Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Tổng quan dân tộc Pà Thẻn (PDF,Word)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 15 trang )

TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN
MỤC LỤC:
1.

Vài Nét Về Dân Tộc Pà Thẻn................................................................................................ 2

2.

Kinh Tế Truyền Thống ......................................................................................................... 2

3.

2.1.

Trồng trọt.......................................................................................................................... 2

2.2.

Chăn nuôi ......................................................................................................................... 3

2.3.

Khai thác tự nhiên ............................................................................................................ 3

2.4.

Ngành nghề thủ công........................................................................................................ 4

2.5.



Trao đồi, mua bán............................................................................................................. 4

Văn hoá truyền thống ............................................................................................................ 4
3.1.

Làng .................................................................................................................................. 4

3.2.

Nhà ở ................................................................................................................................ 5

3.3.

Y phục, trang sức ............................................................................................................. 6

3.4.

Ẩm thực ............................................................................................................................ 8

3.5.

Phương tiện vận chuyển ................................................................................................... 9

3.6.

Ngôn ngữ .......................................................................................................................... 9

3.7.


Tín ngưỡng tôn giáo ......................................................................................................... 9

3.8.

Lễ hội.............................................................................................................................. 10

3.9.

Gia đình, dòng họ ........................................................................................................... 12

3.10.

Tục lệ cưới xin ............................................................................................................ 13

3.11.

Tập quán sinh đẻ và nuôi con nhỏ .............................................................................. 13

3.12.

Tập quán tang ma ....................................................................................................... 14

3.13.

Văn nghệ dân gian ...................................................................................................... 14

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần


1. Vài Nét Về Dân Tộc Pà Thẻn
Dân số : 6.811 người
Ngôn Ngữ: Thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Tên gọi khác: Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ
Nhóm địa phương:
Địa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang,
Đồng Nai, Thái Nguyên, Hà Nội

Địa bàn cư trú:
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Pà Thẻn ở Việt Nam có dân
số 6.811 người, có mặt tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Pà Thẻn cư
trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (5.771 người, chiếm 84,7% tổng số người Pà
Thẻn tại Việt Nam), Tuyên Quang (877 người), Đồng Nai (27 người), Thái
Nguyên (25 người), Hà Nội (20 người).

2. Kinh Tế Truyền Thống
2.1. Trồng trọt
Người Pà Thẻn trước đây
sống bằng nghề trồng trọt
trên nương rẫy.Cây lương
thực chính là cây lúa và cây
ngô. Lúa có nhiều loại: lúa
tẻ (mô ha la, mô cò nhà, mô
ta tớ, mô nhơ) và lúa nếp
(mô cằm đi, bôn tri, bù mr
khó). Trên một đám nương,
người Pà Thẻn chỉ canh tác

Một cánh đồng lúa của người Pà Thẻn

(Ảnh sưu tầm)
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

2 - 3 năm, tuỳ vào độ màu mỡ của đất, rồi sau đó bỏ hóa, đi tìm đất làm nương mới. Việc
tìm đất làm nương mới thường do người già, người có nhiều kinh nghiệm sản xuất đảm
nhiệm. Họ thường chọn nơi có rừng già, có lớp mùn dày, không dốc lắm để làm nương
lúa và những vùng đất có pha sỏi để làm nương ngô. Khởi đầu cho việc khai phá nương
mới là chặt cây:
Họ phát các loại cây nhỏ, dây leo, rồi chặt cây to. Việc phát nương được thực hiện vào
mùa khô. Sau khi phát nương được vài ba tháng, cây đã khổ, đồng bào tiến hành đốt, thu
dọn sạch nương. Để trồng hạt lúa, người Pà Thẻn dùng gậy chọc lỗ - tra hạt. Người đàn
ông cầm gậy đi trước chục lỗ, người đàn bà theo sau tra hạt. Khi lúa chín, người Pà Thẻn
dùng I li chác - một loại nhíp nhỏ cắt từng bông một. Hàng ngày đi thu hoạch lúa, họ để
lúa lại ở trên nương phơi luôn. Khi gặt hết vụ mới mang về để trên gác bếp. Sau cây lúa
là cây ngô. Cây ngô được trồng trên những nương ít màu mỡ hơn, có thể là những nương
đã trồng lúa vụ trước, nhưng nay đã cằn, không còn trồng lúa được nữa. Ngoài lúa và
ngô, người Pà Thẻn còn trồng thêm các loại bầu, bí, đậu đồ, khoai sọ, khoai lang, sắn...
Từ ngày Nhà nước thực hiện chính sách định canh, định cư (1968), người Pà Thẻn đã
xuống núi, định cư ở vùng núi thấp cùng đồng bào khác . Từ khi xuống núi người Pà
Thèn vẫn làm nghề nông, trồng lúa, ngô, khoai, sắn, nhưng không dùng gậy chọc lỗ nữa,
mà dùng trâu kéo cày trên các thửa mộng bậc thang.
2.2. Chăn nuôi
Người Pà Thèn chăn nuôi gia súc, gia cầm như các dân tộc khác trong vùng. Con trâu,
con bò được nuôi trong mọi gia đình theo phương thức chăn thả. Sáng thả trâu, bò lên núi
rừng tự tìm cỏ ăn, chiều lùa 1 lùa về chuồng. Con lợn, con gà, con vịt được nuôi nhiều để
vừa làm, hiến sinh trong lễ tết, cúng bái và kết hợp ăn thịt.
2.3. Khai thác tự nhiên

Người Pà Thẻn cư trú ở vùng rừng núi, đã thu hái lâm thổ sản cải thiện đời sống của
mình. Những ngày mùa đói kém, gặp những năm múa màng thất bát, đồng bào vào rừng
tìm củ mài, củ nâu và những loại cây có củ về ăn. Hàng ngày đi làm lên rừng, lên núi,
mùa nào thức ấy, đồng bào hái măng, rau rừng các loại, hoa quả trên rừng, nấm hương,
mộc nhỉ, mật ong, củi đóm... mang về sử dụng. Những ngày nhàn rỗi, thanh niên nam
giới khoẻ mạnh thường đi săn bắn, đánh bắt cá ở các sông suối về cải thiện bữa ăn.

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

2.4. Ngành nghề thủ công
Người Pà Thèn có hai nghề thủ công
được tồn tại lâu, đó là dệt và nghề đan
lát. Nghề dệt có từ lâu đời, gắn với đặc
điểm trang phục của đồng bào. Sản
phẩm dệt của họ cũng được các dân tộc
xung quanh ưa thích, cho nên còn được
đem bán, trao đổi với dân tộc khác.
Nghề đan lát ở người Pà Thẻn cũng khá
phát triển. Họ tự túc đồ đan như chiếc
gùi, chiếc dậu, cót phơi thóc lúa.

Nghề dệt của người Pà Thẻn (Ảnh sưu tầm)

2.5. Trao đồi, mua bán
Dân tộc Pà Thẻn ít người cho nên họ không có chợ riêng nên thường họp chợ chung với
các dân tộc trong vùng. Ra chợ, người Pà Thẻn thường bán các lâm sản quý như nấm
hương, mộc nhỉ, mật ong, măng khô. Những con vật nuôi như gà, vịt, lợn, thậm chí cả

trâu đều được người Pà Thẻn đem bán. Ở chợ, họ thường mua muối ăn, kim khâu và
những đồ dùng cần thiết liên quan đến trang sức cho phụ nữ

3. Văn hoá truyền thống
3.1. Làng
Người Pà Thẻn sinh sống
thành từng làng, nhưng làng
của người Pà Thẻn có đặc
điểm là chịu nhiều chi phối
của trình độ sản xuất, hoàn
cảnh kinh tế - xã hội. Theo
các cụ già kể lại, ngày mới
di cư đến Việt Nam trước sự
cạnh tranh của cư dân bản
địa, họ phải dựng làng trên
nhiều triền núi cao. Mặt khác
lúc đó họ sống bằng nghề
Một góc làng dân tộc Pà Thẻn (Ảnh sưu tầm)
trồng trọt theo phương thức
phát đốt, chọc, trỉa trên các triền đất dốc, đất nhanh chóng bạc máu thường xuyên phải
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

thay đổi nương sản xuất. Do đó làng của họ là làng du canh, du cư, không ổn định, làng ít
hộ, cư trú thưa thớt. Từ những năm 60 của thế kỷ XX sau khi thực hiện định canh, định
cư, người Pà Thẻn xuống núi, làm ăn ổn định. Ở vùng núi thấp, họ dựng làng ở gần khe
suối, có khả năng bắc máng tre dẫn nước về đến nhà. Tuỳ theo từng địa plnrơng, số lượng
nhà ở trong làng khác nhau. Ở vùng hữu ngạn sông Lam, các xã Tân Trịnh, Tân Lập, Yên

Bình, nơi số dân số chiếm 4/5 dân số của người Pà Thẻn, có làng đông tới 30 - 40 nóc
nhà. Những nơi khác, làng người Pà Thẻn thường sống rải rác dọc theo các con sông
suối.
Trong một làng người Pà Thẻn thường có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó một dòng
họ lớn nhất: đông người, có uy thế về kinh tế - xã hội trong cộng đồng làng.
3.2. Nhà ở
Người Pà Thẻn cũng như các
dân tộc khác rất quan tâm đến
ngôi nhà ở. Dù là môi trường tự
nhiên thế nào, đã ở đó làm ăn là
phải làm nhà để ở. Khi chọn đất
làm nhà, người Pà Thẻn thường
quan tâm đến hướng nhà. Đất
được chọn làm nhà thường là
chân núi, để khi dựng nhà, nhà
(lựa lưng vào núi và mặt trước
nhà là khoảng không gian rộng
rãi, có tầm nhìn xa, nhưng đồng
bào kiêng, ở tầm xa đó có núi
hoặc sông hướng thẳng vào phía
trước nhà. Đồng bào quan niệm rằng làm nhà vào những hướng đó thì các thành viên
trong nhà hay bị đau yếu, các con vật nuôi trong nhà không phát triển.
Người Pà Thẻn ở nhà đất. Nguyên vật liệu làm nhà là gồm tre, nứa là những nguyên vật
liệu sẵn có ở trong rừng, tại địa phương, không cần mua mà chỉ đi lấy về dùng. Để dựng
một ngôi nhà ổn định, chủ nhà phải tự đi vào rừng chọn gỗ, chặt cây, dùng trâu kéo gỗ về
gần nhà tập trung. Khi nào những cây cột, kèo, xà đã lấy về đủ, đến ngày dựng nhà, chủ
nhà mới nhờ sự giúp đỡ của xóm giềng cả về công sức cũng như của cải.
Nhìn từ khía cạnh tâm linh, người Pà Thẻn làm nhà chỉ cấn xem ngày, chứ không cần
xem giờ. Họ tránh ngày trùng với ngày chết của bồ mẹ và ngày Thân. Khi làm nhà, đồng
bào thường chọn con vật lớn như ngày con Trâu, ngày con Hổ. Vì cho rằng chọn những

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

ngày đó, khi làm làm xong vào ở sẽ khoẻ mạnh và may mắn hơn. Người Pà Thèn cũng
không chọn ngày trùng với năm tuổi của chủ nhà để dựng nhà. Liên quan lịch chọn đất
làm nhà, đồng bào Pà Thẻn còn sử dụng giải pháp mang lính tâm linh khác. Tại mảnh đất
định chọn làm nhà, người ta đào một hố nhỏ, là phẳng đáy hổ, người ta đặt xuống hố một
đĩa nhỏ có chứa gạo được nhóm thành các nhóm: nhóm tượng trưng cho người, mỗi
người là một hạt, các nhóm tượng trưng cho gia súc, gia cầm, mỗi loại được tượng con
trưng bằng 5 hạt gạo, rồi lấy bát úp lại và vàng mã. Chủ nhà tháp cúng. Thầy cúng hoặc
chủ nhà tự khấn vái lạy, rồi đốt vàng mã gửi cho thổ thần. Sáng sớm hôm sau, chủ nhà ra
xem, nếu thấy hương cháy không hết, hoặc các hạt gạo trong bát ở dưới hố bị xê dịch,
hoặc bị côn trùng ăn mất, có nghĩa là đất dữ, không làm nhà ở được. Nếu hương cháy hết,
các hạt gạo trên đĩa vẫn nguyên vị trí, thì đó là đất lành, có thể làm nhà ở tốt. Cách xem
đất như trình bày trên, nghe giải thích đầy màu sắc mê tín, duy tâm, nhưng thực chất đấy
là việc làm có tính khoa học cao. Hiện tượng những hạt gạo trong đĩa bị xê dịch, chính là
sự báo hiệu về mảnh đất cỏ nhiều côn trùng làm hại cho người, không nên đến làm nhà ở
đó.
Nhà ở của người Pà Thẻn là nhà bốn mái, nhà có hai cửa ra vào nhà. Cửa chính mở chính
giữa phía trước cửa nhà, nhìn thẳng vào bàn thờ; cửa phụ mở ở gian chái nhà, đi vào gian
bếp. Bố trí bên trong nhà ở của người Pà Thẻn: sát vách sau, gian giữa nhà là nơi đặt bàn
thờ tổ tiên, nhưng bàn thờ này không được dựa vào vách sau nhà. Có hai bàn để thờ, bàn
thờ chính, đặt cao hơn là nơi để bát hương, nơi trú ngụ của tổ tiên, bàn thờ phụ, đặt thấp
hơn là chỗ bày thức ăn cúng, là nơi tổ tiên ăn uống. Vì có hai bàn thờ, cho nên có người
nhầm tưởng là thờ hai loại khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một.
Tục vào nhà mới của người Pà Thẻn là đưa bếp lửa vào trước, tiếp đó là bàn thờ tổ tiên,
rồi đến lương thực, thực phẩm.
3.3. Y phục, trang sức

Trang phục của người Pà Thẻn,
ngoài sự phân biệt theo giới
tính, trang phục lao động hàng
ngày, không có trang phục
mang chức năng xã hội. Trong
các dịp cưới xin, lễ tết, hội hè
người ta mặc những bộ y phục
mới hơn và khâu đẹp hơn.
Bộ y phục đặc trưng nhất cho
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

dân tộc Pà Thẻn là bộ y phục của phụ nữ, còn bộ y phục của nam giới đã bị thay đổi
nhiều. Bộ y phục phụ nữ nổi lên với cách dùng màu đỏ tươi làm màu nền. Bộ nữ phục
bao gôm khăn, áo, váy, thắt lưng, tạp dề. Phụ nữ Pà Thẻn để tóc dài, được quấn quanh
đầu bằng khăn đội đầu. Khăn đội đầu có hai loại: khăn trong – ar sọ và khăn ngoài - sừ
chi. Khi đội đầu, chiếc khăn trong có vai trò giữ tóc, còn khăn ngoài được vấn nhiều vòng
tạo cho khăn có hình dáng tương tự như khăn xếp của nam giới dân tộc Kinh, nhưng rộng
hơn và trang trí các màu đỏ, trắng, kẻ sọc xen kẽ. Áo nữ kẻ ô là loại áo cắt không cổ, xẻ
thẳng xuống trước ngực, không cúc, thân sau dài hơn thân trước, khi mặc vắt chéo hai vạt
áo trước với nhau. Màu chủ đạo của toàn bộ chiếc áo là màu đỏ tươi. Váy - két tanh là
loại váy mở, dài quá chân, phần cạp váy được xếp nếp để khi mặc vừa với vòng bụng,
nhìn tổng thể, chiếc váy cũng là một màu
đỏ tươi. Thắt lưng - tơ he to có Mi dụng
giữ váy bám sát eo lưng, nhưng đồng thời
cũng là một vật trang trí... Thắt lưng có hai
màu: đen và trắng. Thường ngày đi làm
trên ruộng, mương, chị em dùng thắt lưng

màu đen, trong các dịp lễ hội, đi chợ, hay
mới sinh, chị em dùng loại thắt lưng màu
trắng. Trên y phục - váy, áo của phụ nữ Pà
Thẻn được trang trí nhiều hoa văn. Hoa
văn trên váy, áo thường có nhiều mô típ:
mô típ hoa văn hình học (hình vuông, hình
Vòng cổ trang sức của phụ nữ Pà Thẻn
thoi, hình tam giác, hình răng cưa, hình
(Ảnh sưu tầm)
sao, hình lược... ), mô típ hoa văn động vật
(con chó, chân chó, nghé con, chân gà, mắt cua, con tằm...).
Bộ y phục của nam giới có nhiều nét chung với y phục của nam giới trong vùng như: áo
người Nùng, người Mông. Đó là chiếc áo bà ba, cài cúc vải. Quần nam giới được cắt may
theo kiểu chân què. Đồ trang sức của phụ nữ Pà Thẻn có: khuyên tai, vòng cổ, vòng nhẫn
và túi đeo.
Trẻ em gái được mẹ và chị trổ lỗ tai từ khi lên 5, lên 6 tuổi. Tuổi còn nhỏ, bắt đầu các em
dùng chỉ màu để giữ lồ tai. Bước vào tuổi 13, tuổi dậy thì, các em bắt đầu đeo khuyên tai
bằng bạc và đôi khuyên tai này sẽ được đeo suốt đời. Vòng cổ của chị em phụ nữ được
làm từ những sợi dây bạc có tiết diện tròn hay lục lăng. Chiếc vòng cổ thường có đường
kính khoảng từ 25 cm cho đến 30 cm. Vòng tay mà chị em phụ nữ sử dụng có hai loại:
vòng kép có tiết diện tròn và vòng đơ có tiết diện vuông. Chất liệu làm vòng tay cũng là
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

bạc. Nhẫn thì đối với chị em phụ nữ người Pà Thẻn cũng là vật trang sức, nhưng không
mang tính phổ biến như khuyên tai. Họ chỉ dùng loại nhẫn có bản •K’I. Túi đeo thường
được chị em dùng để chứa đựng đồ dùng mang theo như trầu, vỏ, vôi, thuốc... Nhưng về
sau, túi đeo thêm chức năng thẩm mỹ cho đồng bộ với bộ váy, áo, khăn đẹp mang trên

người.
Nam giới Pà Thẻn ít khi dùng đồ trang sức. Họ thường dùng tủi đeo giống như túi đeo
của phụ nữ và có người đeo nhẫn bạc.
3.4. Ẩm thực
Nguồn lương thực chính của người
Pà Thèn là lúa gạo - mồ chi, khi
thiếu ăn thì họ dùng cả ngô. Cơm
gạo tẻ được nấu bình thường và nấu
ăn thường xuyên. Người Pà Thẻn
thỉnh thoảng có nâu cơm nếp, thổi
xôi nhưng ít. Gạo nếp được sử dụng
nhiều hơn trong các dịp lễ tết hội lễ
cưới xin, ma chay. Ngô - cà xị, tuy
là lương thực có vai trò phụ so với
lúa gạo, nhưng ngô lại được sử dụng
theo nhiều cách khác nhau:

Người Pà Thẻn nấu cơm lam trong hội thi
(Ảnh sưu tầm)
với ngô non thì ăn luộc, ngô già thì ăn
nướng, ngô còn được nấu độn với cơm. nấu cháo ngô ăn thay gạo trong mùa đói kém.
Thực phấm được sử dụng trong bữa ăn hàng ngày là các loại rau, đậu, bầu bí; thỉnh
thoảng có ăn cá, trứng. Rau xanh có loại thu hái từ tự nhiên, có loại hái ngay trong vườn
nhà; thịt gia cầm, gia súc và thịt do đánh bẫy, săn bắt được từ rò từ sông, suối.
Cách chế biến thực phẩm: Rau xanh đồng bào Pà Thẻn thường nấu canh. Canh rau xanh,
canh đỗ tương là những món ăn thường trong bữa ăn của người Pà Thẻn. Với các loại
thực phẩm là thịt, củ, thức ăn của đồng bào thường ăn nướng hoặc làm thành món chua.
Món ăn nướng làm đơn giản, thịt, cá nướng không tẩm ướp gia vị mà chỉ muối rồi đem
nướng trên than củi hồng. Nướng chín bốc mùi thơm là ăn ngay. Món ăn chua làm cầu kì
hơn. Thịt thú rừng (nai, hoẵng), thịt gia súc (lợn, trâu, ngựa), gia cầm (gà) đều có thể làm

thành món chua để dành ăn trong vài ngày. Cách chế biến món ăn chua là thịt thái lát
mỏng, cá chặt khúc, ướp muối, trộn với thính gạo rang, sau đó nhét vào óng nứa, lèn chặt,

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

để ra chô thoáng khoảng 15-20 ngày là có thê ăn được. Người Pà Thẻn còn có cách bảo
quản thực phẩm bằng cách sấy khô: thịt sấy khô, măng khô, mộc nhỉ khô...
3.5. Phương tiện vận chuyển
Cũng như các dân tộc khác, người Pà Thẻn sử
dụng gùi như công cụ vận chuyển hàng hóa phổ
biến.
Chiếc gùi (Ảnh
minh họa)
3.6. Ngôn ngữ
Tiếng nói: Tiếng nói của người Pà Thẻn thuộc người hệ
Mông nhưng do một thời gian dài chung sống với người
Tày, tiếng nói có pha trộn nhiều tiếng Tày trong vùng mà
họ tiếp xúc hàng ngày.
Chữ viết: Trước đây người Pà Thẻn dùng chữ Hán để ghi
chép các sách cúng, làm văn tự: giá thú, khai sinh, khai
tử, các văn tự về nơi đất đai khác.

3.7. Tín ngưỡng tôn giáo
Người Pà Thẻn tin vào vạn vật hữu linh, mọi vật từ sinh
vật sống đến vật vô tri vô giác đều có linh hồn.
Chữ Hán được người Pà Thẻn
sử dụng (Ảnh minh họa)

Những linh hồn này đều là những “vật sống” tàng
hình, nhưng chúng có tác động lẫn nhau và tác động
đến cuộc sông của con người, của cây trồng, vật nuôi của con người. Những linh hồn có
khá năng “siêu nhiên” như vậy được đồng bào gọi bằng một tên chung là quơ - ma hay là
pa quơ - con ma Những con ma này trường tồn ở cả ba tầng: trên trời, trên mặt đất và
dưới mặt đất. Ma có hai loại: ma lành và ma dữ. Ma lành là ma phù hộ cho con người,
che chở cho con người mồi khi gặp điều khó khăn trắc trở. Ma lành gồm có ma trời, ma
thổ địa, ma bản, ma tổ tiên. Ma dữ là ma chuyên làm hại người, hại cây trồng, vật nuôi.
Để trị loại ma này phải là những thầy cúng cao tay. Theo quan niệm dân gian ma này
gồm: ma rừng già, ma gà, ma lói, ma hòn đá, ma của những người bất đắc kỳ tử, ma
thuồng luồng, ma chó sói. Trong các loại ma này, đáng sợ nhất là ma thuồng luồng.

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

Những quan niệm về ma như trình bày ở trên đây làm cơ sở cho sự hình thành các nghi lễ
hội hè, thờ cúng trong dân gian như: thờ cúng tổ tiên, các lễ tết hội hè...
Thờ cúng tổ tiên: Theo quan niệm của đồng bào Pà Thẻn, người ta có 5 hồn, trong đó có
một hồn ngự trốn đỉnh đàu, các hồn còn lại ngự ở tứ chi và ở cơ thể con người. Khi các
hồn đó rời khỏi xác là người ta chết lúc đó hồn biến thành ma. Đồng bào cũng quan niệm
rằng, khi người chết đi thì chỉ còn hai hồn. Hai hồn này cũng rất dữ nếu không được
chăm sóc cẩn thận. Do vậy khi làm tang ma, thầy cúng phải cúng và tiễn đưa cả hai hồn:
một hồn đưa lên mộ, một hồn đưa về với tổ tiên. Xuất phát từ quan niệm như vậy, cho
nên người Pà Thẻn có phong tục thờ cúng tổ tiên.
Bàn thờ cúng tổ tiên của người Pà Thẻn gồm hai bàn: bàn thờ chính, bàn thờ phụ. Bàn
thờ chính được đặt ở gian giữa đối diện với cửa chính ra vào nhà. Trên bàn thờ chính
thường chỉ có một bát hương. Nếu gia đình nào trên bàn thờ chính có hai bát hương thì
gia đình đó đã lấy rể. Trong hai bát hương trên bàn thờ chính, bát bên phải bàn thờ, thờ tổ

tiên nhà vợ, còn bát bên trái bàn thờ, thờ tổ tiên người ở rể. Nét đặc trưng chính việc thờ
tổ tiên của người Pà Thẻn là trên bàn thờ chính luôn có hai bát nước lã. Bát nước này
được đậy bằng một chiếc đĩa và luôn phải co1 nước. Thông thường cứ 6 tháng mới được
mở xem và tiếp nước một lần cho đầy. Hết năm, thay toàn bộ nước trong bát đó. Trên
vách bàn thờ hình có dán một tờ giấy đỏ, kích thước 50cm X 70cm. Neu gia đình làm lễ
cúng thì trên bàn thờ chính còn bày thêm hoa thờ. Hoa thờ có thể vẽ ngay trên tờ giấy đỏ.
Hoa thờ tượng trưng cho âm binh cùa thầy cúng Bàn thờ phụ được bài trí đơn giản hơn.
Đó là một tấm ván được để ngang trước cửa buồng ngủ của chủ nhà. Đây là nơi bày các
lỗ vật khi cúng (gà, lợn, các thức ăn khác...). Người Pà Thẻn có tập quán không bao giờ
bày đặt lễ vật cúng lên bàn thờ chính.
3.8. Lễ hội
Lễ tết, hội hè: Dân tộc nào cũng có lễ tết, hội hè nhằm tạo ra một không khí mới, giải toả
phần nào những bức xúc trong đời sống và là dịp con người có cơ hội giao lưu, thăm hỏi,
vui vẻ với nhau. Trong một năm, người Pà Thèn có nhiều ngày lễ tết, nhưng có một số lễ
tết đáng biết sau: tết Nguyên đán, tết Thanh minh, tết 15/ 5 (Tết Rau kiệu)
Tết Nguyên đán: là tết mở đầu năm mới, tết to nhất trong năm. Tết này được chuẩn bị
nhộn nhịp từ ngoài 20 tháng Chạp: các gia đình mổ lợn, làm món thịt lạp, lạp xường,
người Pà Thèn không gói bánh chưng ăn tết mà làm bánh giầy - tộ gộ; sửa chữa công cụ
sản xuất (như cày, cuốc) để sẵn sàng bước vào năm mới sản xuất được may mắn.30 tết
làm lễ tất niên, gia đình nào cũng thắp hương lên bàn thờ, bày mâm thờ tổ tiên (mâm
cúng chỉ có thịt gà, không có thịt lợn), thay nước trên thờ (thay nước trong bát, chứ
không thay bát và đĩa đậy). Khi cúng tổ tiên người ta khép cửa lại. Cũng trong tối 30 tết,
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

người Pà Thẻn còn ngoài hiên nhà nhằm ngăn chặn không cho các loại ma khác vào .
Cúng lễ này xong cửa nhà được đóng kín đến sáng hôm sau. Sáng mùng 1 Tết, từng gia
đình tự làm lễ xin nước mới (gả ỏ). Lễ vật đi xin bao gồm 1 nén hương, 2 củ thạch sương

bồ (loại củ mọc trên núi đá, Iilé người Pà Thẻn phải mất công đi tìm lấy về từ những
tháng trước đó) một tờ giấy bản (vàng mã). Họ cầu mong nguồn nước luôn sạch sẽ quanh
năm, suốt tháng.. Khoảng gần ngày mồng 1 Tết, người Pà Thẻn có tục ăn cháo gà. Tục
ăn cháo gà vào khoảng 4 giờ sáng và liên quan đến sự tích: ngày xưa, có một gia đình
nghèo, tết đến bố chẳng có gì cho con cái ăn. Theo phong tục tối 30 tết các gia đình đều
đóng kín cửa, ông bố mò mẫm trong đêm đến nhiều xóm ăn trộm gà. Trộm được gà về
ông bố làm gà, nấu cháo gà. Đến sáng cháo gà đã nấu xong, ông bố gọi vợ, các con dậy
ăn trong cảnh trộm ăn, trộm uống không để cho hàng xóm biết. Tục ăn cháo gà này còn
lưu giữ lại trong phong tục ăn tết của người Pà Thẻn. Ngày mồng 1 Tết, người ta thường
hay đi chúc tết các gia đình trong họ hàng, làng xóm thân thiết. Tục ăn tết năm mới kéo
dài từ 29 tết đến hết 15 tháng Giêng, ngày 15 thủng Giêng không làm lễ tiễn đưa tổ tiên
về.
Tết Thanh minh: tổ chức vào ngày 3/3 hàng năm. Tết này không cúng vào buổi trưa, mà
cúng vào buổi tối. Đồng bào giải thích rằng, cúng vào buổi tối, ma tổ tiên và ma người
thân mới kịp về. Mâm cỗ tết này có bánh, thịt, xôi 4 màu: màu trắng tự nhiên của gạo
nếp, màu vàng (nhuộm vàng nước ngâm củ nghệ), màu tím (nhuộm bằng nước ngâm lá
da líu), màu đỏ (nhuộm bằng nước ngâm lá da tớ), rau. Mâm cúng còn bày thêm 5 chén
đĩa. Nơi đặt mâm cúng là ngoài hiên, bởi vì đây là tết mồ mả. (cúng xong ở ngoài hiên,
người ta dọn mâm cúng vào nhà hưởng lộc. Sáng ngày 4/3, đồng bào mới đi tảo mộ với
vật cúng là gà, xôi, rượu.
Tết 15/5: Đây là tết Rau kiệu - tế ủ
chúng. Dịp tết này, người đào lấy
hết củ kiệu mang về nhà. Mâm
cúng lúc đầu bày ở bàn thờ tổ tiên,
sau đó đem ra cúng ở hiên, rồi mới
được đưa vào nhà để ăn.
Tết 27/9: Đây là tết Cơm mới,
mâm cúng như tết năm mới.
Tục nhảy lửa - Pồ di: Tục này
được tổ chức vào sau ngày 15/10

âm lịch hàng năm, tức là sau ngày
thu hoạch xong vụ mùa. Để tổ chức

Tục nhảy lửa của người Pà Thẻn (Ảnh sưu tâm)

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 11 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

nhảy lửa cần có thầy cúng cao tay người Pà Thẻn, cần 1 con lợn khoảng 30 kilôgam để
cúng trời (Ngọc Hoàng), chuẩn bị một đống củi khô, bãi rộng – thường là ruộng của làng
vừa thu hoạch vụ mùa xong, đất ruộng khô ráo, mời một số nam thanh niên sẵn sàng đến
dự, tham gia vào cuộc nhảy lửa.
Vào chập tối, thầy cúng, thanh niên, dân làng đến nơi tổ chức nhảy lửa - chỗ chất đống
củi, khá đông đủ, dân làng đứng vòng ba phía của đống củi, phía còn lại là nơi để thầy
cúng làm việc và một số nam thanh niên chuẩn bị sẵn sàng nhảy lửa ngồi. Thầy cúng tay
trái cầm que gõ đàn, tay phải lắc đàn pà sán tàu, miệng niệm thần chú, khấn mời Ngọc
Hoàng, mời thần đất đến nhập vào những thanh niên, có vía nhẹ ngồi đó. Khi thầy cúng
làm việc thì đống củi được châm lửa đốt lên. Thầy cúng mời được “ma’ trời nhập vào ai
thì người đó tự nhiên đứng dậy, đi về phía đống lửa đang cháy, đi vòng quanh đống lửa,
rồi bất thình lình nhảy vào đống lửa, hất tung củi đang cháy, hất tung than đang hồng, lao
vào đống lửa xuyên từ bên này sang bên kia, mấy lần liên tục. Khi nhảy lửa như vậy, họ
đi chân không, không giầy, dép, không mũ, nón, mặc quần áo bình thường, nhưng khi ra
khỏi đống lửa, chân không bị bỏng, tóc không bị cháy, quần áo vẫn nguyên vẹn.
Hiện tượng đi chân không, giẫm lên than hồng, không chỉ có ở dân tộc Pà Thẻn, mà còn
có ở dân tộc Tày (Bắc Kạn), dân tộc Chăm (Ninli Thuận), dân tộc Dao (Lào Cai) và dân
tộc Bulgari ở nước Bulgari .
3.9. Gia đình, dòng họ
Gia đình của người Pà Thẻn là gia đình nhỏ phụ hệ. Con cái sinh ra được tính theo dòng

bố, chỉ con trai được kế thừa tài sản do bố mẹ để con trai cũng là người có trách nhiệm
thờ cúng tổ tiên, chăm sóc mồ mả dòng họ. Gia đình người Pà Thẻn cũng là gia đình phụ
quyền. Người chồng và người con trai trưởng có được quyền lực lớn trong việc giải quy 1
những vấn đề trong nhà cũng như trong cộng đồng. Theo quan niệm phụ quyền, một gia
đình có nhiều con trai thì bố mẹ rất đáng tự hào, một dòng họ có nhiều con trai là dòng họ
mạnh.
Người Pà Thẻn tự gọi mình là người “tám họ”. Những họ đó là: họ Phù, họ Tẩn, họ Táy,
họ Húng, họ Sình, họ Là, họ Dư... Họ coi đây là những họ gốc. Tuy nhiên trong thực tế,
ta thấy người Pà Thẻn còn có các họ khác như: họ Bàn, họ Triệu. Có học giả cho rằng họ
Bàn là họ của dân tộc Dao. Các họ của người Pà Thẻn mang tính huyết thống cho nên bị
cấm kết hôn với nhau. Tên những họ nêu trên là tên theo họ Hán. Cũng những tên họ đó,
nhưng theo tiếng Pà Thẻn phát âm như họ Phù là Ca bô, họ Sình là Ca sơ, họ Đừ là Ca
đo, họ Làn là Ca lu Mỗi họ gốc hiện nay lại chia ra thành các chi lớn, chi nhỏ như Họ
Phù rân Trịnh chia thành ba chi: Ca bỏ cộ là họ Phù to, Ca bô ca đe là họ Phù dê và Ca bô
ca xi là họ Phù gio bep. Trong tên chi họ trên, những từ: I ộ, ca đe, ca xi là đe phân biệt
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 12 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

các chi với nhau. Tên mỗi chi họ đều gắn với một truyền thuyết riêng. Thí dụ, chi họ Phù
ca bô ca đe liên quan đến truyền thuyết con dê cứu người họ này. Họ Húng có truyền
thuyết về một con rắn - puốc ke, chuyên đi săn ăn thịt người, rồi bị một người họ Húng
giết chết. Hiện nay họ Húng có chi Húng puốc ke.
3.10.
Tục lệ cưới xin
Người Pà Thẻn thực hiện hôn nhân
ngoại tộc hôn nhân dòng tộc (dòng
họ). Việc hôn nhân trong dòng tộc
bị nghiêm cấm, thậm chí những họ

lớn, có nhiều chi như họ Phù, họ
Sình, việc hôn nhân giữa các chi họ
vẫn bị cấm nghiêm ngặt. Hôn nhân
của người Pà Thẻn là hôn nhân một
vợ, một chồng bền vừng. Những
trường hợp lấy vợ hai được coi như
ngoại lệ và chỉ trong những tình
huống cụ thể như vợ cả không có
con hoặc vợ cả bị bệnh nặng lâu
Lễ rước dâu của người Pà Thẻn (Ảnh sưu tầm)
dài... Tập quán người Pà Thẻn ít có
trường hợp vợ chồng ly dị và dư luận cộng đồng lên án mạnh mẽ những hành vi uy,ngoại
tình. Sau lễ cưới, đôi tân hôn về cư trú bên nhà chồng. Tuy nhiên cũng có tục ở rể tạm
thời và tục ở rể đời. Tục ở rể tạm thời thường do nhà gái yêu cầu. Thời gian ở rể dài nhất
là 12 năm. Nếu không muốn ở rể thời hạn theo yêu cầu của nhà gái thì có thể thay thế
bằng tiền. Mỗi năm ở rể có thể thay bằng một đồng bạc trắng, nhưng chỉ được thay thế
nhiều nhất là nửa thời hạn, chứ không thể thay thế hết. Tục ở rể đời thường được thực
hiện khi nhà gái không có con trai. Theo tục này, sau hôn nhân người chồng phải sang ở
hẳn bên nhà vợ đế thừa hường tài sản thừa kế do bố mẹ vợ để lại và thờ ma hai nhà trên
hai bàn khác nhau: một bàn thờ thờ ma nhà họ mình, một bàn thờ thờ ma nhà họ vợ; con
cái sinh ta mang họ nhà vợ. Trong trường họp ở rể đời, thường tổ chức đám cưới giản
hơn, lễ vật ít hơn.
3.11.
Tập quán sinh đẻ và nuôi con nhỏ
Dân tộc nào cũng yêu quý con, người Pà Thẻn cũng vậy, cho nên có em bé cả gia đình
yêu quý, quan tâm nuôi nấng, dạy dỗ trẻ. Người Pà Thẻn có tục đặt tên cho con trẻ từ khi
còn bé. Tên đặt theo thứ tự của I IU con do một bố mẹ sinh ra: cả, hai, ba, tư, năm, sáu,
bảy... và kèm tiiro tên bố. Người Pà Thẻn đặt tên chính thức cho con mình khi chúng lớn
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 13 | 15



TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

lên. Tên chính thức được dùng cho đến khi chết, đi về với tổ tiên. Vì vậy, việc đặt tên
chính thức phải được tiến hành theo một nghi lễ do thầy cúng chủ trì. Thầy cúng viết một
số tên định đặt cho đứa trẻ lên tròn mảnh giấy, rồi đặt những mảnh giấy đó lên bàn thờ
trình thần linh, thắp hương cúng. Sau đó thầy cúng nhặt lấy một trong bất kì mảnh giấy
ghi Tên trên mảnh giấy vừa nhặt ra sẽ là tên chính thức của đứa bé. Ớ nhiều nơi, người ta
cũng tổ chức đặt tên cho con gái, nhưng không tiến hành theo các nghi lễ phức tạp như
đặt tên cho con trai. Dù con gái có tên chính thức, nhưng trong cuộc sống thường ngày,
người ta vẫn không gọi theo tên chính thức đó, mà gọi theo tên chồng. Nghi lễ đặt tên
chính cho con trai có giá trị khi chết về tổ tiên mới được tổ tiên thừa nhận vì đã có tên
đăng ký với tổ tiên từ trước rồi.
3.12.
Tập quán tang ma
Người Pà Thẻn quan niệm rằng, chết là kế tục” sự sống ở một thế giới khác - sự sống của
linh hồn con người ở thế giới bên kia. Việc làm ma cho người chết là ước mong của
người sống, của thân nhân, giúp cho linh hồn người chết có được sự an lành ở thế giới
mới.
Khi có người chết, người Pà Thẻn ra sân bắn ba phát súng chỉ trời để báo cho tổ tiên biết,
cho “trời” biết dưới trần gian có người đã ra đi vĩnh viễn. Nếu người chết là thầy cúng thì
người ta không ra sân bắn súng, mà phải trổ nóc nhà ra để bắn. Thi hài được đặt trên một
tấm giết đan bằng tre ở trước bàn thờ. Người nhà rửa mặt, thay quần áo sạch cho người
chết, ở phía đầu người chết đặt một bát cơm và một quả trứng luộc đã bóc vỏ. Người ta
úp lên thân người chết 12 cái bát tượng trưng cho 12 hồn người. Lễ vật dùng trong đám
ma do con cái họ hàng thân thích của người chết đóng góp. Mỗi người con đẻ khi về chịu
tang bố phải mang theo một con lợn khoảng 25 kilôgam trở lên để góp vào các nghi thức
tang lễ. Đứa con nghèo không có lợn, cũng phải mang theo ít nhất 7 con gà, trong đó có
một con gà trống to. Đối với con gái khi cha mẹ chết không nhất thiết phải đóng góp lễ
vật. Quan tài người Pà Thẻn là khúc gỗ độc mộc bổ đôi, khoét rỗng giữa. Thi hài được

cho vào quan tài khi nửa dưới của quan tài đã đặt ở dưới huyệt, đầu người chết quay về
hướng núi. Cuốc xẻng dùng đào, lấp huyệt, sau ba ngày mới được mang về nhà.
3.13.
Văn nghệ dân gian
Dân tộc Pà Thẻn có một vốn văn học nghệ thuật dân gian phong phú. Có nhiều truyện cổ,
các làn điệu dân ca, ca dao, tục ngừ, câu đố, giải đố. Truyện về nguồn gốc cây lúa nói lên
tình thân giữa con người và con chó, con lợn với con người. Như sáng kiến của các con
chó, mèo, lợn mà có được cây lúa để người Pà Thẻn gieo trồng, sản xuất, nhân lên, phát
triển cây lúa, nuôi sống con người và các con vật. Truyện cổ lên án chàng trai lười, không

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 14 | 15


TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC PÀ THẺN | Hoàng Trần

chịu quét sạch đường cho hạt lúa tự lăn về nhà, cho đến bây giờ con người mới phải khổ
sở ra đồng gặt lúa, mang lúa về nhà.

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 15 | 15



×