Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

kieu bai so sánh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.21 KB, 11 trang )

Văn 3:
Văn 4:

Tổng số:
Tổng số:

Vắng:
Vắng:

Tiết : 88
KĨ NĂNG LÀM BÀI SO SÁNH VĂN HỌC
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1.Yêu cầu về kĩ năng
- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận so sánh văn học
- Nêu được luận điểm, nhận xét, đánh giá cho bài văn nghị luận so sánh văn học
- Biết huy động kiến thức sách vở và những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị luận so
sánh văn học
- Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận (phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh, bác bỏ…) để làm
bài nghị luận so sánh văn học
2. Yêu cầu về kiến thức
- Học sinh nắm được mục đích, yêu cầu, đối tượng của i bài nghị luận so sánh văn học
- Các bước triển khai bài nghị luận so sánh văn học
I. Kiến thức cơ bản:
1.Xác định các loại đề so sánh văn học thường gặp
Thực tế cho thấy dạng bài so sánh văn học có rất nhiều loại nhỏ. Bằng sự trải nghiệm của bản
thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gần đây, tôi thống kê và khái quát lại thành những
cấp bậc đề so sánh văn học cơ bản và đưa ra một vài ví dụ mang tính chất minh họa cho mỗi loại nhỏ:
- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi
tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân vật Chí


Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe
tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng
A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12)
- So sánh hai đoạn thơ
Ví dụ 1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng và Tiếng hát con
tàu của Chế Lan Viên
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,
Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,
Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
- So sánh hai đoạn văn
Ví dụ 1: Đề khối C 2010 (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí: Người lái đò sông Đà của
Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ví dụ 2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau: “Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị nén lấy hũ rượu cứ uống
ừng ựng từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị
thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng... ” (Vợ chồng APhủ - Tô
Hoài)
“ Phải uống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra chao
ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng
rức...” ( Chí Phèo –Nam Cao)



- So sánh hai nhân vật
Ví dụ 1: Đề thi đại hoc –khối C 2009 Vẻ đẹp khuất lấp của: người vợ nhặt trong Vợ nhặt của Kim Lân
và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Ví dụ 2: So sánh nhân vật Đan Thiềm trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy
Tưởng và viên quản ngục trong Chữ Người tử tù của Nguyễn Tuân.
Ví dụ 3: Bi kịch của Vũ Như Tô (Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) và Hộ (Đời thừa – Nam Cao)
- So sánh cách kết thúc hai tác phẩm:
Ví dụ 1: Đề thi đại học 2012: So sánh kết thúc tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và kết
thúc tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Ví dụ 2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí Phèo của Nam Cao
- So sánh phong cách tác giả:
Ví dụ: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà, nhận xét những
điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945.

- So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm
Đề thi đại học khối C năm 2013 cũng có thể xem là một dạng của so sánh: Về hình
tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng: người
lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng
người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp.Từ cảm
nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểu đúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự bày
tỏ hiểu biết tùy theo năng lực nhận thức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảng của thầy
cô. Đáp án chấp nhận cả quan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyến khích thí sinh
mạnh dạn viết về vấn đề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau, trình độ khác
nhau. Vấn đề quan trọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi văn lại chính là kỹ
năng phân tích, so sánh, bình luận làm rõ vấn đề của học sinh.
2. Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học
- Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn đề, song đối với

kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết , hai đoạn thơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân
vật .... phương pháp làm bài văn dạng này thông thường có hai cách:
Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau
Song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích từng luận điểm
kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa.
* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp. Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi tiếp cận với
dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề thi đại học - cao
đẳng. Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng so sánh cả về phương diện nội dung và nghệ thuật,
sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau. Cách này học sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài
viết. Bài viết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng có cái khó là đến phần nhận xét điểm giống và
khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích
ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện. Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài
- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 1 (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu
là thao tác lập luận phân tích)
- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là
thao tác lập luận phân tích)
- So sánh:
+ Nhận xét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện như chủ đề, nội dung
hình thức nghệ thuật...(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác
lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)


+ Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa
mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…(bước này
vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
Kết bài:

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
*Cách 2: Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diện của hai đối tượng.
Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn
đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của
cả hai văn bản để chứng minh cho luận điểm đó. Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn
Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Ứng dụng cách viết này học sinh không
phân tích lần lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánh song song trên các bình diện:
Xuất xứ - cảm hứng - hình tượng - chất liệu và giọng điệu trữ tình, mô hình khái quát của kiểu bài
này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài:
- Điểm giống nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm .....
- Điểm khác nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm .....
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.

Văn 3:
Văn 4:

Tổng số:

Tổng số:

Vắng:
Vắng:

Tiết : 89 - 90 - 91 - 92
KĨ NĂNG LÀM BÀI SO SÁNH VĂN HỌC
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1.Yêu cầu về kĩ năng
- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận so sánh văn học
- Nêu được luận điểm, nhận xét, đánh giá cho bài văn nghị luận so sánh văn học


- Biết huy động kiến thức sách vở và những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị luận so
sánh văn học
- Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận (phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh, bác bỏ…) để làm
bài nghị luận so sánh văn học
2. Yêu cầu về kiến thức
- Học sinh nắm được mục đích, yêu cầu, đối tượng của i bài nghị luận so sánh văn học
- Các bước triển khai bài nghị luận so sánh văn học
LUYỆN ĐỀ:

ĐỀ 1: Cảm nhận về chi tiết “dòng nước mắt” trong “Vợ nhặt” và “Chiếc thuyền ngoài
xa”
+“Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những
mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà
rỉ xuống hai dòng nước mắt” (Vợ nhặt – Kim Lân)
+“Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người
đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng
nước mắt” (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)

Trình bày cảm nhận của anh/chị về chi tiết “dòng nước mắt” trong những câu văn trên.
Hướng dẫn cách làm:
Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Nguyễn Minh Châu
và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
+ Hai nhà văn đều thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân văn trong sự nghiệp VH
+ Hai tác phẩm khắc họa tình người, tình mẹ, trong đó chi tiết “dòng nước mắt” là một
phương tiện biểu hiện.
Thân bài
a) Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Vợ nhặt
* Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
– nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của bà cụ Tứ – mẹ Tràng: tình huống truyện
anh Tràng nhặt vợ, diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
* Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
– Là biểu hiện của nỗi đau khổ, tủi phận: con lấy vợ vào giữa ngày đói khiến bàlão vừa
mừng lại vừa tủi, vừa lo lắng…
+ Giọt nước mắt chỉ “rỉ” ra hiếm hoi bởi cả đời đã cạn khô nước mắt trong những
tháng ngày khốn khổ dằng dặc…
+ “Kẽ mắt kèm nhèm” là sự hiện hình của một bức chân dung đầy khổ hạnh của người
phụ nữ nông dân lớn tuổi
– Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng
* Đánh giá:
– Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu
sắc:
+ Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm trước cách mạng, trong nạn đói
1945
+ Nhân đạo: cảm thông thương xót; tố cáo xã hội; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn
người mẹ
–Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội tâm
nhân vật đặc sắc

b) Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Chiếc thuyền ngoài xa


* Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
– nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của NĐBHC: câu chuyện gia đình hàng chài,
diễn biến tâm trạng NĐBHC
* Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
– Là biểu hiện của nỗi đau đớn: gia cảnh nghèo khó bế tắc -> tình trạng bạo lực trong
gia đình không có lối thoát -> câu chuyện thằng con phạm vào tội ác trái luân thường
đạo lí không thể giải quyết, nỗi lo lắng về sự phát triển nhân cách lệch lạc của con đã
không tìm được giải pháp…
– Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng, khi chồng đánh
không hề có bất kì phản ứng nào, nhưng hành động của thằng con khiến chị như sực
tỉnh, như bị một viên đạn xuyên qua tâm hồn để thức dậy nỗi đau tận cùng
* Đánh giá:
– Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu
sắc:
+ Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm sau chiến tranh và đêm trước thời kì
Đổi mới 1986
+ Nhân đạo: cảm thông thương xót; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ
– Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội
tâm nhân vật đặc sắc
c) So sánh
* Điểm tương đồng
– Về nội dung:
+ Đều là những dòng lệ của người phụ nữ, của người mẹ trong hoàn cảnh nghèo đói và
khốn khổ
+ Đều là “giọt châu của loài người”, giọt nước chan chứa tình người trào ra từ tâm hồn
những bà mẹ giàu lòng vị tha, đức hi sinh
+ Đều góp phần thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm: phản ánh hiện

thực xã hội trong những thời điểm khác nhau; thể hiện tấm lòng thương cảm đối với bi
kịch của con người và sự trân trọng vẻ đẹp tình đời, tình người của tác giả.
– Về nghệ thuật: Đều cho thấy ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc của hai
nhà văn qua việc lựa chọn chi tiết đặc sắc
* Điểm khác biệt
– Về nội dung: Hoàn cảnh riêng của 2 nhân vật khác nhau- nước mắt cũng mang những
nỗi niềm riêng
+ Chi tiết dòng nước mắt của bà cụ Tứ gắn với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được
vợ; bà cụ cảm thấy ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con mình và cũng xót tủi cho
chính thân phận mình. Nhưng phía trước bà cụ là ánh sáng của hạnh phúc nhen nhóm
– Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử dụng hình
thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt ví von, hình
ảnh. (0,5)
d) Lí giải
* Vì sao giống? Giống về nội dung vì cùng hướng đến:
+ Từ nỗi đau -> đề xuất giải pháp cách mạng
+ Từ vẻ đẹp tâm hồn -> ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ VN truyền thống -> cùng là
những nhà văn hiện thực và nhân đạo sâu sắc
* Vì sao khác?


– Hoàn cảnh khác và tương lai khác do được viết trong những bối cảnh khác nhau (KL
từ sau khi CM thành công nhìn lại viết nên mang cảm quan lạc quan; NMC nhìn trong
hiện tại nên không dám chắc chắn tin tưởng ở tương lai) – PCNT của mỗi tác giả khác
biệt không trộn lẫn
Kết luận
– Khẳng định vấn đề: vẻ đẹp và sức mạnh của dòng nước mắt người mẹ – Khẳng định
giá trị tác phẩm và vị trí của tác giả trên văn đàn
ĐỀ 2: Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
và hình tượng Lor ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor ca của Thanh Thảo.

1. Tác giả, tác phẩm
2. Giải thích
- Bi là buồn, bi ai – tráng là hào hùng, hùng tráng.
- Chất bi tráng hoà quyện vào nhau. Cái bi là sự gian khổ, hi sinh nhưng không lụy. Cái bi được thể
hiện bằng một giọng điệu hào hùng, màu sắc tráng lệ.
3. Giống nhau
- Đều là những hình tượng được sáng tạo bởi những người trí thức-nghệ sĩ đa tài.
- Người lính Tây Tiến và Lor ca là những con người có tài năng, phóng khoáng, yêu tự do, anh dũng
đấu tranhcho tự do và sẵng sàng hi sinh cho những lí tưởng cao đẹp.
- Đều có tình yêu quê hương đất nước sâu sắc, có trái tim nhạy cảm, yêu đời với những nỗi nhớ da
diết nồng nàn.
- Cái chết của người lính Tây Tiến và Lor ca đề mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng vượt lên trên hiện
thực khốc liệt, bi thảm. Cuộc đời và vẻ đẹp tâm hồn của họ có sức sống bất tử với đất trời và trong
lòng người.
4. Khác nhau
a. Người lính Tây Tiến
- Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên chân dung người lính được đặt trong khung cảnh
miền Tây vừa hoang sơ dữ dội, lại vừa hết sức thơ mộng. Ngòi bút của nhà thơ chú trọng đến những
nét độc đáo khác thường làm nổi bật vẻ đẹp hào hùng, hào hoa.
- Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính được đặc tả trên các phương diện:
+ Vẻ đẹp bi tráng ở chân dung của người lính qua bức tượng đài tập thể. Cảm hứng lãng mạn khiến
cách nhìn những người lính có vẻ tiều tuỵ tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng,
mang dáng dấp của những tráng sĩ thủa xưa. Đó là ý chí, tư thế hiên ngang vượt lên, coi thường gian
khổ, hi sinh. (Tây Tiến đoàn binh….oai hùm)
+ Những câu thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ, không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn
vượt lên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho nghĩa lớn của dân tộc. Đó là dũng khí
tinh thần và hành động cao đẹp của người lính Tây Tiến. Tư thế ra trận, lý tưởng lên đường hào hùng
mà bi tráng. (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh….Tây tiến người đi không hẹn ước)
+ Quang Dũng không hề che dấu sự gian khổ, khó khăn trên những chặng đường hành quân, những
căn bệnh hiểm nghèo và cả những hi sinh của người lính. (Anh bạn….bỏ quên đời)

+ Tuy nhiên, những người lính không hề chìm trong bi thương, bi luỵ. Bài thơ viết về sự hi sinh của
người lính một cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng. cái chết gợi lên sự bi thương ( hình ảnh những
nấm mồ viễn xứ). Cái chết hợp trời đất và lòng người nên thiêng liêng và bất tử.
- Bút pháp miêu tả: lãng mạn kết hợp với bi tráng, nghệ thuật tương phản, phối hợp thanh điệu, tiết
tấu...
b. Hình tượng Lor ca
- Thanh Thảo đã khắc họa thành công bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội đa sắc màu của Tây Ba Nha.
Đây là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành nên tài năng của Lor ca. Đó cũng thời đại đầy dữ
dội để xuất hiện một thiên tài.
- Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor ca được đặc tả trên các phương diện:
+ Tây Ba Nha như một đấu trường khổng lồ. Đó là cuộc đấu quyết tử giữa một bên là khát vọng dân
chủ của người chiến sĩ Lor ca và nền chính trị độc tài thân Phát xít; giữa người nghệ sĩ mang khát
vọng cách tân nghệ thuật với sự bảo thủ của nền nghệ thuật già nua. Vì thế, áo choàng đỏ gắt vừa gợi
được khí chất ngang tang của người nghệ sĩ yêu tự do, vừa gợi được tính chất quyết liệt trong cuộc


đấu tranh giữa ánh sáng – bóng tối, chính – tà, cũ – mới trong nền chính trị và nghệ thuật Tây Ba Nha
thời đó.
+ Hình ảnh vầng trăng, yên ngựa, những trạng thái của người thi sĩ: chếnh choáng, mỏi mòn khắc họa
bức chân dung Lor ca người nghệ sĩ lãng tử, lãng du đang ngây ngất say đời, say nghệ thuật, say thơ,
say lý tưởng. Tuy vậy, những cụm từ miền đơn độc, mỏi mòn lại gợi ra một hình ảnh khác của Lor ca.
Xét ở góc độ nào, trong sáng tạo nghệ thuật cũng như trong tranh đấu Lor ca đều đơn độc.
+ Cái chết bi tráng: Giây phút bi phẫn nhất của Lor-ca đó là khi ông bị bọn phát xít Phrăng-cô giết,
ném xác xuống giếng để phi tang. Báo chí Tây Ba Nha nói vụ giết Lor-ca vẫn là một trong những vết
thương chưa lành ở Tây Ba Nha. Tây Ba Nha trở nên kinh hoàng khi nghe tin Lor-ca bị giết hại. Từ
“Tây Ba Nha - hát nghêu ngao” đến “bỗng kinh hoàng” là một sự đổ vỡ ghê gớm. Tội ác của các thế
lực tàn bạo là kẻ thù đối nghịch của cái đẹp gây nên nỗi kinh hoàng trong lòng người. Hình ảnh Lorca bị hành hình được diễn tả qua nghệ thuật hoán dụ: áo choàng bê bết đỏ, đi về bãi bắn được miêu tả
trong tâm thế “như người mộng du”. Lor-ca đã chết một cách nghệ sĩ, chập chờn bước vào cõi tử coi
thường mọi đau đớn.
+ Cái chết của Lor-ca gắn với tiếng đàn ghita. Thanh Thảo miêu tả tiếng đàn trên hai bình diện: âm

thanh và màu sắc. Bằng những hình ảnh thơ mang phong cách tượng trưng siêu thực được viết với
nghệ thật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Dưới bút thơ tài hoa của Thanh Thảo, tiếng đàn ghita đã vỡ ra
thành hình, thành sắc để phục sinh cái chết oan khuất của Lor-ca .Thanh Thảo đã thể hiện nỗi đau với
“những vết thương bốc cháy như mặt trời”.
+ Tuy nhiên, Lor ca không hề chìm trong bi thương, bi luỵ. Bài thơ viết về sự hi sinh của Lor ca một
cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng. Cái chết hợp trời đất và lòng người nên thiêng liêng và bất tử.
So sánh âm thanh tiếng đàn - vô hình với cỏ - hữu hình, đó là một điều đặc biệt. Hình ảnh thơ biểu
trưng cho sự bất diệt của người nghệ sĩ và nghệ thuật chân chính. Lor-ca ra đi nhưng nghệ thuật, vẻ
đẹp tâm hồn của ông sẽ sống mãi kiên cường. Hình ảnh “vầng trăng long lanh trong đáy giếng” là lời
khẳng định cho vẻ đẹp đầy nhân tính, bất diệt của thơ và người Lor-ca sẽ tỏa sáng đến muôn đời, bất
chấp sự hủy diệt tàn bạo của các thế lực tàn ác. Thi sĩ đã đi vào cõi tử bằng chiếc ghi ta mang vẻ đẹp
của nghệ thuật cách tân, của khát vọng tự do. Chiếc thuyền ghi ta có màu bạc là màu của sự trong
trắng, ngay thẳng không chịu quỳ gối trước bất công tàn bạo. Hình ảnh thơ mang vẻ đẹp thần thoại.
Điệp âm li la gợi hình ảnh những bông hoa Tử đinh hương liên tiếp xoè nở như một cách khẳng định
đầy tin tưởng về sự sống bất diệt, vĩnh hằng của Lor ca. Từ cuộc đời nhà thơ Tây Ba Nha đã nở ra
những đoá hoa li la.
- Bút pháp miêu tả: thể thơ tự do mang phong cách tượng trưng, siêu thực, kết hợp giữa tự sự và trữ
tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng
phương Tây, hình ảnh thơ lạ hoá, áo hoá...
5. Đánh giá
- Quang Dũng và Thanh Thảo gặp nhau ở tư tưởng lớn, bất tử vẻ đẹp bi tráng của những con người
sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân loại.
- Quang Dũng và Thanh Thảo là những nhà thơ có phong cách nghệ thuật tài hoa độc đáo.
ĐỀ 3: Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện
riêng.
Trong bài “Tây Tiến”, Quang Dũng viết:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
... Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (“Tây Tiến”- Quang Dũng)
Trong thi phẩm“Việt Bắc”, Tố Hữu tái hiện:
“Những đường Việt Bắc của ta

... Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” (“Việt Bắc” - Tố Hữu)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên?
1. KHÁI QUÁT CHUNG:
- Giới thiệu Quang Dũng, Tố Hữu và hai tác phẩm:
+ Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng
mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang
Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến
một thời gian.


+ Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông theo sát những chặng đường của cách mạng Việt Nam.
Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu. Tác phẩm vừa là bản tình ca về
tình cảm cách mạng – giữa đoàn cán bộ miền xuôi với nhân dân Việt Bắc, vừa là bản hùng ca về cuộc
kháng chiến chống Pháp gian khổ mà vẻ vang của dân tộc.
- Hai đoạn thơ được trích từ hai bài thơ đều tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận song mỗi nhà
thơ lại có cách khám phá, thể hiện riêng.
2. TRÌNH BÀY CẢM NHẬN:
a. ĐOẠN THƠ TRONG BÀI THƠ “TÂY TIẾN”
* Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến trên đường hành quân:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như
màu lá.
+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc da xanh là do hậu quả của những tháng ngày hành quân vất vả
vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính.
+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương
trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung.
- Cái hào hùng:
+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất
mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó

khăn gian khổ của mình.
+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” . Chữ “đoàn binh” chứ không phải là đoàn quân
đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai
phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình
hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ. “Mắt trừng” là
đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.
*Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một dáng
kiều thơm trong mộng.
Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà giữa bao
nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là
phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu
kiều, diễm lệ. Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững vàng tay súng, sẵn sàng cống
hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
b. ĐOẠN THƠ TRONG BÀI THƠ “VIỆT BẮC”
*Vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân:
“Những đường Việt Bắc của ta ...Quân đi điệp điệp trùng trùng
- Các từ láy “rầm rập”, “điệp điệp" và “trùng trùng" và hình ảnh so sánh “… như là đất rung” vừa
gợi lên sự đông đảo, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của đoàn quân ra trận. Mỗi bước đi của
đoàn quân ấy mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và
chiến thắng quân thù.
*Vẻ đẹp lãng mạn:
“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”
Đây có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành
quân, cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí
tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi. Họ là những con người có lí tưởng cao cả, đẹp đẽ, sẵn
sàng cống hiến vì sự nhiệp chung. Ý thơ khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng
treo” trong thơ Chính Hữu.

c. SO SÁNH HAI ĐOẠN THƠ:
- Giống nhau: Đều khắc họa người lính với vẻ đẹp vừa hào hùng, vừa lãng mạn, bay bổng.
- Khác nhau:
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Tây Tiến”, vẻ đẹp hào hùng của người lính phảng phất sự bi thương.


+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Việt Bắc”, vẻ đẹp lãng mạn của người lính còn được Tố Hữu gắn
liền với hiện thực.
- Cả hai tác giả đều có trải nghiệm từ thực tế chiến đấu nên thơ đậm chất hiện thực. Bên cạnh đó,
Quang Dũng là một chàng trai Hà thành rất hào hoa nên thơ ông có cái lãng mạn rất riêng; còn ở Tố
Hữu, thơ ông là thơ trữ tình chính trị, luôn có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào cách mạng.
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG:
Hai đoạn thơ bên cạnh những điểm tương đồng còn có những nét riêng độc đáo, thể hiện tài
năng của hai nhà thơ.
Khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học cũng như trong lòng độc giả.
*Vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân:
“Những đường Việt Bắc của ta ...Quân đi điệp điệp trùng trùng
- Các từ láy“rầm rập”, “điệp điệp"và“trùng trùng"và hình ảnh so sánh“… như là đất rung”vừa gợi
lên sự đông đảo, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của đoàn quân ra trận. Mỗi bước đi của đoàn
quân ấy mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến
thắng quân thù.
*Vẻ đẹp lãng mạn:
“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”
Đây có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành
quân, cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí
tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi. Họ là những con người có lí tưởng cao cả, đẹp đẽ, sẵn
sàng cống hiến vì sự nhiệp chung. Ý thơ khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng
treo” trong thơ Chính Hữu.
Đề 4: Vẻ đẹp riêng của hai nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà-nu của nhà văn Nguyễn Trung
Thành và nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi.

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật:
- Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn
Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến.
Tnú và Việt là hai nhân vật chính của hai tác phẩm. Qua hai nhân vật, tác giả Nguyễn Trung Thành và
Nguyễn Thi đã khắc họa được vẻ đẹp con người Việt Nam trong thời chống Mĩ. Ở mỗi nhân vật đều
có những vẻ đẹp riêng, hấp dẫn người đọc.
2. Phân tích vẻ đẹp riêng ở mỗi nhân vật:
a. Nhân vật Tnú:
- Con người có cá tính, bất khuất, kiên trung, đã vượt qua bi kịch cá nhân để tiếp tục chiến đấu và
chiến thắng kẻ thù xâm lược.
+ Từ nhỏ, Tnú là một cậu bé gan góc, dũng cảm, trung thực, được giác ngộ cách mạng ;
+ Khi thoát ngục Kontum trở về, Tnú đã là một chàng trai cường tráng, được tôi luyện qua nhiều thử
thách, trở thành một chiến sĩ kiên cường, bất khuất, trung thành với cách mạng.
+ Vẻ đẹp của nhân vật bộc lộ sáng chói qua đoạn cao trào đầy kịch tính của truyện khi vợ con bị giặc
giết, bản thân anh bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay bằng chính nhựa xà nu của quê hương, khơi
dậy cao độ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.
- Gắn bó với gia đình, bản làng: yêu thiết tha bản làng, gắn bó thân thiết với cảnh và người ở quê
hương mình, hết lòng yêu thương vợ con.
- Nghệ thuật thể hiện: không gian sử thi, cuộc đời sử thi, ngôn ngữ chọn lọc, tạo không khí.
b. Nhân vật Việt:
- Mang vẻ trẻ con hồn nhiên, ngây thơ, vô tư: để mặc chị lo hết mọi việc trong nhà, không sợ kẻ thù,
không sợ cái chết nhưng rất sợ ma, lúc nào bên người cũng có cái súng chun,...
- Tính cách bộc trực, dũng cảm, kiên cường, gắn bó sâu nặng với gia đình, đồng đội, khát khao cầm
súng trả thù nhà, đền nợ nước.
+ Khi còn nhỏ dám xông thẳng vào đá thằng giặc vừa giết hại cha mình.
+ Khi chưa đủ tuổi tòng quân, Việt nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má.
+ Khi xung trân, Việt chiến đấu rất dũng cảm.
+ Khi bị thương, lạc đồng đội, Việt vẫn trong tư thế chờ tiêu diệt giặc.
- Nghệ thuật thể hiện: Nhân vật được đặt vào một tình huống thử thách đặc biệt; lối trần thuật nửa
trực tiếp, ngôn ngữ đậm sắc thái Nam bộ.



3. Bình luận:
- Họ đều là những điển hình của con người Việt Nam kháng chiến mang thân phận bi kịch, chịu
nhiều đau thương, mất mát, giàu tình cảm, căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm chiến đấu bảo vệ đất nước,
quê hương.
- Tuy nhiên, ở mỗi nhân vật lại có những vẻ đẹp riêng:
+ Tnú là nhân vật được kết tinh từ vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người mang đậm dòng máu, tính
cách của núi rừng Tây Nguyên với hình ảnh, vóc dáng vạm vỡ chứa trong đó cái mênh mang, trong
sạch, hoang dại của núi rừng. Qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành

Đề 5: Trong tác phẩm Chí Phèo ( Nam Cao), sau khi đến với thị Nở; sáng mai ra, Chí
Phèo nghe thấy: “ Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những
người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm
nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!” (Trích Chí Phèo
của Nam Cao, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr. 149)
Trong tác phầm Vợ nhặt ( Kim Lân), sau khi có vợ, sáng hôm sau, Tràng:
“ ... Bỗng vừa chợt nhận ra, xụng quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ.
[…]. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới
thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.”
(Trích Vợ nhặt cùa Kim Lân,Ngữ văn 12,Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.
30)
Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng của hai nhân vật qua hai đoạn văn trên.
I. Giới thiệu chung: 0,5
- Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc tràn đầy tinh thần nhân đạo. Sáng tác trước
cách mạng của ông xoay quanh hai đề tài chính là nông dân nghèo và trí thức nghèo.
Truyện ngắn “Chí Phèo” là kiệt tác của Nam Cao, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật
của ông.
- Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông
là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập

trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong
những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”
II. Phân tích: 3,0
1. Đoạn văn trong “Chí Phèo” – Nam Cao: 1,0
- Tình huống:
+ Sau cuộc gặp gỡ tình cờ của Chí Phèo với thị Nở, Chí Phèo lần đầu tiên tỉnh rượu.
Chí đã tỉnh rượu sau một cơn say rất dài.
+ Trước đó Chí đã là tay sai cho kẻ thống trị nham hiểm – Bá Kiến. Bá Kiến lợi dụng
Chí Phèo để trừ khử những phe cánh đối nghịch, gây ra bao tội ác với dân làng mà yếu
tố hỗ trợ cho Chí là rượu. Vì thế đời Chí là một cơn say dài mênh mông. Cơn say đã
lấy mất của hắn già nửa cuộc đời, đẩy hắn vào kiếp sống thú vật tăm tối.
- Tâm trạng Chí khi tỉnh rượu:
+ Tỉnh rượu, ý thức bắt đầu trở về, Chí thấy lòng mơ hồ buồn, nỗi buồn đã đến nhưng
còn mơ hồ chưa rõ rệt.
+ Khi ý thức đã trở về, Chí cảm nhận được sự tồn tại của mình, biết đến không gian,
thời gian. Đó là lần đầu tiên Chí nghe được những âm thanh đời thường của cuộc sống
bình dị: “ Tiếng chim hót…, tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài
gõ mái chèo đuổi cá…”.
->Những âm thanh ấy đánh thức trong Chí cái ước mơ giản dị của một thời lương
thiện. Hắn đã từng ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt


vải. Nhưng chính bàn tay tội ác của những kẻ thống trị đã phá nát những giấc mơ, đã
hủy hoại tan hoang cả một đời lương thiện. phút lóe sáng trong tâm hồn đã kéo nhân
vật trở về thực tại, nhận ra hiện thực đáng buồn: “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào
chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”. Lần đầu tiên Chí Phèo
tỉnh rượu cũng là lần đầu tiên hắn đối diện với cuộc đời của mình.
2. Đoạn văn trong “Vợ nhặt” – Kim Lân: 1,0
- Tình huống:
+ Tràng đã lớn tuổi mà vẫn chưa có vợ và nạn đói khủng khiếp lại đem đến cơ may để

Tràng có gia đình. Hạnh phúc đến với người nông dân nghèo khổ ấy quá bất ngờ, thấy
mình như vừa từ giấc mơ đi ra.
- Tâm trạng của Tràng vào buổi sáng đầu tiên khi có gia đình:
+ Tràng trông thấy những thay đổi khác lạ ở ngôi nhà của mình, thay đổi ở người mẹ
và cả người vợ. Nạn đói khủng khiếp khiến Tràng quên mất những viêc anh ta phải làm
và khiến cuộc sống của anh trở nên tạm bợ, ngôi nhà trở nên trống trải. Nay Tràng đã
có một gia đình và tổ ấm. Mẹ và vợ Tràng đang dọn dẹp, sửa sang lại ngôi nhà. Với
người khác, cảnh tượng ấy không có gì đặc biệt nhưng với Tràng đó là hình ảnh của
cuộc sống gia đình, là thứu là anh ta tưởng chẳng bao giờ có được.
+ Từ khi có gia đình là từ khi Tràng được sống trong những cảm xúc rất con người, ý
thức được trách nhiệm, bổn phận của mình. Hắn nghĩ đến tương lai sáng sủa, không
còn bế tắc.
3. Điểm tương đồng và khác biệt: 1,0
a. Điểm tương đồng:
Cả hai đều nói về những chuyển biến mới mẻ của con người khi đã đến cái dốc bên kia
của cuộc đời mà điều làm nên sự thay đổi kì diệu ấy đó là sự quan tâm, tình yêu
thương, chăm sóc, sự sẻ chia của con người với con người.
b. Nét khác biệt:
- Nam Cao phát hiện ra những đốm sáng nhân bản còn le lói trong con quỷ dữ Chí
Phèo. Tuy nhiên Chí Phèo vẫn rơi vào tình cảnh bế tắc, không lối thoát.
- Kim Lân đã phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn con người lao động, dù ở bờ vực của
cái chết nhưng họ vẫn khao khát hạnh phúc gia đình, vẫn muốn sống cuộc đời của một
con người. Ông mở cho nhân vật của mình một tương lai sáng lạng, đầy hi vọng. Qua
đó, Kim Lân gửi vào trong đoạn văn của mình tiếng nói mang ý nghĩa triết lí nhân sinh
sâu sắc: Hạnh phúc đã cứu con người thoát khỏi cái chết và có khả năng đưa con người
thoát khỏi tình trạng phi nhân tính.
III. Đánh giá: 0,5
- Hai đoạn văn đều cho thấy cái nhìn đầy tính nhân đạo của người viết. Qua đây thấy
được tài năng, tấm lòng của hai tác giả.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×