MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt.
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ.
Tóm tắt luận văn
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
Chương
NHỮNG
1
VẤN
ĐỀ
CƠ
BẢN
VỀ
DỊCH
VỤ
QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN.................................5
Chương
2
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN AN
BÌNH...............................................................................................................44
Chương
GIẢI
3
PHÁP
PHÁT
TRIỂN
DỊCH
VỤ
QUẢN
LÝ
DANH
MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN AN BÌNH........................................................................85
KẾT LUẬN..................................................................................................105
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................107
PHỤ LỤC.....................................................................................................109
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................117
Chương
NHỮNG
4
VẤN
ĐỀ
CƠ
BẢN
VỀ
DỊCH
VỤ
QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN.............................120
Chương
5
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN AN
BÌNH.............................................................................................................126
Chương
GIẢI
PHÁP
6
PHÁT
TRIỂN
DỊCH
VỤ
QUẢN
LÝ
DANH
MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN AN BÌNH......................................................................132
KẾT LUẬN..................................................................................................137
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HaSTC
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
TTCK
Thị trường chứng khoán
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Quy mô niêm yết trên HOSE........................................................45
Bảng 2.2 Quy mô niêm yết trên HaSTC......................................................50
Bảng 2.3 Số lượng Ngân hàng lưu ký..........................................................62
Hình 1.1 Thái độ đối với rủi ro.....................................................................14
Hình 1.2 Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống........................................23
Hình 1.3 Kết hợp hai chứng khoán A và B để giảm rủi ro........................25
Hình 2.4 Tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro trên HOSE...........................................55
Hình 2.5 Tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro trên HaSTC..........................................57
1
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển
mạnh mẽ và chỉ số VNIndex được coi là chỉ số phản ánh sự phát
triển của thị trường. Chỉ số VNIndex đã tăng từ 100 điểm ngày
28/07/2000 đến 1.103,88 điểm đóng cửa ngày 16/10/2007 sau hơn 7
năm. Tuy nhiên, trong hơn 7 năm đó chỉ số VNIndex tăng trưởng
không thật sự ổn định, mà dao động lên xuống rất mạnh. Qua đó, có
thể thấy tiềm năng tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt
Nam rất cao nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
Trong những năm qua, trên thị trường chứng khoán Việt Nam,
phần lớn cả các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức đều chủ yếu tự mình
tham gia đầu tư. Những nhà đầu tư này phần lớn không được đào
tạo bài bản về chứng khoán. Do đó, đã dẫn đến hiện tượng đầu tư
theo phong trào, đẩy giá chứng khoán tăng nóng, sau đó lại rơi
nhanh dẫn đến sự thua lỗ và mất niềm tin của rất nhiều nhà đầu tư
đồng thời có tác động không tốt tới sự phát triển bền vững của thị
trường.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán,
Luật chứng khoán đã ra đời và có hiệu lực từ 01/01/2007. Sau đó, Quy
chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ đã được ban hành
kèm theo quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/05/2007 của Bộ
2
Tài chính. Theo quy chế này, Công ty quản lý quỹ được phép thực
hiện nghiệp vụ Quản lý danh mục đầu tư.
Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình
được thành lập vào cuối năm 2006. Hiện nay, Công ty đã được Ủy
ban chứng khoán nhà nước cho phép thực hiện 2 nghiệp vụ cơ bản
là quản lý quỹ đầu tư và quản lý danh mục đầu tư. Trong đó, quản
lý danh mục đầu tư là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
thực hiện quản lý theo uỷ thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán,
nắm giữ chứng khoán.
Nhu cầu thị trường đã có, cơ sở pháp lý cho dịch vụ quản lý
danh mục đầu tư cũng bước đầu được thiết lập. Vì vậy, Công ty cổ
phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình cần phải phát triển
dịch vụ Quản lý danh mục đầu tư một cách bài bản, chuyên nghiệp
để tối đa hóa lợi ích trên cơ sở giảm thiểu rủi ro cho khách hàng.
1. Lý do chọn đề tài
Tôi lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ Quản lý danh mục
đầu tư tại Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An
Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ với các lý do sau:
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, dịch vụ quản lý danh
mục đầu tư là hết sức cần thiết trong sự phát triển của thị trường
chứng khoán nói chung và Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán An Bình nói riêng.
Với những kiến thức được trang bị trong quá trình học cao học
tại Trường đại học Kinh tế quốc dân, tôi mong muốn có thể ứng
3
dụng những lý thuyết đã nghiên cứu vào thực tế thị trường chứng
khoán Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những nội dung lý thuyết cơ bản về quản lý danh
mục đầu tư và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư.
Tìm hiểu thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam và dịch vụ
quản lý danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán An Bình.
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ Quản
lý danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán An Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại Công ty cổ
phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình từ khi thành lập đến
nay.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã đi vào nghiên cứu các nội dung cơ bản về quản lý
danh mục đầu tư và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư. Đây là một
nội dung không mới ở nước ngoài nhưng còn khá mới mẻ ở Việt
Nam. Đề tài đã chỉ ra những vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất của lý
thuyết quản lý danh mục đầu tư hiện đại.
4
Đề tài cũng đã phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ quản lý
danh mục đầu tư tại Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán An Bình. Từ đó đánh giá những thuận lợi, khó khăn mà Công
ty đang gặp phải. Đồng thời đề tài cũng phân tích thực trạng thị
trường chứng khoán Việt nam. Do đó đề tài đã đưa ra một số giải
pháp và kiến nghị để phát triển dịch vụ quản lý danh mục đầu tư tại
Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình sát với
thực tế hiện nay. Đây là những giải pháp và kiến nghị mang tính
thực tiễn cao có thể áp dụng vào hoạt động của Công ty.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ
QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1.Danh mục đầu tư chứng khoán
1.1.1. Chứng khoán
Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán, đó là
những tài sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở
hữu có thể bán nó để thu tiền về. Chứng khoán là các loại giấy tờ có
giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán,
khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó. Dùng từ
Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên chứng khoán xuất phát từ
việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an toàn và thuận tiện
một tài sản nào đó. Theo sự phát triển của thị trường, chứng khoán
ngày càng phong phú, đa dạng.
Nói chung người ta phân chia chứng khoán thành 4 nhóm
chính là cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi, và các công
cụ phái sinh.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng
chứng chỉ hoặc bút toán ghị sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của
một công ty cổ phần. Khi sở hữu cổ phiếu, người đó trở thành cổ
đông của công ty, và có những quyền lợi sau:
6
• Nhận cổ tức. Cổ tức là một phần trong lợi nhuận kinh doanh
của công ty mà mỗi một cổ đông được chia tùy theo tỷ lệ góp
vốn. Mức chi trả cũng như hình thức chi trả cổ tức phụ thuộc
vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và do
Hội đồng Quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định.
• Quyền mua thêm cổ phiếu mới. Trong quá trình hoạt động,
công ty được phép phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn. Để
bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện tại khi phát hành thêm
cổ phiếu công ty thường dành quyền ưu tiên mua thêm cổ
phiếu mới cho những cổ đông này tương ứng với tỷ lệ góp vốn
của họ với giá ưu đãi hơn so với các cổ đông mới.
• Quyền bỏ phiếu. Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu cho
các chức vụ quản lý công ty, bỏ phiếu quyết định các vấn
đề quan trọng của công ty.
• Quyền tiếp cận thông tin. Cổ đông có quyền được thông báo
kịp thời mọi diễn biến trong công ty, đặc biệt những tình hình
có khả năng tác động mạnh đến giá cổ phiếu, và các báo cáo
tài chính định kỳ và các loại thông báo cũng là các thông tin
mà cổ đông có quyền tiếp cận.
Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ
bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu
trái phiếu. Tổ chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái
phiếu kho bạc, Tín phiếu kho bạc) hay chính quyền địa phương
7
(như Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình
quốc gia hay dự án nào đó, hoặc công ty nhằm huy động vốn mà
không mở rộng đối tượng quản lý. Với tư cách là người sở hữu
trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài
sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cổ đông. Tuy nhiên trái
chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham
gia quản lý trong các tổ chức phát hành.
Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán
được coi là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu
tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất
nhiều rủi ro). Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng
nhận quyền sở hữu mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho
những nhà đầu tư và đầu cơ. Nhà đầu tư thường mua cổ phiếu của
các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở
phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cổ tức. Còn
nhà đầu cơ kinh doanh cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự
đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cổ phiếu vào lúc giá
đỉnh điểm để kiếm lời.
Theo Luật Chứng khoán do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày
01 tháng 01 năm 2007 thì:
“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức
8
phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,
bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số
chứng khoán.”
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức
phát hành.
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát
hành.
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của
nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần
phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm
cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều
kiện đã được xác định.
Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với
việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở
hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất
định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.
Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong
hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán
9
một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời
gian nhất định với mức giá được xác định trước.
Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng
khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với
một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong
tương lai.
1.1.2. Danh mục đầu tư
Theo Từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán: “Danh mục
đầu tư là kết hợp sở hữu từ hai trở lên các đầu tư chứng khoán, trái
phiếu, hàng hóa, bất động sản, công cụ tương đương tiền mặt, hay
các tài sản khác bởi một cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa
dạng hóa đầu tư”.
Đối với hộ gia đình, hay cá nhân, danh mục này có thể gồm
ngoại tệ mạnh (Đô-la Mỹ hoặc Euro), vàng và kim cương, một số
lượng nhất định cổ phiếu, tiền mặt và trái phiếu, đất và bất động
sản, v.v..
Một danh mục đầu tư được biết đến như là cách làm giảm bớt
rủi ro do gắn tài sản của cá nhân hay công ty lệ thuộc duy nhất vào
một loại tài sản. Đối với đầu tư tài chính, danh mục đầu tư càng đặc
biệt có ý nghĩa quan trọng, vì hoạt động đầu tư tài chính lớn nhất
thường xảy ra ở các quỹ đầu tư, huy động vốn từ các TTCK lớn. Các
cổ đông của các quỹ này thường khó lòng nắm bắt được chi tiết thông
10
tin hoạt động của các quỹ cho tới những thời điểm thông báo chi tiết
định kỳ, do đó, nguyên tắc đầu tư của danh mục là một công cụ quản
lý chính các cam kết của ban giám đốc điều hành các quỹ đầu tư.
Đối với các quỹ đầu tư, danh mục thường phân phối giữa các
loại tài sản và công cụ tài chính: Cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, phái
sinh.
1.1.3. Danh mục đầu tư chứng khoán
Như vậy, kết hợp giữa hai khái niệm “chứng khoán” và “danh
mục đầu tư” ở trên chúng ta có thể hiểu Danh mục đầu tư chứng
khoán là kết hợp sở hữu từ hai trở lên các đầu tư chứng khoán bởi
một cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức. Mục đích của danh mục
đầu tư chứng khoán là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hóa đầu
tư chứng khoán.
1.2.Lợi nhuận và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
1.2.1. Lợi nhuận và rủi ro
1.2.1.1. Lợi nhuận
Lợi nhuận (return) là thu nhập có được từ một khoản đầu tư,
thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm1 giữa thu nhập và giá trị
khoản đầu tư bỏ ra. Ví dụ bạn bỏ ra 100$ để mua một cổ phiếu,
được hưởng cổ tức là 7$ một năm và sau một năm giá thị trường của
cổ phiếu đó là 106$. Lợi nhuận bạn có được khi đầu tư cổ phiếu này
là: (7$ + 6$)/100 = 13%. Như vậy lợi nhuận đầu tư của bạn có được
11
từ hai nguồn: (1) cổ tức được hưởng từ cổ phiếu, và (2) lợi vốn –
tức là lợi tức có được do chứng khoán tăng giá. Tổng quát:
R=
Dt + ( Pt − Pt −1 )
Pt −1
Trong đó:
R là lợi nhuận thực (hoặc kỳ vọng),
Dt là cổ tức,
Pt là giá cổ phiếu ở thời điểm t,
Pt -1 là giá cổ phiếu ở thời điểm (t – 1).
Nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo giá trị thực tế thì chúng ta có lợi
nhuận thực, nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo số liệu kỳ vọng thì
chúng ta có lợi nhuận kỳ vọng.
1.2.1.2. Rủi ro
Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi
nhuận kỳ
vọng. Giả sử bạn mua trái phiếu kho bạc để có được lợi nhuận
là 8%. Nếu bạn giữ trái phiếu này đến cuối năm bạn sẽ được lợi
nhuận là 8% trên khoản đầu tư của mình. Nếu bạn không mua trái
phiếu mà dùng số tiền đó để mua cổ phiếu và giữ đến hết năm, bạn
có thể có hoặc có thể không có được cổ tức như kỳ vọng. Hơn nữa,
cuối năm giá cổ phiếu có thể lên và bạn được lời cũng như giá có
thể xuống khiến bạn bị lỗ. Kết quả là lợi nhuận thực tế bạn nhận
được có thể khác xa so với lợi nhuận bạn kỳ vọng. Nếu rủi ro được
định nghĩa là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ
12
vọng thì trong trường hợp trên rõ ràng đầu tư vào trái phiếu có thể
xem như không có rủi ro trong khi đầu tư vào cổ phiếu rủi ro hơn
nhiều, vì xác suất hay khả năng sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với
lợi nhuận kỳ vọng trong trường hợp mua trái phiếu thấp hơn trong
trường hợp mua cổ phiếu.
Mặc dù có sự khác nhau giữa 2 khái niệm rủi ro và sự không
chắc chắn, nhưng đối với các học thuyết kinh tế, 2 thuật ngữ này có
thể sử dụng thay thế cho nhau. Có một cách định nghĩa được chấp
nhận khá rộng rãi là: “rủi ro là sự không chắc chắn của những kết
quả trong tương lai”.
1.2.2. Thái độ đối với rủi ro
Để minh họa và phân biệt thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro,
chúng ta xem xét trò chơi có tên Let’s Make a Deal do Monty Hall
điều khiển chương trình như sau: Monty Hall giải thích rằng bạn được
phép giữ lấy bất cứ thứ gì bạn tìm thấy khi mở cửa số 1 hoặc số 2.
Đằng sau một trong hai cửa này là 10.000$ trong khi cửa còn lại là
một đống vỏ xe đã sử dụng có giá trị thị trường là 0. Hall cũng cho
biết thêm rằng bạn có quyền được mở một trong hai cửa và có thể
trúng giải thưởng 10.000$ nếu mở đúng cửa hoặc nhận đống vỏ xe
vứt đi nếu mở sai cửa. Ngoài ra, Hall có thể cho bạn một số tiền nếu
như bạn từ bỏ quyền được mở cửa của bạn, cũng đồng nghĩa với từ
bỏ lợi nhuận kỳ vọng để nhận lấy một số tiền chắc chắn.
13
Nói tóm lại các lựa chọn của bạn có thể là mở cửa hoặc không
mở cửa. Nếu mở cửa bạn có khả năng trúng giải và nhận 10.000$
cũng có khả năng trật giải và nhận 0$. Nếu bạn chọn không mở cửa
bạn sẽ được một số tiền chắc chắn. Rõ ràng việc chọn lựa của bạn
tùy thuộc vào số tiền mà Hall sẽ trả cho bạn để bạn hủy bỏ cái
quyền được mở cửa của mình. Giả sử rằng nếu Hall trả bạn 2.999$
hay ít hơn số này thì bạn sẽ chọn phương án mở cửa và kỳ vọng sẽ
trúng giải. Nếu Hall trả cho bạn 3.000$ bạn không thể quyết định
được nên chọn phương án nào: mở cửa hay lấy tiền. Nhưng nếu
Hall trả bạn 3.001$ hay
cao hơn nữa bạn sẽ chọn phương án lấy tiền và từ bỏ việc mở
cửa.
Với phương án mở cửa bạn có cơ hội 50/50 sẽ nhận 10.000$
hoặc 0$. Số tiền kỳ vọng của bạn do đó là: (10.000 x 0,5) + (0 x 0,5)
= 5.000$. Nhưng khi Hall trả bạn 3.000$ bạn không quyết định
được nên chọn phương án nào. Điều này chứng tỏ rằng bạn bàng
quan khi đứng trước 2 phương án: (1) có được 5.000$ với rủi ro
kèm theo và (2) có được 3.000$ không có rủi ro kèm theo. Số tiền
3.000$ ở đây làm cho bạn cảm thấy không có sự khác biệt giữa việc
lựa chọn lấy 3.000$ với sự chắc chắn hoặc lấy 5.000$ với rủi ro
kèm theo. Số tiền này được gọi là số tiền chắc chắn tương đương
(certainty equivalent – CE) với số tiền lớn hơn nhưng rủi ro hơn.
Dựa vào số tiền chắc chắn tương đương này,
Người ta đưa ra định nghĩa thái độ đối với rủi ro như sau:
14
• CE < giá trị kỳ vọng => risk aversion (ngại rủi ro)
• CE = giá trị kỳ vọng => risk indifference (bàng quan với rủi
ro)
• CE > giá trị kỳ vọng => risk preference (thích rủi ro)
Đối với những người ngại rủi ro, chênh lệch giữa giá trị kỳ
vọng và CE chính là phần giá trị tăng thêm để bù đắp rủi ro (risk
premium).
Hình sau cho thấy mối tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận
yêu cầu của nhà đầu tư thuộc ba dạng trên:
Hình 1.1 Thái độ đối với rủi ro
Lợi nhuận yêu cầu
Không thích rủi ro
Không thích
Trung tính
Trung tính với rủi ro
Yêu thích
Yêu thích rủi ro
x1
Nguồn: Phân tích tài chính – 2006
x2
Rủi ro
15
Học thuyết về quản lý danh mục đầu tư giả định rằng các nhà
đầu tư về cơ bản là không thích rủi ro, nghĩa là nếu đưa ra lựa chọn
giữa hai tài sản với cùng mức lợi nhuận kỳ vọng thì họ sẽ chọn tài
sản có mức rủi ro thấp hơn. Bằng chứng chứng minh hầu hết các
nhà đầu tư không thích rủi ro là việc họ mua hàng loạt các sản phẩm
bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm ô tô, bảo hiểm sức khỏe
…). Bằng chứng nữa của việc ghét rủi ro là sự khác nhau trong lợi
tức hứa hẹn của các loại trái phiếu được xếp hạng rủi ro khác nhau.
Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả mọi người đều ghét
rủi ro. Sự thực là không phải tất cả mọi người đều mua bảo hiểm.
Có người không hề mua bất kỳ bảo hiểm nào, có người chỉ mua một
vài loại bảo hiểm. Hơn nữa, họ thậm chí còn mua xổ số hoặc đánh
bạc trong khi đều biết rằng lợi nhuận kỳ vọng là âm. Kết hợp giữa
sự thích rủi ro và ghét rủi ro trên có thể được lý giải bởi thái độ đối
với rủi ro phụ thuộc vào số tiền liên quan. Mọi người có thể mạo
hiểm đánh bạc với số tiền nhỏ nhưng mua bảo hiểm để bảo vệ họ
khỏi những rủi ro lớn tiềm ẩn.
Như vậy, trong khi vẫn thừa nhận sự đa dạng của thái độ đối
với rủi ro, các nhà kinh tế học giả định rằng hầu hết các nhà đầu tư
đầu tư một số tiền lớn vào danh mục đầu tư là những người ghét rủi
ro. Vì vậy, chúng ta kỳ vọng vào mối quan hệ cùng chiều giữa lợi
nhuận kỳ vọng và rủi ro.
16
1.2.3. Đo lường lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro
1.2.3.1. Đo lường lợi nhuận kỳ vọng
Lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) được định nghĩa như sau:
n
E ( R ) = ∑ Pi × E ( Ri )
i =1
Trong đó:
E(R) là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng.
Ri là tỷ suất lợi nhuận xảy ra ở tình huống thứ i.
Pi là xác suất xảy ra tình huống thứ i.
n là tổng số tình huống có thể xảy ra.
Như vậy lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của
các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
1.2.3.2. Đo lường rủi ro
Có nhiều quan niệm về cách thức đo lường rủi ro. Một cách đo
lường rủi ro phổ biến nhất là phương sai, hoặc độ lệch chuẩn của lợi
nhuận kỳ vọng. Một cách khác đo lường rủi ro là biên độ dao động
của lợi nhuận kỳ vọng. Biên độ dao động càng lớn thì rủi ro càng
lớn.
Mặc dù có nhiều cách đo lường rủi ro khác nhau, nhưng các
nhà kinh tế theo học thuyết Markowitz sử dụng phương sai hoặc độ
lệch chuẩn của lợi nhuận vì các lý do (1) theo cảm nhận trực quan
của các nhà kinh tế học, (2) được mọi người thừa nhận rộng rãi, và
(3) được sử dụng trong nhiều học thuyết kinh tế về định giá tài sản.
17
Phương sai:
2
n
Variance (σ ) = ∑ [ ( Ri − E ( Ri )] Pi
2
i =1
Trong đó:
Pi là xác suất xảy ra tỷ suất lợi nhuận Ri.
Độ lệch chuẩn chính là căn bậc 2 của phương sai:
S tan dard Deviation (σ ) =
n
∑ [ ( Ri − E ( Ri )]
i =1
2
Pi
1.2.4. Lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư
1.2.4.1. Lợi nhuận của danh mục đầu tư
Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư đơn giản chỉ là trung bình
có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng chứng khoán trong
danh mục đầu tư. Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại
chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau:
n
E ( R port ) = ∑ Wi × E ( Ri )
i =1
Trong đó:
E(Rport) là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư.
Wi là tỷ trọng trong danh mục đầu tư của tài sản thứ i.
E(Ri) là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của tài sản thứ i.
n là tổng số các khoản đầu tư trong danh mục.
18
1.2.4.2. Rủi ro của danh mục đầu tư
Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn
của danh mục đầu tư. Không giống lợi nhuận, việc xác định độ lệch
chuẩn của danh mục đầu tư rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố hiệp
phương sai (covariance), tức là mức độ quan hệ giữa rủi ro của các
chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức:
σp =
m
m
∑∑W W σ
j =1 k =1
j
k
j ,k
Trong đó
m là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư,
Wj là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục,
Wk là tỷ trọng của chứng khoán k trong danh mục,
σj,k là hiệp phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán j và k.
Hiệp phương sai lợi nhuận của 2 chứng khoán là chỉ tiêu đo
lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa 2 chứng khoán.
1.2.5. Phân loại rủi ro
1.2.5.1. Rủi ro hệ thống (Systematic risk)
Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty,
không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và
tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống hay là rủi ro
không phân tán được. Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài
của một ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn
19
như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị... Đa dạng
hóa đầu tư cũng không thể loại bỏ loại rủi ro này. Những công ty
chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh
số, lợi nhuận và giá chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh
tế và những diễn biến trên thị trường chứng khoán. Phần lớn các
công ty trong những ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng,
những ngành có định phí lớn hay những ngành liên quan đến sản
xuất ô tô chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống, ví dụ ngành
thép, cao su, kính,... Rủi ro hệ thống được chia làm 3 loại rủi ro
chính:
• Rủi ro thị trường: Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh
trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công
ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác
nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các
nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm
các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời
đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự
hy vọng của các nhà đầu tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro
thị trường.
• Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các
nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình. Sự
chờ đợi đối với chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của các
công ty nói chung có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn
các loại cổ phiếu thường bị giảm giá. Các nhà đầu tư
20
thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình
như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội còn các sự kiện vô
hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường.
Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu
hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư
nên họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Những sự
sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi
đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn và sau đó
kéo theo những phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng
bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ
sở.
• Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định
trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai,
nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên
nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất
Trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức
sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các
loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí
vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi
sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại
chứng khoán có rủi ro.
• Rủi ro sức mua: Rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất có thể được
định nghĩa là những biến cố về số tiền thu được hiện nay của
nhà đầu tư. Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng
21
tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với
khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng
tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ
vọng.
Mỗi chứng khoán có một mức độ riêng rủi ro không thể phân
tán được và được đo bằng hệ số bêta (b). Việc tính toán hệ số Bêta
cũng hết sức phức tạp, bêta cho thấy cái cách mà một chứng khoán
phản ứng trước những nhân tố của thị trường. Nói khác đi, giá của
một chứng khoán càng phản ứng với thị trường mạnh mẽ bao nhiêu
thì hệ số bêta của chứng khoán đó càng cao bấy nhiêu. Bêta của một
chứng khoán được tính thông qua mối liên hệ (chính xác là hệ số
tương quan) giữa suất sinh lợi của chứng khoán đó và suất sinh lợi
của thị trường mà chứng khoán đó đang giao dịch.
1.2.5.2. Rủi ro phi hệ thống (Unsystematic risk)
Rủi ro phi hệ thống là những rủi ro do các yếu tố nội tại gây
ra, nó có thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành, một
công ty, một hoặc một số chứng khoán. Rủi ro phi hệ thống do các
yếu tố như khả năng quản lý điều hành, đình công hay những yếu tố
khác gắn với những thay đổi của một công ty gây ra. Do những rủi
ro này thường ảnh hưởng đến một công ty cụ thể nên nó phải được
xem xét cho từng công ty một cách riêng biệt. Có các loại rủi ro
không hệ thống như sau: