MỤC LỤC
_________________________________________________________Trang
MỤC LỤC.......................................................................................................i
DANH SÁCH BẢNG....................................................................................iii
DANH SÁCH HÌNH.....................................................................................iv
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................1
3. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................2
3.1 Phạm vi về không gian.................................................................................2
3.2 Phạm vi về thời gian....................................................................................2
3.3 Phạm vi về nội dung....................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................2
4.1 Phương pháp thu thập số liệu......................................................................2
4.2 Phương pháp phân tích................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................3
1. Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài...................................................3
1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
............................................................................................................................3
1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động........................................................4
1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử............................5
2. Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam..............................7
2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam.......................7
2.1.1 Tổng quan thị trường.........................................................................7
2.1.2 Người tiêu dùng.................................................................................8
2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng .........................................8
2.1.4 Hành vi mua sắm trực tuyến............................................................12
2.2 Tình hình phát triển việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam......13
2.2.1 Thực trạng việc thanh toán bằng thẻ...............................................13
2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng thẻ qua mạng......................................14
2.2.3 Thực trạng thanh toán bằng thẻ cào qua mạng...............................15
2.3 Minh họa quy trình thanh toán qua mạng..................................................17
3. Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam.............18
3.1 Thành tựu đạt được....................................................................................18
4. Một số biện pháp để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam....20
4.1 Biện pháp khắc phục những rủi ro khi thanh toán qua mạng...................20
4.2 Biện pháp để thúc đẩy thanh toán qua mạng.............................................22
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................24
1. Phần kết luận ..............................................................................................24
i
2. Phần kiến nghị.............................................................................................24
2.1 Đối với doanh nghiệp................................................................................24
2.2 Đối với nhà nước..................................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................25
ii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1. Dự báo tỷ lệ mua sắm trực tuyến năm 2015 .............................................13
iii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1. Sơ đồ thanh toán qua mạng..........................................................................3
Hình 2. Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm............................................11
Hình 3. Số lượng và tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam...............................11
Hình 4. Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2006-2013.....14
Hình 5. Quy trình xử lý việc thanh toán bằng thẻ cào............................................16
Hình 6. Quy trình thanh toán qua mạng..................................................................17
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, Thương mại điện tử (TMĐT) đã trở
thành một phương thức thanh toán phổ biến với rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Người ta không còn phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc...cho những giao
dịch kinh tế. Việc áp dụng TMĐT trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tất
yếu của thời đại. Cùng với sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin điển
hình là mạng toàn cầu Internet làm cho TMĐT và thanh toán trực tuyến đã không
còn là những khái niệm xa lạ đối với nhiều người Việt Nam. Tuy TMĐT không
còn là vấn đề mới mẻ, nhưng rất nhiều người Việt Nam thậm chí còn chưa hiểu rõ
bản chất, lợi ích của TMĐT chứ chưa nói đến việc áp dụng nó. Do đó, quá trình
phát triển TMĐT ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải
có những công trình nghiên cứu khách quan về quy luật vận động và phát triển
thương mại điện tử để từ đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vực
hoạt động thương mại này.
Theo thống kê của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện số người dùng
internet cũng đã xấp xỉ 38 triệu người, chiếm 40% dân số, tỷ lệ truy cập internet
đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Indonesia. Tuy nhiên đa
phần số lượng người truy cập Internet mỗi ngày với mục đích chính là chat (tán
gẫu qua mạng) hay để đọc tin tức. Rất ít người trong số đó mạnh dạn tham gia vào
hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua mạng. Nguyên nhân chính là do tâm lí
người tiêu dùng Việt Nam còn e ngại, thích nhìn tận mắt, sờ tận tay hơn là hình
ảnh minh họa và thói quen thanh toán bằng tiền mặt từ xưa tới nay.
Xuất phát từ những nguyên nhân đó, với mong muốn mỗi người dân Việt
Nam sẽ hiểu biết ngày một sâu sắc tầm quan trọng của TMĐT, đưa TMĐT vào
trong hoạt động phát triển nền kinh tế quốc gia cũng như phát triển việc thanh toán
qua mạng để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập. Mặt khác,
thanh toán qua mạng là yêu cầu bắt buộc và cần thiết để xúc tiến TMĐT, đưa
TMĐT Việt Nam lên tầm cao mới, bắt kịp với tốc độ phát triển của thế giới. Việc
triển khai các hoạt động thanh toán trực tuyến nhằm tiết giảm tối đa thời gian,
nhân lực là một biện pháp mà nhiều doanh nghiệp thực hiện để giảm thiểu chi phí
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng em quyết định
chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam.
1
- Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp để thanh toán qua mạng ở Việt Nam ngày một tốt hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại Việt Nam.
3.2 Phạm vi về thời gian
- Số liệu sử dụng trong đề tài là từ năm 2012 đến năm 2014.
- Đề tài được thực hiện từ ngày 18/03/2015 đến 18/04/2015.
3.3 Phạm vi về nội dung
“Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam”.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập trên Internet.
4.2 Phương pháp phân tích
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng của việc thanh toán
qua mạng ở Việt Nam.
- Từ mô tả và đánh giá ở trên tiến hành đề xuất biện pháp để có thể ứng dụng
việc thanh toán qua mạng ngày một hiệu quả hơn.
2
PHẦN NỘI DUNG
1. Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài
1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền
mặt
Hiểu đơn giản, thanh toán qua mạng là (dịch vụ trung gian) giúp bạn chuyển
tiền thật từ tài khoản ngân hàng thành 1 loại tiền ảo trên mạng. Các cá nhân, tổ
chức dùng tiền ảo này để giao dịch trên mạng với nhau rồi sau đó lại chuyển ngược
tiền ảo này thành tiền thật trong tài khoản ngân hàng.
Hình 1. Sơ đồ thanh toán qua mạng
Mua sắm trực tuyến là quá trình mà người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá,
dịch vụ từ một người bán trong thời gian thực, mà không có một dịch vụ trung
gian, qua Internet. Nó là một hình thức thương mại điện tử. Một cửa hàng trực
tuyến, eShop, cửa hàng điện tử, internet cửa hàng, webshop, webstore, cửa hàng
trực tuyến, hoặc cửa hàng ảo gợi lên sự tương tự vật lý của sản phẩm, dịch vụ mua
tại một cửa hàng bán lẻ gạch-và-vữa hoặc trong một trung tâm mua sắm. Quá trình
này được gọi là Business-to-Customer, gồm người bán là doanh nghiệp và người
mua là người tiêu dùng (B2C). Khi một doanh nghiệp mua từ một doanh nghiệp
khác được gọi là Business-to-Business (B2B).
Khi có giao dịch trung gian, thì quá trình giao dịch bảo mật hơn rất nhiều giúp
bảo vệ tài khoản ngân hàng của bạn và việc thanh toán trao đổi cũng đơn giản hơn.
Chính vì vậy, hiện nay có khá nhiều các dịch vụ trung gian hoạt động hỗ trợ chúng
ta trong việc giao dịch trực tuyến với mỗi 1 dịch vụ sẽ đi kèm 1 loại tiền ảo có tên
và mệnh giá quy đổi ra tiền thật khác nhau.
3
Thẻ thanh toán là gì? Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh
toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các
Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Là phương thức ghi sổ những số
tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính
kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó
cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành
phần tham gia thanh toán.
1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động
Thương mại điện tử (TMĐT), hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC,
là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và
các mạng máy tính. TMĐT dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện
tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực
tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ
thống tự động thu thập dữ liệu. TMĐT hiện đại thường sử dụng mạng World Wide
Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao
gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng
như điện thoại.
TMĐT còn nhiều rào cản: theo số liệu thống kê VNNIC, hiện tại khối các doanh
nghiệp Việt Nam mới chỉ đăng kí khoảng 200.000 tên miền (bao gồm cả tên miền
Việt Nam .VN và tên miền quốc tế), trong đó mỗi doanh nghiệp thường đăng kí
nhiều hơn 1 tên miền. Trong khi đó tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là
hơn 500.000 doanh nghiệp, điều này có nghĩa là tỉ lệ doanh nghiệp có trang tên
miền hoặc website mới chỉ trên 20%. Nguyên nhân là do thói quen mua sắm của
người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; người
mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người
tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt
như mong muốn. Hệ thống pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân vẫn còn thiếu những
quy định, chế tài cụ thể về bảo vệ đối tượng sử dụng TMĐT. Nhìn chung, việc
phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát.
* Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt:
Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toán
giao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do các
Ngân hàng thương mại (NHTM) phát hành, lắp đặt ngày càng tăng nhưng tác dụng
giảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn. Trong buổi giao lưu
trực tuyến do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 8/6/2009, TS.Dương Hồng
Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho
biết, theo thống kê, khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt. Theo người
dân phản ánh, việc thanh toán tiền mua hàng, trả phí dịch vụ qua máy POS còn rất
4
hạn chế vì không có đủ máy quét cho nhiều loại thẻ của nhiều ngân hàng. Để trả
tiền mua hàng, khách hàng phải rút tiền mặt từ máy ATM lắp đặt tại các cửa hàng,
siêu thị. Ông Lưu Trung Thái - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội giải thích
điều này: hệ thống POS lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị của các ngân hàng hiện
nay chưa được kết nối với các hệ thống của ngân hàng khác, dẫn đến ít tiện ích cho
các thẻ ATM nội địa của các ngân hàng Việt Nam.
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960. Nhưng đến nay,
phương tiện thanh toán này ngày càng giảm. Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiều
thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho
người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận
được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh toán bằng séc
mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt; Ông Vũ Huy Toản - Phó
Giám đốc NHNN thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân thanh toán bằng
séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng
séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự lo ngại của
người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi
ro. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán
không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệ
thống thanh toán bù trừ của NHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâm
thanh toán bù trừ séc.
1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử
+ Tiết kiệm thời gian: đây là ưu điểm lớn nhất mà mọi người đều đồng ý. Trong
cuộc sống bận rộn, việc sử dụng thời gian một cách hợp lý là cần thiết. Nếu muốn
mua một sản phẩm nào đó bạn phải mất công, mất thời gian tìm sản phẩm, đến nơi
bán hàng...Thay vì lãng phí thời gian như vậy bạn chỉ cần nhấn chuột vào trang
web mua hàng trực tuyến, chọn sản phẩm mình muốn mua rồi bấm nút đặt hàng
hoặc mua hàng, nhân viên giao hàng sẽ đưa tới địa chỉ bạn mong muốn. Mua hàng
online giúp bạn tiết kiệm thời gian tối đa và bớt đi rắc rối của cuộc sống.
+ So sánh giá cả dễ dàng: tất cả giá cả đều có sẵn tại các website bán hàng trực
tuyến. Mua hàng qua mạng của người bán là một công ty, doanh nghiệp bao giờ
cũng an toàn hơn mua của người bán là một cá nhân. Mua hàng qua trang web của
công ty bao giờ cũng mua được hàng chính hãng, chất lượng của công ty đó. Ngoài
ra nên chọn người bán có uy tín được nhiều bình chọn của người mua, hoặc những
sản phẩm trong top bán chạy của trang web. Bạn được biết giá trước khi quyết
định mua hàng, lựa chọn sản phẩm phù hợp với túi tiền của mình. Không ít người
mua món hàng mình không thích chỉ vì “hỏi giá mà không mua thấy hơi kỳ kỳ”.
So sánh để chọn lựa cái tốt nhất, đó là điều mà khi mua sắm ai cũng quan tâm. Bạn
có thể hoàn toàn yên tâm chọn đặt hàng ở những website uy tín, giá cả phải chăng.
5
+ Lựa chọn đa dạng: nhiều người không biết rằng họ có thể tìm kiếm và mua
các sản phẩm hàng ngày qua các trang trực tuyến. Các trang web mua bán trực
tuyến giúp mọi người có thể lựa chọn hàng nghìn sản phẩm khác nhau cùng một
lúc. Ngày càng nhiều shop online ra đời với mọi loại sản phẩm phù hợp với nhu
cầu của nhiều người với hàng trăm mặt hàng và hàng ngàn thiết kế có sẵn. Tùy vào
mục đích và kinh tế, bạn có thể chọn được loại sản phẩm thích hợp một cách
nhanh chóng. Lựa chọn món quà phù hợp cho người lớn tuổi hay người trẻ tuổi dễ
dàng mà không cần phải băn khoăn, bối rối mua gì thì phù hợp. Người tiêu dùng
có thể tìm thấy tất tật các mặt hàng, từ đồ gia dụng, điện tử, nội ngoại thất, thời
trang, thực phẩm… đến các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, làm đẹp… đồ cũ, mới
đều có hết. Không những thế, khách hàng còn có thể tìm thấy ở “chợ điện tử”
những món hàng không thể tìm được ở nội địa, đặc biệt là những món hàng xách
tay như nước hoa, đĩa nhạc, sách báo … Mua sắm online giúp bạn “quẳng” cơn
đau đầu đi.
+ Giá thành rẻ: vì không phải thanh toán các khoản tiền mặt bằng, chi phí cửa
hàng nên đa phần các website bán hàng online đều cung cấp sản phẩm với mức giá
thấp hơn khi bạn mua bên ngoài mà chất lượng vẫn đảm bảo.
Bí quyết để tiết kiệm với mua hàng trực tuyến là mua với số lượng nhiều. Khi
mua hàng với số lượng nhiều thì khách hàng có thể nhận được sự giảm giá hoặc
chiết khấu và đôi khi con số đó có thể lên tới 50% hoặc còn hơn thế nữa.
Và trong các dịp lễ hội, thì các website bán hàng trực tuyến có những chương
trình khuyến mãi, hoặc các trò chơi có thưởng rất hấp dẫn: như các mặt hàng làm
đẹp: mỹ phẩm khuyến mãi, đồ gia dụng, đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm chăm sóc
sức khỏe,... tạo cho khách hàng có cảm giác thú vị, và tiết kiệm túi tiền để có thể
mua nhiều sản phẩm hơn.
+ Chủ động, an toàn ở mọi tình huống: nếu khách hàng băn khoăn về việc thanh
toán trực tuyến nhưng không biết có nhận được hàng không thì sự ra đời của các
hình thức thanh toán trực tuyến như Paypal, Ngân lượng, Bảo kim…với tính năng
thanh toán tạm giữ, bảo vệ người mua hàng tuyệt đối cung cấp các dịch vụ thanh
toán đa dạng, khách hàng có thể đổi hàng (không áp dụng cho sản phẩm cá nhân),
có thể khiếu nại, góp ý,.. và được hỗ trợ 24/7.
+ Tránh nơi đông đúc: khách hàng không phải đổ mồ hôi, không phải chịu đựng
cọ quẹt, xô đẩy, chen lấn để chọn lựa hàng, không phải chen chúc, xếp hàng chờ
thanh toán ở siêu thị, không phải đau họng khi cao giọng nhắc lại yêu cầu nhiều
lần trong đám đông. Và đặc biệt hơn còn tránh được nguy cơ trộm cắp, móc túi,
lừa đảo trong đám đông hay mất xe vì không có nơi đỗ xe.
+ Tiết kiệm xăng dầu: không cần phải mất công đi lại dù trời mưa dầm hay nắng
gắt, không tốn tiền xăng dầu đi lại vất vả. Khách hàng chỉ cần ngồi tại nhà, văn
6
phòng hay bất cứ đâu để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng ngay tại địa
chỉ mong muốn, giảm thiểu chi phí đi lại. Thông thường, các website này sẽ cung
cấp dịch vụ đưa hàng tận nơi nếu nơi giao hàng không quá xa trung tâm, hơn nữa
còn thỏa sức cân nhắc giá cả, mẫu mã giữa những cửa hàng mà vị trí thực sự của
nó cách xa nhau cả chục thậm chí là cả trăm kilomet chỉ trong một thời gian ngắn.
+ Mạng lưới mua sắm rộng: mạng lưới Internet toàn cầu mở rộng trên khắp mọi
nơi vì vậy người mua có thể mua sắm tại các tỉnh thành khác, thậm chí mua hàng ở
nước ngoài mà không phải bước chân ra khỏi cửa. Mua hàng qua mạng có rất
nhiều lợi thế khi chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng internet, khách hàng chỉ
việc ngồi một chỗ mà có thể mua sắm khắp thế giới.
+ Thủ tục đăng ký mua hàng đơn giản: mua hàng trực tuyến trở nên ngày càng
phổ biến nên các thủ tục đăng ký mua bán cũng được đơn giản hóa hết mức có thể.
Các website mua hàng trực tuyến với hệ thống đăng ký và mua hàng đơn giản nhất
cùng các hướng dẫn và minh họa cụ thể giúp khách hàng sử dụng dễ dàng. Chỉ sau
vài cú nhấp chuột thì đã có thể mua sản phẩm mong muốn.
+ Những lợi ích khác: mua hàng online ngày càng có nhiều lợi ích, chẳng hạn
như mua hàng đơn giản hơn, có thể đánh giá sản phẩm qua những phản hồi của các
khách hàng trước, nhận được những khuyến mãi, giảm giá, quà tặng vào dịp đặc
biệt qua việc đăng ký khách hàng thân thiết, đăng ký thành viên và có thể cập nhật
thông tin các sản phẩm mới và nhiều lợi ích khác.
2. Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
Một ứng dụng của TMĐT là các hoạt động mua bán trên mạng đã thúc đẩy nhu
cầu mở rộng các hình thức hỗ trợ thanh toán, hỗ trợ giao hàng, sử dụng chữ ký số,
tiền điện tử, cổ phiếu mạng, an toàn dữ liệu, bảo mật dữ liệu,... của các doanh
nghiệp. Trên thực tế, ngay cả khi các doanh nghiệp chưa có điều kiện để tham gia
vào hoạt động kinh doanh trực tuyến, các doanh nghiệp cũng vẫn thường tiến hành
nhiều hình thức tự giới thiệu về mình trên mạng như một bước chuẩn bị ban đầu
cho việc chính thức gia nhập vào đội ngũ kinh doanh trên mạng của mình.
2.1.1 Tổng quan thị trường
Thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh
mẽ và thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh doanh. Thống kê trên Cổng thông tin quản
lý hoạt động TMĐT, đến hết năm 2013 đã có 202 website TMĐT bán hàng được
duyệt thông báo và 116 website cung cấp dịch vụ TMĐT được xác nhận đăng ký.
Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều website bán hàng hoạt động nhưng chưa được
chứng nhận của Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông
tin – Bộ Công Thương, ước tính doanh số từ TMĐT B2C khoảng 2.2 tỷ USD trong
7
năm 2013. Giá trị mua hàng trực tuyến trung bình của một người đạt khoảng 120
USD. Sản phẩm được lựa chọn mua sắm tập trung vào các mặt hàng như thời
trang, mỹ phẩm, đồ công nghệ và điện tử, đồ gia dụng, vé máy bay và một số mặt
hàng khác. Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫn
lựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt, kế đến là thanh toán qua ngân hàng, hình
thức thanh toán trung gian qua các website TMĐT chiểm tỷ lệ thấp.
2.1.2 Người tiêu dùng
Thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông Trung bình, một người giành
khoảng 2 giờ mỗi ngày để truy cập Internet. Thời gian sử dụng Internet chiếm
khoảng 31.5% tổng thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông và tỷ lệ này có
xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi.
- Ảnh hưởng của các kênh thông tin đến hành vi mua sắm:
Truyền hình vẫn là kênh thông tin chính cung cấp thông tin sản phẩm và thương
hiệu đến người tiêu dùng. Theo nghiên cứu của Nielsen 2014, số người tiêu dùng (
chiếm 57%) sử dụng truyền hình nhằm cập nhật thông tin về sản phẩm. Tuy nhiên,
mạng xã hội mới là kênh thông tin người tiêu dùng cho là đáng tin cậy nhất (69%)
và có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua sắm (69%).
- Tâm lý mua sắm trực tuyến (có dấu 2 chấm ko?)
Lý do chính thúc đẩy người dùng mua sắm online là “tiết kiệm về thời gian” và
“có thể mua hàng trên mạng với giá rẻ” hơn hàng bán lẻ trên thị trường. Đối với
những người chưa mua hàng online, ý định mua sắm online có thể nảy sinh khi họ
biết “bạn bè hay người thân đã từng mua những mặt hàng như thế nào online và có
trải nghiệm tốt” và họ cảm thấy “sản phẩm được bảo hành hoặc bảo đảm”. 6 yếu tố
quan trọng quyết định việc mua hàng
+ Nếu tôi biết bạn bè/gia đình đã từng mua món hàng này online và có trải
nghiệm tốt có 29%
+ Nếu tôi có bảo bảo hành/ đảm đi cùng với sản phẩm có 12%
+ Nếu sản phẩm mua online rẻ hơn so với mua tại cửa hàng bán lẻ thông thường
có 11%
+ Nếu tôi có thể trả tiền mặt có 8%
+ Nếu có khuyến mãi đáng kể hơn so với cửa hàng bán lẻ thông thường có 8%.
+ Nếu tôi được hoàn tiền cho sản phẩm bị hư hoặc lỗi có 8%
(Theo Source: Goole/TNS 2014. Đối tượng: Người chưa từng mua hàng online).
2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng
Nhìn chung, những trở ngại khiến người tiêu dùng còn e ngại khi mua sắm trực
tuyến là: sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo (77%), giá cả không thấp so
với mua trực tiếp (40%), dịch vụ vận chuyển và giao nhận còn yếu, lo ngại thông
8
tin cá nhân bị tiết lộ và cách thức đặt hàng trực tuyến còn quá rắc rối. Nghiên cứu
sâu hơn về nhóm người chưa từng mua hàng online, Google/TNS cho biết rào cản
phổ biến nhất là người mua không thể chạm vào mặt hàng (57%). Các khách hàng
tiềm năng lo ngại “hàng mua trên Internet có khả năng là hàng cũ/hàng giả” (49%).
(Nguồn: Google Study 2014)
* Internet là phương tiện truyền thông cao cấp
Trước hết, Internet là phương tiện truyền thông duy nhất hiện nay có thể thu hút
được một số lượng lớn các khách hàng tiềm năng. Những nhà kinh doanh nhạy
cảm đã nhận thấy Internet không chỉ là một mạng thông thường. Nó là một thị
trường toàn cầu. Với một trang web, cả thế giới đều có thể truy cập vào gian hàng
trên mạng của công ty. Nhờ vậy mà các việc kinh doanh trên mạng có thể tiếp cận
với hàng trăm triệu người sử dụng Internet từ khắp nơi trên thế giới.
Thứ hai, mạng là sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp nhỏ có thể có một trang chủ cho hoạt động thương mại của mình hiệu quả
như trang chủ của một công ty lớn. Chi phí cho việc truy cập và xây dựng các
thông tin phục vụ cho việc quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trên mạng tương
đối thấp đã giúp cho điều này trở thành hiện thực.
Thứ ba, Internet chứa đựng khả năng của một phương tiện tryền thông mang
tính đa phương tiện. Nó giúp cho các thông điệp mà doanh nghiệp muốn đem đến
cho khách hàng của mình trên mạng được trình bày hiệu quả và ấn tượng hơn hẳn
so với các phương tiện truyền thông khác. Một trang chủ trên mạng cho phép ta có
thể trình bày một cách phức tạp và tinh vi một sản phẩm của công ty. Tất cả các
thông tin có thể viết và trình bày theo thể thức của phương tiện in ấn như báo chí,
tạp chí, tờ rơi cũng có trong thông điệp trên Internet. Công nghệ hình ảnh và âm
thanh chuyển động kết hợp với máy móc và các kênh phát mới, tốc độ cao hơn
giúp cho việc đưa ra âm thanh, nhạc, hình ảnh thuận tiện như trên tivi và ngày
càng dễ truy cập hơn. Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể dễ dàng di chuột và
nhấn chuột để kết nối tới các thông tin khác. Những kết nối này có thể bao gồm
các thông tin như bảng giá, catalogues, các hướng dẫn, hình ảnh trưng bày về sản
phẩm và một mẫu đơn đặt hàng điện tử.
Thứ tư, Internet vừa mang các đặc điểm của phương tiện truyền thông đại chúng
lại vừa mang đặc điểm của phương tiện thông tin cá nhân. Internet kết hợp khả
năng chuyển tải các thông điệp tới một số lượng lớn độc giả của các phương tiện
truyền thông đại chúng với khả năng phản hồi và tương tác của các phương tiện
thông tin các nhân. Nhờ có bản chất tương tác của Internet, người sử dụng có thể
đóng một vai trò tích cực hơn trong quá trình thông tin so với các phương tiện
truyền thông khác. Đây là một đặc trưng mà các phương tiện thông tin đại chúng
khác không thể có được. Trong khi đặc trưng việc cung cấp thông tin của các
9
phương tiện truyền thông đại chúng còn mang tính thụ động, thì việc cung cấp
thông tin trên mạng lại theo yêu cầu của người sử dụng, nghĩa là việc điều khiển
quá trình thông tin liên lạc nghiêng về phía người sử dụng hơn là bản thân phương
tiện truyền thông. Khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng lại càng hướng việc
điều khiển quá trình thông tin về phía người sử dụng và tạo ra các cơ cấu nội dung
thông tin phù hợp với sở thích và mối quan tâm cụ thể của từng cá nhân người sử
dụng. Khả năng này đã tạo cho các quảng cáo trên mạng một đặc tính mà các hình
thức quảng cáo khác không có được, đó là tính tương tác.
Thứ năm, Internet không chỉ là một kênh thông tin mà còn là kênh giao dịch và
phân phối. Sở dĩ có được đặc tính này là nhờ khả năng tương tác và phản hồi của
Internet. Khách hàng có thể vừa tìm thông tin lại vừa có thể thực hiện ngay việc
mua bán và thanh toán ở ngay trên mạng. Không một phương tiện truyền thông
nào có thể thực hiện được các chức năng marketing này ngay lập tức mà không
cần đến sự hỗ trợ của các phương tiện khác.
* Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm
Những vấn đề về niềm tin và sự không chắc chắn khiến cho người tiêu dùng
chưa mạnh dạn tham gia mua sắm trực tuyến, tỷ lệ người mua online trên tổng số
người có nghiên cứu thông tin về sản phẩm còn thấp, chỉ khoảng 16%. Đa số
người mua tìm kiếm online nhưng mua sắm offline. Họ sử dụng Internet như một
công cụ hỗ trợ ra quyết định mua sắm, như: so sánh giá-chất lượng sản phẩm, lựa
chọn nhãn hiệu, xem bài reviews/lời khuyên về sản phẩm định mua, tìm chương
trình khuyến mãi, xem địa chỉ bán hàng/thông tin liên hệ người bán.
Những sản phẩm thường được tìm kiếm online nhưng mua sắm offline là Bảo
hiểm ôtô (75%), Tivi/thiết bị đi kèm (71%), Vé xem phim (68%), Đồ nội thất/thiết
bị lớn (62%), Hàng tạp hóa (46%) và Quần áo (36%).
10
.
Hình 2. Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm
* Người sử dụng Internet - khách hàng tiềm năng
Hình 3. Số lượng và tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam
Kết quả các cuộc thống kê điều tra đều cho thấy, phần lớn những người sử dụng
Internet là những người có trình độ văn hóa cao, có nghề nghiệp chuyên môn ổn
định và thu nhập cao. Thống kê chung 30% số người sử dụng Internet trên thế giới
hiện nay có ít nhất một bằng tốt nghiệp đại học. Con số này ở Anh là 50%, ở
Trung Quốc là 60%, ở Mexico là 67% và ở Ireland là 70%. Họ cũng là những
người có tuổi đời trung bình trẻ, tuổi trung bình người sử dụng Internet tại Mỹ là
11
36, ở Trung Quốc và Anh là 30 (UNDP- Human Development Report). Họ cũng là
những người rất bận rộn, đánh giá cao và ưa thích việc truy cập đơn giản vào cả
một thế giới những dịch vụ mà họ có thể tiếp cận từ bàn làm việc của mình - một
việc mà chỉ có Internet mới có thể giúp họ - thay vì phải ra phố mua hàng hay gọi
điện cho các cửa hàng cách xa chỗ ở hoặc nơi làm việc. Do có thu nhập cao, họ
cũng là những người có khả năng mua hàng nhiều hơn trong xã hội. Theo các kết
quả thống kê, năm 2010 gần một nửa những người truy cập Internet đã thực hiện
mua bán trên mạng. Bên cạnh đó, do dành nhiều thời gian cho Internet, những
người này dành ít thời gian hơn cho các phương tiện truyền thông khác. Vì vậy
kinh doanh qua mạng sẽ vô cùng hiệu quả khi doanh nghiệp muốn tiếp cận với
nhóm khách hàng mục tiêu này.
2.1.4 Hành vi mua sắm trực tuyến
Mặc dù thói quen mua sắm trực tuyến chưa thật sự phổ biến phổ biến ở Việt
Nam nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới do Internet ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua sắm. Khảo sát của Google 2014 cho
thấy, có 19% số người online có mua sắm trực tuyến trong vòng 1 tuần qua (xét tại
thời điểm khảo sát), và 55% tìm kiếm thông tin online nhưng mua sắm offline.
Thiết bị sử dụng để mua sắm online là PC/Laptop (77%), Điện thoại thông minh
(14%) và Máy tính bảng (4%). 44% số người online chưa từng mua hàng trực
tuyến nhưng có mong muốn mua hàng trên mạng trong vòng 12 tháng tới, mặt
hàng mà nhóm người này dự định mua là quần áo. Khi mua online, người mua
thường cân nhắc, xem xét 1 đến 3 nhãn hiệu và nghiên cứu thông tin về sản phẩm
qua Internet. Đa số người mua mua sắm qua các website bán hàng (61%), website
mua hàng theo nhóm (51%) và các diễn đàn xã hội (45%). Một số ít người mua
sắm qua các sàn giao dịch TMĐT (19%) và qua các ứng dụng mobile (6%). Đối
tượng mua sắm thường xuyên là cán bộ quản lý/nhân viên văn phòng (41%) và học
sinh, sinh viên (37%). Nữ giới (59%) mua sắm trực tuyến nhiều hơn nam giới
(41%).
Dự báo: Với những hoạt động quảng cáo trực tuyến ngày càng mạnh mẽ theo
nhiều hình thức, tỷ lệ người dùng Internet tham gia mua sắm trược tuyến đến năm
2015 dự báo sẽ có xu hướng tăng. Giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào
năm 2015 sẽ tăng thêm 30 USD so với năm 2013, doanh số TMĐT B2C Việt Nam
năm 2015 ước đạt trên dưới 4 tỷ USD. Một khi số lượng người tham gia mua sắm
trực tuyến gia tăng là tín hiệu tốt cho ngành TMĐT, đặc biệt là hình thức thanh
toán qua mạng.
12
Ước tính
dân số
VN 2015
Ước tính
truy cập
Internet
2015
Ước tính giá trị
mua hàng trực
tuyến mỗi năm/
người năm 2015
Ước tính tham gia
mua sắm trực tuyến
Mức độ
tăng trưởng
Tỷ lệ
93 triệu
dân
45%
150 USD
Cao
70%
Trung bình
65%
Thấp
60%
Bảng. Dự báo tỷ lệ mua sắm trực tuyến năm 2015
Nguồn: Dự báo của cục TMĐT và CNTT.
2.2 Tình hình phát triển việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam
2.2.1 Thực trạng việc thanh toán bằng thẻ
Thị trường thẻ ở Việt Nam: Vào cuối tháng 6/2007, cả nước có trên 20 ngân
hàng phát hành thẻ thanh toán với khoảng 6,2 triệu thẻ. Hầu hết các ngân hàng đã
trang bị máy ATM với khoảng 3.820 máy, số thiết bị chấp nhận thẻ lên đến
21.875. Hiện các ngân hàng phát hành hai loại thẻ chính là thẻ tín dụng quốc tế và
ghi nợ. Sự ra đời của các hiệp hội, liên minh trong hệ thống các ngân hàng thanh
toán thẻ Việt Nam (với bốn thành viên sáng lập gồm: Vietcombank, Ngân hàng
thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu
Eximbank và First Vinabank). Đặc biệt là sự thành lập của bốn liên minh thẻ (liên
minh lớn nhất do Vietcombank chủ trì) với 21 ngân hàng khác. Tính đến ngày
30/06/2011, có tổng số 49 ngân hàng phát hành thẻ, trong đó có 18 ngân hàng phát
hành thẻ ghi nợ quốc tế và 17 ngân hàng phát hành thẻ tín dụng quốc tế, với trên
200 thương hiệu thẻ khác nhau. Nếu như năm 2006, toàn thị trường mới có khoảng
5 triệu thẻ thì đến tháng 12 năm 2013 có tới hơn 66 triệu thẻ, cao gấp 13 lần. Thẻ
13
trả trước cũng xuất hiện trong một vài năm trở lại đây, tính đến tháng 6 năm 2011
là hơn 900 nghìn thẻ, chiếm hơn 2,5% tổng số thẻ toàn thị trường. Lợi ích chủ yếu
từ hoạt động kinh doanh thẻ nội địa của các ngân hàng là số dư tiền gửi không kỳ
hạn cá nhân gắn với tấm thẻ ghi nợ/ATM.
Hình 4. Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn
2006 – 2013
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ thì thị trường thẻ ở Việt Nam vẫn còn tồn
tại những vấn đề như: thị trường thẻ thanh toán ở Việt Nam vẫn còn phát triển rời
rạc và cắt khúc; tỷ lệ người sử dụng tiền mặt vẫn ở mức cao và sự thiếu kết nối
giữa ngân hàng, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa khiến người tiêu
dùng chưa mạnh dạn tham gia cũng như thụ hưởng các tiện ích từ thương mại điện
tử.
2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng thẻ qua mạng
Hiện nay, các trang web dịch vụ mua sắm trực tuyến có hướng đầu tư sâu hơn
về mặt chất lượng để phát triển. Các doanh nghiệp đã chú trọng đến đầu tư nâng
cấp chất lượng giao diện website, cung cấp dịch vụ tốt hơn như truy cập nhanh,
giao diện đẹp, dễ sử dụng, cung cấp nhiều thông tin cho từng sản phẩm về giá cả,
xuất xứ.
* Tác động của TMĐT đến con người hiện đại
Các sàn giao dịch thương mại trực tuyến được hoạt động dưới hình thức những
siêu thị điện tử kinh doanh nhiều mặt hàng và tùy theo lợi thế, mục đích của từng
siêu thị điện tử sẽ có một vài nhóm hàng hóa chủ lực. Vì vậy, không khác gì những
mô hình chợ trực tiếp, chợ trên mạng cũng tập trung khá phong phú về chủng loại
cũng như mẫu mã.
14
Hiện cả nước có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch điện tử,
trong đó không ít trang web đã tạo được uy tín trên thị trường. Có đến hơn 10.000
mặt hàng thuộc các ngành hàng như: kim khí điện máy, quà lưu niệm, hoa, sách,
quần áo, hàng thể thao, trò chơi, trang sức, mỹ phẩm, kinh doanh quảng cáo,...
Đối với người mua: nhờ TMĐT người mua sẽ có nhiều cơ hội kiểm tra món
hàng và tham khảo thật chi tiết doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm trước khi quyết
định lựa chọn món hàng, có cơ hội tham khảo để chọn giá cả vừa ý nhất với mình,
mà không phải chịu bất cứ sự khó chịu nào từ phía người bán hàng. Hơn thế, người
mua còn nhận được sự tư vấn trực tuyến, dễ dàng đặt món hàng theo yêu cầu của
mình với bất kỳ nhà cung cấp hay sản xuất nào trên toàn thế giới; có cơ hội mua
được hàng với giá rẻ cũng như mua được những món hàng độc đáo, mới lạ mà
không tốn nhiều thời gian, công sức cho việc tìm kiếm. Tuy nhiên, nếu không sáng
suốt để lựa chọn thì như tất cả các dạng thương mại khác, nguy cơ chọn phải hàng
kém chất lượng, cũng như gặp một số dạng lừa đảo trực tuyến, gian lận thương
mại có thể xảy ra.
Đối với người bán: nhờ có TMĐT người bán có nhiều cơ hội để quảng bá và
bán được sản phẩm của mình đến tất cả mọi nơi vì thị trường không biên giới, tiết
kiệm được chi phí song người bán cũng có thể sẽ phải chịu nhiều sự cạnh tranh từ
rất nhiều phía đòi hỏi họ phải nỗ lực hết sức để phục vụ khách hàng ngày càng tốt
hơn và lợi nhuận trên mỗi món hàng sẽ ngày càng ít hơn.
TMĐT thật sự làm cho con người xích lại gần nhau hơn, tin tưởng hơn và mang
lại sự tiện lợi hơn.
2.2.3 Thực trạng thanh toán bằng thẻ cào qua mạng
Thanh toán mua sắm online bằng thẻ cào điện thoại là phương thức mới cho
phép người dùng thanh toán hoặc nạp tiền thông qua sử dụng mã thẻ trả trước của
các mạng điện thoại di động, có mệnh giá phù hợp với giá trị giao dịch mong
muốn.
Việc tích hợp phương thức nạp thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã mở ra một
tiện ích mới cho người tiêu dùng. Khách hàng chỉ cần cào mã thẻ điện thoại của
nhà mạng, nhập mã số vào và nhấn nút nạp thẻ là đã hoàn tất quá trình nạp thẻ của
mình. Khi đó, số tiền khách nạp sẽ có trong tài khoản ví điện tử và có thể thanh
toán cho bất kỳ món hàng nào trên các website có tích hợp cổng thanh toán trực
tuyến này.
Quy trình xử lý: Đăng nhập tài khoản nội dung số Nhập mã thẻ cào trả trước
Xác nhận hoàn thành giao dịch.
15
Hình 5. Quy trình xử lý việc thanh toán bằng thẻ cào
Là giải pháp cổng thanh toán cho các hình thức như: Phí chơi game, ebook, trả
phí để download, trả phí để đọc truyện, trả phí để xem phim..., phần mềm, dịch
vụ... có giá trị nhỏ, chỉ bằng cách sử dụng các thẻ điện thoại Viettel, Mobi,
Vinaphone.
Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều cổng thanh toán trực tuyến nhưng phần lớn
mới chỉ đáp ứng cho các khách hàng có tài khoản Internet Banking, phải chuyển
khoản qua ATM, hay chuyển khoản ngân hàng, gửi tiền đến tài khoản ví điện tử
của mình. Việc này vẫn làm mất thời gian của khách hàng khi phải đi lại nhiều lần
để thực hiện lệnh chuyển tiền hay chuyển khoản.
Việc nạp tiền từ thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã đem lại tiện ích to lớn cho
người dùng nhất là những người dùng điện thoại smart phone có thể thanh toán
hàng hóa trực tiếp trên điện thoại. Danh sách các nhà cung cấp mã thẻ cào như:
MobiFone, Viettel, VinaPhone,…
Việc nạp tiền từ thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã đem lại tiện ích to lớn cho
người dùng. Chỉ cần trong vòng 30 giây, khách hàng đã có tiền trong tài khoản để
mua món hàng mình cần. Bên cạnh đó, thẻ điện thoại được bán và sử dụng rộng rãi
nên bạn sẽ không phải mất công đi ra ngân hàng, hay chờ đợi nhân viên ngân hàng
hoàn tất các thủ tục cho mình. Thẻ điện thoại được bán rộng rãi, dễ dàng mua ở bất
cứ đâu.
Với dịch vụ này, các doanh nghiệp bán và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, ứng
dụng,… sẽ mang lại cho khách hàng một kênh thanh toán tiện lợi, dễ sử dụng.
Khách hàng chỉ cần sử dụng mã thẻ cào trả trước của các mạng viễn thông để thực
16
hiện thoanh toán cho đơn hàng, thao tác thanh toán được thực hiện dễ dàng, nhanh
chóng qua SMS hoặc internet.
2.3 Minh họa quy trình thanh toán qua mạng
Hình 6. Quy trình thanh toán qua mạng
Giải thích quy trình:
1. Người mua đặt lệnh mua trên website của người bán sau khi đã chọn hàng
hóa. Sau đó người mua khai báo thông tin thẻ tín dụng của mình.
2. Thông tin thẻ tín dụng của người mua được chuyển thẳng đến ngân hàng của
người bán (trong trường hợp người bán có Merchant Account – xem giải thích bên
dưới) hoặc chuyển thẳng đến nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng (gọi
là Third Party – Bên thứ ba, xem giải thích bên dưới) mà người bán đã chọn.
Thông tin thẻ tín dụng không được lưu trên server của người bán, do đó, hạn chế
khả năng bị hacker đánh cắp thông tin.
3. Ngân hàng của người bán hoặc Bên thứ ba này sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ
với ngân hàng nơi phát hành thẻ, thông qua giao thức SET. Việc kiểm tra này được
thực hiện tự động rất nhanh, trong vòng vài giây.
4. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi (được mã hóa theo quy định) cho ngân
hàng của người bán hoặc bên thứ ba về tính hợp lệ của thẻ.
5. Sau đó thông tin này được giải mã và gửi về cho người bán.
6. Người bán dựa trên thông tin phản hồi này quyết định bán hay không bán.
Nếu bán thì sẽ gửi email xác nhận cũng như hóa đơn và các văn bản cần thiết khác
cho người mua, đồng thời xử lý đơn hàng. Nếu không bán thì giao dịch coi như kết
thúc, người bán cũng gửi thông điệp cho người mua, nêu rõ lý do không bán.
17
3. Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
3.1 Thành tựu đạt được
- Giá trị pháp lý của chứng từ điện tử đã được công nhận: đây được xem là
thành tựu rất lớn trông ngành TMĐT. Nó là cơ sở để các doanh nghiệp và người
tiêu dùng yên tâm vì được bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia, đồng thời
cũng giải quyết công bằng hơn khi có tranh chấp liên quan đến hoạt động TMĐT
xảy ra.
- Mở rộng đối tượng triển khai và ứng dụng thanh toán trực tuyến: việc này
không còn quá lạ đối với Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã tham gia hợp tác với
nhiều ngân hàng đã tạo thuận lợi cho khách hàng của họ trong việc thanh toán có
nhiều sự lựa chọn hơn.
- Đa dạng hoá các loại hình thanh toán: Khách hàng ngày càng có nhiều lựa
chọn hình thức thanh toán qua thẻ ATM, thẻ cào….tránh được những thủ tục phức
tạp và thuận lợi hơn cho cả hai bên mua và bán.
- Tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực TMĐT của các doanh nghiệp đã có những thay đổi
vượt bậc góp phần đẩy mạnh việc mua bán qua mạng: Việt Nam là một nước đang
phát triển, đi lên theo xu hướng công nghiệp hóa mở rộng hợp tác với các nước
trên thế giới và điều đó kéo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ngành
TMĐT non trẻ.
- Một loạt các hình thức kinh doanh mới trên các phương tiện điện tử liên tục
xuất hiện:
+ Bán hàng online.
+ Dịch vụ tải nhạc, hình nền, tra cứu thông tin...
+ Báo điện tử, chơi game online...
- Đa dạng các phương thức thanh toán trong TMĐT: phương thức B2B là người
mua và người bán đều là doanh nghiệp hay phương thức B2C là người bán là
doanh nghiệp, người mua là người tiêu dùng.
3.2 Hạn chế
Khách quan:
- Về phía pháp luật:
+ Việc ban hành văn bản thi hành luật Giao dịch điện tử diễn ra còn chậm. Từ
cuối năm 2006 đến nay thì vẫn chưa có thêm nghị định nào được ban hành.
+ Những quy định về cấp phép thành lập website hay mua bán tên miền chưa
phù hợp với thực tiễn. Trường hợp bán vé điện tử của Vietnam Airlines là một ví
dụ. Trước đây, vé máy bay (cuống vé) được coi là một loại hóa đơn, nhưng khi
18
chuyển sang bán vé điện tử thì sẽ không có cuống vé, thay vào đó là những chứng
từ điện tử được lưu giữ trong hệ thống thông tin của công ty hàng không. Mặc dù
pháp luật coi chứng từ điện tử có giá trị "như văn bản" và "như bản gốc", nhưng
thực tế Tổng cục Thuế chưa sẵn sàng chấp nhận các chứng từ điện tử này, chính vì
thế mà Vietnam Airlines được yêu cầu khi bán vé điện tử vẫn phải kèm theo phiếu
thu bằng giấy. Yêu cầu này làm cho vé điện tử chỉ là một giải pháp nửa vời, vì trái
với mục tiêu giảm chi phí quản lý gắn với giấy tờ và gây khó khăn cho việc bán vé
hoàn toàn qua mạng.
- Về phía công nghệ:
+Muốn việc thanh toán qua mạng được diễn ra thì người mua hàng phải có thẻ
thanh toán.
+ Virus tấn công: Việc hacker tấn công nhiều modem WiFi gia đình rồi đổi mật
khẩu, cấu hình và tên WiFi thành “china hacker” là hết sức nguy hiểm đối với
người dùng Internet. Khi nắm được mạng WiFi gia đình, hacker có thể lấy cắp tài
khoản giao dịch tài chính, email, Facebook… hoặc tạo ra mạng botnet (mạng được
điều khiển từ xa) để phá hoại trên diện rộng. Vụ tấn công này có thể liên quan đến
virus Chameleon. Sau khi nhiễm vào máy tính cá nhân qua các đường mạng,
USB… , virus này sẽ tấn công thiết bị WiFi được thiết lập tên (username) và mật
khẩu đăng nhập (password). Chính điều này khiến doanh nghiệp bị hack mất rất
nhiều khách, hay chính doanh nghiệp bị khách hàng mình lừa đảo.
- Về phía khách hàng: vẫn phần đông khách hàng e ngại sử dụng thanh toán qua
mạng vì tiền mặt vẫn là hình thức thanh toán chủ yếu trong các giao dịch mua bán
trực tuyến. Tiếp theo là hình thức chuyển khoản qua ngân hàng, thẻ thanh toán. Do
thói quen thích nhìn tận mắt, sờ tận tay đã ăn sâu vào tâm lý người Việt bởi họ
nghĩ rằng chỉ có như vậy mới thì đảm bảo được chất lượng. Cuộc sống tại Việt
Nam chưa công nghiệp hóa đến mức quá bận rộn để click mua hàng trên mạng.
Ngay cả ở những thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, dù công nghệ phát
triển mạnh mẽ, sức ép từ công việc nhưng hình thức mua bán trực tuyến vẫn không
quá phổ biến.
- Vấn đề khác là niềm tin giữa bên bán và bên mua:
+ Đối với doanh nghiệp:
Không tin tưởng khách hàng
Điển hình của việc này là yêu cầu khách hàng thanh toán trước toàn bộ giá trị
đơn hàng hoặc chịu phí tổn phát sinh. Tất nhiên đây chỉ là sự phòng ngừa của các
nhà bán lẻ, nhưng nó lại khiến người mua thấy khó chịu, phiền phức và nảy sinh
tâm lý không an tâm.
Chăm sóc kém khiến khách hàng không hài lòng trong bán lẻ trực tuyến
19
Đặc điểm của bán lẻ trực tuyến là không có sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng,
chính vì vậy hệ thống chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ là rất quan trọng.
+ Đối với khách hàng:
Sản phẩm không được hiển thị xác thực
Không thấy được hình ảnh thực tế của sản phẩm luôn là băn khoăn lớn nhất của
khách hàng khi mua sắm trực tuyến. Chính vì vậy họ thường yêu cầu rất cao những
thông tin về sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Thông tin về đặc điểm, tính
năng của sản phẩm không đúng với thực tế, được nói quá khoa trương. Đặc biệt là
giá bán và những chương trình khuyến mãi đi kèm không rõ ràng, gây nhiều hiểu
lầm và dẫn đến tranh chấp.
Quy trình mua và thanh toán không rõ ràng và không đảm bảo an toàn
Mua bán trên mạng diễn ra trên môi trường ảo nên các công đoạn chọn hàng,
đặt mua và thanh toán khó có thể theo dõi cặn kẽ. Khách hàng thường rất quan tâm
về vấn đề này, nếu quy trình mua hàng phải trải qua quá nhiều bước rắc rối, không
logic sẽ làm cho họ thấy khó chịu, nản lòng. Phương thức thanh toán không đảm
bảo an toàn và hệ thống bảo mật kém cũng sẽ làm mất lòng tin của khách hàng.
Hệ thống liên lạc kém
Hệ thống liên lạc đôi khi bị các nhà bán lẻ bỏ qua khi triển khai website, trong
khi đây cũng là một yếu tố quan trọng để kết nối doanh nghiệp với khách hàng.
Không gặp trực tiếp được người bán, vậy khách hàng khi có ý kiến phản hồi, khiếu
nại hay muốn tìm hiểu kĩ hơn thì biết liên lạc với ai?
Khi khách hàng cần tư vấn thì nhân viên phải ngay lập tức trả lời. Như thế mới
giữ chân được khách hàng, vì nếu họ phải chờ đợi lâu họ sẽ chuyển sang những
nơi cung cấp khác.
Về mặt chủ quan:
- Các doanh nghiệp vẫn đang ở tâm lí vừa làm vừa thăm dò thị trường.
- Nhiều đơn vị bán hàng qua mạng vẫn chưa hiểu rõ sự khác biệt giữa bán hàng
online và bán hàng offline truyền thống.
- Chưa phát huy hết lợi thế online nên khó có thể đánh trúng tâm lí người tiêu
dùng cần gì.
4. Một số biện pháp để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
4.1 Biện pháp khắc phục những rủi ro khi thanh toán qua mạng
* Ngăn chặn tình trạng thẻ giả mạo trong giao dịch qua mạng cho các doanh
nghiệp
20
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thời gian gần đây thường hay xảy ra
những vụ việc người Việt Nam đứng tên thành lập công ty, ký hợp đồng chấp nhận
thanh toán thẻ với một số ngân hàng, sau đó sử dụng thẻ giả thanh toán qua các
máy chấp nhận thanh toán thẻ để rút tiền, tư lợi cá nhân (chủ yếu là giao dịch
thanh toán thẻ quốc tế). Điều này không những ảnh hưởng lớn đến ngành Ngân
hàng mà còn ảnh hưởng đến ngành TMĐT cũng như việc phát triển nền kinh tế
Việt Nam nói chung. Để khắc phục tình trạng nêu trên thì cần các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán thẻ phải kiểm tra, rà soát các đơn vị chấp nhận thanh toán
thẻ (tập trung vào các đơn vị hoạt động trong thời gian ngắn, 01-02 tháng); tăng
cường kiểm tra và giám sát các quy trình thanh toán thẻ (đặc biệt là thẻ quốc tế)
phát sinh tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ. Khi phát hiện các giao dịch đáng
ngờ thì cần chủ động phối hợp cơ quan công an để có biện pháp xác minh, xử lý;
đồng thời báo cáo kịp thời NHNN. Rà soát các điều kiện, thủ tục phát triển đơn vị
chấp nhận thanh toán thẻ; tiến hành phân loại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ
để khoanh vùng rủi ro, tăng cường các biện pháp giám sát và chú trọng đào tạo cho
nhân viên trong việc nhận biết, đánh giá độ tin cậy của các đơn vị chấp nhận thanh
toán thẻ trước khi ký kết hợp đồng. Phổ biến, thông báo đến từng nhân viên trong
đơn vị (đặc biệt các nhân viên giao dịch) về phương thức, thủ đoạn hoạt động của
tội phạm thẻ để qua công tác nghiệp vụ có thể phòng ngừa, phát hiện, tố giác các
dấu hiệu tội phạm. Áp dụng các giải pháp công nghệ bảo mật tiên tiến đối với hệ
thống thanh toán thẻ. Tăng cường phổ biến cho khách hàng bằng các hình thức
cảnh báo, nhắc nhở thích hợp tại ATM/POS để khách hàng đề cao cảnh giác, tham
gia phòng chống tội phạm và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng.
* Khắc phục những sự cố xảy ra do sơ suất về mặt kĩ thuật
Để khắc phục những sơ suất trong kỹ thuật của nhân viên khi xảy ra việc nhầm
lẫn truyền dữ liệu; vô tình nhấp chuột làm mất dữ liệu của khách hàng hoặc máy
tính bị virut tấn công là không khó, nhưng điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải
thường xuyên theo dõi, kiểm tra trình độ của đội ngũ nhân viên cũng như xây dựng
phần mềm chống vitut tấn công, hệ thống website, thanh toán qua mạng đơn giản
và hiệu quả. Ngoài ra để đề phòng những rủi ro hiểm hoạ do thiên tai, sự cố bất
ngờ hay những hành động chiến tranh khủng bố... thì việc lưu trữ dữ liệu trong
TMĐT ở nhiều nơi với nhiều hình thức là việc làm rất có ý nghĩa. Việc làm này
tạo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh trên mạng cũng như đảm bảo việc phát
triển lâu dài và bền vững cho doanh nghiệp.
* Khắc phục những rủi ro thường gặp khác
Các biện pháp nêu trên đều là những biện pháp cần thiết để phòng tránh những
rủi ro bất trắc trong thanh toán TMĐT. Song cho dù có áp dụng biện pháp nào đi
chăng nữa cũng không thể đảm bảo an toàn một cách tuyệt đối bởi có rất nhiều rủi
21