1
LỜI MỞ ðẦU
1. Tính cấp thiết của ñề tài luận án
Thu hồi ñất nông nghiệp phục vụ mục ñích CNH, HðH và ðTH diễn ra
mạnh mẽ ñã mang ñến những thay ñổi lớn ở các vùng nông thôn Việt Nam. Báo cáo
từ những ñề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy sau khi thu
hồi ñất nông nghiệp, ngân sách của ñịa phương tăng lên, cơ sở hạ tầng nông thôn
ñược cải thiện, thu nhập bình quân ñầu người của ñịa phương tăng lên hàng năm, tỉ
lệ hộ nghèo giảm ñi ñáng kể. Tuy nhiên thu hồi ñất làm giảm ñi nhanh chóng diện
tích ñất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp ñến việc làm của các hộ nông
dân và ñe dọa an ninh lương thực. Trong 10 năm từ năm 2001 ñến 2010, trung bình
mỗi năm khu vực nông thôn nước ta phải nhường 50 nghìn ha ñất nông nghiệp.
Theo tính toán của các nhà phân tích, mỗi ha ñất nông nghiệp bị thu hồi sẽ làm cho
khoảng 10 người lao ñộng mất việc làm; và với nửa triệu ha ñất bị thu hồi từ năm
2001-2010, số lao ñộng mất việc làm lên ñến hàng triệu người.
Hà Nội có tổng diện tích ñất lên ñến 334.852 ha, trong ñó diện tích ñất nông
nghiệp chiếm tới gần 52% diện tích ñất của toàn Thành phố. ðể phục vụ cho quá
trình CNH- HðH thì việc thu hồi ñất nông nghiệp là ñiều không thể tránh khỏi và
ñang diễn ra rất mạnh mẽ. Trong giai ñoạn 5 năm từ 2008 - 2012, Thành phố Hà
Nội ñã ra quyết ñịnh thu hồi ñất của hơn 2000 dự án với tổng diện tích ñất thu hồi là
16 382.8 ha, trong ñó ñất nông nghiệp chiếm khoảng 80%. Tính trung bình hàng
năm trên ñịa bàn Hà Nội diện tích ñất thu hồi khoảng 3200 ha trong ñó 80% là ñất
nông nghiệp, kéo theo khoảng 30 nghìn lao ñộng nông nghiệp mất việc làm trong ñó
phần lớn là lao ñộng trẻ, nhưng chỉ khoảng 13% lao ñộng thuộc hộ có ñất bị thu hồi
tìm ñược việc làm phi nông nghiệp tại ñịa bàn, 20% thất nghiệp hoàn toàn, 67% thất
nghiệp từng phần hoặc chỉ có việc làm nông nghiệp vào thời vụ. Làm việc tại các
doanh nghiệp trên ñịa bàn và ñi lao ñộng nước ngoài luôn luôn là mơ ước của thanh
niên vùng thu hồi ñất. Tuy nhiên, yêu cầu cao về trình ñộ, ñặc biệt là học vấn, ñiều
kiện và kỷ luật lao ñộng chặt chẽ là những nguyên nhân chủ yếu của việc rất ít lao
ñộng trong các hộ nông dân vùng thu hồi ñất tìm ñược việc làm trong các doanh
2
nghiệp và thông qua XKLð. Một số lao ñộng ñược nhận vào làm nhưng do không
chấp hành kỷ luật lao ñộng hoặc do công ty bị phá sản, chấm dứt hợp ñồng lao ñộng
phải quay trở lại với nghề nông hoặc tìm việc làm thuê; một số thanh niên không tìm
ñược việc làm dính líu ñến tệ nạn xã hội.
Trong những năm tiếp theo, khi mà các KCN như Bắc Thường Tín, Phụng
Hiệp, Nam Phú Cát… ñược hoàn thành và ñi vào hoạt ñộng thì diện tích ñất giành
cho hoạt ñộng nông nghiệp sẽ còn giảm, tỷ lệ lao ñộng tham gia làm việc trong khu
vực nông nghiệp tất yếu cũng giảm theo và có nguy cơ thất nghiệp. Vấn ñề việc làm
cho hơn 1,2 triệu thanh niên nông thôn mà phần không nhỏ những ñối tượng này có
trình ñộ văn hóa, chuyên môn thấp, chưa ñáp ứng ñược những yêu cầu ngày càng
cao của thị trường lao ñộng ñang trở thành vấn ñề bức xúc. Có thể nói, chính sách
việc làm cho thanh niên nông thôn tại các vùng thu hồi ñất nói chung và thành phố
Hà Nội nói riêng còn nhiều bất cập làm cho kết quả của chương trình chưa cao, cơ
cấu, chất lượng và tính bền vững trong việc làm còn rất hạn chế, như: (i) Chính
sách ñào tạo nghề cho thanh niên nông chưa phù hợp, tác dụng còn thấp. Công
tác truyền thông, tư vấn, hướng nghiệp cho thanh niên tuy có làm nhưng chưa
hiệu quả; (ii) Chính sách hỗ trợ tín dụng cho thanh niên ñể tìm và tự tạo việc làm chưa
ñủ mạnh và trên thực tế triển khai rất khó khăn. Các nguồn vốn cho thanh niên nông
thôn vay với lãi suất ưu ñãi ñể phát triển sản xuất kinh doanh còn bé nhỏ, thủ tục vay
khá phức tạp; (iii) Chính sách phát triển DN và làng nghề nông thôn ñể tạo việc làm tại
chỗ ít phát huy tác dụng, số thanh niên ñịa phương ñược tuyển dụng vào làm việc tại
các KCN, DN còn hạn chế, cơ cấu lao ñộng chuyển dịch chậm; (iv) Chính sách xuất
khẩu lao ñộng ñã ñược triển khai nhưng kết quả việc làm và thu nhập của thanh niên
qua XKLð còn thấp…
Xuất phát từ thực tiễn ñó, tác giả lựa chọn ñề tài “Chính sách việc làm cho
thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội” ñể làm ñề tài luận án tiến sĩ.
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan
ñến ñề tài luận án
Cho ñến nay ñã có khá nhiều công trình ở nước ngoài cũng như trong nước
nghiên cứu về việc làm nói chung và việc làm của thanh niên nói riêng.
3
2.1. Ở nước ngoài: Các công trình có liên quan có thể chia thành 2 nhóm, ñó
là các nghiên cứu mang tính lý thuyết về việc làm nói chung và các nghiên cứu về
việc làm của thanh niên.
Về việc làm nói chung: Nghiên cứu về việc làm thường ñược các tác giả
nước ngoài ñề cập ñến trong các lý thuyết kinh tế của mình trong mối quan hệ với
thị trường và Nhà nước:
* Các tác phẩm kinh tế học cổ ñiển ñề cập ñến việc làm trong nền kinh tế ñã
ñưa ra hai ñịnh ñề: (1) Tiền công bằng sản phẩm biên của lao ñộng; (2) Khi một
khối lượng lao ñộng nhất ñịnh ñược sử dụng, ñộ thỏa dụng của tiền công bằng ñộ
phi thỏa dụng biên của số lượng việc làm ñó.
ðịnh ñề thứ nhất cho chúng ta một ñường cầu việc làm. ðịnh ñề thứ hai cho
chúng ta một ñường cung và số lượng việc làm ñược xác ñịnh ở ñiểm mà tại ñó, ñộ
thỏa dụng của sản phẩm biên cân bằng với ñộ phi thỏa dụng của việc làm biên. Do
ñó, có bốn phương thức có thể làm tăng số việc làm: (i) Cải tiến về mặt tổ chức
hoặc về mặt dự báo nhằm giảm bớt sự thất nghiệp do “không ăn khớp”; (ii) Hạ thấp
ñộ phi thỏa dụng biên của lao ñộng ñược thể hiện qua tiền lương thực tế mà với
mức lương ñó thì có thêm lao ñộng ñược nhận vào làm việc, như vậy sẽ giảm bớt
thất nghiệp “tự nguyện”; (iii) Tăng thêm năng suất biên vật chất của lao ñộng trong
các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa cho người ăn lương (là những hàng hóa
mà ñộ thỏa dụng của tiền lương danh nghĩa căn cứ vào giá cả của nó); (iv) Tăng giá
các hàng hóa không dành cho người ăn lương so với giá các hàng hóa dành cho
người ăn lương; kết hợp với sự chuyển hướng tiêu dùng của những người không
làm công ăn lương từ các loại hàng hóa dành cho người ăn lương sang các loại hàng
hóa không dành cho người ăn lương.[117]
* Jhon Moynard Keynes trong General Theory on Employment, Interes and
(1936). Tác phẩm ñã ñược dịch ra tiếng Việt là Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi
suất và tiền tệ [115]
Về cơ bản học thuyết Keynes xem xét việc xác ñịnh sản lượng quốc dân và
việc làm trên cơ sở tổng mức cầu ñối với các hàng hóa, dịch vụ và một nền kinh tế
có tiềm năng sản xuất trong ñiều kiện cụ thể về nguồn lực và công nghệ của chính
4
nó. Giải pháp nhằm làm giảm hoặc loại trừ thất nghiệp của Keynes là: Tăng tổng
cầu thông qua việc tăng trực tiếp chi tiêu của chính phủ hoặc thông qua các chính
sách của Chính phủ khuyến khích gián tiếp ñầu tư tư nhân (lãi suất cho vay thấp, trợ
giá cho ñầu tư, giảm thuế...).
Nhưng mô hình việc làm của Keynes có một số hạn chế: Một là nó ñược dựa
trên những giả ñịnh, ñúng cho các nước, nhưng lại không ñúng với các nước ñang
phát triển; Hai là việc tạo thêm công ăn việc làm cho khu vực thành thị bằng cách
tăng mức tổng cầu sẽ có thể thu hút thêm nhiều di cư từ các vùng nông thôn bỏ ra
thành thị kiếm sống, gây áp lực lên công tác quản lý ñô thị.
* Mô hình “hai khu vực cổ ñiển” của A.Lewis [117] giải thích mối quan hệ
giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trưởng. Mô hình nghiên cứu
sự di chuyển lao ñộng từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Trong
khu vực nông nghiệp, năng suất lao ñộng và thu nhập của người lao ñộng nông
nghiệp thấp, lượng lao ñộng trong xã hội ngày càng tăng, nên có sự di chuyển
nguồn lao ñộng dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Chính
vì khu vực nông nghiệp mang tính trì trệ nên cần giảm dần quy mô và tỷ trọng ñầu
tư, thay vào ñó, cần xây dựng và ñầu tư vào khu vực công nghiệp ñể thu hút người
lao ñộng. Mô hình ñược ñề ra dựa trên các giả ñịnh: (1) Tỷ lệ lao ñộng thu hút sang
khu vực công nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốn tích lũy ở khu vực này (thâm dụng
vốn, hoặc ñầu tư nơi khác); (2) Khu vực thành thị không có thất nghiệp; (3) Có thể
giải quyết việc làm cho người lao ñộng ở nông thôn mà không cần phải chuyển ra
thành phố; (4) Tiền lương công nghiệp không tăng (thực tế vẫn tăng do nhu cầu về
lao ñộng có tay nghề và áp lực từ các tổ chức công ñoàn).
* Mô hình kinh tế tân cổ ñiển [8] coi công nghệ là yếu tố trực tiếp quyết ñịnh
tăng trưởng và giúp tối ña hóa lợi nhuận. ðối với khu vực nông nghiệp, nếu áp dụng
các tiến bộ công nghệ, lao ñộng có thể cải thiện, nâng cao chất lượng ruộng ñất,
giúp tăng cả về chất lượng và số lượng sản phẩm. ðầu tư làm tăng năng suất nông
nghiệp khiến việc dịch chuyển lao ñộng khỏi nông nghiệp không làm tăng giá nông
sản, do ñó ñể tránh bất lợi nên ñầu tư vào cả nông nghiệp ngay từ ñầu. ðối với khu
5
vực công nghiệp, việc áp dụng các tiến bộ công nghệ dẫn ñến chủng loại và chất
lượng sản phẩm làm ra ngày càng tăng, vì vậy, các chủ lao ñộng phải trả tiền công
cho người lao ñộng cao hơn. ðiều này buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn công
nghệ phù hợp (công nghệ sử dụng nhiều vốn hay công nghệ sử dụng nhiều lao
ñộng). Theo mô hình này, việc hình thành việc làm thường là sự tác ñộng ñồng thời
của ba yếu tố: (1) nhu cầu thị trường; (2) yếu tố cần thiết ñể sản xuất ra sản phẩm,
dịch vụ: sức lao ñộng (sức lực và trí lực), công cụ sản xuất, ñối tượng lao ñộng; (3)
môi trường xã hội xét cả góc ñộ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội.
Có thể mô hình hoá quy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
Y = f (C, V, X)
Trong ñó, Y: Số lượng việc làm ñược tạo ra; C: Vốn ñầu tư; V: Sức lao ñộng;
X: Thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Công thức trên, quan trọng nhất là các yếu tố vốn ñầu tư (C) và sức lao ñộng
(V). Mối quan hệ giữa C và V phụ thuộc vào tình trạng công nghệ và tồn tại dưới
dạng khả năng. ðể chuyển hoá khả năng ñó thành hiện thực ñòi hỏi những ñiều kiện
kinh tế- xã hội nhất ñịnh thông qua hệ thống chính sách nhà nước.
* Mô hình Harry T. Oshima [59]
Harry T.Oshima là nhà kinh tế người Nhật, ông nghiên cứu mối quan hệ giữa
hai khu vực dựa tren những ñặc ñiểm khác biệt của cac nước Châu Á so với cac
nước Âu – Mỹ, ñó là nền nông nghiệp có tính thời vụ cao. Ông ñồng ý với Lewis
rằng khu vực nông nghiệp có dư thừa lao ñộng, nhưng theo ông thì ñiều ñó không
phải lúc nào cũng xẩy ra, ñặc biệt là lúc thời vụ căng thẳng thì khu vực nông nghiệp
còn thiếu lao ñộng. Oshima ñã ñưa ra các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm tăng
trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm cho người lao ñộng. Theo mô hình này, các
nội dung hỗ trợ tạo việc làm chủ yếu là: Thứ nhất, tạo việc làm cho lao ñộng nhàn rỗi
theo hướng tăng cường ñầu tư phát triển nông nghiệp, ña dạng hóa sản xuất nông
nghiệp, xen canh, tăng vụ, trồng thêm rau quả, mở rộng chăn nuôi, trồng cây lâm
nghiệp. ðể nâng cao năng suất trong nông nghiệp, Nhà nước cần hỗ trợ phát triển hệ
thống tưới nước, vận tải nông thôn, giáo dục và ñiện khí hóa nông thôn; cải tiến các tổ
chức dịch vụ, tổ chức tín dụng; tăng xuất khẩu nông sản thu ngoại tệ, nhập khẩu máy
6
móc phục vụ nông nghiệp. Thứ hai, Nhà nước cần hướng tới tạo việc làm ñầy ñủ cho
lao ñộng bằng cách ñầu tư phát triển ñồng thời nông nghiệp và công nghiệp (theo
chiều rộng) như: phát triển các ngành sử dụng nhiều lao ñộng ñể GQVL; phát triển
ngành công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa; phát triển ngành tiểu thủ công
nghiệp (nông cụ cải tiến); phát triển ngành công nghiệp sản xuất phân bón, giống và
các yếu tố ñầu vào; phát triển logistic ñồng bộ từ khâu sản xuất, vận chuyển, bán
hàng; phát triển nông nghiệp tạo nhu cầu tăng quy mô công nghiệp và dịch vụ. Các
biện pháp này hướng tới tăng trưởng việc làm nhanh hơn tăng trưởng lao ñộng,
khiến thu nhập thực tế của người lao ñộng tăng lên.
Về việc làm của thanh niên:
Từ sau năm 1970 của thế kỷ XX, nhiều quốc gia trên thế giới nhờ tiếp cận
kịp thời với những tiến bộ khoa học và công nghệ nên ñã ñạt ñược những thành tựu
khá rực rỡ trong quá trình CNH, HðH và phát triển KT- XH của ñất nước, trong ñó
nổi bật là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Sự phát triển nhanh chóng ñó cũng ñồng
thời buộc người lao ñộng phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình ñộ chuyên môn
nghiệp vụ. Người lao ñộng nào (kể cả già và trẻ) không theo kịp ñược sự biến ñổi
của công nghệ sẽ bị loại ra khỏi quá trình hoạt ñộng của nền kinh tế, trở thành
những người thất nghiệp; ñây là áp lực rất lớn ñối với lao ñộng thanh niên. Chính vì
thế, từ năm 1980 trở ñi ñã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lao ñộng
việc làm trong ñiều kiện phát triển mới, trong ñó có những công trình dành riêng
nghiên cứu về lực lượng lao ñộng trẻ. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Năm 1980, Makeham. P ñã cho ra mắt cuốn sách “Youth unemployment”,
nói về tình trạng thất nghiệp của giới trẻ ở các quốc gia, kể cả các quốc gia có nền
kinh tế chậm phát triển, ñang phát triển hay ñã phát triển, và khuyến cáo mỗi quốc
gia cần có chính sách ñào tạo nghề cho giới trẻ phù hợp với ñiều kiện, hoàn cảnh cụ
thể về kinh tế - xã hội của quốc gia mình. [120]
- Năm 1982, Lynch L.M và Richardson R ñã xuất bản quyển sách
“Unemployment of young workers in Britain” [119], nói về tình trạng thất nghiệp
của những lao ñộng trẻ ở Anh, nhất là trong ñiều kiện ñổi mới kỹ thuật và công nghệ
sản xuất theo hướng hiện ñại. Công trình nghiên cứu cũng ñã kiến nghị với Chính
7
phủ và giới trẻ Anh những ñịnh hướng chủ yếu ñể khắc phục tình trạng trên.
- Cũng trong năm 1982, Layard. R ñã cho xuất bản quyển sách “Youth
unemployment in Britain and the United States compared”[118 ]. Công trình này ñã
nghiên cứu, so sánh tình trạng thất nghiệp của giới trẻ ở hai quốc gia có nền kinh tế
phát triển cao và cũng khá lâu ñời ở hai châu lục khác nhau là Anh và Mỹ. Công
trình nghiên cứu này ñã cho thấy, nền kinh tế càng hiện ñại, việc thu hút lao ñộng
vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh càng ñòi hòi khắt khe, do ñó, muốn cho giới
trẻ có việc làm phù hợp, có thu nhập cao, phải quan tâm ñúng mức ñến ñào tạo
nghiêm túc, ñào tạo có bài bản ñối với họ.
- Năm 1995 O’Higgin ñã cho ra ñời tác phẩm “Young people in and out of
the labour market”. Công trình này ñã ñi sâu phân tích những thuận lợi và khó
khăn, thách thức của giới trẻ trong việc tìm kiếm những việc làm và giữ vững vị trí
việc làm ñã có trong ñiều kiện tác ñộng mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu thế
hội nhập ñến sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới.[122]
- Năm 1997 O’Higgin lại cho xuất bản công trình nghiên cứu “The
challenges of youth unemployment”, nói về tình trạng thất nghiệp của giới trẻ, một
thách thức lớn ñối với nhiều quốc gia hiện nay, nhất là các quốc gia có nền kinh tế
chậm phát triển và ñang phát triển.[123]
- Năm 1998 Manning.C ñã xuất bản ấn phẩm “Choosy Youth or unwanted
youth - a survey or unemployment” [121] nói về sự lựa chọn, sự mong muốn của
giới trẻ hiện nay trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp, nhằm tránh khỏi tình trạng
thất nghiệp ñang ñe dọa thường xuyên do những biến ñộng khó lường của sự phát
triển nền kinh tế thế giới, cũng như nền kinh tế của từng nước…
Các công trình nghiên cứu của các học giả nói trên ñề cập về việc làm của
ñối tượng lao ñộng thanh niên trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh
chóng và toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu không thể ñảo ngược, ñem lại nhiều bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam trong ban hành chính sách việc làm cho thanh niên,
nhất là thanh niên nông thôn mất việc làm do bị thu hồi ñất phục vụ CNH, HðH.
2.2. Nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam thời gian qua cũng ñã có khá nhiều công trình nghiên cứu và bài
8
viết ñề cập ñến vấn ñề việc làm, trong ñó có thể phân thành nhóm 3 nội dung chủ
yếu sau: Việc làm và chính sách việc làm nói chung; Việc làm cho thanh niên; Việc
làm cho người nông dân có ñất bị thu hồi.
(i) Về việc làm và chính sách việc làm nói chung.
Nổi bật là công trình nghiên cứu "Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt
Nam” (1997), NXB Chính trị quốc gia) của hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần
Hữu Trung. Nghiên cúu này phân tích toàn diện các chính sách giải quyết việc làm
trong nền kinh tế Việt Nam những năm cuối thế kỉ 20. Tác giả trình bày rộng hầu
hết các vấn ñề liên quan ñến các chính sách giải quyết việc làm và ñề xuất các giải
pháp. Tuy nhiên công trình này không ñề cập riêng chính sách việc làm cho nhóm
ñối tượng thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.[45]
(ii) Về việc làm và chính sách việc làm cho thanh niên.
Năm 2005, Nhà xuất bản Lao ñộng - Xã hội ñã cho ra mắt quyển sách “Thị
trường lao ñộng và ñịnh hướng nghề nghiệp cho thanh niên” của Nguyễn Hữu
Dũng. Công trình nghiên cứu này ñã phân tích sâu sắc các nội dung có liên quan
ñến lý luận về thị trường lao ñộng, ñịnh hướng nghề nghiệp cho thanh niên và mối
quan hệ với thị trường lao ñộng; thực trạng thị trường lao ñộng ở nước ta cũng như
thực trạng ñịnh hướng nghề nghiệp cho thanh niên thời gian qua; dự báo cung cầu
của thị trường lao ñộng, ñịnh hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh
niên. Có thể nói ñây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về thị trường lao ñộng
và ñịnh hướng nghề nghiệp cho thanh niên của nước ta.[44]
Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường ðại học KTQD, ñã phân tích
và ñánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường ñang hội nhập quôc tế, ñưa ra kết luận là khả năng này ở thanh
niên Việt Nam còn chưa cao, từ ñó ñề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm
tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên.[42]
iii) Về việc làm và chính sách việc làm cho nông dân bị thu hồi ñất.
Sau ðại hội ðảng Toàn quốc lần thứ VIII (1986), ñất nước ta bắt ñầu thời kỳ
9
phát triển mới. Việc thu hồi ñất nông nghiệp phục vụ mục ñích CNH, HðH và ñô
thị hóa diễn ra rất mạnh mẽ. Gắn liền với thu hồi ñất, một bộ phận không nhỏ lao
ñộng nông nghiệp, trong ñó có lao ñộng thanh niên mất việc làm. Trước tình hình
ñó, ðảng và Nhà nước ñã có khá nhiều chính sách nhằm giúp người dân có ñất bị
thu hồi tìm kiếm việc làm, nhanh chóng ổn ñịnh cuộc sống. ðồng thời nhiều công
trình ñã tập trung nghiên cứu sâu vấn ñề này.
Năm 2007 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ñã cho xuất bản công trình
nghiên cứu do Chính phủ giao Trường ðại học Kinh tế Quốc dân chủ trì, GS.TSKH
Lê Du Phong là chủ nhiệm ñề tài cấp nhà nước: “Thu nhập, ñời sống, việc làm của
những người có ñất bị thu hồi ñể xây dựng các khu công nghiệp, khu ñô thị, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia”. Công
trình nghiên cứu này ñã trình bày khá rõ cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan ñến
thu nhập, ñời sống, việc làm của những người có ñất bị thu hồi ñể xây dựng các
KCN, khu ñô thị, kết cấu hạ tầng KT-XH, các công trình công cộng phục vụ lợi ích
quốc gia. ðặc biệt, công trình nghiên cứu ñã tập trung phân tích một cách sâu sắc và
toàn diện thực trạng thu nhập, ñời sống và việc làm của người có ñất bị thu hồi trên
phạm vi cả nước. Trên cơ sở ñó ñã ñưa ra các quan ñiểm và một hệ thống giải pháp
toàn diện, ñồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi ñể giải quyết việc làm, bảo
ñảm thu nhập và ñời sống của những người có ñất bị thu hồi, trong ñó có sự quan
tâm thỏa ñáng ñến ñội ngũ lao ñộng ở lứa tuổi thanh niên. [33]
Nguyễn Văn Nhường (2011) ñã bảo vệ Luận án tiến sĩ tại trường ðại học
KInh tế quốc dân Hà Nội với ñề tài: ''Chính sách an sinh xã hội với người nông dân
sau khi thu hồi ñất ñể phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)"
ðề tài ñi sâu phân tích những nội dung lý luận về chính sách ASXH ñối với nông
dân bị thu hồi ñất ñể xây dựng các KC, ñồng thời ñánh giá thực trạng ñời sống
người nông dân bị thu hồi ñất nông nghiệp qua nghiên cứu tình huống của tỉnh Bắc
Ninh. Kết quả nghiên cứu của ñề tài ñã cho thấy sự cần thiết phải bảo ñảm ASXH
trong ñó có việc làm cho người nông dân bị thu hồi ñất trong quá trình CNH. Bằng
mô hình SWOT ñề tài ñã tổng hợp những ñiểm mạnh, những ñiểm yếu và nguyên
10
nhân, từ ñó ñề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách ASXH ñối với
người nông dân bị thu hồi ñất nông nghiệp ñể xây dựng các KCN. [48]
ðề tài khoa học cấp Bộ (2009) “Việc làm của nông dân trong quá trình
CNH, HðH vùng ñồng bằng sông Hồng ñến năm 2020” do Viện Kinh tế- Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện, TS Trần Minh Ngọc chủ nhiệm. ðề tài ñã
phân tích thực trạng việc làm của nông dân vùng ñồng bằng sông Hồng từ năm
2000-2007, ñánh giá tác ñộng của quá trình CNH, HðH ñến thay ñổi cơ cấu việc
làm; tác ñộng của thị trường ñến việc làm của nông dân vùng ñồng bằng sông sông
Hồng; vai trò của Nhà nước, các chủ thể tạo việc làm và người lao ñộng trong
GQVL vùng ñồng bằng sông Hồng. ðặc biệt ñã phân tích tác ñộng của một số chính
sách liên quan ñến tạo việc làm cho nông dân; dự báo tốc ñộ tăng cung- cầu lao
ñộng của vùng ñồng bằng sông Hồng dưới tác ñộng của CNH, HðH và hội nhập
kinh tế quốc tế. Từ ñó khuyến nghị các giải pháp và chính sách nhằm GQVL, tăng
thu nhập cho nông dân cho ñến năm 2020 như: ñiều chỉnh cơ cấu ñầu tư; phát triển
các ngành kinh tế nhằm GQVL; các giải pháp nâng cao năng lực cho người lao
ñộng ñể tăng cơ hội tìm kiếm việc làm; ñặc biệt là các giải pháp hoàn thiện chính
sách của Nhà nước về việc làm cho người nông dân. [88].
Báo Nhân dân từ ngày 10-13/5/2005 có loạt bài của Trung Chính - Trầm Khê
về: “ðời sống và việc làm của những người nông dân vùng bị thu hồi ñất”. Tác giả
ñã khảo sát bước ñầu tình hình ñời sống và việc làm của người nông dân vùng thu
hồi ñất ở một số tỉnh có tốc ñộ CNH nhanh như Bình Dương, Vĩnh Phúc, Hưng
Yên...; nêu lên những khó khăn, bức xúc của người nông dân sau khi Nhà nước thu
hồi ñất. Tác giả khẳng ñịnh CNH, ðTH là xu thế phát triển tất yếu, tuy nhiên trong
quá trình thực hiện do chưa có kinh nghiệm nên ñã nảy sinh một số hạn chế, nhất là
việc ổn ñịnh ñời sống và việc làm cho nông dân vùng bị thu hồi ñất. Nhóm tác giả
này nêu 4 kiến nghị, trong ñó ñáng lưu tâm là hai kiến nghị sau: (1) ðề nghị ðảng,
Nhà nước có chủ trương, chính sách cụ thể hơn về ñời sống và việc làm cho nông
dân vùng thu hồi ñất. (2) Cần có những cuộc ñiều tra, nghiên cứu trên diện rộng một
cách tỷ mỷ, chi tiết, lắng nghe những kiến nghị chính ñáng của người dân sau khi bị
11
thu hồi ñất, từ ñó có ñề xuất chính sách phù hợp. Cũng theo nhóm tác giả, việc xây
dựng và ban hành chính sách việc làm của nông dân sau khi thu hồi ñất cần ñược
thảo luận rộng rãi, dân chủ. Các ñề xuất nêu trên của tác giả là hướng mở mà NCS
thấy rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Kết luận: Sau khi nghiên cứu tổng quan, tác giả luận án rút ra kết luận sau:
(1) Hệ thống các mô hình lý thuyết về việc làm cho chúng ta một cách nhìn
tổng quan về vấn ñề việc làm của một nền kinh tế. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các
mô hình nêu trên cũng cho thấy cần phải xây dựng ñược mô hình nghiên cứu chính
sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất rút ra từ các lý thuyết này.
(2) Các công trình và bài viết nêu trên ñều ñề cập ñến vấn ñề việc làm,
chính sách việc làm cho lao ñộng nói chung, cho lao ñộng thanh niên và cho người
nông dân vùng thu hồi ñất nói riêng; ñó là nguồn tài liệu phong phú ñể tác giả luận
án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên tính ñến thời ñiểm thực hiện nghiên
cứu, tác giả luận án nhận thấy chưa có một nghiên cứu nào trong nước và quốc tế,
ñề cập chính sách việc làm cấp chính quyền ñịa phương cho nhóm ñối tượng thanh
niên nông thôn vùng thu hồi ñất. ðây chính là “khoảng trống” cho nghiên cứu này.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu cuối cùng của luận án là ñề xuất ñịnh hướng và giải pháp hoàn
thiện chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội.
ðể ñạt ñược mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể của luận án là:
- Xác ñịnh khung lý thuyết ñể nghiên cứu chính sách việc làm cho thanh niên
nông thôn vùng thu hồi ñất.
- Phân tích thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
trên ñịa bàn Hà Nội; ñánh giá chính sách việc làm thanh niên nông thôn vùng thu
hồi ñất của Hà Nội và tác ñộng của nó lên việc thực hiện các mục tiêu.
- ðề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho
thanh niên nông thôn vùng bị thu hồi ñất ở Hà Nội ñến năm 2020.
ðể thực hiện các mục tiêu ñó, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội ñang gặp phải những
vấn ñề gì về việc làm?
12
- Hà Nội ñã có những chính sách gì ñể giải quyết vấn ñề việc làm ñó? Chính
sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội ñã tác ñộng thế
nào ñến việc thực hiện các mục tiêu về việc làm? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân
của những hạn chế trong chính sách ñó là gì?
- Hà Nội cần có ñịnh hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho
thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất như thế nào ñể giải quyết các vấn ñề trên?
4. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu: chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu
hồi ñất ở Hà Nội, trong ñó tập trung nghiên cứu chính sách của thành phố.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: có rất nhiều chính sách khác nhau có tác ñộng trực tiếp hoặc
gián tiếp ñến việc làm cho thanh niên nông thôn tại các vùng bị thu hồi ñất, nhưng
luận án tập trung vào chính sách cấp thành phố với 5 chính sách bộ phận chủ yếu
hướng vào mục tiêu việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất ở Hà Nội, ñó
là các chính sách ñào tạo nghề; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi ñất; hỗ trợ tín dụng cho
thanh niên tìm và tự tạo việc làm; khuyến khích phát triển doanh nghiệp và làng nghề
nông thôn ñể tạo việc làm tại chỗ; xuất khẩu lao ñộng thanh niên nông thôn.
Sự khác biệt về phạm vi của nghiên cứu này với các nghiên cứu trước ñây là:
(i) nghiên cứu chính sách việc làm của chính quyền cấp thành phố; (ii) ñối tượng
chính sách là thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.
- Về không gian: nghiên cứu ñịa bàn các huyện ngoại thành Hà Nội.
- Về thời gian: số liệu thứ cấp ñược thu thập chủ yếu trong giai ñoạn từ năm
2005 ñến 2010; số liệu sơ cấp thu thập vào năm 2012; các giải pháp chính sách
ñược ñề xuất cho ñến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu (sẽ ñược trình bày cụ thể ở chương 2)
6. Những ñóng góp mới chủ yếu của luận án
• Về lý luận
- Luận án ñã xác ñịnh ñược khung lý thuyết nghiên cứu chính sách việc làm
cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất, trong ñó quan trọng nhất là nội dung và
13
các tiêu chí ñánh giá chính sách, các chỉ số giám sát ñánh giá các chính sách bộ phận.
- Luận án ñã hệ thống hóa các yếu tố cơ bản ảnh hưởng ñến chính sách việc
làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.
• Về thực tiễn
- Luận án ñã làm rõ thực trạng thu hồi ñất và mất việc làm do thu hồi ñất; kết
quả giải quyết việc làm cho thanh niên vùng thu hồi ñất của Hà Nội;
- Luận án ñã phân tích, ñánh giá thực trạng 5 chính sách bộ phận có tác ñộng
mạnh mẽ ñến mục tiêu việc làm cho thanh niên vùng thu hồi ñất của Hà Nội.
- Luận án ñã ñề xuất ñược một số ñịnh hướng và giải pháp hoàn thiện chính
sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở ñầu, kết luận và phụ lục, luận án chia thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm về chính sách việc làm cho
thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.
Chương 2: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: ðánh giá chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu
hồi ñất của Hà Nội.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho
thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất của Hà Nội.
14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ
CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
NÔNG THÔN VÙNG THU HỒI ðẤT
1.1. VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN NÔNG THÔN VÙNG THU HỒI ðẤT
1.1.1. Thanh niên nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm thanh niên
Thanh niên là nhóm nhân khẩu xã hội có ñặc thù nhất ñịnh về ñộ tuổi, thể
chất, trí tuệ và phẩm chất. Tùy thuộc vào nội dung và góc ñộ tiếp cận mà người ta
ñưa ra khái niệm về thanh niên.
Dưới góc ñộ pháp lý, thanh niên là công dân có ñộ tuổi từ ñủ 16 tuổi ñến 30
tuổi, có ñầy ñủ những ñiều kiện cần thiết ñể tham gia các hoạt ñộng học tập, lao
ñộng sản xuất, kinh tế, chính trị, xã hội ñạt hiệu quả cao [63].
Dưới góc ñộ kinh tế học, thanh niên ñược xem là lực lượng lao ñộng xã hội
trẻ tuổi, nguồn bổ sung cho ñội ngũ lao ñộng trên tất cả các lĩnh vực hoạt ñộng của
nền kinh tế.
Tùy thuộc vào trình ñộ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà mỗi quốc gia
quy ñịnh ñộ tuổi thanh niên khác nhau. Hầu hết các nước trên thế giới ñều thống
nhất ñộ tuổi thanh niên bắt ñầu từ 16, còn kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt,
nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc tuổi thanh niên do ngày nay
ñiều kiện kinh tế xã hội phát triển, thời gian ñào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm.
Trong ñề tài này, thanh niên ñược nghiên cứu chủ yếu dưới góc ñộ kinh tế
học và phù hợp với ñộ tuổi lao ñộng ñược quy ñịnh theo pháp luật của Việt Nam.
Tuy nhiên do những ñiều kiện khách quan của công tác thống kê tập hợp số liệu nên
trong luận án, tùy nội dung phân tích, có chỗ sử dụng số liệu theo cách hiểu truyền
thống, có chỗ sử dụng số liệu ñược cung cấp bởi các tỉnh, ngành, hoặc ðoàn Thanh
niên, song ñều nhằm mục ñích ñánh giá tình hình việc làm thanh niên một cách
khách quan, khoa học.
15
1.1.1.2 ðặc ñiểm của thanh niên nông thôn - lực lượng lao ñộng trẻ của xã hội
Ở bất cứ quốc gia nào, thanh niên ñều là lực lượng lao ñộng trẻ có vai trò
tiên phong trên mọi lĩnh vực. Ở Việt Nam qua các thời kỳ, các thế hệ thanh niên
luôn hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
Ban Chấp hành Trung ương ðảng CSVN khóa X ñã khẳng ñịnh: “Thanh niên là lực
lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết ñịnh tương lai, vận
mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, ñảm nhiệm những công việc
ñòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo”. [17]
Với tư cách lực lượng lao ñộng trẻ của xã hội, thanh niên nông thôn có các
ñặc ñiểm sau:
- Thanh niên nông thôn có ưu thế vượt trội về sức khỏe. Do tham gia lao
ñộng nông nghiệp ngay từ khi còn thiếu niên nên họ ñược rèn luyện về sức khỏe và
tinh thần, có khả năng lao ñộng tốt, kế thừa truyền thống lao ñộng cần cù. Sống ở
môi trường nông thôn, ñiều kiện sinh hoạt và làm việc không ñược bằng ñô thị,
thanh niên nông thôn ña phần có ý thức tiết kiệm, có tinh thần vượt khó, quyết tâm
vươn lên làm giàu, có trách nhiệm với gia ñình và xã hội.
- Thanh niên nông thôn sống thân thiện với môi trường thiên nhiên và xã hội,
nhiệt tình, có tinh thần ham học hỏi. Trong lao ñộng và hoạt ñộng xã hội, họ có tinh
thần ñổi mới, dám nghĩ dám làm, năng ñộng và thích nghi nhanh.
- Thanh niên nông thôn chiếm tỉ lệ lớn trong dân số và là nguồn lực chủ yếu
ở nông thôn, là lao ñộng trụ cột của gia ñình, nhưng họ cũng có khả năng thoát ly
cao ñể làm việc trong môi trường mới xa nhà miễn là mang lại thu nhập tốt hơn cho
bản thân và gia ñình.
Với những ñiểm mạnh ñó, thanh niên nông thôn ñược nhìn nhận là lực lượng
lao ñộng cơ bản và năng ñộng, có thể ñóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế và an
sinh xã hội, có tiềm năng rất lớn trong quá trình xây dựng ñất nước. Theo báo cáo
của Ngân hàng Thế giới, những nước ñang phát triển có sự ñầu tư về giáo dục, y tế
và ñào tạo nghề cho thanh niên nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng, có
chính sách việc làm phù hợp ñối với họ sẽ có thể khai thác sự nhiệt tình, tinh thần
sáng tạo và năng lực cá nhân của thanh niên ñể gia tăng tốc ñộ phát triển kinh tế,
xóa ñói giảm nghèo, tạo nên một xã hội bền vững. Ngược lại tình trạng thất nghiệp
16
hay không có ñủ việc làm của thanh niên nông thôn sẽ dẫn ñến những thiệt hại to
lớn cả về mặt kinh tế và xã hội.
Bên cạnh những ñiểm mạnh nêu trên, thanh niên nông thôn ñang có một số
hạn chế lớn so với thanh niên ñô thị. Họ ít có ñiều kiện học tập nâng cao trình ñộ và
phát triển năng lực cá nhân, phần lớn chưa qua ñào tạo nghề, trình ñộ học vấn, kỹ
năng nghề nghiệp thấp. Nhận thức về học nghề, chọn nghề, ñịnh hướng nghề nghiệp
của thanh niên nông thôn còn nhiều lệch lạc. Kỉ luật lao ñộng và ý thức chấp hành
pháp luật còn chưa cao, thiếu kĩ năng làm việc nhóm và kĩ năng quản lý... Những
ñiểm yếu ñó là rào cản không nhỏ ñối với họ khi tham gia vào quá trình tìm và tạo
việc làm. Như vậy, việc làm và thu nhập thấp vẫn ñang là những vấn ñề bức xúc
trong thanh niên nông thôn.
Trước yêu cầu của công cuộc ñổi mới, ðảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp
tục tạo ñiều kiện thuận lợi ñể thanh niên Việt Nam trong ñó có thanh niên nông
thôn, có thể ñược học tập, làm việc và cống hiến tốt nhất.
1.1.2. Việc làm của thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
1.1.2.1 Khái niệm việc làm nói chung
Cùng với quá trình phát triển kinh tế- xã hội, khái niệm việc làm ñã có nhiều
thay ñổi tuỳ thuộc vào từng thời ñiểm, không gian và cách tiếp cận.
Theo quan niệm của Tổ chức Lao ñộng quốc tế (ILO): “Bất kỳ nghề nào,
việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho người lao ñộng ñể nuôi sống bản
thân và gia ñình, không bị pháp luật ngăn cấm, ñó là việc làm” [27]
Ở Việt Nam, cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật
Lao ñộng nước CH XHCN Việt Nam ñã chỉ rõ: “Việc làm là hoạt ñộng lao ñộng tạo
ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. [62]
Theo khái niệm trên, những hoạt ñộng ñược gọi là việc làm phải thỏa mãn
hai ñiều kiện sau:
Thứ nhất, phải là hoạt ñộng tạo ra thu nhập một cách trực tiếp cho cá nhân
người lao ñộng hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho gia ñình và xã hội. ðiều kiện này
cho thấy sự thay ñổi quan niệm về việc làm: trước ñây trong nền kinh tế kế hoạch
tập trung, việc làm ñược quan niệm rất hẹp, chỉ có việc làm trong khu vực nhà nước
17
mới ñược thừa nhận; trong nền kinh tế thị trường, khái niệm này mở rộng rất nhiều,
việc làm không chỉ tồn tại trong các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, mà còn ngay tại gia ñình, do chính bản thân người lao ñộng tạo
ra ñể có thu nhập.
Thứ hai, phải là hoạt ñộng không bị pháp luật ngăn cấm. ðiều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm, ñược pháp luật bảo hộ. Nó cũng cho thấy một sự thay ñổi nữa,
ñó là giải quyết việc làm (GQVL), ñảm bảo cho mọi người có khả năng lao ñộng
ñều có cơ hội có việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn của các
doanh nghiệp và của toàn xã hội.
Tổng hợp lại, luận án ñưa ra khái niệm:
Việc làm là các hoạt ñộng mang lại thu nhập cho người lao ñộng, không bị
pháp luật cấm, bao gồm:(1) các công việc ñược trả công dưới dạng bằng tiền mặt
hoặc hiện vật;(2) các công việc tự làm ñể tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo thu
nhập cho gia ñình mình nhưng không ñược trả công (bằng tiền mặt hoặc hiện vật)
cho công việc ñó, gọi là việc làm tự tạo. Khái niệm “việc làm tự tạo” liên quan ñến
việc tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
1.1.2.2 Việc làm của thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
a. Thu hồi ñất với vấn ñề việc làm của thanh niên nông thôn
Thu hồi ñất là việc Nhà nước ra quyết ñịnh hành chính ñể thu lại quyền sử
dụng ñất hoặc thu lại ñất ñã giao cho các tổ chức quản lý theo quy ñịnh của Luật
ðất ñai, nhằm phục vụ cho mục ñích phát triển kinh tế xã hội của ñất nước.
ðối với các nước ñang phát triển như Việt Nam, trong giai ñoạn CNH, HðH,
nhu cầu ñất ñai ñể xây dựng các công trình công nghiệp, khu ñô thị, kết cấu hạ tầng,
công trình an ninh quốc phòng,.. là rất lớn. Với ñặc thù là một nước nông nghiệp
(gần 80% dân số làm nông nghiệp, diện tích ñất nông nghiệp chiếm hơn 50% tổng
diện tích ñất), việc Nhà nước thu hồi ñất và chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất từ
nông nghiệp là khu vực có năng suất lao ñộng thấp sang công nghiệp và dịch vụ là
những khu vực có năng suất lao ñộng và thu nhập cao hơn, là một tất yếu trong quá
trình phát triển vì lợi ích chung của xã hội.
Thu hồi ñất gắn liền với CNH, HðH và ðTH, có tác ñộng tích cực là thúc
18
ñẩy phát triển kinh tế- xã hội theo hướng bền vững: cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
ñộng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, góp phần sử dụng ñất ñai hợp lý và hiệu quả
hơn, ñời sống của người dân từng bước ñược cải thiện.
Bên cạnh ñó, việc Nhà nước thu hồi ñất nông nghiệp cũng có thể gây nên
những tác ñộng tiêu cực như:
- Về xã hội: do không có ñất sản xuất nên thanh niên bỏ làng quê ra ñô thị rất
ñông. Việc di dân một cách ồ ạt và tự phát khiến cho chính quyền khó kiểm soát và
tạo áp lực rất lớn về kinh tế, xã hội, trật tự an ninh tại các thành phố. Ở môi trường
thành phố, thanh niên nông thôn dễ rơi vào các tệ nạn xã hội và những rủi ro, tiêu
cực khác nếu như họ không tìm ñược việc làm ổn ñịnh.
- Về kinh tế: Diện tích ñất nông nghiệp bị thu hẹp khiến cho nghề nông và
nhiều ngành nghề truyền thống gắn với nông thôn có thể bị mai một. An ninh lương
thực quốc gia có thể bị ñe dọa. Thu nhập và ñời sống của người dân nông thôn vô
cùng khó khăn do mất việc làm và thay ñổi ngành nghề sản xuất. Trong khi ñó, các
doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trên ñịa bàn lại thiếu lao ñộng hoặc khó tuyển dụng
ñược lao ñộng ñáp ứng yêu cầu công việc, dẫn tới tình trạng cung- cầu việc làm mất
cân ñối, không toàn dụng ñược lao ñộng, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế.
- Về vấn ñề việc làm: một trong những thách thức lớn nhất của việc thu hồi ồ
ạt ñất nông nghiệp là tình trạng mất việc làm và thất nghiệp của những người nông
dân sau khi chuyển giao ñất, bởi vì ñối với họ, ñất ñai là tư liệu sản xuất chủ yếu và
ñại ña số họ không có nghề gì khác ngoài nghề nông, hoặc chỉ làm một số nghề phụ
lúc nông nhàn. Tình trạng thất nghiệp, mất việc làm của thanh niên nông thôn- lao
ñộng trụ cột của gia ñình - sẽ ảnh hưởng trực tiếp ñến an sinh xã hội, thu nhập, ñời
sống của thanh niên và gia ñình họ. Những lao ñộng trước ñây làm nông nghiệp sau
khi thu hồi ñất có xu hướng tìm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và ở
nước ngoài, song với trình ñộ văn hóa thấp, không có tay nghề, họ rất khó tìm ñược
việc làm mới, thường phải chấp nhận làm những công việc với mức lương rất thấp,
không ổn ñịnh và ñiều kiện làm việc tồi.
19
Như vậy, thu hồi ñất và mất việc làm do thu hồi ñất ñang là một trong những
vấn ñề “nóng” ñòi hỏi Nhà nước phải giải quyết một cách hợp lý, hợp tình, trong ñó
công cụ hiệu quả và bền vững nhất là chính sách việc làm.
b. Xu hướng biến ñộng của việc làm sau khi Nhà nước thu hồi ñất
Lao ñộng nông nghiệp sản xuất ra lương thực, thực phẩm ñể nuôi sống con
người là lao ñộng tất yếu trong mọi xã hội. Chừng nào năng suất lao ñộng còn thấp,
một lao ñộng nông nghiệp sản xuất chỉ ñủ nuôi bản thân họ thôi, chừng ấy lao ñộng
xã hội chủ yếu còn nằm trong nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học
công nghệ, năng suất lao ñộng nông nghiệp tăng lên, một lao ñộng nông nghiệp có
thể nuôi nhiều người khác, khi ñó lao ñộng xã hội mới rút ra khỏi nông nghiệp ñể
hình thành các ngành nghề khác, dẫn tới xu hướng lao ñộng nông nghiệp giảm
nhanh cả về tuyệt ñối và tương ñối, ngược lại lao ñộng công nghiệp và dịch vụ có
xu hướng dịch chuyển tăng lên.
Hiện nay ở các nước phát triển, lao ñộng nông nghiệp chỉ chiếm từ 1- 5% tổng
số lao ñộng xã hội. Còn ở các nước ñang phát triển, theo dự báo những năm tới cơ
cấu việc làm sẽ có những thay ñổi và chuyển dịch nhưng vẫn phải ñối mặt với nhiều
hạn chế. ðó là hậu quả của vấn ñề dân số những năm trước ñã tăng cao, nên ñến nay
số người bước vào tuổi lao ñộng lớn kéo theo số người thất nghiệp, thiếu việc làm gia
tăng, trong ñó ñáng lo nhất là nhóm thanh niên trong ñộ tuổi lao ñộng ở nông thôn.
Ở Việt Nam quá trình CNH, ðTH cũng làm cho tỉ trọng việc làm của lao ñộng
trong khu vực nông nghiệp giảm ñi, còn khu vực công nghiệp, dịch vụ thì tăng lên.
Xu hướng dịch chuyển lao ñộng nêu trên là tất yếu, song sẽ là nguy cơ nếu không
giải quyết ñược các ñiểm yếu lớn hiện nay về cung và cầu việc làm trên thị trường ñó
là: (1) Về cung, các doanh nghiệp không tạo ñược nhiều việc làm do số lượng doanh
nghiệp giảm, làm ăn khó khăn và hiệu quả kinh doanh thấp; ñất ñai và các nguồn lực
sử dụng không hợp lý, khả năng tạo việc làm mới hạn chế. (2) Về cầu, tỉ lệ lao ñộng
ñã qua ñào tạo còn thấp nhất là lao ñộng trong khu vực nông nghiệp, trình ñộ chuyên
môn nghiệp vụ không ñáp ứng ñược yêu cầu, cơ cấu ñào tạo bất hợp lý, không xuất
phát từ nhu cầu thực tiễn, phân bổ và sử dụng lao ñộng chưa hiệu quả kéo theo năng
20
suất lao ñộng thấp và thanh niên nông thôn bị yếu thế khi cạnh tranh trên thị trường
lao ñộng trong và ngoài nước. ðể GQVL một cách bền vững, cần chú ý ñến cả hai
ñiểm yếu nêu trên.
c. Sự cần thiết giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
GQVL cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất có liên quan trực tiếp ñến
tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Nó không chỉ tạo ra thu nhập cho thanh niên ñể
nuôi sống họ và gia ñình, bảo ñảm ổn ñịnh xã hội, mà còn ñem lại lợi ích cho DN,
tạo ra của cải vật chất, ñóng góp trực tiếp vào phát triển KT- XH của ñịa phương.
* Về ý nghĩa kinh tế.
ðối với một nước mà nông dân chiếm tỉ trọng rất lớn như Việt Nam, nếu
người dân (trong ñó thanh niên là lực lượng lao ñộng nòng cốt) bị thu hồi ñất canh
tác và trở nên thất nghiệp, tất yếu ảnh hưởng ñến tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Việc toàn dụng lao ñộng thanh niên, sử dụng họ một cách phù hợp sẽ góp phần thực
hiện các mục tiêu về kinh tế của ñất nước cũng như ñịa phương vùng thu hồi ñất.
ðối với các doanh nghiệp, GQVL cho người lao ñộng bị thu hồi ñất trong ñó
chủ yếu là lực lượng lao ñộng thanh niên sẽ tạo ñiều kiện ñể DN có ñược nguồn nhân
lực dồi dào. Lao ñộng thanh niên với những ưu thế của mình nếu ñược tuyển dụng
làm việc trong DN và ñược ñào tạo sẽ nhanh chóng nắm bắt công việc, lao ñộng tích
cực và sáng tạo, góp phần vào hiệu quả kinh doanh của DN.
ðối với thanh niên nông thôn, họ ña phần là lao ñộng trụ cột của gia ñình, do
ñó GQVL cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất là biện pháp thiết thực ñể ổn
ñịnh cuộc sống và thu nhập, tạo cơ hội ñể thanh niên nông thôn lập nghiệp, làm giàu
chính ñáng cho bản thân, gia ñình và xã hội.
* Về ý nghĩa xã hội. GQVL là một sự can thiệp cần thiết nhằm giảm tình
trạng thất nghiệp của thanh niên và những hậu quả do thất nghiệp gây ra, từ ñó giảm
gánh nặng của Nhà nước trong việc ổn ñịnh ñời sống của ñối tượng này, bảo ñảm
ASXH và thể chế chính trị của ñất nước. GQVL cho thanh niên vùng thu hồi ñất
góp phần xóa ñói giảm nghèo, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, giải quyết thóa
ñáng lợi ích của thanh niên nông thôn trong vấn ñề ñất ñai, lao ñộng, việc làm và
mối quan hệ với các lực lượng lao ñộng xã hội khác.
21
1.2. CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
VÙNG THU HỒI ðẤT
1.2.1. Khái niệm chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
Chính sách việc làm có thể ñược hiểu theo nghĩa rộng hoặc hẹp tùy theo mục tiêu
mà chủ thể muốn ñạt ñến. Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, luận án bàn ñến chính
sách việc làm theo nghĩa rộng (tác ñộng lên cả cung và cầu việc làm trên thị trường) và
với tư cách là chính sách công cấp ñịa phương (chủ thể chịu trách nhiệm chính trong
chính sách việc làm là chính quyền ñịa phương).
• Khái niệm chính sách công
Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất là một chính
sách công nói chung. Chính sách công ñược một số tác giả ñịnh nghĩa như sau:
“Chính sách công là một hành ñộng nào ñó mà Nhà nước lựa chọn thực hiện
hoặc không thực hiện"[124]. Ví dụ, quyết ñịnh của Hạ viện Mỹ tiến hành trợ giúp cho
DN của những người tàn tật hay quyết ñịnh của Nhà nước Việt Nam không thực hiện
tư nhân hóa các DN an ninh quốc phòng.
“Chính sách là phương thức hành ñộng ñược Nhà nước tuyên bố và thực hiện
nhằm giải quyết những vấn ñề lặp ñi lặp lại”[58]. Ví dụ, thực hiện mức thuế VAT
bằng không ñối với tất cả các măt hàng xuất khẩu.
“Chính sách kinh tế - xã hội (chính sách công) là tổng thể các quan ñiểm,
giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng ñể tác ñộng lên các chủ thể kinh tế xã
hội nhằm giải quyết vấn ñề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất ñịnh theo
ñịnh hướng mục tiêu tổng thể của ñất nước”[22]
• Khái niệm chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất
Cho ñến nay, chưa có nghiên cứu nào ñưa ra ñịnh nghĩa cụ thể chính sách
việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.
Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội của Trường ðại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội chỉ ñưa ra khái niệm chính sách việc làm nói chung như sau:
Chính sách việc làm là tổng thể các quan ñiểm, mục tiêu, giải pháp và công
cụ của Nhà nước nhằm sử dụng hợp lý lực lượng lao ñộng và tạo việc làm cho lực
lượng lao ñộng ñó [55].
22
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở khái niệm chính sách công và chính sách
việc làm nói chung ñể áp dụng cho nhóm ñối tượng thanh niên nông thôn vùng thu
hồi ñất nói riêng, tác giả luận án ñề xuất khái niệm sau:
Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất là tổng thể
các quan ñiểm, mục tiêu và hành ñộng của Nhà nước ñược thể chế hóa bằng các
văn bản pháp luật, nhằm hỗ trợ, tạo ñiều kiện cho ñối tượng có ñược việc làm phù
hợp, góp phần ñảm bảo ASXH, ổn ñịnh và phát triển kinh tế xã hội ở ñịa phương
nói riêng, cả nước nói chung.
Chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm chính trong chính sách việc làm là Nhà
nước bởi vì không ai khác ngoài Nhà nước có vai trò quản lý xã hội, người ñại diện
chủ sở hữu ñất ñai, người quyết ñịnh thu hồi ñất phục vụ quá trình CNH, ðTH dẫn
tới mất việc làm của thanh niên. Trong luận án này bàn ñến chính sách việc làm,
trong ñó chủ thể chịu trách nhiệm chính là chính quyền ñịa phương cấp tỉnh, ñối
tượng thụ hưởng là thanh niên nông thôn, do ñó tổ chức ðoàn Thanh niên cũng là
chủ thể có ảnh hưởng rất quan trọng ñến quá trình tổ chức thực thi chính sách này.
Ngoài ra còn có sự phối hợp của nhiều chủ thể khác như các doanh nghiệp trên ñịa
bàn, các trường học, trung tâm dạy nghề và các tổ chức ñoàn thể.
1.2.2. Mục tiêu và tiêu chí ñánh giá chính sách việc làm cho thanh niên nông
thôn vùng thu hồi ñất
1.2.2.1 Mục tiêu của chính sách
Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất là một bộ
phận của chính sách việc làm nói chung nhằm góp phần ñảm bảo ASXH, ổn ñịnh và
phát triển kinh tế xã hội ở ñịa phương nói riêng, cả nước nói chung.
Hướng tới mục ñích trên, chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn tại
vùng thu hồi ñất có các mục tiêu chung sau:
- Toàn dụng lao ñộng thanh niên tại các vùng bị thu hồi ñất, nghĩa là tất cả
những thanh niên có khả năng lao ñộng và có nguyện vọng lao ñộng ñều có việc
làm phù hợp. Mục tiêu này ñược cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu về số lượng việc làm
ñược tạo ra hàng năm cho thanh niên nông thôn, giảm tỉ lệ thanh niên thất nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu lao ñộng và việc làm của thanh niên theo hướng tăng tỉ
trọng việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, bảo ñảm có việc làm ổn ñịnh.
- Nâng cao thu nhập từ việc làm, cải thiện ñời sống vật chất và tinh thần cho
thanh niên nông thôn. Việc làm có thu nhập cao không chỉ giúp họ thoát nghèo, ổn
23
ñịnh cuộc sống, mà còn phải nâng cao chất lượng cuộc sống. Mục tiêu này ñược cụ
thể hóa thành thu nhập bình quân ñầu người, tri thức, sức khỏe.
Từ các mục tiêu chung nêu trên, mỗi chính sách trong hệ thống chính sách việc
làm sẽ có các mục tiêu bộ phận (Xem mô hình cây mục tiêu mô tả ở hình 1.1).
Mục ñích của chính sách
ASXH, ổn ñịnh và phát triển KT- XH
Mục tiêu chung của chính sách
- Toàn dụng lao ñộng
- Chuyển dịch cơ cấu lao ñộng và việc làm theo
hướng tiến bộ, bảo ñảm có việc làm ổn ñịnh
- Nâng cao thu nhập từ việc làm, cải thiện ñời sống
vật chất và tinh thần của thanh niên nông thôn
Chính sách ñào
tạo nghề:
- Bảo ñảm có ñược
việc làm sau khi học
nghề
-Cung cấp kiến thức,
kĩ năng và thái ñộ
làm việc ñúng cho
thanh niên
-Cung cấp nguồn
nhân lực có chất
lượng cho DN
Chính sách bồi
thường, hỗ trợ
khi thu hồi ñất:
-Thanh niên bị thu
hồi ñất ñược bồi
thường, hỗ trợ ñể
GQVL
- Thanh niên có
ñược việc làm sau
khi nhận hỗ trợ
Chính sách hỗ
trợ tín dụng cho
thanh niên vay
vốn ñể tìm và tự
tạo việc làm
- Giảm khó khăn về
tài chính cho thanh
niên trong quá trình
lập nghiệp
- Nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn vay
phát triển SXKD
Chính sách
khuyến khích
phát triển DN và
làng nghề ñể tạo
việc làm tại chỗ
-Tăng số việc làm từ
các DN và làng nghề
trên ñịa bàn.
-Thu hút ñược thanh
niên vùng thu hồi ñất
vào làm việc tại DN
và làng nghề.
Chính sách
xuất khẩu lao
ñộng
- Tăng số lượng
thanh niên ñược
XKLð
- Cải thiện thu
nhập và ñời
sống cho thanh
niên XKLð
Hình 1.1. Cây mục tiêu của chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi ñất
(Nguồn: Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội, NXB Khoa học và Kĩ thuật 2012)
1.2.2.2 Tiêu chí ñánh giá chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu
hồi ñất
• Khung logic ñánh giá chính sách [125] [116]
ðánh giá chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất là một
trong những ñiều kiện tiên quyết ñể hoàn thiện chính sách nhằm: (i) làm rõ tác ñộng
thực tế khi chính sách ñược triển khai; (ii) phát hiện sớm những ñiều phù hợp và không
24
phù hợp của các chính sách hiện hành; (iii) nêu lên những ý kiến có căn cứ ñể bổ sung,
ñiều chỉnh, thay ñổi từng ñiểm hoặc toàn bộ các yếu tố cấu thành chính sách (mục tiêu,
bộ máy thực hiện, giải pháp, nguồn lực, ...) không còn phù hợp; (iv) ñề xuất các chính
sách việc làm ở cấp ñịa phương hoặc cấp chính phủ.
Kết quả
(Outcomes)
Mục tiêu ñầu ra
(Planning outputs)
ðầu ra
(Outputs)
Hành ñộng (Actions)
Hoạt ñộng
(Activities)
ðầu vào kế hoạch
(Planning inputs)
ðầu vào
(Inputs)
Sự thực hiện chính sách
Mục tiêu chung
(Purposes)
Thực thi
Tác ñộng
(Impacts)
Thành quả
Hoạch ñịnh chính sách
Mục ñích
(Goals)
Hình 1.2. Mô hình Khung logic ñánh giá chính sách
(Nguồn: WB (2004), Logical Framework Approach to Project Cycle Management)
Trong mô hình trên:
Các ñầu vào (inputs) là các yếu tố tài chính, nhân lực, vật lực, các quy ñịnh
pháp luật, ñược các cơ quan, ñơn vị thực thi chính sách sử dụng ñể thực hiện các
hoạt ñộng và từ ñó tạo nên kết quả. ðánh giá các ñầu vào ñể kiểm soát việc mua
sắm, sử dụng các yếu tố ñầu vào có theo ñúng chế ñộ, quy ñịnh của Nhà nước
không, có lãng phí không.
Các hoạt ñộng (activities) là quá trình sử dụng các yếu tố ñầu vào ñể tạo ra
các sản phẩm ở ñầu ra. ðánh giá các hoạt ñộng chính sách sẽ chú trọng ñến những
vấn ñề như tiến ñộ, việc ñảm bảo thủ tục, quy trình trong quá trình thực hiện.
Các ñầu ra (outputs) là những sản phẩm/dịch vụ cụ thể ñược tạo ra và cung
cấp cho xã hội từ các hoạt ñộng của chính sách. ðánh giá các ñầu ra của chính sách
sẽ quan tâm ñến sự hiện hữu của sản phẩm/dịch vụ ñúng thời hạn và ñảm bảo các
yêu cầu về số lượng, chất lượng như ñã cam kết.
25
Các kết quả trung gian (outcomes) là những tác ñộng, ảnh hưởng từ các ñầu
ra, chẳng hạn: số lượng thanh niên bị thu hồi ñất ñược ñào tạo nghề; số thanh niên
bị thu hồi ñất ñược ñền bù, hỗ trợ ñất ñai; tổng dư nợ cho thanh niên vay theo chính
sách ưu ñãi tín dụng, v.v…ðánh giá chú trọng vào kết quả sẽ quan tâm ñến việc
mục tiêu trước mắt hay mục tiêu cụ thể của giải quyết việc làm có ñạt ñược không,
ñối tượng chính sách có thỏa mãn với các kết quả ñó không.
Các tác ñộng (impacts) là những kết quả có tính dài hạn và bền vững trong
xã hội, ñược ñịnh trước hoặc không ñịnh trước nhờ các kết quả trung gian nói trên.
ðó là mục tiêu cuối cùng mà chính sách việc làm muốn ñạt ñến ñối với thanh niên
vùng thu hồi ñất: số thanh niên có ñược việc làm ổn ñịnh; mức tăng thu nhập của
thanh niên nhờ việc làm mới mang lại. ðánh giá tác ñộng thường ñược xem xét
trong một khoảng thời gian ñủ dài, sau khi họ ñược ñào tạo nghề, hay sau khi sử
dụng tiền vay ưu ñãi ñể tìm và tự tạo việc làm.
Quản lý chính sách công trong nền kinh tế thị trường có xu hướng áp dụng
phương thức quản lý theo kết quả. Quản lý theo kết quả là phương thức quản lý tập
trung vào hiệu lực thực hiện của chính sách và việc ñạt ñược ñầu ra, kết quả hay tác
ñộng của chính sách ñó. Lúc này các nhà hoạch ñịnh chính sách sẽ không quá chú
trọng ñến ñầu vào (các quy ñịnh về kinh phí, nguồn nhân lực. v.v..) hoặc các hoạt
ñộng ñược triển khai ñể thực hiện chính sách, mà phải quan tâm ñến kết quả cần ñạt
ñược sau khi chính sách ñược thực hiện. Bằng cách ñó có thể giám sát, ñánh giá
chính sách xem chính sách có thực hiện ñược mục tiêu ñề ra hay không, và liệu có
cách nào cùng ñạt ñược mục tiêu nhưng ít tốn kém hơn. Như vậy, có thể nói hiệu
lực và hiệu quả của chính sách là các tiêu chí trọng tâm trong ñánh giá chính sách
công. Tuy nhiên ñiều ñó không có nghĩa là không cần xem xét các yếu tố ñầu vào
cũng như các hoạt ñộng ñể thực hiện chính sách.[46]
• Tiêu chí ñánh giá chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi ñất
Áp dụng khung logic ñánh giá chính sách và mô hình các tiêu chí ñánh giá
chính sách công do ADB ñề xuất, tác giả luận án xây dựng hệ thống tiêu chí ñặc
trưng ñể ñánh giá chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi ñất.
Hệ thống tiêu chí này bao gồm các chỉ số ño lường kết quả ñầu ra, chỉ số ño lường