TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG
MỤC LỤC:
1.
Vài Nét Về Dân Tộc Cống ..................................................................................................... 2
2.
Kinh Tế Truyền Thống ......................................................................................................... 3
3.
2.1.
Trồng trọt.......................................................................................................................... 3
2.2.
Chăn nuôi ......................................................................................................................... 3
2.3.
Khai thác tự nhiên ............................................................................................................ 3
2.4.
Ngành nghề thủ công........................................................................................................ 4
2.5.
Trao đỗi, mua bán............................................................................................................. 4
Văn Hóa Truyền Thống Dân Tộc ......................................................................................... 5
3.1.
Làng .................................................................................................................................. 5
3.2.
Nhà ở ................................................................................................................................ 6
3.3.
Gia đình ............................................................................................................................ 6
3.4.
Trang phục........................................................................................................................ 7
3.5.
Ẩm thực ............................................................................................................................ 7
3.6.
Phương tiện vận chuyển ................................................................................................... 8
3.7.
Ngôn ngữ .......................................................................................................................... 8
3.8.
Tín ngưỡng tôn giáo ......................................................................................................... 8
3.9.
Lễ Hội ............................................................................................................................. 10
3.10.
Tục lệ cưới xin ............................................................................................................ 10
3.11.
Tập quán sinh đẻ và nuôi con ..................................................................................... 12
3.12.
Tập quán tang ma ....................................................................................................... 13
3.13.
Văn hóa dân gian ........................................................................................................ 14
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
1. Vài Nét Về Dân Tộc Cống
Dân số : 2.029 người (2009)
Ngôn Ngữ: thuộc hệ ngôn ngữ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến.
Tên gọi khác: Xắm Khống, Mâng
Nhé, Xá Xèng, Phuy A
Nhóm
địa
phương:
Xá,
Xá
Cống,Cống
Địa bàn cư trú: Điện Biên, Lai Châu
Địa bàn cư trú:
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029
người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cống cư trú tập trung
tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9% tổng số người Cống tại Việt
Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9% tổng số người Cống tại Việt Nam),
còn lại 24 người sinh sống ở một số tỉnh, thành khác
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
2. Kinh Tế Truyền Thống
2.1. Trồng trọt
Dân tộc Cống là cư dân nông
nghiệp chuyên làm nương rẫy.
Phương thức canh tác là phát rừng,
đốt nương, chọc lỗ, tra hạt. Nương
phát chỉ sử dụng được 3-4 năm. Từ
sau ngày giải phóng (1954) đồng
bào bắt đầu làm nương cuốc.
Nương cuốc sử dụng được lâu hơn,
có thể 10 - 15 năm mới phải bỏ hóa
đi tìm mảnh nương khác. Từ cuối
thế kỷ trước, phương thức canh tác
Đốt nương lấy đất canh tác (Ảnh: sưu tầm)
đã thay đổi cơ bản, đồng bào Cống
đã chuyển sang khai hoang làm ruộng nước và bắt đầu nuôi trâu, dùng trâu làm sức kéo.
Cây trồng chính là lúa, ngô. Cây lúa có lúa tẻ và lúa nếp. Lúa tẻ có tẻ đỏ - mà cù, tẻ thơm
- hồ cù; Lúa nếp có nếp đỏ - khấn soi, nếp thơm hạt đỏ - si phú. Đồng bào cống trồng trọt
cây lúa theo thời vụ như các dân tộc cùng sinh sống trên Tây Bắc. Đen mùa thu hoạch, cả
nhà, người già, người trẻ đều lên nương thu hoạch lúa. Đồng bào thu hoạch lúa bằng tay,
dùng hái
nhặt. Ngoài cây lương thực đồng bào còn trồng bông, chủ
yếu để đem đổi lấy vải, vì
đồng bào không có tập quán dệt vải.
2.2. Chăn nuôi
Đồng bào Cổng trước kia chăn nuôi các loại tiểu gia súc như lợn, chó, gà... Họ chăn thả.
Do cuộc sống du canh, du cư cho nên không chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò. Nhưng từ
khi bắt đầu làm ruộng nước, định canh, định cư, đồng bào đã nuôi thêm đại gia súc như
trâu, bò, ngựa...
2.3. Khai thác tự nhiên
Vùng biên giới Việt - Trung và Việt - Lào, trước đây là nơi núi cao, rừng rậm, đất rộng,
người thưa, thiên nhiên rất hào phóng, ưu đãi con người. Vì vậy, kinh tế khai thác tự
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
nhiên của đồng bào rất phong phú. Ngoài nguồn sống chính là cây lương thực do đồng
bào sản xuất, nhiều nhu cầu cơ bản của cuộc sống như nguyên vật liệu làm nhà, các loại
rau ăn, các loại thảo dược... đồng bào đều khai thác từ thiên nhiên. Sản vật thiên nhiên
thật đa dạng, gốc thực vật có rau dớn, rau ngót, rau dền, rau đắng, các loại măng, các loại
nấm; gốc động vật có cua, cá, ếch, nhái, các loại ong, các loại nhộng, trứng chim, các loại
côn trùng. Sản vật thiên nhiên đặc biệt có giá trị khi mùa màng thất bát, lúc giáp hạt. Bột
báng chế biến từ cây báng và củ mài khi đó trở thành nguồn lương thực của đồng bào.
Đồng bào có thói quen bắt cá bằng tay hay duốc cá ở các khe suối. Từ cuối thế kỷ trước
người cống đã đánh cá dùng thuyền trên sông Đà.
2.4. Ngành nghề thủ công
Ngành nghề thủ công của dân tộc cống ít phát
triển. Đồng bào không dệt vải, chỉ có nghề đan lát
các sản phẩm: giỏ đựng cơm, gùi đeo, rương hòm
là tương đối phổ biến. Nam nữ đều biết đan các
sản phẩm này. Người ta đan lát chủ yểu phục vụ
nhu cầu gia đình. Người cống ở Tác Ngà có nghề
đan chiểu mây nhuộm đỏ.
Nghề đan lát còn được giữ lại
2.5. Trao đỗi, mua bán
Việc trao đổi hàng ở người cống được thể hiện rõ nét. Do trồng bông, nhưng không dệt
vải, cho nên để có quần áo mặc đồng bào dùng bông đổi lấy vải với các dân tộc khác.
Thông thường họ dùng bông đổi lấy vải của người Thái, may đồ mặc. Đồng bào mang
các thứ lâm sản ra thị trấn Mường Tè bán và mua các nhu yếu phẩm như muối ăn, kim
khâu, dầu thắp, các công cụ sản xuất như: dao, cuốc,...
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
3. Văn Hóa Truyền Thống Dân Tộc
3.1. Làng
Làng là đơn vị cư trú của người cống.
Làng của người Cống được gọi theo
tiếng Thái là bản. Bản Nậm Khao
tiếng Thái là Nước Trắng, bản Bó
Lếch, tiếng Thái là Mỏ sắt, bản Nậm
Kè tiếng Thái là Suối Kè, Nậm Pung
tiếng Thái là Suối Pung. Những tên
bản của người cống ngày nay (Nậm...
) cho thấy đồng bào cống thường dựng
bản ở ven sông, suối, nhiều nhất là ven sông Đà. Ở miền núi, việc dựng bản và chọn
hướng bản hoàn toàn phụ thuộc vào địa hình là núi, sông. Hướng bản thường nhìn ra
dòng sông hoặc nhìn xuống chân núi. Trong nhiều bản, người cống cư trú xen kẽ với
người Thái.
Trong mỗi bản có các họ khác nhau như: Lò, Ly, Chảo, Chang, Hù, Lùng cùng cư trú,
nhưng thường có một dòng họ đông và có uy thế hơn cả. Như ở bản Tác Ngà, Bó Lếch,
Nậm Khao, họ Lò là có số lượng gia đình đông và có uy tín hơn cả; bản Nậm Kè - có họ
Hù. Tùy từng dòng họ có chia thành chi hay không chia thành các chi khác nhau. Ở bản
Bó Lếch họ Lò chia thành hai chi: chi Lò Lặc và chi Lò Tá. Chi Lò Lặc (lặc tiếng Thái có
nghĩa là ăn trộm), chuyên cúng tổ tiên vào ban đêm và phải giả vờ bắt trộm gà để cúng.
Chi Lò Tá (còn gọi là Lò Seo). Các họ phân biệt với nhau bằng cách thức cúng tổ tiên và
nơi đặt bàn thờ. Mỗi dòng họ có tục kiêng ăn thịt một số con vật khác nhau như: họ Lò ở
Bó Lếch kiêng ăn thịt con chim ha na họ Lò ở bản Nậm Khao kiêng ăn thịt con chim
táng lò, họ Ly ở bản Pà Nè kiêng ăn thịt con sóc, họ Chảo kiêng ăn thịt con chim chan ma
(một loại cắt), họ Hù kiêng ăn thịt con hô. Mỗi họ có một người trưởng họ - xíp xứng.
Trưởng họ có trách nhiệm chủ trì giải quyết các công việc chung trong họ, thường giúp
con cháu đi hỏi vợ, chủ hôn trong các lễ cưới.
Sinh sống quây quần trong núi rừng Tây Bắc, đất rộng người thưa, người dân trong bản
có tập quán tương trợ giúp nhau với tinh thần tình làng, nghĩa xóm rất cao. Một gia đình
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
có việc như: cưới xin, ma chay, làm nhà mới, gia chủ báo tin cho bà con dân làng biết và
người ta kéo đến nhà có việc giúp đỡ tận tình, vô tư. Đặc biệt, những gia đình gặp nạn
được giúp đỡ về mọi mặt.
3.2. Nhà ở
Dân tộc Cống ở nhà sàn ba hoặc
bổn gian. Trong bổn gian đó, gian
trong cùng là gian có buồng ngủ
của bố mẹ, bàn thờ tố tiên và bếp
nấu ăn, gian giữa là gian có bếp
sưởi và là nơi tiếp khách, nơi ngủ
của khách. Bên cạnh nơi ngủ của
khách là buồng ngủ của vợ chồng
con trai cả, rồi đến buồng ngủ con
trai thứ. Gian ngoài cùng, gần cửa ra vào là nơi ngủ của con gái và rể (ở rể). Các gian
được ngăn thành buồng bằng phên vách tre, nứa. Con trai chưa vợ, con gái chưa chồng ít
khi ngủ ở nhà mình. Họ thường đến ngủ bạn ở nhà vắng người, hay ở nhà có người góa.
Những nhà này thường tập trung nam nữ trong bản vào ban đêm. Nhà ở của người cống
về thiết kế có hai điều đáng lưu ý là mỗi nhà chỉ có một cửa ra vào, một cửa sổ ở gian
giữa và một sàn nhở, cao hơn sàn chính khoảng 15 - 16cm, rộng khoảng 50 - 90cm ở phía
sau hàng cột trên cùng. Sàn này được cấu tạo bằng cách kê một cây gỗ dọc chạy suốt hai
đầu nhà, rồi lấy những thanh gỗ ngang gác lên trên, phía trên đặt dát tre hoặc vầu theo
chiều dọc.
3.3. Gia đình
Mỗi ngôi nhà là nơi ở của một gia đình. Gia đình của người Cống là tiểu gia đình phụ hệ,
phụ quyền. Đứng đầu gia đình là người bố, khi bố chết, con trai trưởng thay bố đứng đầu
gia đình. Người đứng đầu gia đình cũng là người đại diện cho gia đình trong công việc
đối ngoại. Con cái sinh ra trai hay gái đều lấy họ bố. Là thành viên trong gia đình họ có
quyền bình đẳng trong lao động và hưởng thụ thành quả lao động. Con trai kế thừa tài sản
bất động sản: nhà ở, ruộng nương, vườn tược và chịu trách nhiệm hương hỏa các nghi lễ
thờ phụng tổ tiên. Con gái đi lấy chồng chỉ được của hồi môn. Mỗi gia đình thường thuộc
về một dòng họ nào đó ở trong làng.
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
3.4. Trang phục
Trang phục thường ngày của người cống
về cơ bản như trang phục dân tộc Thái.
Phụ nữ mặc xửa cỏm, váy. Thiếu nữ
Cổng búi tóc ngược lên đỉnh đầu là dấu
hiệu đã có chồng. Một số gia đình cổng
còn giữ bộ y phục truyền thống: nam giới
có áo dài, khuy vải, cài bên nách trái, cổ
cao, vạt trong chỉ ngắn đến ngực; phụ nữ
có áo ngắn, cổ cao - tròn, không dùng cúc
mà dùng dây buộc. Kiểu áo dùng dây
buộc của phụ nữ cống, theo các nhà
nghiên cứu, ít nhiều gợi lại kiểu áo của có
nguồn gốc phương bắc. Do không dệt vải cho nên dù người cống có kiểu dáng trang phục
dân tộc riêng, nhưng lại dùng vải do người Lào dệt.
3.5. Ẩm thực
Người Cống ăn cơm nếp cơm tẻ và ngô. Bữa ăn thông thường có cơm, rau xanh, muối ớt.
Đồng bào hay ăn món nướng, thức ăn khô. Thức ăn của đồng bào có nhiều thứ thu hái
từ rừng: rau rừng các loại, nấm hương, mộc nhĩ, thịt thú rừng...
Ngô xuất hiện trong hầu hết
bữa ăn của người Cống
(Ảnh: sưu tầm)
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
3.6. Phương tiện vận chuyển
Sinh sống ở vùng miền núi biên giới, nhiều đèo dốc, việc vận chuyển thích hợp là dùng
chiếc gùi. Gùi của đồng bào được đan
bằng nan tre, có độ bền 4-5 năm. Cách
đeo gùi của đồng bào cống có nét khác
là không đeo qua vai, mà đeo qua trán.
Phải chăng cách đeo này có cái hợp lý
Chiếc gùi (Ảnh : sưu tầm)
của nó, bởi như chúng ta biết những
người leo núi chuyên nghiệp nổi tiếng trên thể giới khi leo núi, họ đều đeo qua trán.
Trong gia đình thường mỗi người có vài chiếc gùi để sử dụng khi đi làm hàng ngày trên
nương, đi chợ... Dựng bản, dựng nhà sinh sống ở ven sông Đà, đồng bào cống quen sử
dụng thuyền làm phương tiện chuyên chở vật dụng, đi lại trên sông Đà.
3.7. Ngôn ngữ
Tiếng nói của dân tộc cống thuộc hệ ngôn ngữ Hán - Tạng, nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến.
Tiếng nói của đồng bào chủ yếu sử dụng trong quan hệ cộng đồng dân tộc mình. Khi giao
tiếp trong không gian xã hội rộng hơn, đồng bào phải sử dụng tiếng Thái. Do đó có thể
nói tất cả người Cống đều thành thạo hai thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ và tiếng Thái - tiếng nói
của vùng Tây Bắc Tổ quốc. Thế hệ đi học ở các trường phổ thông biết cả tiếng phổ thông
(tiếng Việt).
Dân tộc Cổng chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình. Hiện nay để giao tiếp trong xã
hội, đồng bào sử dụng chữ quốc ngữ (chữ Việt).
3.8. Tín ngưỡng tôn giáo
Người Cổng tin vào vạn vật hữu linh, con người có linh hồn, mọi vật đều có linh hồn.
Hoạt động của con người trong đời thường cũng liên quan đến linh hôn vạn vật. Chính vì
vậy, trong các dịp lễ tiết, đồng bào thường cúng ma, cầu xin ma các loại phù hộ cho con
người được mạnh khỏe và làm ăn được may mắn.
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
Đồng bào Cống thờ tổ tiên 2-3 đời. Ông bố là người chủ trì việc cúng lễ. Nếu không còn
bố, việc cúng lễ do mẹ đảm nhiệm. Con trai cả dù có lớn nhưng không được quyền làm lễ
cúng. Khi bố mẹ mất con trai chịu trách nhiệm làm lễ cúng. Khi anh em lập gia đinh tự
làm nhà ở riêng, thì mỗi người sẽ lập bàn thờ và tự cúng. Vị trí đặt bàn thờ đối với từng
họ có khác nhau. Đối với các họ Lò, Chang, Chảo, bàn thờ tổ tiên đặt ngay trong buồng
ngủ của bố mẹ, trên phên vách phía trước; đối với họ Ly lại đe gần cột cạnh bếp, phía
ngoài phên vách ngăn của buồng ngủ bố mẹ. Bàn thờ tổ tiên đơn giản, chỉ là một miếng
phên nhỏ, rộng khoảng 40 X 60cm, được buộc vào vách cùng với một cột gô dài. Cách
cúng tổ tiên cũng đơn giản. Lễ vật cúng là một bát gạo, ống nước và một con gà nhỏ.
Người cúng, tay ôm gà, ngồi trước bàn thờ và khấn cúng. Khấn xong, giết gà, lấy máu
bôi lên lá dong, rồi gài bó lá dong đó cùng mấy chiếc lông gà lên vách bàn thờ. Riêng họ
Ly khi cúng tổ tiên không cắt tiết gà mà đập đầu cho đến chết bằng một thanh gỗ. Sau khi
gà được luộc chín người ta lại cúng tổ tiên lần thứ hai, và lại gói một ít thịt gà vào lá
dong, cài lên vách bàn thờ.
Là cư dân nông nghiệp, người cống cũng như nhiều cư dân nông nghiệp khác, cúng ma
bản trước khi gieo hạt lúa nương. Hàng năm cứ đến ngày 3-3, người cống làm lễ cúng gà
ma thú (lễ cúng bản). Lễ cúng được thực hiện ở dưới gốc cây to phía trên bản. Ngày cúng
bản, các ngả đường vào bản đều làm cổng vào bản, cắm mỉa kha. Kiêng một ngày không
ai được ra vào bản. Cúng gà ma thủ, phải có thầy cúng chuyên nghiệp gọi là mồ pá. Sau
khi cúng, mồ pá dùng gậy nhọn để chọc lỗ, tra ít lúa tượng trưng xung quanh gốc cây.
Đây là nghi lễ cúng bản quan trọng nhất của người Cổng. Sau nghi lễ cúng bản, từng gia
đình mới được gieo trồng lúa.
Vào đêm trước khi gieo xong toàn bộ nương lúa định trồng, chủ nhà ngủ trong chiếc lều
tại nương. Tại đó, chủ nhà cúng ma nương ở phía trên lều nưong;. Hiện vật cúng gồm có
cá và cua với mục đích cầu xin ma nương phù hộ lúa tốt, muông thú không đến phá hại.
Khấn xong, chủ nhà trồng vài khóm kiệu, mong cho lúa cũng xanh tốt như loại cây này.
Nghi lễ cúng ma nương này trước đây thực hiện ở từng gia đình, về sau, cúng chung cả
bản.
Nghi lễ tôn giáo cuối cùng là cúng gọi hồn lúa. Khi gặt lúa, đồng bào để lại ít khóm lúa,
đã trồng ở cạnh khóm kiệu trước đây. Sau khi gặt xong, đập xong tất cả lúa nương, từng
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
gia đình mới gặt nốt số lúa còn lại ấy. Khi mang những bông lúa này vào kho, chủ nhà
khấn gọi hồn lúa theo về nhà.
3.9. Lễ Hội
Tết Ngô là tết lớn nhất trong năm của người Cống được tổ chức vào ngày 1/6 âm lịch
hằng năm nhằm mục đích trình báo với tổ tiên về những việc đã làm được trong năm.
Cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, chăn nuôi, sản xuất gặp nhiều thuận
lợi, mùa màng tươi tốt, thóc, ngô đầy
nhà.
Tết Ngô của dân tộc Cống (Ảnh:sưu
tầm)
Để đón Tết ngô, người Cống thường
phải chuẩn bị trước nửa tháng.
Không khí nhộn nhịp của ngày tết về đến từng gia đình từ 3 đến 4 ngày trước khi ngày tết
chính diễn ra. Nhà nhà trong bản đều chuẩn bị ngày tết của gia đình mình sao cho thật
chu đáo và vui vẻ nhất. Mọi người trong gia đình đi kiếm củi, lên rừng lấy măng, hái
nấm, lên nương bẻ ngô, xuống suối bắt cá, bắt cua về để chuẩn bị cho ngày tết ngô.
Tùy vào điều kiện của từng gia đình, mâm cỗ chuẩn bị cho ngày Tết có thể nhiều hay ít
món. Lễ vật dâng lên tổ tiên thường có: thịt lợn (gồm thủ, đuôi, gan, ruột non); thịt gà,
cơm ngô, bánh ngô, nấm rừng, rau bí luộc, cua rừng (12 con, tượng trưng cho 12 tháng
trong năm và tượng trưng cho 12 con giáp). Người Cống quan niệm, cua là con vật bảo
vệ mùa màng. Khi hạt ngô gieo xuống đất, mọc mầm, chim chóc, chuột, sóc đến phá
hoại, cua sẽ dùng hai càng cắn đuổi những con vật phá hoại đó. Ngoài thức ăn, trong
mâm cỗ cúng không thể thiếu chén rượu tự chế để mời gia tiên.
3.10.
Tục lệ cưới xin
Dân tộc Cống thực hiện chế độ hôn nhân ngoại hôn dòng tộc, hôn nhân một vợ một
chồng bền vững. Tục lệ người Cống cho phép người cùng dòng tộc cách nhau 7 đời có
thể lấy nhau. Người cống thực hiện hôn nhân một chiều, tức là con trai của chị em gái
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
được lấy con gái của anh em trai, nhưng ngược lại, con trai của anh em trai không được
lấy con gái của chị em gái. Tục lệ cưới xin của người cồng nghiêm cấm hôn nhân anh em
chồng và hôn nhân chị em vợ.
Theo tục lệ trai gái khi đã yêu nhau, họ báo tin cho bố, mẹ biết để lo việc cưới xin cho
chúng. Cưới xin là việc quan trọng trong đời người, vì vậy có nhiều tục lệ nghi lễ. Đầu
tiên là lễ ăn hỏi - hù mèn tì xê. Lễ này nhàm xin con trai đến ở rể. Lễ ăn hỏi thường được
chọn là ngày tốt, nghĩa là không trùng với ngày chết và ngày chôn của bố mẹ, anh em họ
hàng. Đồng bào không chọn ngày tốt theo lịch can chi, âm dương ngũ hành.
Đoàn nhà trai sang nhà gái ăn hỏi gồm bố mẹ chàng trai, người trưởng họ, anh em chú rể
và cả chú rể tương lai. Xưa kia lễ này thường tổ chức vào buổi tối, lễ vật nhà trai mang
đến nhà gái gồm: một gói muối, một gói chè, một cuộn dây gai dùng để đan chài, một
đồng cân thuốc phiện hay một ống rượu càn. Đại diện hai bên nhà trai và nhà gái vừa hút
thuốc phiện hay vừa uống rượu vừa bàn chuyện xin con trai sang ở rể, cùng thời hạn ở rể.
Trước kia thời hạn ở rể thường là từ 8 đến 12 năm, nay rút ngắn đi chỉ còn khoảng 2-3
năm.
Nếu được nhà gái đồng ý thì ngay hôm sau, chàng trai mang theo chăn gối và dao đến ở
rể. Cũng từ thời điểm đó, người con búi tóc ngược lên đỉnh đầu - dấu hiệu là người con
gái đã có chồng. Trong thời gian ở rể, chàng rế được đối xử như một người con trong
nhà. Tuy nhiên theo phong tục quy định, chàng rể cần có ý tứ trong ứng xử với những
người thuộc bậc trên. Trong sinh hoạt hàng ngày chàng rể không được ngồi ghế, không
được đi giầy, dép ở trong nhà, không được vào buồng ngủ của mẹ vợ, chị dâu; không
được đi nằm khi bố mẹ vợ đang ăn cơm. Khi bố mẹ vợ ăn cơm xong, phải rót nước uống
mời bố mẹ vợ và chị dâu. Là chàng rể, anh ta thường phải dậy sớm nấu cơm, đun nước
uống hay đi quăng chài kiếm cá cho gia đình.Một vài tháng trước khi hết hạn ở rể, bố mẹ
chàng trai lại sang nhà gái xin cưới - tà nó tì xê na pha ê, đón dâu về nhà (nếu không ở
rể). Tiền cưới được tính bằng bạc trắng, khoảng từ 10 đồng đến 80 - 90 đồng. Lễ cưới
được tổ chức vào mùa nông nhàn, sau khi thu hoạch mùa màng, khoảng tháng 11,12 âm
lịch.
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 11 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
Người chồng đến ở rễ trước hôn nhân
(Ảnh: sưu tầm)
Trong ngày cưới cô dâu không được ăn
mặc theo kiểu người Thái như ngày thường, mà phải mặc trang phục dân tộc mình. Hai
bên nhà trai và nhà gái hát đối đáp ở chân cầu thang trước khi lên nhà. Nhà gái thường
làm các món nộm hoa chuối với ớt và muối vừng rang đê nhà trai ăn và uống rượu. Đoàn
nhà trai hưởng ứng và phải hát, ăn nộm, uống rượu thì mới được lên nhà gái. Ngày cưới
đón dâu, cô dâu được bố mẹ cho của hồi môn gồm: chăn, đệm, quàn áo, dao, cuổc,
thuổng, một con lợn, một con gà mái. Theo tập quán, dì của chú rể phải vào buồng cõng
cô dâu ra cửa. Nếu là người cùng bản thì phải cõng đến tận nhà chú rể. Nếu hai nhà xa
nhau thì chỉ cõng một đoạn tượng trưng (giống như người Pu Péo). Dân tộc cống có tục
vẩy nước tro bẩn vào đoàn nhà trai đón dâu khi ra về, do vậy trong ngày cưới ít khi người
ta mặc quần áo mới. về đến nhà trai, cô dâu, chú rể phải làm lễ trước bàn thờ tổ tiên và
chào bà con họ hàng. Nét đặc trưng cho dân tộc cổng trong đám cưới là nghi lễ múa của
các em gái đã đi lấy chồng (ở bản Bó Lếch và Nậm Pục). Chú rể trước đó đã phải chuẩn
bị cho các em gái mình mỗi người một bộ quần áo dân tộc, cho mỗi người một con gà,
một con sóc, một con cá khô. Với người em gái cả còn phải thêm một cái địu và đuôi con
lợn. Các cô em gái vừa múa vừa giơ cao những tặng phẩm của anh cho đê mọi người
xem. Khoảng vài ba ngày hay một tuần sau, cô dâu phải làm lễ lại mặt và ngủ ở nhà bố
mẹ vợ một đêm.
Do thời gian ở rể lâu bên nhà bố mẹ vợ, cho nên khi cưới về nhà chồng, các cặp vợ
chồng, thường đã có vài con nhỏ.
3.11.
Tập quán sinh đẻ và nuôi con
Do cuộc sống có nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cho nên trong thời
gian chửa đẻ, phụ nữ phải kiêng khem nhiêu điều như: không được chôn cột, không được
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 12 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
đánh rắn sợ con sau này luôn thè lưỡi như
rắn; không ăn thịt dúi sợ con sau này có
tiếng kêu như dúi; không ăn thịt hươu, nai bị
hổ cắn sợ con không sổng lâu, hay ốm,
không chặt nứa sợ con sau này sẽ hói đầu
như cật nứa trắng. Phụ nữ cống đẻ ở nhà,
ngay cạnh bếp lửa, đẻ ngồi. Thường là mẹ
chồng đỡ đẻ cho con dâu. Rau đẻ được cho
vào ống tre chôn ở dưới gầm sàn. Người
cống quan niệm rằng, trẻ sơ sinh hay ngứa
nhiều là do rau chôn không kỳ, bị kiến ăn, vì
thế trước khi chôn rau, người ta dội nước sôi
vào chỗ chôn rau để diệt kiến. Gặp trường
hợp khó đè, người nhà phải tự làm một số
động tác mang tính huyền bí để giúp cho sản
phụ dễ đẻ như thổi vào đỉnh đầu sản phụ, đế yên ngựa lên đỉnh nóc nhà, đập vỡ ống
bương...hoặc mời thầy mo đến làm một số động tác ma thuật. Đứa trẻ sinh ra sau 7 ngày,
khi rốn đã rụng, ông ngoại hay ông cậu phải làm nghi lễ buộc chỉ vào cổ tay và đặt tên
cho bé. Sau khi đặt tên, nếu bé hay quấy hoặc hay bị ốm, gia đình phải mời thầy cúng đến
gọi hồn bé và đặt tên khác.
3.12.
Tập quán tang ma
Khi gia đình có người qua đời, chủ nhà phải dỡ phên ngăn buồng ngủ với bàn thờ và cột
thờ tổ tiên. Tấm phên này được trải xuống sàn làm chỗ để thi hài. Ngày thường cửa ở
chái đối diện với cửa chính đóng kín (gọi là cửa ma) nay được mở ra. Người chết nếu là
bố mẹ thì đặt ngay trong buồng ngủ, còn nếu là con cháu thì để ở giữa nhà. Trong những
ngày chưa đưa thi hài đi chôn, hàng ngày cứ đến bữa trưa và tối, gia đình phải cúng gà
cho người chết. Tùy hoàn cảnh kinh tế của gia đình, lễ tang được tổ chức to, nhỏ khác
nhau. Nhà nghèo mỗi ngày chỉ cúng một con gà và trước hôm chôn cúng một con lợn;
còn nhà giàu có thì mỗi ngày cúng cho người chết một con lợn. Các gia đình có điều
kiện, sau khâm liệm, cứ tối đến là tổ chức múa trong nhà. Người múa là các con rể và con
gái đã đi lấy chồng. Họ nhảy múa cùng với hình nhân. Hình nhân là một chiếc gùi lộn
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 13 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
ngược, đáy gùi buộc một quả bầu nước làm đầu người, chiếc que tre xuyên qua gùi làm
tay, thân gùi làm thân người. Hình nhân được mặc áo, váy truyền thống, trên cổ quấn
khăn piêu. Trước khi múa người con rể thổi một bài sáo (vì vậy ngày thường, người cống
kiêng thổi sáo ở trong nhà). Theo phong tục, con trai và con dâu cùng những người đến
dự tang lễ không được tham gia múa, chỉ được xem.
Người Cống làm quan tài bằng thân một cây gỗ, bổ đôi cây gỗ, khoét rồng và chọn nơi
đào huyệt bằng cách ném trứng. Đồng bào cổng rất quan tâm đến ngày chôn cất người
chết. Do tin vào tái sinh nên đồng bào kiêng chôn vào ngày khỉ (sợ giống khỉ sẽ sống lại),
ngày con hổ (sợ biến thành hổ sẽ về bản bắt người), ngày sinh của người chết (sợ tái sinh
thành người), ngày sinh của những người trong gia đình (sợ người trong gia đình sẽ chết
theo). Khi đưa người chết đi chôn, mỗi gia đình trong bản cử một người mang theo ra mộ
một ống com lam, một quả trứng và một ít muối, đến mộ gọi hồn của người trong gia
đình mình về. Người gọi hồn lấy que chọc vào mộ và gọi hồn từng người một. Người gọi
hồn về đến nhà, mọi người ăn một ít cơm lam và trứng để chứng thực là hồn đã về. Mộ
người Cống có mái che; còn bên cạnh mộ, người ta rào xung quanh bằng tre đan mắt cáo.
Nhà mồ là nơi để các thứ đồ dùng hàng ngày của người chết như ống nước, gùi, củi, quần
áo. Bên cạnh nhà mồ có cột để đưa hồn người chết lên trời, cột cao khoảng 5 - 6m, thang
cho hồn người chết lên trời là tấm vải trắng rộng 40cm, dài khoảng 5 - 6m. Mười hai
ngày sau khi chôn, con cháu cúng tổ tiên và lập bàn thờ tổ tiên mới.
3.13.
Văn hóa dân gian
Người Cống không chỉ được biết đến bởi
kho tàng văn học truyền miệng phong phú
như: thần thoại liên về nạn hồng thủy, ngụ
ngôn, tục ngữ, ca dao... mà còn được biết đến
bởi những làn điệu dân ca trữ tình sâu lắng.
Vào các dịp lễ, tết, người Cống thường tổ
chức múa hát với các tiết mục vô cùng đặc
sắc và mang đậm tinh thần đoàn kết cộng
đồng. Điệu mua tập thể "pê lêm giao" là điệu
Một điệu múa của dân tộc Cống
múa truyền thống của dân tộc Cống. Về tín
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 14 | 15
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CỐNG | Hoàng Trần
ngưỡng, người Cống tin theo các nghi lễ tôn giáo liên quan tới các hoạt động, sinh hoạt
hàng ngày, ví dụ nếu ai nhìn thấy những con vật như rắn, tê tê thì phải tổ chức ngay lễ
cúng cầu thần linh che chở.
N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 15 | 15