời
gian máy (cho phép 25 giây/lần).
t2 - Định mức thời gian để loại sợi đứt (cho phép 45 giây/lần).
t3 - Định mức thời gian để thay và lắp trục mắc (cho phép 300 giây/lần).
t4 - Định mức thời gian để phẩy bụị cho máy sau khi thay trục mắc (không tính
tới thời gian phẩy bụi cho giá mắc, cho phép 120 giây/lần).
y1, y2, y3, y4 - Số lần lặp lại tương ứng với các loại thòi gian t1, t2, t3, t4.
- Khi gia công mặt hàng có nhiều màu, người ta còn tính tới một thời gian phụ để
đặt dây tách và kiểm tra mẫu mắc. Trong các trường hợp này y 3 =1và y4 được xác
định trên cơ sở chế độ bảo dưỡng thiết bị đã đề ra theo nguyên tắc của mỗi một chế
độ mắc (loại và chi số sợi).
- Số lần thay đổi búp sợi (y1) tính cho một trục mắc được tính theo công thức:
y1 = YH.Lc.K δ / yy.Lb
(2.11)
Trong đó:
YH-Số sợi dọc.
yy - Số người thường xuyên tham gia vào việc thay búp sợi.
Lb - Chiều dài sợi trên búp sợi.
K δ - Hệ sô tính tới sự làm việc không nhất loạt của công nhân khi thay búp sợi.
- Trên cơ sở kinh nghiệm khi tổ chức làm việc để cho hợp lý K δ lấy khoảng:
Với - 2 công nhân thay sợi K δ là 1.03
-3
- nt 1.05
-4
- nt 1.1
-5
-nt 1.15
-Hệ số này có thể có được bằng cách tính toán thoe công thức:
K δ = yy.(z-x)/[ yy.z – (C1+C2+ …+Cn)] (2.12)
Trong đó:
z - Thời điểm kết thúc công việc thay búp sợi.
x - Thời điểm máy dừng để lắp búp sợi.
C1, C2... Cn - Thời điểm công nhân thứ 1, thứ 2 ... thứ n chạm tay vào búp sợi đế
thay sợi.
-Số lần đứt (y2) cho một trục mắc được xác định theo công thức:
y2 = y0.YH.Lc / 1.000.000
(2.13)
Trong đó:
y0 - số lần đứt írên một triệu mét sợi đơn.
-Tiêu hao thời gian của công nhân mắc bổ sung cho thời gian công nghệ phụ tính
theo công thức:
T3=Ta + t5.y5 1 (giây, phút)
(2.14)
Trong đó:
t5 - Mức thời gian để quét sân san khi thay trục mắc (cho phép 60 giây).
y5 - Số lần lặp lại việc quét sân (y5 = 1).
- Thời gian dừng máy do dừng trùng (Tc) chỉ tính tới trong trường hợp công nhân
mắc phục vụ số máy nhiều hơn một. Nếu chỉ phục vụ một máy thì Tc = 0.
- Thời gian công nhân mắc phục vụ chỗ làm việc (Tb), không trùng với thời gian
máy được xác định theo công thức:
Tb = t6 + t7 + t8 + t9 (phút)
(2.15)
Trong đó:
t6 - Thời gian tiêu hao lấy từ định mức thời gian phẩy bụi cho toàn máy trong ca
(không kể giá mắc, cho phép 2 phút).
t7 - Thời gian tiêu hao lấy từ định mức thời gian phục vụ bôi trơn máy móc theo
chương trình làm việc trong ca (cho phép 1 phút).
t8 - Định mức thời gian phục vụ cho tu sửa hàng ngày và xem xét phòng ngừa trong
ca làm việc (cho phép 5 phút).
t9 - Định mức thời gian đê làm việc cá nhân (cho phép 10 phút).
- Thời gian tiêu hao bổ trợ cho thời gian phục vụ chỗ làm việc được xác định theo
công thức:
T3’ = t6 + t10 + t11
(2.16)
Trong đó:
t10 -Tiêu hao thời gian theo định mức phục vụ cho việc quét sân dựa trên chương
trình làm việc của ca, thời gian này trùng với thời gian máy (cho phép 1 phút).
t11 - Tiêu hao thời gian theo định mức mà công nhân mắc sử dụng để di chuyển làm
các thao tác phòng ngừa máy dừng, đề phòng sản xuất ra sản phẩm không đảm bảo
chất lượng, sửa những trục trặc của máy,...Thời gian này cũng trùng với thời gian
máy (cho phép 25 phút).
- Mức năng suất thiết bị tính bằng số trục mắc trong một ca trong một ca làm việc
(H) được xác định theo công thức:
H = (T - Tb) / (TM + Ta)
(2.17)
H2 = G.H (kg)
(2.18)
Trong đó:
G – Khối lượng sợi trên trục mắc.
G = Lc.YH/N.1000 (kg)
(2.19)
Trong đó:
N - Chi số danh nghĩa của sợi.
-Hệ số bận rộn của công nhân mác được xác định theo công thức:
K3 = H0 (T3H +T3’)/T
(2.20)
Ví dụ 1:
Hãy xác định mức phục vụ và hệ số bận rộn của công nhân mắc (H, H 1, H2,K3)
làm việc ở máy mắc C - 140 với các số liệu như sau:
Máy được mắc theo mẫu để mắc sợi màu có N = 65/2.
db = 0,55m ; n = 1450 vòng/phút; d = 132 mm ; Kc = Kc’ = 0,98 ;
dM = 270 mm ; z1 = 24 ; z2 = 72 ; Lb = 37.375 m ; Lc= 10.750 m;
YH= 367 sợi; G=121kg; y0 = 61ần; H0 = l máy;
Số công nhân là 2 ; Máy măc gián đoạn ; T - 7 giờ ; thời gian đặt, luôn dây tách là
319 giây cho một trục và thời gian kiểm tra theo màu mắc là 280 giây cho một trục.
2.3.2 Cơ sở định mức kỹ thuật của quá trình mắc phân băng:
Công việc trên máy mắc phân băng bao gồm:
- Trước khi bắt đầu chạy mỗi băng thì công nhân điều chỉnh các băng, cắt đuôi
băng, đánh dấu, đặt que tách, đặt đồng hồ, gạt giá mắc.
- Sau khi đã cuốn xong tất cả các băng lên trục mắc, công nhân sẽ chuyển các sợi
mắc này sang trục dệt và cũng sử dụng máy này để chuyển.
- Mức gia công của công nhân mắc tính bằng số trục dệt trong một ca sản xuất (H b)
hoặc mức năng suất thiêt bị (H) được xác định theo công thức:
HB - H = (T - Tb) /.(Tm + Ta)
(2.21)
Trong đó:
T - Thời gian một ca sản xuất (phút, giây).
Tb - Thời gian phục vụ chỗ làm việc, không trùng với thời gian máy (phút, giây)
bao gồm thời gian dừng máy bắt buộc để phẩy bụi, lau máy, cho dầu, tu sửa hàng
này và xem xét phòng ngừa thiết bị cũng như làm các việc cần thiết cho cá nhân.
TM - Thời gian máy để gia công xong một trục dệt (phút, giây).
Ta - Thời gian công nghệ phụ, không trùng với thời gian máy (phút, giây) bao gồm
thời gian dừng máy bắt buộc để lên các băng mới, đặt que, dây tách, xe dịch giá
mắc,...
Ta có:
TM - TM’ - TM’’ (phút)
(2.22)
Với:
TM’ - Thời gian máy chạy để mắc xong các băng trên trục.
TM’ = yb.L/v (phút)
(2.23)
Trong đó:
yb - Số băng sợi dọc.
L - Chiều dài sợi mắc.
v - Tốc độ mắc sợi (m/phút).
TM’’ - Thời gian máy chạy để cuốn chuyền các băng lên trục dệt.
TM’’ =L/v’
(2.24)
Trong đó:
v’ - Tốc độ cuốn chuyển sợi lên trục dệt (m/phút).
Việc tính toán năng suất lý thuyết của máy (A) và hệ số thời gian làm việc có
ích (K) không có gì đặc biệt và được tiên hành theo các công thức chung.
A = T/TM ;
K = H/A
Để việc tính toán thống kê mức gia công và trả lương theo lao động được
chính xác hơn cho công nhân ở các ca khác nhau, trong một số trường hợp cần tính
mức gia công cho công nhân tách riêng hai quá trình mắc và cuốn chuyển. Trong
các trường hơp đó thì mức gia công của công nhân mắc được xác định bằng s ố
băng, còn trong khi cuốn chuyển thì được xác định bằng số trục mắc.
Ví dụ 2:
Tính mức gia công của công nhân mắc (H, K, A) với các số liệu như sau:
Máy mắc phân băng kiểu CL - 250 - Sh, được mắc sợi dọc N = 8
v = 280 m/phút ; v’ = 35 m/phút ; số sợi dọc của vải là 3360, số sợi dọc trên băng là
280. yb=12; L = 520m; chiều dài sợi trên búp là 11200 m ;
yo = 20 lần ; Tb = 15 phúí ; yy = 2 ;
Thời gian cho phép để làm các thao tác tập hợp là: 2 phút để mắc lên mỗi băng
sợi dọc; 0,5 phút để nối sợi đút (tính bình quân cho một lần đứt sợi); 0,06 phút để
thay một búp sợi; 6 phút để chuẩn bị cho việc cuốn chuyển và lấy trục sợi dệt ra
(tính cho một trục dệt); 1 phút cho các tiêu hao không đáng kể khác (tính cho một
trục dệt).