MỤC LỤC
2.4.4.1 Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: là phương pháp
được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng cụ thể của
từng nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu. Có nhiều phương pháp xác định ảnh
hưởng của các nhân tố, sử dụng phương pháp nào tuỳ thuộc vào mối quan
hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng. Các phương pháp
xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thường được sử dụng trong
phân tích tài chính doanh nghiệp là:..............................................................22
a = Y- bx hoặc a = ...........................................................................................29
Với phương pháp bình phương tối thiểu, các thông số a, b được xác định
theo công thức:...................................................................................................29
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phân tích báo cáo tài chính là một trong những lĩnh vực chính
được các nhà khoa học cũng như các nhà quản trị quan tâm, bởi nó
không chỉ cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị doanh
nghiệp nhằm giúp học đánh giá khách quan về tình hình tài chính,
sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn cung cấp cho các đối
tượng sử dụng thông tinh bên ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu
tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ…Đặc biệt đối với
các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán thì việc
cung cấp những thông tin về tình hình tài chính một cách chính xác
và đầy đủ cho các nhà đầu tư là một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng, giúp họ lựa chọn và ra các quyết định đầu tư có hiệu quả
Xuất phát từ nhu cầu và vai trò trên, với nhận thức về tầm
quan trọng của việc phân tích hệ thống BCTC đối với quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên tôi đã chọn và đi
sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại
Công ty Cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải”
Mục đích chính của đề tài này là tìm ra các nguyên nhân và
hạn chế trong công việc phân tích báo cáo tài chính của đơn vị và từ
đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Giải quyết tốt đề tài góp phần
2
đánh giá đúng hơn thực trạng tình hình tài chính của đơn vị phục vụ
cho nhiều các đối tượng quan tâm khác nhau.
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thực tế các năm đã có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên
cứu đến vấn đề phân tích báo cáo tài chính. Cụ thể luận văn thạc sỹ
của một số tác giả có đề cập đến cụ thể như sau:
Tên đề tài “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ
phần Kinh Đô”, năm 2009, do tác giả: Vũ thị Mai, mã luận văn
THS.4434, người hướng dẫn là PGS.TS Phạm Thị Bích Chi. Đề tài
đã nghiên nêu được tóm tắt các cơ sở lý luận về phân tích báo cáo
tài chính nói chung theo cách tiếp cận của tác giả. Tác giả đã đi
phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phân tích báo cáo tài chính
tại Công ty cổ phần Kinh Đô và đã đề xuất một số giải phát cơ bản
hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty tại công ty cổ
phần Kinh Đô
Tên đề tài “Hoàn thiện phân tích BCTC tại tổng công ty cơ khí
xây dựng COMA” của tác giả Đặng Thị Thu Hiền, hoàn thành năm
2010, người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Công. Trên cơ sở lý
luận về phân tích BCTC trong các DN tác giả đánh giá thực trạng và
nội dung công tác phân tích báo cáo tài chính tại tổng công ty cơ khí
xây dựng COMA và đưa ra phương hướng giải pháp hoàn thiện
phân tích báo cáo tài chính tại Công ty.
Tên đề tài “Phân tích BCTC của công ty CP sữa Việt Nam”,
năm 2010, tác giả Đinh Ngân Hà, do PGS.TS Nguyễn Thị Đông
3
hướng dẫn đã nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính của Công ty
cổ phần sữa Việt Nam qua các báo cáo tài chính năm 2010. Từ đó
đề xuất các giải pháp hoàn thiện tình hình tài chính và nghiên cứu
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty.
Như vậy, về cơ bản các tác giả nghiên cứu về đề tài phân tích
báo cáo tài chính các năm đều nghiên cứu phân tích báo cáo tài
chính qua thực trạng của đơn vị cụ thể và thường gắn một năm cụ
thể nào đó và đưa ra các giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài
chính cho đơn vị đó. Vì vậy, tác giả dựa trên cơ sở những đề tài đã
hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính cho các đơn vị ở các năm
trước (từ năm 2010) tiếp tục nghiên cứu thực trạng Phân tích báo
cáo tài chính của một công ty cụ thể là Công ty cổ phần vận tải đa
phương thức Duyên Hải trong năm 2011 để tiếp tục kế thừa và đưa
ra các biện pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính cho Công ty.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về phương pháp
phân tích báo cáo tài chính với việc đánh giá thực trạng tài chính
luận văn hướng tới những mục đích sau:
- Làm rõ vai trò, chức năng và các phương pháp phân tích báo
cáo tài chính đối với doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng tình hình áp dụng phương pháp phân
tích báo cáo tài chính của Công ty cổ phần vận tải đa phương thức
Duyên Hải trong vai trò đánh giá thực trạng tình hình tài chính của
đơn vị, từ đó đưa ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân.
- Từ đó luận văn sẽ đề xuất một số phương hướng và giải
4
pháp hoàn thiện công tác phân tác phân tích báo cáo tài chính cho
Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Đặc điểm và ý nghĩa của hệ thống báo cáo tài chính là gì?
- Đối tượng và nội dung phương pháp phân tích báo cáo tài
chính là gì?
- Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải sử dụng
các phương pháp phân tích báo cáo tài chính như thế nào?
- Chất lượng và phương thức tổ chức phân tích báo cáo tài
chính tại Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải được
đánh giá như thế nào?
- Cần làm gì để nâng cao chất lượng phân tích báo cáo tài
chính của Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Các nội dung liên quan đến công tác phân tích báo cáo tài
chính của Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu trong phạm vi các tài liệu về tình hình tài chính,
báo cáo tài chính của Công ty cổ phần vận tải đa phương thức
Duyên Hải chủ yếu các số liệu thu thập từ năm 2009-2011.
1.6 Phương Pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương nháp nghiên cứu chung là phương
pháp duy vật biện chứng. Các phương pháp nghiên cứu kỹ thuật
được tác giả sử dụng bao gồm: Phương pháp của môn toán học,
phương pháp của môn thống kê, phương pháp của kế toán và phân
tích kinh doanh.
- Mô hình khung lý thuyết: Luận văn sử dụng lý thuyết về
5
phân tích báo cáo tài chính trong các đơn vị sản xuất kinh doanh để
phân tích thực trạng của Công ty cổ phần vận tải đa phương thức
Duyên Hải. Tác giả phân tích thực trạng của đơn vị thông qua
phương pháp nghiên cứu định lượng.
- Nguồn dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu
thập từ các tài liệu, thông tin nội bộ và một số nguồn dữ liệu thu
thập từ bên ngoài (các webside qua mạng internet và các tạp chí
liên quan).
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Trên phương diện lý luận: Hệ thống hóa một số vấn đề lý
luận cơ bản về phân tích báo cáo tài chính đối với các đơn vị sản
xuất.
- Trên phương diện thực tiễn: Tác giả đã luận giải về công tác
phân tích báo cáo tài chính của Công ty cổ phần vận tải đa phương
thức Duyên Hải và từ đó đưa ra các ưu điểm, nhược điểm, chỉ ra các
nguyên nhân chủ yếu từ đó đưa ra một số phương hướng và giải
pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính của đơn vị. Công việc
này góp phần quan trọng đánh giá đúng thực trạng tình hình tài
chính của đơn vị đem lại nhiều lợi ích cho những người quan tâm.
Bố cục của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Lý luận chung về hệ thống báo cáo tài chính và phân
tích báo cáo tài chính
6
Chương 3: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ
phần vận tải đa phương thức Duyên Hải
Chương 4: Sự cần thiết và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo
tài chính tại Công ty cổ phần vận tải đa phương thức Duyên Hải
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DOANH NGHIỆP
2.1 Khái quát chung về báo cáo tài chính
2.2.1 Khái niệm về báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của hoạt động kinh
doanh. Báo cáo tài chính thể hiện những thông tin tổng hợp nhất về
tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một
doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ
quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong
việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một
doanh nghiệp về:Tài sản; Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; Doanh
thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; Lãi, lỗ và
phân chia kết quả kinh doanh; Thuế và các khoản nộp Nhà nước;
Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán; Các luồng tiền.
7
Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả
năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những
người quan tâm. Đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính hay thực
trạng tài chính của đơn vị đa dạng và với nhiều mục đích khác nhau:
Chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, ngân hàng và các tổ
chức tín dụng, nhân viên trong đơn vị, các bên hữu quan khác…
2.2.2 Phân loại báo cáo tài chính tại Việt Nam
Theo quyết định 15/2006/QĐ – BTC hệ thống báo cáo tài
chính gồm: Báo cáo tài chinh năm và báo cáo tài chính giữa niên
độ; Báo cáo tài chính hợp nhất và tổng hợp.
Báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh,
doanh nghiệp tư nhân …) thuộc các ngành và mọi thành phần kinh
tế.
Báo cáo tài chính giữa niên độ chủ yếu được áp dụng cho
doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Ngoài ra các doanh nghiệp khác có thể nguyện lập
báo cáo tài chính giữa niên độ đáp ứng cho nhu cầu quản lý.
Công ty mẹ và tập đoàn là đơn vị có trách nhiệm lập Báo cáo
tài chính hợp nhất để tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn
diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm
lập báo cáo tài chính; tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh
trong kỳ báo cáo của đơn vị. Khi các đơn vị lập báo cáo tài chính
8
hợp nhất phải tuân thủ quy định tại chuẩn mực kế toán số 21 “Trình
bày báo cáo tài chính”; chuẩn mực số 25 “Báo cáo tài chính hợp
nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”, chuẩn mực kế toán
số 11 “Hợp nhất kinh doanh” và các thông tư hướng dẫn các chuẩn
mực trên.
Các đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc
hoặc Tổng công ty nhà nước thành lập và hoạt động theo mô hình
không có công ty con, phải lập Báo cáo tài chính tổng hợp. Báo cáo
tài chính tổng hợp để tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn
diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm
lập báo cáo tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh
trong kỳ báo cáo của toàn đơn vị. Những quy định liên quan báo cáo
tài chính tổng hợp thực hiện theo quy định tại Thông tư Hướng dẫn
chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày Báo cáo tài chính” và Chuẩn
mực kế toán số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản
đầu tư vào công ty con”.
Hệ thống Báo cáo tài chính ban hành theo Quyết định
15/2006/QĐ-TC do Bộ tài chính ban hành bao gồm các mẫu biểu
báo cáo sau:
Báo cáo tài chính năm: gồm 4 mẫu biểu báo cáo:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh báo cáo tài
Mẫu số B 01 - DN
Mẫu số B 02 - DN
Mẫu số B 03 - DN
Mẫu số B 09 – DN
9
chính
Báo cáo tài chính giữa niên độ: gồm báo cáo tài chính giữa
niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng
tóm lược:
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng
Mẫu số B 01a –
đầy đủ):
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
DN
giữa niên độ (dạng đầy đủ):
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ
DN
(dạng đầy đủ):
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn
DN
lọc:
DN
Mẫu số B 02a –
Mẫu số B 03a –
Mẫu số B 09a –
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ
Mẫu số B 01b –
(dạng tóm lược):
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
DN
giữa niên độ (dạng tóm lược):
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên
DN
độ
(dạng tóm lược)
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn
lọc:
Mẫu số B 02b –
Mẫu số B 03b –
DN
Mẫu số B 09a –
DN
Báo cáo tài chính hợp nhất: gồm 4 mẫu biểu báo cáo:
- Bảng cân đối kế toán hợp nhất
Mẫu số B 01 –
10
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp
DN/HN
Mẫu số B 02 –
nhất
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
DN/HN
Mẫu số B 03 –
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất
DN/HN
Mẫu số B 09 –
DN/HN
Báo cáo tài chính tổng hợp: gồm 4 mẫu biểu báo cáo:
- Bảng cân đối kế toán tổng hợp
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tổng
Mẫu số B 01-DN
Mẫu số B 02-DN
hợp
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tổng hợp
Mẫu số B 03-DN
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính tổng hợp
Mẫu số B 09-DN
2.2.2.1 Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 – DN)
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
một cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của đơn vị theo giá trị tài
sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu hai bên, phản ánh tình hình
tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu trên bảng cân đối
kế toán được phân loại, sắp xếp theo nhóm các khoản mục với số
đầu năm và cuối năm.
Từ bảng cân đối kế toán có thể đánh giá khái quát tình hình tài
chính, phân tích hình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn
vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
11
2.2.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN)
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh
tổng quát kết quả kinh doanh trong của một đơn vị trong một kỳ kế
toán nhất định (tháng, quý, năm).
Báo cáo kết quả kinh doanh là tài liệu giúp các nhà quản trị
doanh nghiệp có thể nắm được khái quát tình hình và kết quả kinh
doanh theo từng hoạt động của doanh nghiệp (hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác). Từ đó đánh giá được
xu thế phát triển và hiệu quả kinh doanh của đơn vị kỳ này so với kỳ
trước, so sách tương quan với các doanh nghiệp khác trong cùng
ngành để đưa ra các quyết định quản lý và quyết định tài chính cho
phù hợp.
2.2.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 – DN)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo
cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh
nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá
khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã
tạo ra đó trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt động
kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức
phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
12
2.2.2.4. Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo tổng quát nhằm
mục đích giải trình, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết hết trong
các báo cáo tài chính khác. Thuyết minh báo cáo tài chính cũng
nhằm cung cấp các thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm được rõ ràng và chính
xác.
2.3 Phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng
tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác
tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan
tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh
nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương
lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua
đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế,
tài chính của doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và
với mục tiêu khác nhau. Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh
nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích hoạt động tài chính phải được
tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng các nhu
cầu khác nhau của từng đối tượng. Điều đó, một mặt tạo điều kiện
13
thuận lợi cho phân tích hoạt động tài chính ra đời, ngày càng hoàn
thiện và phát triển; mặt khác, cũng tạo ra sự phức tạp trong nội dung
và phương pháp của phân tích hoạt động tài chính.
Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp bao gồm:
- Các nhà quản lý;
- Các cổ đông hiện tại và tương lai;
- Những người tham gia vào “đời sống” kinh tế của
doanh nghiệp;
- Những người cho doanh nghiệp vay tiền như: Ngân
hàng, tổ chức tài chính, người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các
doanh nghiệp khác...
- Nhà nước;
- Nhà phân tích tài chính;
- ...
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra
các quyết định với mục đích khác nhau. Vì vậy, phân tích hoạt động
tài chính đối với mỗi đối tượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau
và có vai trò khác nhau. Cụ thể:
Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà quản lý:
Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản
lý hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin
14
phục vụ cho việc phân tích. Phân tích hoạt động tài chính doanh
nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý
trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng
sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của
doanh nghiệp...;
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với
tình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài
trợ, phân phối lợi nhuận...;
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong
doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự
đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm
sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính
sách chung trong doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động tài chính đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh
nghiệp quản lý sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Đó là
những cổ đông, các cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác.
Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị
của doanh nghiệp. Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia
và thặng dư giá trị của vốn. Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng
15
của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp. Trong thực tế, các nhà
đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Câu hỏi chủ yếu phải làm rõ là: Tiền lời bình quân cổ phiếu
của doanh nghiệp là bao nhiêu? Các nhà đầu tư thường không hài
lòng trước món lời được tính toán trên sổ sách kế toán và cho rằng
món lời này chênh lệch rất xa so với tiền lời thực tế.
Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyên nghiệp trung
gian (chuyên gia phân tích tài chính) nghiên cứu các thông tin kinh
tế, tài chính, có những cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản lý doanh
nghiệp, làm rõ triển vọng phát triển của doanh nghiệp và đánh giá
các cổ phiếu trên thị trường tài chính.
Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá
doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu
các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh
doanh...
Phân tích hoạt động tài chính đối với các nhà đầu tư tín
dụng:
Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay
vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay. Thu
nhập của họ là lãi suất tiền cho vay. Do đó, phân tích hoạt động tài
chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của
16
khách hàng. Tuy nhiên, phân tích đối với những khoản cho vay dài
hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau.
Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng
ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của
doanh nghiệp. Nói khác đi là khả năng ứng phó của doanh nghiệp
khi nợ vay đến hạn trả. Đối với các khoản cho vay dài hạn, nhà
cung cấp tín dụng dài hạn phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại tuỳ
thuộc vào khả năng sinh lời này.
Phân tích hoạt động tài chính đối với những người hưởng
lương trong doanh nghiệp:
Người hưởng lương trong doanh nghiệp là người lao động của
doanh nghiệp, có nguồn thu nhập chính từ tiền lương được trả. Bên
cạnh thu nhập từ tiền lương, một số lao động còn có một phần vốn
góp nhất định trong doanh nghiệp. Vì vậy, ngoài phần thu nhập từ
tiền lương được trả họ còn có tiền lời được chia. Cả hai khoản thu
nhập này phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tình hình tài chính giúp họ định
hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp tuỳ theo công việc được phân công.
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài
chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá
trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra
17
nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa
chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ
quan tâm.
2.3 Nội dung phân tích Báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính theo hai cách tiếp cận:
Một là: Phân tích báo cáo tài chính đi theo từng báo cáo cụ thể
(phân tích theo chiều dọc) để toát lên những thông tin quan trọng
phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu. Các báo cáo cụ thể được
phân tích là: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo
cáo lưu chuyển tiền tệ.
Hai là: Phân tích báo cáo tài chính theo nhóm nội dung kinh tế
(phân tích theo chiều ngang) để toát lên những thông tin quan trọng
phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu. Bao gồm: Phân tích tổng
quan tình hình tài chính, phân tích tình hình công nợ và khả năng
thanh toán, phân tích hiệu quả kinh doanh, phân tích rủi ro kinh
doanh.
2.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các
nhà phân tích thường kết hợp sử dụng các phương pháp mang tính
nghiệp vụ - kỹ thuật khác nhau như phương pháp so sánh, phương
pháp loại trừ, phương pháp dự báo, phương pháp Dupont... Mỗi một
phương pháp có những tác dụng khác nhau và được sử dụng trong
từng nội dung phân tích khác nhau. Cụ thể:
18
2.4.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong
phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng. Mục
đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng
có của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp cho các đối tượng quan
tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn. Khi sử dụng phương
pháp so sánh, các nhà phân tích cần chú ý một số vấn đề sau đây:
So sánh với mục tiêu đánh giá:
+ Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống
nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán,
thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.
+ Gốc so sánh:
Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay
thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích. Về không gian, có thể
so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác,
khu vực này với khu vực khác... Việc so sánh về không gian thường
được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu
vực... Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và
điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến
kết luận phân tích. Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các
kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán. Cụ thể:
19
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân
tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ
trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số
chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra,
gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến
hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu
nghiên cứu.
+ Các dạng so sánh:
Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so
sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số
bình quân.
So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên
cứu nên khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ
được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm)
phân tích với kỳ (điểm) gốc.
So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh
bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan
hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến và xu hướng biến động của
các chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích
thường sử dụng các loại số tương đối sau:
- Số tương đối động thái: Dùng để phản ánh nhịp độ biến động
hay tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số
20
tương đối định gốc [cố định kỳ gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối
liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y (i + 1)/yi (i = 1, n)].
- Số tương đối kế hoạch: Số tương đối kế hoạch phản ánh mức
độ, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần phải thực hiện trong kỳ trên một
số chỉ tiêu nhất định.
- Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: Dùng để đánh giá
mức độ thực hiện trong kỳ của doanh nghiệp đạt bao nhiêu phần so
với gốc. Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện có thể sử dụng
dưới chỉ số hay tỷ lệ và được tính như sau:
Chỉ số (tỷ lệ %) thực
hiện so với gốc của chỉ
=
Trị số chỉ tiêu thực
x 100
hiện
Trị số chỉ tiêu gốc
tiêu nghiên cứu
So sánh với số bình quân: Khác với việc so sánh bằng số tuyệt
đối và số tương đối, so sánh bằng số bình quân sẽ cho thấy mức độ
mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành,
của khu vực. Qua đó, các nhà quản lý xác định được vị trí hiện tại
của doanh nghiệp (tiên tiến, trung bình, yếu kém).
2.4.2 Phương pháp phân chia (chi tiết)
Phương pháp này được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết
quả chung thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho việc nhận
thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau phù
hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng trong từng thời kỳ.
Trong phân tích, người ta thường chi tiết quá trình phát sinh và kết
21
quả đạt được của hoạt động tài chính doanh nghiệp thông qua những
chỉ tiêu kinh tế theo những tiêu thức sau:
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: chia
nhỏ chỉ tiêu nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân
chỉ tiêu đó;
- Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế:
chia nhỏ qúa trình và kết quả theo trình tự thời gian phát sinh và
phát triển;
- Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả
kinh tế: chia nhỏ qúa trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và
phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu.
2.4.3. Phương pháp liên hệ, đối chiếu
Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để
nghiên cứu, xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện
tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân đối của các chỉ tiêu kinh
tế trong quá trình hoạt động. Sử dụng phương pháp này cần chú ý
đến các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được
lặp đi lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể,
cân đối từng phần... Vì vậy, cần thu thập được thông tin đầy đủ và
thích hợp về các khía cạnh liên quan đến các luồng chuyển dịch giá
trị và sự vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp.
2.4.4 Phương pháp phân tích nhân tố:
22
Phân tích nhân tố là phương pháp được sử dụng để nghiên
cứu, xem xét các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các
nhân tố ảnh hưởng thông qua việc xác định mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố và phân tích thực chất ảnh hưởng của các nhân tố đến
chỉ tiêu phân tích.
2.4.4.1 Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: là
phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh
hưởng cụ thể của từng nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu. Có nhiều
phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố, sử dụng phương
pháp nào tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các
nhân tố ảnh hưởng. Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố thường được sử dụng trong phân tích tài chính
doanh nghiệp là:
Phương pháp loại trừ: Để xác định xu hướng và mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, người ta sử dụng
phương pháp loại trừ tức là để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân
tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Đặc điểm của phương
pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp giả
định khác nhau. Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích
với các nhân tố ảnh hưởng mà sử dụng phương pháp thay thế liên
hoàn, phương pháp số chênh lệch hay phương pháp hiệu số tỷ lệ.
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định
ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp
23
các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của
chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu
vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố
cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó. Đặc
điểm và điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn như sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối
tượng nghiên cứu;
- Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với
các nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số;
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của
chúng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân
tố số lượng được xác định trước rồi mới đến nhân tố chất lượng;
trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân tố chất lượng
thì xác định nhân tố chủ yếu trước rối mới đến nhân tố thứ yếu sau;
- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu
phản ánh đối tượng nghiên cứu một cách lần lượt. Cần lưu ý là có
bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay
thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến
lần thay thế cuối cùng;
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động
tuyệt đối của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân
tích so với kỳ gốc.
24
Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được khái quát như
sau:
Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh
hưởng của các nhân tố a, b, c, d. Các nhân tố này có quan hệ với Q
và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố số lượng sang nhân tố chất
lượng, chẳng hạn Q = abcd. Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các
nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân
tích thì Q1 = a1b1c1d1 và Q0 = a0b0c0d0. Gọi ảnh hưởng của các nhân
tố a, b, c, d đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của
chỉ tiêu Q (ký hiệu là ∆ Q) lần lượt là ∆ a, ∆ b, ∆ c, ∆ d, ta có:
∆ Q = Q1 - Q0 = ∆ a + ∆ b + ∆ c + ∆ d.
Trong đó:
∆ a = a1b0c0d0 - a0b0c0d0.
∆ b = a1b1c0d0 - a1b0c0d0.
∆ c = a1b1c1d0 - a1b1c0d0.
∆ d = a1b1c1d1 - a1b1c1d0.
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp cũng được dùng
để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ
tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Điều kiện, nội dung và trình tự
vận dụng của phương pháp số chênh lệch cũng giống như phương
pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ
ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá
trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó (thực chất là thay thế