1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài luận án
Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2009,
thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được áp dụng từ
1991. Tuy đã có nhiều tiến bộ, song qua quá trình thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân
đã bộc lộ những bất cập: cơ sở thuế hẹp, quá nhiều thuế suất, không bảo đảm tính đơn
giản, minh bạch về nghiệp vụ, nhiều quy định khó thực hiện, dễ dẫn đến sự tùy tiện,
không công bằng khi áp dụng, mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh chưa thuyết
phục, chính sách chưa hỗ trợ cho công tác quản lý, cơ chế quản lý chưa hiệu quả,... Để
hạn chế những bất cập, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân
đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2012 và có hiệu lực từ 1/7/2013. Cùng với sự sửa
đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và những luật cơ bản khác, Chính phủ Việt Nam đã thể
hiện nhiều nỗ lực vào cải cách và hiện đại hóa nhằm hoàn thiện hệ thống thuế trong quá
trình hội nhập quốc tế.
Trước đòi hỏi của thực tiễn về một chính sách và cơ chế quản lý thuế đồng bộ, bắt
kịp sự phát triển kinh tế, xã hội, việc nghiên cứu quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với thuế thu nhập cá nhân trở thành nhu cầu cấp thiết. Với tư duy tiếp cận ý thức tuân
thủ pháp luật phải xuất phát từ nhận thức và sự tự giác của người dân, tác giả luận án xây
dựng mô hình nghiên cứu quá trình cơ quan thuế xây dựng chính sách và cơ chế quản lý
thuế hiệu quả, công bằng, minh bạch, thực hiện lộ trình cải cách thủ tục hành chính giúp
người nộp thuế dễ dàng thực hiện được nghĩa vụ với thời gian, chi phí tiết giảm tối đa
bằng ứng dụng công nghệ thông tin quản lý tập trung, hiện đại. Thông qua kết quả tích
cực đó, cơ quan thuế quản lý được đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế, nâng cao
hiệu quả thu ngân sách nhà nước.
2. Mục đích, nội dung nghiên cứu của đề tài luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án
Nhằm đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
1) Việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp lý đối với thuế thu nhập cá
nhân theo các tiêu thức đã phù hợp, minh bạch, khả thi hay chưa?
2) Việc xây dựng hệ thống quản lý thuế các cấp với cơ chế hành thu và các quy
trình nghiệp vụ đã đảm bảo nâng cao năng lực cơ quan thuế, đảm bảo thực thi luật pháp
công bằng?
2
3) Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế đã đủ khả
năng thực hiện theo Luật thuế thu nhập cá nhân?
Trả lời đầy đủ các câu hỏi trên nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu chủ
yếu sau:
Hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
trong quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân của các nước và thực tiễn Việt
Nam hiện nay.
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam, tác giả áp dụng mô hình kinh tế lượng, thiết kế nghiên cứu và tiến hành điều tra tại
một số địa bàn quận huyện ở Hà Nội về thái độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.
Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản
lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
2.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài luận án
- Làm rõ những nội dung lý luận vai trò của nhà nước trong việc xây dựng chính
sách thuế thu nhập cá nhân và hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước
trên thế giới. Chú trọng nghiên cứu những tác động đến ý thức tự giác tuân thủ của người
nộp thuế.
- Phân tích thực trạng vai trò của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong thời gian
qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nhà nước trong những phân tích đó cũng như
các nguyên nhân của tình trạng trên. Thông qua các kết quả nghiên cứu, luận án lý giải vì
sao hiện nay mức độ tự giác tuân thủ của người nộp thuế còn có sự phân hóa.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của nhà nước
trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam những năm tới, chú trọng đến việc đáp ứng yêu cầu của cải cách
hành chính, thay đổi tư duy quản lý thuế thuần túy “mệnh lệnh hành chính” sang “phục
vụ hành chính công”, coi trọng và tôn vinh giá trị đích thực những đóng góp về kinh tế chính trị - xã hội của người nộp thuế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án hướng tới đối tượng và
xem xét phạm vi nghiên cứu như sau:
3
Đối tượng nghiên cứu: quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân được
thực hiện thông qua luật pháp, chính sách, bộ máy quản lý, biện pháp quản lý, ý thức
chấp hành pháp luật của người nộp thuế…
Phạm vi nghiên cứu
- Về lý luận: Các vấn đề lý luận trong và ngoài nước liên quan đến thuế thu nhập
cá nhân và quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân.
- Về thực tiễn:
o Kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài.
o Thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ 2009 đến nay; số liệu sơ cấp thu thập
năm 2012.
Luận án khảo sát hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam trong quá trình thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao, chú trọng phân tích thời gian thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân (2009) của cơ
quan thuế và người nộp thuế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng đồng bộ, hài hòa, thích hợp các phương pháp phân tích, công cụ
nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh,….
Tiến hành tham khảo những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
những tài liệu, báo cáo của các cơ quan quản lý có liên quan như Chính phủ, Bộ Tài chính,
Tổng cục Thuế, Cục Thuế địa phương,...; tham khảo các báo cáo, các nghiên cứu đã công
bố, các tạp chí và sử dụng các tài liệu điều tra, khảo sát, thu thập số liệu thống kê và phân
tích... của các đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu đã được công bố về vấn đề có liên
quan để đề xuất các căn cứ hoàn thiện các văn bản pháp quy về thuế thu nhập cá nhân.
Trong quá trình thực hiện, luận án áp dụng kiến thức kinh tế lượng vào nghiên
cứu thông qua việc tiến hành một cuộc điều tra thử nghiệm với 5 mẫu phiếu điều tra dựa
trên mô hình kinh tế, trong đó nhân tố mục tiêu (biến phụ thuộc) là mức độ hài lòng, tự
giác của dân cư (người nộp thuế), các nhân tố tác động (biến độc lập) là bốn nhóm nhân
tố: (1) Chính sách hoàn thiện (minh bạch, dễ hiểu, khả thi, phù hợp); (2) Năng lực của cơ
quan thuế về kiểm tra, giám sát, hỗ trợ người nộp thuế đủ khả năng tuân thủ (hướng dẫn
cách thức, địa điểm, thời gian, chi tiết biểu mẫu) tác động đến mức độ tự giác, hài lòng
của người nộp thuế (3) Nhận thức, trình độ dân trí xã hội về công bằng thúc đẩy tự giác
tuân thủ; (4) Tình hình kinh tế xã hội và các nhân tố khác.
4
Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn các nhà quản lý các cấp, các chuyên gia, các nhà
khoa học để tìm hiểu các nhân tố tác động như thế nào tới tính tự giác tuân thủ của người
nộp thuế. Các phiếu điều tra thu được, sau khi kiểm tra làm sạch, loại bỏ những phiếu
không phù hợp, đưa vào xử lý kết quả bằng phần mềm tin học chuyên dùng SPSS. Số
liệu được tổng hợp, phân tích và lưu trữ, góp phần vào việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu
cho những nghiên cứu tiếp theo.
Ngoài ra, một mô hình khác được sử dụng trong luận án khi đánh giá tác động
của việc thay đổi chính sách thuế tới nghĩa vụ thuế của các cá nhân ứng với từng khoản
thu nhập thông qua mô hình đơn.
5. Đóng góp của đề tài luận án
Những phát hiện của nghiên cứu: Nghiên cứu đã đưa ra những tiến bộ và
hạn chế của chính sách, cũng như những tồn tại của cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam.
Điểm khác biệt của nghiên cứu: Nghiên cứu đã cập nhật được thành tựu và
chi ra những hạn chế của quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
thông qua nghiên cứu sâu về chính sách và cơ chế quản lý thu hiện hành, với sự tham gia
của các chuyên gia và các đối tác quốc tế. Nghiên cứu còn áp dụng mô hình kinh tế
lượng trong thiết kế nghiên cứu, điều tra khảo sát thử nghiệm về tuân thủ thuế trên địa
bàn Hà Nội. Nghiên cứu cũng đề xuất lộ trình cải cách chính sách thuế với việc rút gọn
dần số thuế suất vào 2 kỳ cải cách thuế tiếp theo năm 2017 và 2022, sử dụng mô hình
toán đánh giá tác động của việc cải cách đến nghĩa vụ ngân sách của người nộp thuế.
Điểm mạnh và đóng góp mới của nghiên cứu: Nghiên cứu đã hệ thống được
kinh nghiệm của các nước trên thế giới, chỉ ra được những tồn tại của chính sách và cơ
chế quản lý của Việt Nam, trong đó có những nghiên cứu của các tổ chức quốc tế đang
hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống thuế như WB, IMF, OECD, EU, JICA.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với
thuế thu nhập cá nhân
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuế và thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở nước ngoài
Trong các nghiên cứu cổ điển sớm nhất về thuế, có thể kể đến học thuyết không
tưởng và học thuyết bài thuế. Học thuyết không tưởng cho rằng cần hướng tới xây dựng
một loại thuế đơn nhất hay duy nhất, vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước,
vừa tránh được sự phức tạp hoá chính sách thuế với nhiều loại thuế khác nhau, làm giảm
gánh nặng thuế khoá cho dân chúng. Các học giả theo trường phái bài thuế lại cố gắng
xây dựng hình ảnh về một xã hội không có thuế.
Kế thừa tinh hoa cổ điển, các học thuyết thuế hiện đại không phê phán mà tìm
cách khẳng định vai trò của thuế, điển hình là học thuyết thuế-trao đổi, học thuyết thuếđoàn kết và học thuyết thuế-bù đắp. Học thuyết thuế-trao đổi bắt đầu xuất hiện vào cuối
thế kỉ XVII. Tư tưởng cốt lõi của học thuyết này coi thuế là cái giá người nộp thuế phải
trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hoá công cộng do nhà nước cung ứng. Các đại biểu là
John Locke, Jean - Jacques Rousseau, Adam Smith và Montesquieu. Học thuyết thuế đoàn kết, dựa trên tư tưởng về chủ nghĩa đoàn kết cộng đồng. Học thuyết này phát triển
rất mạnh vào cuối thế kỉ XIX, tuyên truyền cho tư tưởng tương trợ lẫn nhau và đoàn kết
cộng đồng, với tư tưởng đòi hỏi người nộp thuế chấp nhận hi sinh lợi ích của mình cho
nhà nước, nộp thuế theo sự ấn định thuế. Tư tưởng chủ đạo của học thuyết thuế-bù đắp là
cần thiết phải có sự hi sinh, tương trợ của những người có khả năng đóng thuế đối với
nhóm người không có khả năng đóng thuế, dựa trên tinh thần đoàn kết và tương trợ cộng
đồng. Học thuyết về thuế-bù đắp ngày càng được ủng hộ và giữ vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống thuế quốc gia.
Trong công trình nghiên cứu “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết
thuế cổ điển và hiện đại”, in tại Tạp chí Luật học tháng 4, 2009, TS. Nguyễn Văn Tuyến,
Đại học Luật Việt Nam đã nêu bật những ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển và
hiện đại đối với quá trình phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam. Những đổi mới đã làm
cho chính sách thuế ở Việt Nam tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển chung. Việc
ban hành Luật quản lý thuế năm 2006 đã giảm dần tính mệnh lệnh hành chính trong
quan hệ thuế, trao quyền chủ động nhiều hơn cho người nộp thuế. Quyền đối kháng của
người nộp thuế được ghi nhận với quyền khiếu nại và khởi kiện về thuế đối với cơ quan
6
thuế. Nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước cho người nộp thuế khi họ bị thiệt hại do hành
vi thu thuế không đúng luật của cơ quan thuế thể hiện sự ảnh hưởng của học thuyết thuếtrao đổi đối với tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam. Với biểu thuế lũy tiến
của chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam, người có khả năng tài chính tốt hơn sẽ phải
đóng thuế nhiều hơn, phản ánh quan điểm chủ đạo của học thuyết thuế-bù đắp, kêu gọi
sự sẻ chia của những người có khả năng đóng thuế cho những người không có khả năng
đóng thuế trên tinh thần đoàn kết xã hội và tương trợ cộng đồng.
Với cuốn Nhập môn luật thuế đại cương và học thuyết thuế, Trung tâm nghiên
cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm 1963, Giáo sư Michel Bouvier nhấn mạnh sự
cân bằng lợi ích giữa nhà nước với công dân trong quan hệ nộp thuế của học thuyết về
thuế-trao đổi, dựa trên nguyên tắc trao đổi công bằng giữa hai bên và điều ngược lại ở
học thuyết về thuế-đoàn kết: coi trọng “sự hi sinh” từ phía người nộp thuế đối với cộng
đồng, dựa trên ý thức tương trợ lẫn nhau và đoàn kết cộng đồng.
Cuốn “Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” (An Inquiry
into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được Adam Smith viết và xuất bản
lần đầu năm 1776. Ngoài nội dung xem xét nguồn gốc và công dụng của tiền tệ, giá cả
của các loại hàng hóa, tiền công của lao động,… tác phẩm đã đề cập đến các nguyên tắc
thuế vụ và hệ thống thu ngân sách, với bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế
hợp lý: thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; mức thuế và
thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác; thời gian thu thuế cần được quy định
thuận lợi đối với người nộp thuế; các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất.
Trong cuốn “Kinh tế học” (Economics) của Paul A. Samuelson và William D.
Naudhaus [39, tr.630], ở chương 17, “Thuế và chi tiêu của chính phủ”, các tác giả đã chỉ
ra “các nguyên tắc đánh thuế”, với các nguyên tắc được xem xét dưới nhiều góc độ là
”lợi ích”, “khả năng thanh toán”, “công bằng ngang và công bằng dọc”. Tác giả đặc biệt
nhấn mạnh về “thuế và tính hiệu quả”. Xét đến hiệu quả, thuế suất sẽ ảnh hưởng đến tiết
kiệm và đầu tư “ảnh hưởng đến số giờ làm việc, chuyển hướng luồng đầu tư và tiết kiệm,
thay đổi thời điểm luồng thu nhập”.
Vấn đề về thuế thu nhập cá nhân cũng đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học quốc tế hiện đại.
“Tax Administration in Developing Countries:an Economic Perspective”
(Quản lý thuế ở các nước đang phát triển: Một triển vọng kinh tế), năm 1987 của tác
giả Charles Y. Mansfield thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khảo sát nghiên cứu về
7
hành chính thuế ở các nước đang phát triển, xem xét sự tác động của chính sách thuế,
phương thức áp dụng những công cụ đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế, vai trò của quản lý
thuế. Hành chính thuế được xem như vấn đề vận dụng pháp luật vào đời sống kinh tế
tài chính, có những bổ trợ cho chính sách phát triển quốc gia. Tài liệu cung cấp các
hướng dẫn về phương thức quản trị thuế để có thể giúp thực hiện các hệ thống thuế
hiệu quả và công bằng hơn.
“Presumptive Income Taxation-Administrative, Efficiency and Equity Aspects”
(Thuế thu nhập cơ sở, quản lý, hiệu quả và khía cạnh công bằng) năm 1987 của hai tác
giả Vito Tanzi and Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF. Nghiên cứu này thảo luận
về đánh giá đối với thu nhập trên cơ sở các chỉ số hiệu quả. Phương pháp thuế thu nhập
khoán được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, tuy nhiên, nó không được chú trọng trong lý
thuyết tài chính công. Nghiên cứu lập luận rằng cần sự chú ý nhiều hơn tới các tác động
hiệu quả của phương pháp thuế khoán.
“Tax in Developing Countries” (Thuế ở các nước đang phát triển), Baltimore,
Nxb Johns Hopkins phát hành năm 1990, hai tác giả Richard M. Bird và Oliver Oldman
đã nêu vấn đề trốn thuế không chỉ là vấn nạn của riêng các quốc gia kém phát triển. Tại
một số nước đang phát triển, tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập
tiềm năng không phải là tình trạng cá biệt. Có vô số những người giàu có lại hoàn toàn
nằm ngoài phạm vi quản lý hoặc những người nằm trong hệ thống thuế nhưng lại kê khai
thu nhập thấp đến mức vô lý. Giải quyết những vấn đề này, các tác giả khẳng định, trước
hết, những người đóng thuế phải được xác định, hay đăng ký, đồng thời, cải thiện sự tuân
thủ thuế của những người nộp thuế.
“Improving Tax Administration in Developing Countries” (Cải thiện quản lý
thuế ở các nước đang phát triển) năm 1992 của hai tác giả Richard M.Bird và Milka
Casanegra de Jantscher thuộc IMF. Nghiên cứu về xu hướng phát triển cải cách chính
sách thuế, chú trọng tới các quy định hành chính thuế, kết quả cải cách thuế ở một số
nước (Bolivia, Uruguay, Colombia, Trinidat…), đề xuất giải pháp phù hợp người nộp
thuế, đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện sự tuân thủ của người nộp thuế.
“Fundamental reform of personal income tax in OECD countries: trends and
recent experiences” (Cải cách cơ bản thuế thu nhập cá nhân ở các nước OECD: những
xu hướng và kinh nghiệm mới nhất) năm 2006 của tác giả Bert Brys and Christopher
Heady thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế OECD. Nghiên cứu xem
xét các xu thế hiện nay trong hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các nước thành viên tổ
chức OECD. Hơn thế nữa, nghiên cứu đã trình bày các kinh nghiệm về thuế cân bằng và
8
hệ thống thuế thu nhập cá nhân; đồng thời cung cấp các hiểu biết sâu sắc đối với quá
trình cải cách các hệ thống thuế thu nhập cá nhân.
Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Tập đoàn tài chính quốc tế
(IFC) và Price Waterhouse and Cooper PWC cùng tham gia xuất bản những ấn phẩm
đánh giá hệ thống thuế toàn thế giới: “Full Paying taxes 2011, 2012”, (Nộp thuê 2011,
2012: Bức tranh toàn cảnh).
Báo cáo thực hiện nghiên cứu tại 183 quốc gia nhằm đánh giá các hệ thống thuế
trên toàn thế giới từ quan điểm của doanh nghiệp trong giai đoạn 6 năm. Nghiên cứu này
xem xét tác động của thuế tới doanh nghiệp trên cả khía cạnh số thuế phải nộp và gánh
nặng tuân thủ. Các chính phủ bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến kết quả của nghiên cứu vì
nó cung cấp các thông tin cần thiết để họ thực hiện so sánh với các nước láng giềng theo
khu vực địa lý và trong nhóm các nước có điều kiện kinh tế tương đồng. Nghiên cứu này
đề cập đến cách thức chính phủ đang phấn đấu để cải thiện hệ thống thuế nước mình như
thế nào và nhấn mạnh đến các thông lệ quốc tế tốt nhất và một số cách thức để đạt được
kết quả đó với xu hướng tập trung vào việc cải thiện công tác hành chính của hệ thống
thuế, bao gồm: ứng dụng hệ thống kê khai, nộp thuế điện tử, giảm số lượng các sắc thuế
đánh trên một cơ sở tính thuế và sử dụng quy trình tự kê khai tự nộp thuế.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
1.1.2.1. Giáo trình thuế và các công trình nghiên cứu về chính sách hoặc cơ
chế quản lý thuế thu nhập cá nhân
Đặt nền móng cho những lý thuyết về kinh tế nói chung và thuế nói riêng được
thể hiện trong “Giáo trình thuế”, Tổng cục Thuế, 1991, “Giáo trình thuế và hệ thống
thuế ở Việt Nam”, GS.TS Bùi Xuân Lưu, TS Nguyễn Hữu Khải, ThS Nguyễn Xuân Nữ,
NXB Giáo dục, 2003; “Giáo trình quản lý thuế”, TS Nguyễn Thị Bất-TS Vũ Duy Hào
(2002), Nxb Thống kê, Hà Nội. Về quản lý nhà nước có “Giáo trình quản lý nhà nước về
kinh tế”, TS Mai Văn Bưu-TS Đoàn Thị Thu Hà (1999), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội; “Giáo trình khoa học quản lý” (tập I, tập II), TS Đoàn Thị Thu Hà-TS Nguyễn Thị
Ngọc Huyền (2001), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội; “Quản lý nhà nước về kinh tế”
(Giáo trình sau đại học), TS Mai Văn Bưu-TS Phan Kim Chiến (2001), Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội.
Ngoài ra, có một số công trình, đề tài, luận án nghiên cứu xung quanh vấn đề xây
dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân.
Những công trình này ở mức độ khác nhau cũng đã đề cập đến vai trò của Nhà nước.
9
Đề tài “Mô hình áp dụng thuế thu nhập ở Việt Nam” năm 1994, chủ nhiệm đề tài:
Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, thư ký đề tài TS Đỗ Thị Thìn, TS.
Quách Đức Pháp… nêu lên mục tiêu chính của thuế thu nhập là điều tiết thu nhập, đảm
bảo công bằng nên việc đánh thuế thường dựa trên khả năng thu nhập của các chủ thể,
xuất phát từ sự đánh giá toàn cục theo bề dọc (thu nhập cao nộp thuế nhiều hơn). Một
điểm đề tài tập trung phân tích là tính công bằng phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của việc
thực thi chính sách thuế trong thực tiễn.
Đề tài “Mô hình thuế tài sản ở Việt Nam” năm 1995, chủ nhiệm đề tài là Tổng
cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, các thư ký đề tài TS. Đỗ Thị Thìn, TS.
Bạch Minh Huyền… đưa ra cơ sở tồn tại khách quan của thuế tài sản, phạm vi điều
chỉnh của thuế đánh vào sở hữu tài sản và chuyển dịch tài sản, nhằm động viên cho
NSNN, góp phần quản lý tài sản và đề xuất về hệ thống thuế tài sản của Việt Nam.
Đề tài “Điều tra về thu nhập, tiết kiệm và đầu tư của dân cư” năm 1998, TS.
Hoàng Công Thi, TS. Nguyễn Ngọc Thanh…đã cho thấy kết quả điều tra thu nhập bình
quân đầu người năm đó là 291.420đ/người/tháng, đạt 313USD/người/năm, thu nhập của
dân cư thành thị cao gấp 2,04 lần nông thôn, ước tiền tiết kiệm 1997 từ dân cư 64 nghìn
tỷ đồng. Đầu tư từ khu vực thành thị cao gấp 4 lần nông thôn, đầu tư trực tiếp vào sản
xuất chỉ đạt 46% tổng đầu tư, đầu tư chứng khoán rất thấp, cổ phiếu, trái phiếu doanh
nghiệp hầu như không có.
Đề tài “Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân trong tình hình mới” năm 2000, chủ
nhiệm đề tài Vũ Quỳnh Hương, cộng tác viên Huỳnh Huy Quế. Công cuộc đổi mới 1986
xuất hiện những người có thu nhập, đến cuối 1990 đã ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao (chương trình cải cách thuế bước I) để động viên 1 phần vào
NSNN và người dân quen dần với loại thuế này. 10 năm, kết quả đáng khích lệ và có cả
nhược điểm: chưa bao quát hết nguồn thu, diện đóng góp hạn chế, số thu chưa tương xứng,
năng lực quản lý hạn chế, còn thất thu. Đề tài khái quát các vấn đề lý luận về thuế thu nhập
cá nhân, cơ cấu hình thành thu nhập để đánh thuế, lý giải các vấn đề về ngưỡng thu nhập,
lựa chọn chi phí miễn trừ, thuế suất… khái quát thực trạng, ưu điểm, tồn tại, đề xuất ý kiến
về mục tiêu, yêu cầu, quan điểm và hướng hoàn thiện: thay bằng thuế thu nhập cá nhân.
Sách chuyên khảo: “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng
ở Việt Nam” năm 2002 của TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh khái quát về các chính sách
và cơ chế quản lý thu của nhiều nền kinh tế, từ đó xây dựng định hướng vận dụng cho
Việt Nam.
10
“Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt nam trong điều kiện hiện
nay” (2003), của PGS. TS. Nguyễn Thị Bất là một đề tài nghiên cứu cấp Bộ có chất
lượng. Đề tài đã hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về quản lý thuế và phân tích thực
trạng về quản lý thuế ở Việt nam. Đề tài đưa ra những giải pháp mang tính đột phá, phù
hợp thực tiễn và khả thi ở Việt Nam tại thời điểm 2003.
“Vietnamese Personal Income Tax Reform” (Cải cách thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam) năm 2006 của Shigeki Kunieda (Đại học Hitotsubashi) và Đỗ Ngọc Huỳnh
(Bộ Tài chính). Nghiên cứu đánh giá tình hình cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất đề cương cho một chính sách thuế thu
nhập hiện đại áp dụng tại Việt Nam trong giai đoạn trung và dài hạn. Chính sách thuế thu
nhập cá nhân trong nghiên cứu này cũng được thiết kế nhằm tập trung chủ yếu vào tính
đơn giản và khả thi của chính sách thuế trong hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện tại
và tương lai.
“Đề án xây dựng luật Thuế thu nhập cá nhân” năm 2007 do Vụ Chính sách
Thuế - Bộ Tài chính chủ trì nêu lên hiện trạng của chính sách thuế thu nhập cao và bộ
máy quản lý hiện hành, đánh giá những hạn chế: Mức điều tiết về thuế còn chưa hợp lý,
thu nhập được điều chỉnh bởi các sắc thuế khác nhau, mức điều tiết thuế mang bình quân
không tính đến yếu tố hoàn cảnh của người nộp thuế, phân biệt đối xử giữa người Việt
Nam và người nước ngoài, chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế... từ
đó đưa ra phương hướng khắc phục bằng Luật thuế thu nhập cá nhân.
Các luận án tiến sĩ:“Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt
Nam” năm 2007 của tác giả Lê Duy Thành, “Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập ở
Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2007 của tác giả Nguyễn
Xuân Sơn, “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế” của tác giả Lý Phương Duyên năm 2009, “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương 2011 đều đề cập đến
hiện trạng chính sách thuế, quản lý thuế và đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp với
quá trình nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, nhiều nhà khoa học đã công bố các nghiên cứu về thu nhập dân cư, thuế
thu nhập cao từ 2008 trở về trước, thuế thu nhập cá nhân, đánh giá tình hình triển khai
Luật Thuế thu nhập cá nhân, các vấn đề phục vụ cải cách hành chính thuế, hiện đại hoá
ngành thuế từ trung ương đến các địa phương... trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
(Tạp chí Thuế Nhà nước, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Kiểm toán...) như:
11
“Đánh giá thuế thu nhập cá nhân hiện hành ở Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn
Văn Phụng, Đỗ Ngọc Huỳnh, tạp chí Tài chính số 7 năm 2005. Các tác giả viết về Pháp
lệnh thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao, qua các lần sửa đổi, bổ sung
vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2003, nội dung sửa đổi, bổ sung
như cấu trúc bậc thuế, thuế suất, phân loại thu nhập thường xuyên và không thường
xuyên. Những vấn đề cơ bản như tính công bằng, hiệu quả và yêu cầu đảm bảo cơ cấu
nguồn thu ổn định lâu dài cho ngân sách nhà nước chưa được giải quyết. Trên cơ sở phân
tích, đánh giá thực trạng chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện hành, kết hợp với việc
nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, bài viết đề xuất xây dựng một chính sách thuế thu
nhập cá nhân hiện đại để áp dụng trong tương lai ở Việt Nam.
“Trăn trở về thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài lưu trú ngắn hạn
tại Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số 77 ngày 15/11/2009 đề cập đến những trăn trở trong
việc quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài vào Việt Nam làm việc.
Vướng mắc về khái niệm “thu nhập phát sinh tại Việt Nam” chưa thật rõ ràng. Quy định
trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn đối với cơ quan chi trả thu nhập có trụ sở tại Việt
Nam khi trả thu nhập cho cá nhân không cư trú nhưng lại thiếu quy định trách nhiệm của
cá nhân người không cư trú phải kê khai thuế tại cơ quan thuế địa phương nơi cá nhân
đang làm việc, hay khai thuế thông qua cơ quan là bên đối tác Việt Nam
“Lượng hoá sự khác biệt tiền lương giữa các khu vực kinh tế”, Từ Thúy Anh và
Đào Nguyên Thắng, Tạp chí Tài chính số 545 tháng 3 năm 2010. Nhóm tác giả đưa ra
nghiên cứu về sự khác biệt về tiền lương giữa 3 khu vực kinh tế: khu vực Nhà nước, khu
vực tư nhân và khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Giữa các khu vực, có sự khác biệt đáng
kể về đánh giá trình độ giáo dục, kinh nghiệm, về giới... Nếu như khu vực Nhà nước
đánh giá cao trình độ giáo dục của người lao động thì lại đánh giá rất thấp kinh nghiệm,
hay việc căn cứ vào trình độ học vấn để trả lương cho người lao động đang tăng lên ở cả
3 khu vực trong thời gian qua. Một thống kê nữa là tiền lương trả cho người lao động
nam cao hơn lao động nữ ở cả 3 khu vực.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu của các đối tác quốc tế
Hội nhập quốc tế là một thách thức nhưng cũng đem đến nhiều cơ hội cho nền
kinh tế đang chuyển đổi từng bước sang nền kinh tế thị trường và cho các nhà quản lý.
Trong quá trình cải cách hệ thống thuế, Việt Nam nhận được sự tham gia và tài trợ của
các đối tác quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD), Ngân hàng Thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Cơ quan Hợp tác Quốc
tế Nhật Bản (JICA).
12
Các đối tác này đã tiến hành nhiều nghiên cứu khách quan, khoa học và có những
khuyến nghị xác đáng và xây dựng đối với tiến trình cải cách hệ thống thuế của Việt Nam.
Năm 2008, nghiên cứu hệ thống thuế thu nhập cá nhân Việt Nam, các nhà nghiên
cứu John Brondolo, Kiyoshi Nakayama, Frank Bosch, Allan Foubister và Judy Tomaso
thuộc Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đã cho ra mắt Báo cáo “Việt Nam thực hiện thuế thu
nhập cá nhân”. Báo cáo này mô tả các đặc điểm cơ bản của thuế TNCN mới ở Việt
Nam và những ảnh hưởng của nó đối với quản lý thuế, rà soát cách tiếp cận hiện hành
của cơ quan thuế Việt Nam đối với việc quản lý thuế TNCN. Tổng hợp các kinh nghiệm
từ các quốc gia và vùng lãnh thổ, Báo cáo cũng mô tả các quy trình chung về quản lý
thuế TNCN. IMF cho rằng hệ thống thuế có thể đạt được mức độ cao về tuân thủ thuế
TNCN với chi phí tương đối thấp thông qua việc kiểm soát hiệu quả việc khấu trừ thuế
trên tiền lương của các cơ quan chi trả và một hệ thống nộp tờ khai thuế hạn chế.
Liên minh Châu Âu EU bắt đầu một dự án vào tháng 3 năm 2006. Dự án cung
cấp hỗ trợ kỹ thuật về quản lý dự án, dự toán số thu, xây dựng tính liêm chính, trong đó
có thanh tra nội bộ, xây dựng chính sách và pháp luật cho một số sắc thuế và Luật Quản
lý Thuế. Năm 2007, nghiên cứu về một số vấn đề quản lý thuế xung quanh việc giới
thiệu Luật thuế TNCN mới ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Kevin Holmes của Liên minh
Châu Âu đã công bố công trình “Quản lý Luật thuế thu nhập cá nhân mới”. Các vấn đề
được đề cập: đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho NNT; khấu trừ thuế tại nguồn bởi chủ
lao động; kê khai và tính thuế hàng năm của NNT; cơ chế thu thuế, kiểm tra kê khai,
khiếu nại, vi phạm và xử phạt. Các vấn đề về thủ tục cần được giải quyết, chẳng hạn như:
CQT tiếp nhận và xử lý thông tin về NNT, kiểm tra kê khai (post-assessment review),
khiếu nại, và thu nợ thuế. Báo cáo khuyến nghị cơ quan thuế cần đưa ra được một chiến
lược quản lý thuế toàn diện và dài hạn dựa trên cơ sở ban đầu khuyến khích NNT tuân
thủ và sau đó tăng tỉ lệ tuân thủ. Chiến lược quản lý thuế cần đảm bảo trên sự tuân thủ dễ
dàng của NNT.
Ngân hàng Thế giới WB xây dựng một dự án hỗ trợ kỹ thuật 5 năm trị giá hàng
chục triệu đôla bắt đầu từ năm 2007, hỗ trợ cho việc tái cơ cấu Tổng cục Thuế, phân tích
chính sách thuế và Luật Quản lý Thuế, đề xuất cải tiến các quy trình nghiệp vụ thuế, thực
hiện hệ thống quản lý thuế tích hợp và mạng tin học đi kèm. Xem xét, đánh giá tác động
của tiến trình cải cách tới hệ thống thuế ở Việt Nam nhằm thu thập thông tin và đưa ra
nhận định cho quá trình cải cách trong tương lai, nhóm nghiên cứu Gangadha Prasad
Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn của Ngân hàng Thế giới
13
(WB) năm 2011 đã cho ra mắt công trình “Cải cách Thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ
thống Hiệu quả và Công bằng hơn”.
Nghiên cứu đánh giá chính sách của Việt Nam đã được hiện đại hóa theo xu
hướng toàn cầu và khu vực, hỗ trợ hiệu quả cho việc tuân thủ thuế của khu vực tư nhân.
Quá trình cải cách đã tạo ra các điều kiện pháp lý cần thiết cho việc gia nhập WTO với
các bước đi nhằm tăng cường quản lý hệ thống thuế song song với các cải cách chính
sách thuế. Cải cách cơ bản về cơ cấu tổ chức quản lý thuế đã được thực hiện, những chức
năng hoạt động chính đã được hiện đại hóa, và các dịch vụ và hỗ trợ người nộp thuế đã
giúp tăng cường sự tuân thủ tự nguyện với hệ thống thuế và giảm các chi phí tuân thủ.
Kết quả hoạt động thu thuế được cải thiện đáng kể, nguồn thu ròng tăng gần gấp đôi từ
năm 2006 đến năm 2010. Nghiên cứu khuyến nghị cần tiếp tục xây dựng và sử dụng hệ
thống thuế để đảm bảo việc bảo vệ môi trường tốt hơn.
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA với những dự án cung cấp hỗ trợ kỹ
thuật về dịch vụ người nộp thuế, các kỹ thuật thanh tra, và xây dựng năng lực cho Tổng
cục Thuế trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuế quốc tế. Với mục đích tăng cường
môi trường tuân thủ tự nguyện cho người nộp thuế thông qua việc hoàn thiện hệ thống
thuế, các nhà nghiên cứu thuộc Dự án “Cải cách hành chính thuế” của JICA đã khảo sát
đội ngũ công chức thực thi thuế quốc tế của ngành thuế, lập kế hoạch phát triển nguồn
nhân lực thuế quốc tế, thiết kế và triển khai một chương trình đào tạo toàn diện cho công
chức thuế cả về nghiệp vụ, kỹ năng, văn bản pháp quy, tiếng Anh và một số kỹ năng
mềm khác để đáp ứng với nhu cầu về công chức thuế quốc tế trong các kế hoạch 3, 5, 10
năm tới.
JICA cũng tập trung hỗ trợ nhằm tăng cường năng lực của ngành thuế trong việc
quản lý và hỗ trợ các đại lý thuế, từ đó mở rộng khả năng của mạng lưới đại lý thuế trong
việc hỗ trợ người nộp thuế tự nguyện tuân thủ luật thuế.
“Quản lý rủi ro tuân thủ: Quản lý và nâng cao tuân thủ thuế”, tài liệu phát hành
năm 2004 của Uỷ ban các vấn đề về thuế thuộc OECD. Nghiên cứu tình hình thực tiễn
của các cơ quan thuế quốc gia ở một số nước thành viên, OECD thể hiện quan điểm
chung của các chuyên gia về một quy trình hiệu quả để quản lý rủi ro tuân thủ về thuế.
Để đạt được mức độ tuân thủ cao nhất, tài liệu hướng dẫn các cơ quan thuế phải sử dụng
hợp lý nguồn lực hạn chế, đưa ra các quyết định chính xác về cách thức và phương pháp
sử dụng nguồn lực để đạt được kết quả tốt nhất, khuyến khích các cơ quan quản lý thuế
thực hiện quy trình quản lý rủi ro tuân thủ trong tài liệu. Tài liệu hướng dẫn này mô tả
14
từng bước của quy trình chiến lược nhằm xác định và xử lý các rủi ro tuân thủ về thuế, và
các biện pháp giám sát và đánh giá cần thiết để đánh giá tính hiệu lực của các chiến lược
xử lý đã được thực hiện. Bên cạnh việc mô tả các nguyên tắc cơ bản của việc quản lý rủi
ro trên phương diện tuân thủ về thuế, tài liệu này còn đưa ra nhiều ví dụ thực tế rút ra từ
các cơ quan quản lý thu ở các nước thành viên OECD để minh chứng cho các phương
pháp tiếp cận cụ thể và tác động của các phương pháp này.
Cục Thu Nội địa Hoa Kỳ IRS cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong việc xây dựng năng lực
để tiến hành thanh tra công vụ và xây dựng các bảng mô tả công việc cho Tổng Cục Thuế.
1.1.2.3. Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước, về cải cách hành
chính và cải cách thuế
Đề tài “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2000 - 2010” năm 1999, chủ
nhiệm đề tài: Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, thư ký đề tài TS. Đỗ
Thị Thìn, Th.S. Lê Hồng Hải… đánh giá kết quả 10 năm 1990 -1999 đã hợp nhất bộ
máy thu thành công từ 3 cơ quan thu khác nhau là thu quốc doanh, thuế công thương
nghiệp, thu thuế nông nghiệp, xây dựng được hệ thống chính sách vĩ mô, đặc biệt là triển
khai thành công thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp
thay thế thuế lợi tức và cơ chế thu hoạt động đều khắp. Đề tài đưa ra chiến lược cải cách
thuế cho 10 năm tiếp theo nhằm cải cách hệ thống thuế theo hướng hiện đại hóa, tăng
cường hiệu quả trong quản lý thu.
Đề tài “Thuế và cải cách thuế giai đoạn II ở Việt Nam” năm 1996, chủ nhiệm đề
tài: Vũ Quỳnh Hương, các cộng tác viên: TS. Bạch Minh Huyền, TS. Quách Đức Pháp,
đưa ra lý luận cơ bản về thuế, các yêu cầu của một hệ thống thuế tốt: đảm bảo nguồn thu,
công cụ điều tiết vĩ mô, phân phối thu nhập, đồng thời phải đơn giản, cụ thể, dễ làm, dễ
quản lý.
Bên cạnh những đề tài khoa học, các trang web, trang mạng như Chính phủ.vn,
TTHC.vn, ictnews.vn, VNEconomy, VNExpress, các tạp chí chuyên ngành như Thuế
Nhà nước, Tạp chí Tài chính, Thông tin Tài chính... cũng có nhiều nghiên cứu, nhiều bài
viết được công bố.
“Ứng dụng công nghệ thông tin trên diện rộng đáp ứng yêu cầu quản lý thuế
hiện đại” , Tạp chí Thuế Nhà nước, số 10 kỳ 2 tháng 3 năm 2009. Thực hiện minh
bạch hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, hướng tới thực hiện
Chính phủ điện tử, ngành thuế đã lựa chọn giải pháp đột phá: đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin quản lý.
15
“Triển khai ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí Thuế Nhà
nước, số 9 kỳ 1 tháng 3 năm 2009 cho biết: Để hỗ trợ các doanh nghiệp, Tổng cục Thuế
đã nâng cấp và phát triển phần mềm Hỗ trợ kê khai sử dụng công nghệ mã vạch phiên
bản 2.0, nhằm đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ kê khai thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, bắt
đầu từ tháng 2/2009, khi nộp tờ khai có áp dụng công nghệ mã vạch, người nộp thuế
(doanh nghiệp, cá nhân) sẽ sử dụng các mẫu tờ khai tại phiên bản 2.0 thay cho phiên bản
1.3.1 trước đây.
“Vận hành hệ thống cấp mã số thuế cá nhân”, 03/08/2009, Tạp chí Thuế Nhà
nước số tháng 8 năm 2009. Sau nhiều tháng nỗ lực, triển khai, Dự án Ứng dụng Quản lý
thuế thu nhập cá nhân (PIT) đã hoàn tất công tác chuẩn bị phục vụ cho việc đăng ký thuế
2009. Hệ thống cấp mã số thuế (MST) theo giải pháp cấp tập trung đã chính thức vận hành
và cho ra đời lô mã số đầu tiên vào ngày 29/6/2009. Dự án đã nhận được dữ liệu đăng ký
thuế từ các cơ quan thuế, tổ chức trả thu nhập của 63 tỉnh thành trên cả nước. Tác giả dự
kiến đến tháng 10/2009, 10 triệu lao động làm công hưởng lương sẽ được cấp MST và
đảm bảo quản lý được thông tin đăng ký và nộp thuế cho 15 triệu người có MST vào năm
2010 theo yêu cầu của Ban chỉ đạo Trung ương triển khai Luật Thuế TNCN.
“Thủ tục thuế: khoảng cách và cải cách”, Tạp chí Thuế Nhà nước, kỳ 2 tháng 9
năm 2010. Tác giả Lê Khắc đã đưa ra nhận định về khoảng cách lớn giữa trình độ của
ngành thuế nước ta với trình độ khu vực, khoảng cách giữa thủ tục và thực thi thực tế
mặc dù ngành thuế đã có nhiều cải cách. Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng thừa nhận điều
này. Để cải cách thủ tục, yêu cầu cải cách con người thực hiện là một đòi hỏi không thể
bỏ qua. Điều đó đòi hỏi những nỗ lực cải cách mạnh mẽ hơn.
“Ứng dụng công nghệ thông tin trên diện rộng đáp ứng yêu cầu quản lý thuế
hiện đại”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 10 kỳ 2 tháng 3 năm 2009. Thực hiện minh bạch
hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, hướng tới thực hiện Chính phủ
điện tử, ngành thuế đã lựa chọn giải pháp đột phá: đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin quản lý. Theo ước tính, đến cuối 2008 đã có trên 80% số đầu công việc trong toàn
ngành thuế đã được tin học hóa. Tổng cục Thuế đã xây dựng và triển khai các ứng dụng
cho các nhóm bài toán nghiệp vụ, bài toán quản lý nội bộ, xây dựng và triển khai hệ
thống kho cơ sở dữ liệu dùng chung để phục vụ tốt hơn cho công tác chỉ đạo, điều hành,
ra quyết định và công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách trong toàn ngành. Mặt khác,
hệ thống ứng dụng ngành thuế đã được kết nối với một số ngành hải quan, kho bạc, kế
hoạch và đầu tư,... để phối hợp trao đổi thông tin, nâng cao hiệu quả quản lý.
16
“Công nghệ thông tin quyết định sự thành công cải cách thuế”, Tạp chí thuế nhà
nước kỳ 1 số 21, tháng 6 năm 2011, đưa tin về hội nghị ngày 27/5/2011 tại Khánh Hoà
tổng kết công tác ứng dụng công nghệ thông tin ngành thuế giai đoạn 2005-2010 và bàn
kế hoạch triển khai đến 2020. Gần 400 đại biểu tham dự dưới sự chủ trì của thứ trưởng
Bộ Tài chính và Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế. Những số liệu: hệ thống công nghệ
thông tin có tới 1.800 cán bộ, 1.650 máy chủ với 39.595 máy tính (95% CB sử dụng máy
tính cho công việc hàng ngày) đã để lại những dấu ấn của những bước đột phá. Máy tính
và những ứng dụng đã tạo ra môi trường văn minh, thân thiện mà bộ phận một cửa, trang
WEB của ngành và cơ quan thuế các địa phương, Kios thông tin và ứng dụng kê khai mã
vạch 2 chiều là những điểm sáng.
“90% chức năng quản lý thuế đã ứng dụng CNTT”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số
21 (431), ngày 23/5/2013. Tác giả Thanh Mai thông báo đến hết năm 2012, ngành thuế
đã hoàn thành giai đoạn 2 việc mở rộng cơ sở dữ liệu DN tập trung tại Tổng cục Thuế để
toàn ngành khai thác, phục vụ cho công tác quản lý; đáp ứng kịp thời các yêu cầu của
chính sách thuế mới và các quy trình quản lý thuế cải cách; Dự kiến đến năm 2014, toàn
bộ dữ liệu về kê khai, nộp thuế, kế toán thuế, nợ thuế của tất cả người nộp thuế được xử
lý tập trung và lưu giữ tại Tổng cục Thuế. Hệ thống ứng dụng CNTT của ngành thuế
hiện tại đã đáp ứng khoảng 85% nhu cầu xử lý thông tin quản lý thuế và 90% các chức
năng quản lý thuế được ứng dụng CNTT. Thực hiện cung cấp dịch vụ kê khai thuế điện
tử kết hợp đồng bộ với việc cải cách thủ tục kê khai thuế; mở rộng hệ thống gửi tờ khai
qua mạng, kê khai trực tuyến; nộp thuế qua ngân hàng; mở rộng hệ thống cung cấp dịch
vụ kê khai, tra cứu thông tin thuế. Cuối 2012, dịch vụ kê khai thuế điện tử đã được cung
cấp tới 231 nghìn DN, đạt trên 50% DN cả nước; 80% tờ khai thuế của các DN lớn và
vừa trong cả nước đã được nộp qua mạng, đã hoàn thành việc triển khai hệ thống ứng
dụng quản lý thuế TNCN trên diện rộng để xử lý thông tin đăng ký thuế và xử lý tờ khai,
chứng từ và thông tin quản lý thuế của trên 10 triệu cá nhân có thu nhập. Kết quả này đã
góp phần để dịch vụ kê khai thuế qua mạng của ngành thuế được Bộ Thông tin - Truyền
thông xếp hạng mức 4 về dịch vụ công điện tử.,
“Mở rộng thu thuế qua ngân hàng đối với hộ kinh doanh”, web Tạp chí thuế
online, đăng ngày 25 Tháng 3 2013. Thực hiện Luật Quản lý thuế, công tác uỷ nhiệm thu
(UNT) được triển khai trên 63 tỉnh, thành phố ở 92,15% Chi cục Thuế. Đánh giá lại công
tác này, ngành thuế nhận thấy có nhiều hạn chế. Năm 2013, chính sách thuế đối với hộ
kinh doanh thay đổi nên số lượng HKD phát sinh thuế phải nộp hàng tháng hàng, quý
17
giảm đáng kể. Để phù hợp với tiến độ triển khai dự án thu thuế qua NHTM, cơ quan thuế
cũng điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành, tăng cường quản lý HKD về doanh
số, triển khai rộng rãi dự án thu thuế qua NHTM, đảm bảo các HKD đều được cấp mã số
thuế và lập bộ trên các ứng dụng của ngành, rà soát, sắp xếp lại các đội thuế liên xã,
phường tiến tới chấm dứt việc UNT đối với HKD từ 01/01/2014.
“Năm 2013: cải cách thuế theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản
lý”, web Tạp chí Thuế online, đăng ngày 28 tháng 1 năm 2013. Tác giả đã tóm lược các
hoạt dộng xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách thuế năm 2012 và 2013:
tham mưu cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và các Luật thuế cùng các
văn bản hướng dẫn, ban hành Tuyên ngôn ngành thuế Việt Nam. Cơ quan thuế cũng
hoàn thiện công tác quản lý thuế giúp DN tiết giảm công sức, thời gian, chi phí cho việc
tuân thủ pháp luật thuế: Đa dạng hoá các hình thức, biện pháp hỗ trợ, thực hiện đăng ký
thuế, kê khai thuế qua mạng Internet; thực hiện việc giảm tần suất khai thuế; kiện toàn tổ
chức bộ máy, tăng cường đào tạo; xây dựng và áp dụng hệ thống chỉ số đánh giá hoạt
động quản lý thuế.
“Hà Nội sẵn sàng cho kỳ quyết toán thuế 2012”, web Tạp chí Thuế online, đăng
ngày 25 tháng 3/2013. Tác giả đã nêu lên các giải pháp Cục Thuế Hà Nội triển khai
nhằm hướng dẫn và hỗ trợ trên 90.000 DN, 10.000 đơn vị hành chính sự nghiệp chi trả
thu nhập cho người lao động thực hiện quyết toán và nộp các tờ khai quyết toán thuế thu
nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của năm 2012 đúng hạn
trong tháng 3.
Các chính sách thuế mới được phổ biến, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn về
giãn, giảm thuế. Các phương án tiếp nhận hồ sơ quyết toán thuế 2012 được triển khai..
Công tác hỗ trợ được chú trong, gần 30 số điện thoại đường dây nóng được công bố.
Trong giai đoạn cao điểm, việc tiếp nhận hồ sơ được thực hiện tất cả các ngày trong tuần
kể cả thứ 7 và chủ nhật.
“Cục Thuế TP.HCM: Hỗ trợ người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế TNCN
năm 2012”, web Tạp chí Thuế online, đăng ngày 26 tháng 3 2013. Tác giả viết về những
chương trình cải cách, biện pháp hỗ trợ của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh nhằm tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho NNT trong việc thực thi chính sách thuế TNCN cũng như thủ tục
hành chính thuế.
Mặt khác, vấn đề cải cách hành chính công, trong đó có cải cách hành chính thuế
đang được Chính phủ và người dân đặc biệt quan tâm. Có thể điểm qua một số công
trình nghiên cứu, một số bài viết:
18
“Cải cách thủ tục hành chính theo đề án 30: cơ sở thực tiễn khẳng định tính
đúng đắn trong việc huy động sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện và giám sát
việc thực hiện thủ tục hành chính ở nước ta”, Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Tổ trưởng Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục
hành chính của Thủ tướng, web tthc.vn 29/9/2010, khẳng định tính đúng đắn trong việc
huy động sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện và giám sát thực hiện thủ tục hành
chính ở nước ta. Tác giả khẳng định thủ tục hành chính có một vai trò quan trọng trong
đời sống, là công cụ để đưa chính sách và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, cũng
như để người dân và doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời
chỉ ra cải cách thủ tục hành chính gắn với thực hiện cơ chế một cửa, công khai hoá, minh
bạch hoá các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính được rà soát, sửa đổi,
bãi bỏ theo hướng đơn giản hoá, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp.
“Cải cách thủ tục hành chính: cần sự vào cuộc của các doanh nghiệp” (TS. Ngô
Hải Phan - Tổ phó thường trực Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của
Thủ tướng Chính phủ) tác giả cho biết đến 9/2010, Đề án 30 đã hoàn thành giai đoạn 2
về rà soát các thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 Bộ, ngành.
Theo đó, sau khi tiến hành rà soát 5.421 thủ tục hành chính, đã đề xuất sửa đổi, bổ sung
4.146 thủ tục, bãi bỏ 480 thủ tục, đồng thời kiến nghị thay thế 192 thủ tục, đạt tỷ lệ đơn
giản hóa trung bình là 88%. Quan trọng hơn, các phương án cải cách đã được gắn với
việc cắt giảm các chi phí tuân thủ cho cá nhân, tổ chức, bảo đảm việc đạt được chỉ tiêu
cắt giảm 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính do Thủ tướng giao, ứng với gần 30.000
tỷ đồng mỗi năm.
“Cải cách thủ tục hành chính thuế phải song hành với chống thất thu ngân
sách”- Bài viết về kiến nghị của Đoàn giám sát cải cách thủ tục hành chính đã đề xuất tại
phiên họp thứ 35 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 28/9/2010, bên cạnh những kết
quả ngành thuế đạt được trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính, cần triển khai
quyết liệt các biện pháp sửa đổi chính sách, cải tiến các biện pháp tổ chức thu, đảm bảo
công cuộc cải cách thủ tục hành chính thuế phải song hành với tăng cường công tác
thanh, kiểm tra, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế
“Ngành thuế - hải quan: hướng cải cách năm 2010” PC World News, Cải cách
hành chính đối với ngành thuế và hải quan đóng vai trò quan trọng trong phát triển của
nền kinh tế đất nước. Theo báo cáo môi trường kinh doanh hàng năm, các tổ chức quốc
tế xếp thứ hạng về thuế của Việt Nam ở mức 140/182 nước (Singapore thứ 5, Malaysia
19
thứ 21, Thái Lan thứ 82); thời gian doanh nghiệp làm các thủ tục về thuế và các nghĩa vụ
với ngân sách là 1.050 giờ (trong đó bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế chiếm 400 giờ),
trong khi Singapore là 84 giờ, Indonesia 266 giờ, Malaysia 145 giờ, Thái Lan 264 giờ.
Mục tiêu của Bộ Tài chính phấn đấu đến năm 2010 phải giảm được tối thiểu 30% số thủ
tục hành chính đang có. Nâng xếp hạng ngành Thuế đứng thứ 120 thế giới; giảm số giờ
nộp thuế cho doanh nghiệp từ 1.050 giờ hiện nay xuống còn 600 giờ. Giảm thời gian
thông quan xuống còn 1,5 lần so với các nước trong khu vực và đến năm 2011 phải bằng
khu vực. Công tác cải cách hành chính và chống tiêu cực phải được đẩy nhanh, thực hiện
một cách bài bản và quyết liệt hơn.
“Đòi hỏi cải cách thuế ở Việt Nam hiện nay”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày
13 tháng 4 năm 2010. Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài trong nhiều năm chưa có
triển vọng được cải thiện, trong khi lại phải thực hiện các gói kích thích kinh tế quy mô
lớn, đã làm cho thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay lớn hơn bao giờ hết. Bài này
phân tích sự cần thiết phải tiến hành cải cách thuế, những trở ngại trong việc cải cách
thuế ở Việt Nam hiện nay; đưa ra những nguyên lý cơ bản của cải cách thuế và một số
bài học kinh nghiệm.
1.1.2.4. Các nghiên cứu về thực trạng thi hành và kiến nghị sửa đổi Luật thuế
thu nhập cá nhân
“Thuế thu nhập cá nhân còn có những điều chưa hợp lý”, Dân trí, 21 tháng 04
năm 2010, kiến nghị xem xét lại việc tạm thu dưới hình thức khấu trừ thuế 10% từ một
khoản thu nhập phụ là tiền nhuận bút với quan điểm coi trọng và khuyến khích lao động
trí tuệ. Nếu người phải nộp thuế thực sự là những người “độc thân” có thu nhập trên 4
Triệu đồng/tháng thì với cơ chế “tạm thu” từ những khoản trên 500.000 đồng/lần chi trả
đã phát sinh hàng ngàn người chưa đến mức nộp thuế nhưng vẫn có thu nhập bị động
viên vào ngân sách.
Trần Xuân Thắng “Luật Thuế thu nhập cá nhân cần sửa nhiều nội dung cơ bản”,
Tạp chí Thuế nhà nước số 12 (370) ngày 22/3/2012. Tác giả đánh giá bên cạnh 2 ưu
điểm cơ bản: quy định giảm trừ gia cảnh và điều tiết thống nhất thu nhập của người VN
và người nước ngoài, Luật thuế thu nhập cá nhân bộc lộ nhiều bất cập: hiệu quả tài chính
thấp (Chi phí thực hiện luật lớn trong khi nguồn thu cho ngân sách giảm), nghiệp vụ
phức tạp (không bảo đảm tính đơn giản, minh bạch), tác động xã hội (quy định phức tạp,
dễ dẫn đến sự tùy tiện, không công bằng khi áp dụng). Tác giả đưa ra 3 bước đi để khắc
phục tồn tại, đảm bảo mục tiêu công bằng, nâng dần tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong
thu ngân sách.
20
“Chiết trừ gia cảnh nên áp dụng theo lương cơ bản”, Tạp chí Thuế nhà nước số
14 ra ngày 5/4/2012. Tác giả TS Nguyễn Minh Phong đánh giá về dự thảo sửa đổi Luật
thuế thu nhập cá nhân của Bộ Tài chính không có đủ cơ sở vững chắc, nên không nhận
được sự đồng thuận của dư luận xã hội trên nhiều mặt, từ đó đưa ra khuyến nghị cần sớm
thể chế hóa lại mức khởi điểm tính thuế theo hướng vừa tăng mức tính khởi điểm, vừa
tạo linh hoạt trong áp dụng của đơn vị, đối tượng chịu thuế và cơ quan thuế.
“Biểu thuế điều chỉnh tăng theo mức giảm trừ gia cảnh”, Tạp chí Thuế nhà nước
số 16 (374) ngày 19/4/2012. Theo tác giả Nguyễn Thị Cúc, để tạo sự công bằng về mức
điều tiết giữa các loại thuế trực thu, tổng mức điều tiết của thuế TNCN chỉ nên xác định
tương đương với thuế TNDN Biểu thuế nếu không giãn các bậc mà giữ như hiện hành
thì nên tăng mức điều chỉnh bằng tiền của các bậc thuế từ bậc 2 trở lên là 50%, tương
ứng mức tăng GTGC cho NNT (4 triệu lên 6 triệu) và người phụ thuộc (1,6 triệu lên 2,4
triệu); đồng thời co hẹp bậc thuế từ 7 xuống 6 bậc.
“Luật thuế thu nhập cá nhân, kết quả 3 năm, bất cập và giải pháp”,
Vietnamnet.VN 22/06/2012. Ths. Hà Thị Hương Lan đánh giá việc ban hành đầy đủ các
văn bản chính sách đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực thi
các quy định, chế tài nhằm đưa Luật thuế thu nhập cá nhân đi vào cuộc sống. Với kết quả
thu 3 năm, do còn một số bất cập và chưa theo kịp diễn biến phức tạp của thị trường, dự
án Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, bổ sung đã được triển khai nhằm đảm bảo công
bằng trong điều tiết thu nhập, động viên hợp lý thu nhập dân cư, góp phần ổn định, nâng
cao đời sống của người nộp thuế, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất
kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng; đảm bảo không làm ảnh hưởng lớn
đến số thu ngân sách nhà nước; đảm bảo đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo
thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, hiện đại hoá
công tác quản lý thuế. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần
tăng tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực, các nước có điều kiện tương đồng
với Việt Nam, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế.
Trịnh Thị Thu Thủy “Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân: Kiến
nghị từ Cục Thuế TP HCM” Tạp chí Thuế nhà nước số 17+18 (375+376) ra ngày
3/5/3012. Tác giả đánh giá: sau 3 năm thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân với sự chủ
động trong việc đăng ký, kê khai, khấu trừ và nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trên địa
bàn, Cục Thuế TP HCM đã cấp hơn 2,5 triệu mã số thuế thu nhập cá nhân, đưa tỷ trọng
của sắc thuế này so với tổng thu ngân sách trên địa bàn ngày càng tăng, từ 4,7% năm
21
2009 lên 13,2% năm 2011. Từ thực tiễn quản lý cho thấy một số nội dung bất cập của
chính sách thuế thu nhập cá nhân như quy định phức tạp, không đáp ứng yêu cầu cải
cách thủ tục hành chính, tác giả đưa ra 4 kiến nghị: nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 9
triệu đồng/người/tháng; điều chỉnh biểu thuế suất với giãn cách lớn, thuế suất đầu tiên là
3%; cho người Việt Nam được hưởng khoản phụ cấp được trừ như người nước ngoài đối
với khoản học phí cho con và vé máy bay nghỉ phép năm; điều chỉnh phương thức quản
lý thuế, quyết toán thuế đối với hộ cá thể, cá nhân kinh doanh.
Anh Vũ, “Từ 1.7.2013, thu nhập chịu thuế trên 9 triệu đồng mới phải nộp thuế”,
Thanh niên 22/11/2012. Tác giả đưa tin sáng 22.11.2012, Quốc hội nhất trí thông qua
toàn bộ luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi với 444/462 đại biểu tán thành. Theo đó, mức
giảm trừ gia cảnh được nâng lên kể từ ngày 1.7.2013 khi luật này có hiệu lực. Cụ thể
mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm) và
mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng. Như vậy cá nhân
người nộp thuế, từ 1.7.2013 nếu có thu nhập chịu thuế trên 9 triệu đồng mới phải nộp
thuế. Luật mới cũng quy định, trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20%
so với thời điểm luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) có hiệu lực thi hành hoặc thời
điểm điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ
Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản này phù hợp với biến
động của giá tiêu dùng để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo.
Tác giả Ánh Hồng, trong bài “Nhọc nhằn giáo sư xin hoàn thuế” đăng trên Tuổi
trẻ ngày 11/06/2013, đã phản ánh tâm sự bức xúc của giáo sư tiến sĩ, nhạc sĩ cao tuổi
Nguyễn Văn Nam, công tác tại Nhạc viện TP.HCM phải đi lại nhiều lần, mất hơn 2
tháng (từ 2/4 đến 10/6) mới được hoàn thuế, sau khi có những ý kiến từ công luận. Một
điều đáng phải suy ngẫm là tác giả cũng chia sẻ những khó khăn của cơ quan thuế và cơ
quan chi trả: Cục Thuế TP HCM và các chi cục thuế quận, huyện đã nhận hơn 14.000 hồ
sơ hoàn thuế TNCN trong năm tháng đầu năm 2013, trong khi số hồ sơ hoàn thuế cả
năm 2012 chỉ là 10.000. Số lượng hồ sơ tăng theo cấp số nhân nên dù cơ quan thuế đã
tập trung lực lượng giải quyết hồ sơ nhưng khó đảm bảo thời gian theo quy định.
Thanh Xuân, trong 2 bài đăng trên Thanh niên, ngày 12/07/2013 “5 ca sĩ, nghệ sĩ
bị truy thu thêm 1,3 tỉ đồng tiền thuế”, và 24/7/2013: “Đại gia bị truy thu thuế cá nhân”,
phản ánh biện pháp, quyết tâm của Cơ quan thuế TP HCM đấu tranh truy thu thuế của
các ca sỹ, đại gia.
Có thể thấy, xét về tổng quan, thuế thu nhập cá nhân đã được sự quan tâm của
giới học thuật và các phương tiện truyền thông. Nếu những bài báo nóng hổi tính thời sự,
22
phản ảnh sâu sắc lo lắng của nhân dân về nền kinh tế khó khăn, về tính pháp lý của các quy
định, về nền hành chính nước nhà thì các công trình nghiên cứu lại đi sâu phân tích chính
sách hoặc cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân. Chưa có công trình nghiên cứu cả 2
khía cạnh quản lý nhà nước: chính sách và cơ chế quản lý để đi sâu phân tích, chỉ ra tồn tại,
từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân. Xuất
phát từ đánh giá này, tác giả đã thấy hé lộ một khoảng trống cần nghiên cứu.
Nghiên cứu các công trình này, ta thấy các giả thiết lý luận dẫn dắt cho các công
trình này rất phong phú với nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng, cho kết quả
rất tích cực cho việc thiết kế các chính sách, cơ chế quản lý thu, các quy trình quy phạm,
góp phần đổi mới quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong
những năm thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và 4 năm
triển khai thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
1.2. Kết quả rút ra và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Qua những công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các học giả đã hệ thống được
nhiều vấn đề học thuật về thuế, tập trung vào những nghiên cứu về quản lý nhà nước, về
cải cách hành chính và cải cách thuế, nghiên cứu về thực trạng thi hành và kiến nghị sửa
đổi Luật thuế thu nhập cá nhân.
Nếu như các học thuyết không tưởng về thuế, học thuyết thuế đơn nhất, trường
phái bài thuế của các học thuyết cổ điển đặt nền móng thì các học thuyết thuế hiện đại
điển hình như học thuyết về thuế-trao đổi và học thuyết về thuế-đoàn kết, học thuyết về
thuế-bù đắp ngày càng nhận được sự ủng hộ của rất nhiều học giả thuộc lĩnh vực tài
chính công, ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ
thống thuế quốc gia. Ở phương diện nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân, các công trình
trong và ngoài nước cũng đã phân tích sâu sắc các góc độ quản lý nhà nước, hoặc là về
chính sách, hoặc là về cơ chế quản lý thu ngay từ khi thuế thu nhập cá nhân được thi
hành với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh
nghiệp và thuế chuyển quyền sử dụng đất. Đặc biệt, trong những năm gần đây, từ khi thi
hành Luật thuế thu nhập cá nhân, khi các phương tiện truyền thông theo sát quá trình đổi
mới, cải cách hành chính hay thi hành, sửa đổi luật, hàng loạt công trình nghiên cứu và
những bài báo đã có đóng góp lớn lao vào tiến trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. Tham gia tích cực vào cải cách và hoàn thiện hệ
thống thuế Việt Nam, các công trình của các đối tác quốc tế như WB, IMF, EU, OECD,
JICA chiếm vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình này.
23
Tuy đã có rất nhiều tiến bộ so với thưở ban đầu, cả chính sách thuế và cơ chế
quản lý thu thuế thu nhập cá nhân đều còn những tồn tại. Nhìn ra quốc tế, Luật thuế thu
nhập cá nhân của Việt Nam vẫn còn quá nhiều thuế suất, bộ máy hành thu hoạt động
chưa hiệu quả, vận hành chưa thống nhất; hơn 3,2 triệu hộ kinh doanh với thu nhập
thường xuyên không hạch toán rõ ràng nằm trong diện điều chỉnh của Luật gây nhiều
tranh cãi; đánh giá của các đối tác quốc tế về tham nhũng trong hệ thống thuế vẫn còn
nặng nề… Những yếu tố trên đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách, những nhà
quản lý về sự cấp thiết của một công cuộc cải cách mới cho ngành thuế nhằm hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
Phải nói rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu về Thuế thu nhập cá nhân, quản
lý nhà nước, cải cách hành chính về thuế… Tuy nhiên một công trình nghiên cứu mang
tính hệ thống về quản lý nhà nước đối với Thuế thu nhập cá nhân, từ lý luận đến khảo sát
về thực trạng, rồi đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp thì vẫn chưa có
công trình nào. Vì vậy đề tài mà NCS lựa chọn không trùng lắp với các kết quả nghiên
cứu đã được công bố.
Kết luận chương 1
Qua tiến trình cải cách hệ thống thuế, có thể thấy, ngành thuế đã có rất nhiều cố
gắng trong hơn hai thập kỷ qua, và thành tựu đạt được là không thể phủ nhận. Từ chỗ bị
kỳ thị, hoặc không được hiểu đúng về vai trò, vị trí, giá trị trong xã hội, đến nay, thuế đã
trở thành một khái niệm quen thuộc, giữ vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế - chính
trị - xã hội quốc gia. Cùng với sự tôn vinh các tập đoàn, các doanh nhân có nhiều đóng
góp về thuế, một thói quen tính toán số thuế phải nộp cho từng thương vụ, từng khoản
thu nhập đã hình thành đối với nhiều tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh khủng hoảng
toàn cầu, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, việc cải cách hệ thống thuế, hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân trở thành yêu cầu cấp thiết.
24
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.1. Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và quan niệm quản lý
nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân
2.1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
a) Khái niệm thuế thu nhập
“Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập phát sinh
của cơ sở sản xuất kinh doanh (các thể nhân hoặc các pháp nhân) trong một khoảng thời
gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh” [54, tr.185]. Tính chất của loại thuế này thể
hiện ở sự thống nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế, người nộp thuế đồng thời
cũng là người thực sự phải gánh chịu khoản thuế này.
b) Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
“Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được
của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm) không phân biệt
nguồn gốc phát sinh thu nhập” [54, tr.330].
Cá nhân gánh chịu khoản thuế này khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho
chủ thể khác. Việc trích một phần thu nhập của mình nộp thuế cho Nhà nước mọi người
đều phải chấp nhận vì việc nộp thuế cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của
mỗi công dân. Thực tiễn, việc nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập đã được thực hiện
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Mục tiêu đặt ra của thuế thu nhập cá nhân là nhằm điều tiết thu nhập các thể nhân,
đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội nên việc đánh thuế thường dựa
trên nguyên tắc theo khả năng của đối tượng nộp thuế.
2.1.1.2. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Là một sắc thuế trong hệ thống thuế, ngoài những đặc điểm chung, thuế thu nhập
cá nhân cũng có những đặc điểm riêng sau đây:
- Thuế TNCN là thuế trực thu chỉ đánh vào người có thu nhập đến mức phải
chịu thuế. Thuế TNCN là thuế có độ nhạy cảm cao, vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích
cụ thể của người nộp thuế và liên quan trực tiếp đến hầu hết mọi cá nhân và thường được
gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
25
- Thuế TNCN mang tính lũy tiến cao (thu nhập càng cao càng phải nộp nhiều
thuế). Thuế TNCN đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế và thuế suất của nó
thường được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa
các đối tượng trả thuế. Là sắc thuế đảm bảo công bằng theo chiều dọc (khắc phục
nhược điểm của sắc thuế gián thu là chỉ công bằng theo chiều ngang), nghĩa là người
có thu nhập cao (người giàu) sẽ phải nộp thuế nhiều, người nghèo có thu nhập thấp
không phải nộp thuế.
- Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ. Thuế TNCN không cấu
thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá
cả hàng hóa, dịch vụ.
2.1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng trong tổng thu NSNN. Nó kiểm
soát thu nhập, góp phần hạn chế tham nhũng, đảm bảo công bằng xã hội, rút ngắn
khoảng cách giàu nghèo. Tác dụng điều chỉnh, phân phối thu nhập được thể hiện với việc
nhà nước huy động thu nhập của người có thu nhập cao để chi cho các chương trình phúc
lợi công cộng, phục vụ trở lại xã hội, chuyển bớt một phần thu nhập của các tầng lớp
giàu có sang các tầng lớp nghèo, mức sống thấp.
Thuế thu nhập cá nhân quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc tăng
cường hay giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, tác động tới tổng cầu xã
hội, từ đó co hẹp hay kích thích kinh tế. Sử dụng chính sách thuế thu nhập cá nhân, nhà
nước có thể chi phối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng cho phù hợp với đường lối kinh
tế của chính phủ.
Chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý kích thích người lao động tăng thu nhập
thông qua cơ chế tuyên dương khen thưởng kịp thời, động viên sự đóng góp của người
giàu để xây dựng đất nước, là công cụ để nhà nước thực hiện kiểm soát, thống kê thu
nhập của dân cư.
2.1.1.4. Những nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân
a) Người nộp thuế
Người nộp thuế theo quy định của luật thuế TNCN là thể nhân hoặc pháp nhân có
trách nhiệm nộp thuế TNCN cho Nhà nước. Nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp
thuế chính là người chịu thuế, nhưng cũng có trường hợp người nộp thuế không phải là
người chịu thuế như trường hợp cá nhân/cơ quan chi trả có trách nhiệm khấu trừ và nộp
thay cho người chịu thuế.