MỤC LỤC
Mở đầu.
1/ Lý do chọn đề tài.
2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3/ Phương pháp nghiên cứu.
4/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
5/ Nguồn tài liệu.
Nội dung.
Chương 1: Phù Nam có những điều kiện thuận lợi để phát triển thương nghiệp.
1.1/ Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên.
1.2/ Dân cư.
1.3/ Sản vật và đời sống vật chất.
Chương 2: Thương nghiệp Phù Nam.
2.1/ Nội thương.
2.2/ Ngoại thương.
2.3/ Vai trò của thương nghiệp đối với sự phát triển và suy vong của Phù Nam.
Kết luận.
Lời phê của giáo viên:
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
1
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài:
Lịch sử Vương quốc cổ Phù Nam là lịch sử của một phần lãnh thổ - phần
Nam Bộ Việt Nam, nên có ý nghĩa không nhỏ đối với lịch sử Việt Nam.
Tôi chọn đề tài “Thương nghiệp Phù Nam” vì Phù Nam là một vương quốc
có sự đan xen hài hòa giữa các ngành kinh tế. Có khí hậu và đất đai thuận lợi
để phát triển nông nghiệp và nền kinh tế thủ công nghiệp phát triển hơn hẳn so
với các nước cùng khu vực. Nhưng Phù Nam lại giàu mạnh lên nhờ nền thương
nghiệp và kinh tế biển. Nền kinh tế thương nghiệp đã là cho Phù Nam trở thành
một cường quốc về quân sự - chính trị, tạo tiềm lực cho Phù Nam trở thành
một đế quốc nhưng cũng chính nền kinh tế thương mại này là nguyên nhân dẫn
tới sự suy vong của vương quốc Phù Nam.
2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: thương nghiệp Phù Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Phù Nam từ thế kỷ III đến thế kỷ VI.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
Trong đối tượng nghiên cứu thương nghiệp Phù Nam từ thế kỷ III đến thế
kỷ VI, tôi có sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp
logic và phương pháp sử học.
4/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong tiến trình lịch sử phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, vùng đất và
con người Nam Bộ là một bộ phận hợp thành, gắn bó mật thiết và không thể
tách rời của dân tộc Việt Nam. Từ những thế kỷ đầu công nguyên, trên vùng
đất phương Nam đã xuất hiện một nền văn hóa cổ đó là văn hóa Óc Eo hình
thành ở đồng bằng sông Cửu Long, đã tạo nên nền tảng cho sự ra đời của
vương quốc Phù Nam.
2
Hơn một thế kỷ đã qua kể từ khảo cứu đầu tiên về vương quốc Phù Nam
của P. Pelliot và 60 năm sau phát hiện quan trọng của L. Malleret về văn hóa
Óc Eo, ngay từ khi mới hình thành, văn hóa Óc Eo đã chia sẻ nhiều giá trị
chung với với văn hóa khu vực, đó là nền văn hóa nuôi dưỡng bởi môi trường
biển và sự bồi tụ của các dòng sông lớn. Nhưng, trong một không gian tự nhiên
và xã hội tương đối riêng biệt, văn hóa Óc Eo cũng sớm thể hiện rõ những đặc
tính bản địa của mình.
Vương quốc Phù Nam không chỉ phát triển về kinh tế, mậu dịch hàng hải
và trở thành một cường quốc quân sự - chính trị, một vùng phát triển văn hóa,
đã hình thành một nền văn hóa Phù Nam cổ, ảnh hưởng đến các vùng lân cận
để lại dấu ấn đến đời sau với những giá trị độc đáo của nó.
5/ Nguồn tài liệu:
Tôi sử dụng nguồn tài liệu tiếng Việt của GS. Lương Ninh, TS. Huỳnh
Công Bá, Nguyễn Văn Kim.
NỘI DUNG
Chương 1: PHÙ NAM CÓ NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ PHÁT
TRIỂN THƯƠNG NGHIỆP.
1.1/ Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Theo Lương thư: “Nước Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, trong vịnh
lớn, phía Tây của biển, cách Nhật Nam có đến 7000 lí, cách Lâm Ấp ở phía
Tây – Nam đến hơn 3000 lí. Thành cách biển 500 lí (khoảng 250km), có sông
rộng 10 lí, từ Tây – Bắc chảy sang Đông nhập vào biển. Nước rộng hơn 3000
lí, đất trũng ẩm thấp, nhưng bằng phẳng rộng rãi”.
Địa bàn Phù Nam hẳn là có một vùng rừng núi phía Tây, nay là đất
Kirivong có nghĩa là dòng vua Núi, trên đoạn kéo dài của dãy Đậu Khấu, nối
liền với dải đồi vùng trung lưu sông Mê Kông và chủ yếu hẳn là có vùng đồng
bằng ven biển, từ Hà Tiên ở phía Tây đến Cà Mau ở phía Đông, trong đó có
cảng thị Óc Eo. Hơn nữa, vùng đồng bằng ven biển mới là địa bàn chủ yếu, bởi
nơi đây có điều kiện tụ cư đông đúc, phát triển kinh tế, cả nông nghiệp, đánh cá
và mở cửa giao tiếp với bên ngoài. Nhờ không ảnh, P. Paris (1941) phát hiện
một con kênh thẳng tắp dài 100 km nối cảng thị Óc Eo với Châu Đốc, một hệ
thống cắt ngang, nối trục kênh chính với biển và một chuỗi 5 kênh nối Châu
Đốc với núi Angkor Borie. Như thế, toàn miền Tây sông Hậu là sông Châu
Đốc, lại nối với núi Angkor Borie. Không nghi ngờ gì nữa, toàn bộ miền này
với một hệ thống kênh nối liền, mạch lạc, hợp lí và thông với cửa biển chính là
3
lãnh thổ cơ bản, địa bàn ban đầu của vương quốc Phù Nam. Những đoạn tả
đường sông, vị trí trong vịnh lớn, nhà sàn, cây dừa nước... của thư tịch cổ hoàn
toàn phù hợp cảnh quan, vị trí của nước Phù Nam. Chính ở đây chứ không thể
ở đâu khác: miền Tây sông Hậu và miền Nam Việt Nam.
Phù Nam ở phía Tây giáp vịnh Thái Lan, là một vịnh lớn, kín gió, rất phù
hợp cho tàu thuyền lớn neo đậu, tránh bão và họ dừng chân lại đây để mua bán,
trao đổi hàng hóa. Điều này tạo điều kiện cho kinh tế thương mại trên biển của
Phù Nam phát triển.
Do vị trí địa lý quan trọng của mình trên con đường mậu dịch trên biển nối
liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Phù Nam đã phát triển việc giao lưu
buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới. Một trong những nơi đó
là cảng thị Óc Eo.
Cư dân cổ Phù Nam không chỉ là những người mở cửa biển giao lưu văn
hóa mà còn buôn bán, trao đổi sản phẩm rộng rãi với nước ngoài, hơn nữa họ
thích nghi cao với đời sống sông nước trên kênh lạch biển. Những dãy cọc gỗ
nhà sàn và dấu tích nền móng đền tháp rải rác khắp miền Tây sông Hậu cho
thấy rằng cư dân cổ Phù Nam cũng đã lập chợ trên sông, lập phố xá dọc kênh
lạch để trao đổi buôn bán hàng hóa.
Phù Nam cách xa Trung Quốc nên ít chịu ảnh hưởng của các cuộc chiến
tranh xâm lược của Trung Quốc thời gian này, đây là điều kiện để Phù Nam
phát triển kinh tế thương mại.
Điều kiện tự nhiên:
Theo Tùy thư: “nước ấy (Phù Nam) phía Bắc lắm đồi núi, phía nam có
sông ngòi, đầm hồ, khí hậu nóng, không sương tuyết”. Theo Nam Tề thư: “Khí
hậu ở đó luôn ấm áp, cây cỏ xanh tươi luôn”. Có lẽ là cả vùng rừng phía Tây
nối liền trung lưu sông Mê Kông vơi Nam Trường Sơn. Đây là địa bàn mà cư
dân vốn quen nghề săn bắn, thuần dưỡng voi.
Có một con sông lớn chảy từ hướng Tây – Bắc về phía Đông và đổ ra biển.
Điều này rõ ràng và dễ hiểu: đây là sông Mê Kông chia làm hai nhánh đổ ra
biển Đông, là sông Tiền (cửa Đại) và sông Hậu (cửa Định An) và một số nơi
khác. Điều này chứng tỏ Phù Nam được bồi đắp phù sa quanh năm tạo điều
kiện phát triển nền nông nghiệp lúa nước không chỉ cung cấp lương thực trong
nước mà còn để trao đổi với thương nhân nước ngoài.
Phù Nam có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho sự phát triển phồn
thịnh của mình, tuân theo quy luật của gió mùa, hoạt động kinh tế thương mại
của Phù Nam luôn diễn ra vào những thời điểm nhất định trong năm. Để đón
4
đợt gió thuận lên phía Bắc, thương nhân Ấn Độ và Đông Nam Á thường dừng
lại ở Óc Eo khoảng 5 đến 6 tháng để cất thêm hàng và sửa chữa thuyền. Từ đó
Phù Nam trở thành nơi cung cấp thuyền, thiết bị đi biển cho những hành trình
dài ngày trên biển.
Phù Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đất đai tươi tốt nên có nhiều
động
thực vật phong phú và quí hiếm như: trầm hương, mộc hương, ngà voi, chim
công, anh vũ 5 sắc... Các loại sản vật này đã thu hút các thương nhân đến với
Phù Nam để trao đổi buôn bán.
1.2/ Dân cư:
Tề thư cho biết: “Người Phù Nam khôn quỷ, mưu lược, nhưng tốt bụng và
thật thà, họ chuyên nghề buôn bán”. “Hàng hóa buôn bán thường ngày là
vàng,
bạc, lụa, hàng”. Nhờ những tài nguyên phong phú của nội địa và con người
sống phóng khoáng, thoải mái, năng động đã làm cho nên kinh tế thương mại
nơi đây khá phát triển.
Cư dân nước Phù Nam cổ là hai bộ lạc Môn Cổ và Nam Đảo. Sự đoán định
này căn cứ là ở chỗ người Môn cư trú trên một phạm vi rất rộng ở Đông Nam
Á lục địa, mà những từ ngữ chỉ sông suối, núi non, nơi cư trú, thủ lĩnh vẫn còn
được lưu giữ trong ngôn ngữ hiện nay của các tộc nói tiếng Nam Á, và cả tiếng
Thái. Bộ lạc này là dân bản địa gốc, sống từ trước trên các thềm cao ở miền
Nam và có lẽ chính họ là chủ nhân của nền văn hóa sông Đồng Nai từ thời đại
đá, đồng. Bộ lạc Nam Đảo đến sau, khoảng mấy thế kỷ trước Công nguyên,
sống chủ yếu ở vùng ven biển mà dấu vết văn hóa của họ cũng như dấu vết của
sự giao lưu văn hóa giữa các nhóm Nam Đảo ở ven biển và ở ngoài hải đảo đã
được chứng minh rõ ràng bởi các cuộc nghiên cứ khảo cổ học trong vài thập kỷ
gần đây.
Trên miền Tây sông Hậu, trước hết học liên kết với nhau xây dựng nước
Phù Nam, trong đó, mỗi bộ lạc phát huy thế mạnh của mình, người Môn Cổ
có khả năng chinh chiến và tổ chức xã hội, còn người Nam Đảo có khả năng
buôn bán với nước ngoài. Tề Thư viết “Người Phù Nam khôn quỷ, mưu lược,
nhưng tốt bụng và thật thà, họ chuyên nghề buôn bán”. Cư dân Nam Đảo giỏi
đi biển họ thông thạo đường thủy ngồi thuyền đi buôn bán xa. Đây cũng là
một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế
thương mại của Phù Nam.
5
1.3/ Sản vật và đời sống vật chất:
Tấn thư kể: “dân theo nghề cày cấy trồng trọt. Một năm trồng thu hoạch
ba năm... Bát đĩa phần nhiều bằng bạc. Dùng vàng bạc, hương liệu dùng làm
đồ cống và nộp thuế”, lại nói thêm “Người Phù Nam đúc vòng bằng vàng, bát
đĩa bằng bạc, đốn gỗ làm nhà. Vua chúa ở nhà lầu nhiều tầng, có thành lũy
bằng cây gỗ. Dọc bờ biển có loại trúc lá to dài 8 – 9 thước, đem bện lá để lợp
nhà (có lẽ là lá dừa nước nippa fruticans )”.
Nam Tề thư viết: “Nước có mía, an thạch lựu, quýt, có nhiều cau. Hứng
nước hoa ấy (an thạch lựu) (đoán là thốt nốt) ủ trong vò mấy ngày thì thành
rượu”.
Lương thư chép tiếp: “(Nước) sản vàng bạc, đồng, thiếc, trầm hương,
mộc hương, ngà voi, chim công lông biếc, anh vũ 5 sắc, (dân) có nhà ở, ăn
gạo tẻ”.
Nam tề thư cho biết thêm: “buôn bán trao đổi lấy vàng bạc, tơ lụa trắng
và mầu”.
Những điều kiện trên cho thấy Phù Nam là một nước có nhiều sản vật quí
hiếm đa dạng và phong phú để trao đổi và buôn bán với các nước cũng như để
cống nạp hay nạp thuế.
Chương 2: THƯƠNG NGHIỆP PHÙ NAM.
2.1/ Nội thương:
Kỹ thuật đào kênh đánh dấu bước ngoặc lịch sử quan trọng nhất của văn
hóa Óc Eo và là khởi đầu cho việc hình thành văn minh sông nước giữa đồng
bằng Nam Bộ. Các lớp đất xáo trộn nơi các đáy sông đào, kênh đào cho thấy
chúng hình thành rất sớm. Như vậy, cư dân Óc Eo vốn có thói quen khai thác
nông nghiệp, tích chứa nước trong các hào sâu và sống tập trung quanh một
đền thờ lộ thiên dưới dạng gò nổi đã chuyển qua khai thác cải tạo và sinh
sống trên bờ các dòng nước, trước hết do bởi nhu cầu dẫn nước cho các cánh
đồng lúa nổi liền các đô thị trung tâm, và cuối cùng làm phát triển tập quán
buôn bán giữa các thị xứ xa gần. Chính sự chuyển đổi cách sống từ săn bắt và
thuần túy nông nghiệp sang canh tác chăn nuôi, sản xuất công nghiệp và trao
đổi buôn bán từ thời điểm rất sớm đã tạo tiền đề phát triển vùng đất Nam Bộ.
Phù Nam là sự tập hợp một số tiểu quốc có nhiều kênh lạch chằng chịt
nên hoạt động trao đổi, buôn bán của cư dân chủ yếu là qua đường thủy. Họ
thích nghi cao với đời sống sông nước trên sông kênh lạch biển. Chiếc bếp,
6
cái ấm, cái chai, và những viên chì lưới hẳn cũng để thích hợp với hoàn cảnh
sống bồng bềnh trên sông nước cùng với con người. Họ sống cùng với chợ
trên sông và phố trên kênh, ngồi trên thuyền đi buôn bán và trao đổi hàng hóa
với nhau.
Cư dân ở đây trao đổi buôn bán với nhau chủ yếu bằng hình thức vật đổi
vật, hàng lấy hàng, mức độ trao đổi còn đơn giản, chưa mang tính rộng lớn,
quan hệ thương mại sử dụng tiền tệ thường dùng để trao đổi, mua bán với
nước ngoài.
Những nước mà Lương thư coi là thuộc quốc của Phù Nam, được kể chỉ
có 4 nước là Đốn Tốn, Khuất Côn Đô, Cửu Trĩ và Điển Tôn. Đến Tùy thư, thì
thấy kể thêm hai nước nữa là Xích Thổ và Chân Lạp. Những nước ở phía Tây
mà Phù Nam đã chinh phục hầu như chỉ nằm gọn trên bán đảo Malaya gồm
hai nhóm nước, nhóm do Đốn Tốn đứng đầu bao gồm vùng hạ lưu Mê Nam
và nhóm do Xích Thổ đứng đầu bao gồm các quốc gia miền Nam bán đảo.
Kiểm
soát được những địa bàn này, Phù Nam thu được nhiều mối lợi vì đây là
những vùng đất giàu, dân (có lẽ là quý tộc và nhà giàu) mặc can man bằng vải
sợi bông, choàng khăn đính ngọc, đeo dây vàng, ở nhà sàn có tường gạch xây
và là “chốn gặp gỡ Đông – Tây, hàng hóa quý không thiếu thứ gì”. Các nước
này chắc đã phải cống nạp cho nước tôn chủ. Cống nạp là nguồn lợi không
thể nói là không quan trọng. Tuy nhiên, có lẽ là quan trọng hơn khi kiểm soát
được đường mậu dịch hàng hải, được ưu tiên mua bán, vận chuyển hàng. Các
nước thuộc quốc này cũng có những yếu tố thuận lợi để trao đổi buôn bán với
cư dân các thuộc quốc khác của Phù Nam và quan hệ với bên ngoài.
Như Đốn Tốn, Lương thư tả “cách Phù Nam hơn 3000 lí về phía Nam, ở
trên một bờ biển cao lởm chởm, đất rộng không quá 1000 lí... hình vòng
cung, chạy dài ra biển hơn nghìn lí”, “thành cách biển 10 lí khoảng 20km”,
có 5 vua, thần phục Phù Nam. “Các nước ngoài bờ cõi đi lại buôn bán là điều
dĩ nhiên... vì nước Đốn Tốn quanh co giáp biển tới hơn 10 lí... Chợ nơi đó
đông tây gặp gỡ hội họp, hàng ngày có hơn vạn người, sản vật, hàng hóa quý
hiếm không gì không có”.
Xích Thổ - miền Nam bán Đảo Malaya – là nơi sớm biết khai thác thiếc
và ngày nay cũng vẫn là nơi có trữ lượng và khai thác thiếc lớn nhất thế giới.
Phù Nam chắc đã được ưu tiên thu mua thiếc, trở thành nới duy nhất sớm xuất
hiện kỹ nghệ chế tác đồ thiếc, như L.Malleret đã phát hiện trong di chỉ khảo
cổ học.
7
Để đảo bảm quyền lợi tôn chủ, chắc Phù Nam đã kiểm soát chặt chẽ các
nước phụ thuộc, không cho quyền tự do kinh doanh và quyền độc lập trong
quan hệ ngoại giao. Phù Nam rõ ràng từ một vương quốc sơ kỳ đã phát triển
đến mức thịnh đạt và đã thôn tính, kiểm soát một số nước vùng Đông Nam Á.
Vào thế kỷ III, có nhu cầu mở rộng ảnh hưởng và kiểm soát đường thương
mại Đông – Tây qua bán đảo Malaya, nó đã chinh phục và làm chủ vùng này,
con đường này. Các quốc gia cổ Đốn Tốn, Xích Thổ đã phải thần phục Phù
Nam, cống nạp và không được có quan hệ ngoại giao độc lập mà phải qua
Phù Nam. Cho nên, Phù Nam không chỉ là một vương quốc mà thực sự là trở
thành một
cường quốc, một đế quốc cổ đại ở Đông Nam Á.
2.2/ Ngoại thương:
Từ cách tiếp cận địa – văn hóa, trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa
biển và lục địa, nhà nghiên cứu Nhật Bản Sakurai Yumio cho rằng, Đông
Nam Á đã sớm hình thành những cấu trúc riêng biệt. Như vậy, khoảng trước
thế kỷ thứ X, Phù Nam và Srivijaya – Sailendra là những trung tâm thế giới,
có vị trí nổi bật ở Đông Nam Á, là nơi giao lưu giữa phương Đông và phương
Tây đồng thời là trung điểm kết nối của các trung tâm liên vùng với thị trường
thế giới.
Nhờ tài nguyên phong phú về nội đại và nhờ ở vị trí trung gian trên con
đường hàng hải Trung Quốc và Ấn Độ, cùng với sự trưởng thành của những
nhân tố nội sinh, Phù Nam cũng sớm tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của các nền
văn minh bên ngoài, có mối quan hệ mật thiết với các thương nhân và nhà
truyền giáo Ấn Độ, Trung Quốc. Mối quan hệ đó không chỉ góp phần củng cố
vị thế của Phù Nam với các tiểu quốc khác trong khu vực mà còn ở rộng tầm
nhìn của một vương quốc biển ra thế giới.
Phù Nam không những là một quốc gia giàu có mà còn rất hùng mạnh,
người ngoại quốc tụ đên rất đông. Không chỉ có người Ấn và Trung Quốc mà
khoảng thế kỷ III còn có những người đi biển từ vịnh Ba Tư thuộc đế chế
Sassanid cũng đến Phù Nam. Nhu cầu hàng hóa từ phương Đông, đặc biệt là
tơ lụa Trung Quốc và hương liệu Ấn Độ, Đông Nam Á luôn là nhu cầu bức
thiết của trung tâm kinh tế Địa Trung Hải. Nhu cầu đó là động lực cho sự hình
thành tuyến hải thương giữa Ấn Độ với Trung Quốc chảy qua Phù Nam.
Những hàng hóa đến và đi từ Phù Nam tới Trung Quốc được trung chuyển
qua hệ thống cảng ven biển đến Lâm Ấp. Từ đây, phẩm vật lại tiếp tục được
8
đưa lên phía Bắc. Không chỉ là nơi đón nhận hàng, từ khoảng thế kỷ III,
thuyền buôn của Phù Nam cũng đã đến mua hàng ở các quần đảo như mua
dầu long não ở Padang, vàng từ Borneo và đinh hương từ Maluku...
Trong quan hệ với vùng Tây Nam Á, thương nhân vùng này chưa thể đi
theo hải trình kéo dài khoảng 1600 km vượt qua eo biển Malaca để đến Đông
Nam Á. Nên các thuyền buôn này phải dừng lại ở nhiều nơi trong đó có cảng
thị Óc Eo ở Phù Nam. Nằm ở vị thế địa trắc trên hải trình quốc tế như vậy nên
Phù Nam có điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển ngoại thương của
mình. Và Phù Nam trở thành nơi chuyên cung cấp thuyền, thiết bị đi biển cho
những hành trình dài ngày trên biển.
Óc Eo là một cảng thị đại diện cho Phù Nam, tiếp xúc với bên ngoài và là
một đầu mối của đường mậu dịch hàng hải quốc tế, chính nó trở thành một
trung tâm thu phát hàng hóa, một trung tâm buôn bán, nên nó vừa lưu giữ vật
phẩm Đông – Tây, vừa có các loại tiền bạc ở trên đất của nó và ở bên ngoài.
Óc Eo có cấu trúc của một khu chợ nổi gồm nhiều bến nước nằm dọc theo bờ
một hệ thống kênh đào hoàn chỉnh, và là một cảng nước sâu nơi các đoàn tàu
viễn dương neo đậu để mua bán, tiếp liệu, sửa chữa, chờ gió mùa và tránh cả
bão. Vừa là cảng sông, vừa là cảng biển, hệ thống bến nước Óc Eo là nơi hội
tụ các dòng sông đào và kênh đào đổ về các đô thị phía Tây, phía Bắc và phía
Đông và sau này cả về phía Nam. Óc Eo là cảng thị và lại là bộ phận hữu cơ
của hệ thống, của quốc gia. Theo dấu vết còn có ít nhất hai thành thị nữa đó là
Nền chùa (Kiên Giang), nơi giáp phía Tây Bắc thành phố Rạch Giá, còn có
tên gọi là Takeo (ông Ngọc), được coi là tiền cảng của Óc Eo, nơi có cụm di
tích tầng nền kiến trúc kè đá hai bên. Tiếp theo là Nền Vua, điểm giáp ranh
Kiên Giang – Cà Mau (bên Cà Mau gọi là Cạnh Đền), còn có tên gọi là Trăm
Phố tức là Thnal Moroy, nơi cũng có dấu vết tầng nền của một kiến trúc nào
đó. Những thành thị này nối với nhau bằng những con kênh và cùng nối với
kênh chính, chạy dọc miền Tây sông Hậu theo hướng Đông- Tây.
Óc Eo là nơi neo đậu của các tàu hàng viễn dương để tiếp nhận hàng hóa,
sản vật từ các tàu chợ trong vùng, cũng là nơi trao đổi hàng hóa giữa các con
tàu đến từ phương Đông như Trung Quốc và Nhật Bản, với các con tàu đến từ
phương Tây như Ấn Độ, Ba Tư và Trung Đông nơi cửa ngõ đế quốc La Mã.
Trầm hương, gia vị, ngọc trai, đá quí, sừng tê giác, ngà voi... là những mặt
hàng buôn bán đường xa của thương cảng Óc Eo, biến nơi đây thành chỗ hội
tụ các đoàn tàu trên con đường hương liệu.
9
Không chỉ tập trung phát triển quan hệ hải thương, Óc Eo còn tự trở
thành một trung tâm sản xuất lớn và chắc chắn ở đây đã có sự hình thành của
nhiều nghề thủ công, có sự phân công rõ rệt. Nhiều loại hiện vật trong văn
hóa Óc Eo được chế tác với kỹ thuật tinh xảo, kết hợp hài hòa nhiều thao tác
kỹ thuật, nhiều hình trang trí và chất liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng,
thiếc, thạch anh, kim cương, đá màu. Đó là những nghề thủ công thể hiện
trình độ cao nhất, tinh luyện nhất trong văn hóa Óc Eo. Trong đó, đặc biệt là
nghề kim hoàn Óc Eo đã đạt đến độ tuyệt mỹ của sự phối hợp giữa kỹ thuật
và nghệ thuật với đầu óc sáng tạo thật đặc sắc. Phù Nam đã nhập về nhiều loại
hàng hóa của thương nhân Đông Nam Á như vàng, đồng, chì, thiếc, đá quý từ
bán đảo Mã Lai hoặc
của các cư dân vùng cao để cung cấp thêm cho các xưởng chế tác. Tại đây,
người ta tìm thấy một kho hạt thủy tinh nhiều màu sắc và cả loại thủy tinh
trong suốt, hết sức quý giá là bích lưu lư. Chắc hẳn thời bấy giờ, người Óc Eo
còn nhập đá quý từ Ấn Độ, Thái Lan và nguyên liệu thủy tinh từ Ấn Độ hoặc
khu vực Trung Cận Đông.
Trên cơ sở các hiện vật khai quật được, nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến
một phong cách Phù Nam qua các hiện vật tìm được trong văn hóa Óc Eo.
Trên
một số phương diện, phong cách đó thể hiện khá rõ những ảnh hưởng từ Ấn
Độ. Bên cạnh đó, điều làm chúng ta đặc biệt quan tâm là số di vật được tìm
thấy có nguồn gốc từ Ấn Độ. Các pho sách cổ tiếng Tamil và một số tác phẩm
văn học La Mã những thế kỷ đầu sau Công nguyên đã cho biết nhiều thông tin
quý giá về một số địa danh vốn là thương cảng cổ phát triển phồn thịnh dọc
theo vùng bờ biển Nam Ấn. Trong số đó, cảng Arikamedu gần kề với cảng
Pondichery đã sớm trở thành một trung tâm sản xuất các chuỗi hạt, vật phẩm
trang trí bằng kim loại, đá quý và cảng này đã đóng vai trò cầu nối giữa Ấn
Độ và Đông Nam Á. Không nghi ngờ gì nữa, một số hiện vật được tìm thấy ở
Đông Nam Á là từ Arikamedu và các khu vực khác ở dải bờ biển Ấn Độ đưa
tới.
Là một cảng thị lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời là thương cảng quốc tế,
Óc Eo có đủ những điều kiện cần thiết để trở thành một trung tâm kinh tế, văn
hóa lớn với cả một hệ thống bao gồm những điểm quần cư và đô thị, những
trung tâm chính trị - tôn giáo, văn hóa, hải cảng cùng với những điểm sản
xuất thủ công buôn bán và những vùng công nghiệp. Óc Eo được biết đến nay
là một trung tâm quan trọng nhất của hệ thống miền Tây sông Hậu và cũng có
10
thể nói là lớn nhất của khu vực Đông Nam Á. Các bến cảng được xây dựng,
dinh thự, đền đài và kho chứa hàng hóa cho các mùa mậu dịch được dựng lên
trên các bến sông... đã khẳng định vị thế của cảng thị Óc Eo trong khu vực.
Vai trò kinh tế của Óc Eo rất rõ và nổi bật nhưng cũng cần phải thấy rằng
trong suốt gần bảy thế kỷ, Óc Eo tự nó chắc chắn phải có một thiết chế chính
trị cần thiết để duy trì, quản lý các hoạt động đô thị, điều hành sản xuất, đồng
thời thiết lập, mở mang các mối ban giao khu vực, quốc tế. Trong sự phát
triển chung đó, con đường lan tỏa của văn hóa Óc Eo, như nhiều học giả đã
chỉ ra, được thực hiện thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa và thương
mại. Chuyên gia Ấn Độ học hàng đầu thế giới, giáo sư Nhật Bản Karashima
cho rằng: “Di tích Óc Eo nằm ở châu thổ sông MeKong (Việt Nam), là một
cảng quốc tế nổi tiếng thời đại cổ, nó có nguồn gốc từ đầu Công nguyên. Một
số
đồng tiền La Mã và gương đồng thời Hán (Trung Quốc) cùng với những
chuỗi hạt và các đồ trang sức, các hiện vật tôn giáo khác đã tìm thấy ở Óc Eo
và các khu vực phụ cận vùng châu thổ này. Các hiện vật đó cũng được tìm
thấy ở rất nhiều di tích tại Đông Nam Á, đặc biệt là vùng bán đảo Malay và
đồng thời cả Ấn Độ, nhất là miền Nam Ấn”.
Cùng với các thương nhân Óc Eo, mạng lưới thương mại khu vực đang
được hình thành ở Đông Nam Á cũng có vai trò quan trọng trong việc cùng
cấp
hàng hóa cho thị trường quốc tế. Các cảng của Phù Nam không chỉ là nơi tụ
hội của các thương nhân Ấn Độ, Đông Nam Á mà chính thương nhân Phù
Nam cũng đến Trung Quốc để trao đổi hàng hóa từ Địa Trung Hải, Ấn Độ,
Trung Đông và Châu Phi. Thương nhân Đông Nam Á, trong đó chắc chắn có
vai trò quan trọng của thương nhân Phù Nam, chính là người có công khai mở
quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ, phát triển kinh tế khu vực Nam Ấn và có
thể họ cũng đã cử thuyền đến Ấn Độ, vùng vịnh Ba Tư và Châu Phi để trao
đổi hàng hóa hoặc buôn bán.
Trong quan hệ với thị trường quốc tế, thương nhân Phù Nam đã dùng
những sản phẩm đặc thù của Đông Nam Á lục địa như trầm (frankincense),
nhựa trầm (myrrh) và các loại hương liệu khác để chế nước hoa và hương để
đổi lấy tơ lụa của Trung Quốc. Và thuyền buôn của Trung Quốc đến Ấn Độ
và ngược lại, khi men qua vùng biển Trung Quốc đến Champa, Phù Nam đều
dừng lại nghĩ chân tại đây để mua nước ngọt, sửa chữa tàu bè và thực hiện
trao đổi các mặt hàng cần thiết... Người Trung Quốc thường mang đến đây
11
lụa là, gấm vóc để trao đổi các vật phẩm khác của người Phù Nam như đồ
gốm, đồ trang sức làm từ vàng và bạc, các loại hương liệu và gia vị... Hoặc
như Nam Tề thư viết thì: “buôn bán trao đổi lấy vàng bạc, tơ lụa trắng”. Có
khi còn có những mặt hàng quý hiếm chỉ giành cho những người quyền quý,
giàu sang như gương đồng, tiền vàng, nhẫn ngọc... Người Phù Nam cống cho
họ những cống phẩm đó là tượng phật bằng vàng, trầm, gỗ đàn hương... còn
có cả tượng san hô, đồi mồi... là loại sản phẩm đặc thù của cư dân đã sớm
quen với kỹ thuật khai thác biển. Người Phù Nam cũng thành thạo trong kỹ
thuật đóng thuyền đi biển, khai thác hải sản và phát triển kinh tế hải thương.
Theo Nam Tề thư, họ đã “đóng thuyền dài tám chín trượng, rộng sáu bảy
thước, đầu đuôi giống như con cá”. Việc cư dân Óc Eo nộp cống phú bằng
vàng, bạc là những bằng chứng sinh động về sức phát triển của một nền kinh
tế thương mại. Chắc chắn Phù Nam đã lưu hành loại tiền riêng sử dụng trong
quan hệ thương mại. Các nhà nghiên cứu đã tìm
thấy một số loại tiền được gọi là tiền Phù Nam tại các di chỉ ở Đông Nam Á.
Trong đó, tiêu biểu nhất là phát hiện ở hạ lưu sông Mê Nam (Thái Lan) trong
tầng văn hóa, một bình gốm cổ có 35 đồng tiền bạc, có đúc nổi hinh con ốc tù,
hình tia mặt trời, lâu đài, bông sen, tức là giống với những đồng tiền bạc (13
đồng) mà L. Malleret đã tìm được ở Óc Eo.
Ở Óc Eo đã phát hiện được hai đồng tiền vàng có nguồn gốc Rôma, một
vật thời Antonius Pius trị vì (138 – 161) và một vật khác thời Marcus
Aurelius
(161 – 180). Tại đây cũng đã tìm được một mảnh gương đồng Trung Quốc
thời Đông Hán. Hiện nay, tại nhiều địa điểm ở Đông Nam Á đã tìm thấy các
hiện vật có nguồn gốc từ La Mã. Điển hình trong số đó là chiếc đèn đồng kiểu
Alexandrie có cán chạm hình lá cọ và hình hai con cá heo được tìm thấy ở
Thái Lan. Trong những ngày cực thịnh của đế chế La Mã, có khả năng những
con đường giao thương trực tiếp với phương Đông đã được thiết lập. Nhưng
cũng có thể, những hiện vật có nguồn gốc La Mã đó là do các thương nhân Ba
Tư hay Ấn Độ đưa tới.
Như vậy, Óc Eo là một trung tâm công nghiệp và thương mại, địa điểm
Óc Eo có những bằng chứng rõ ràng về những mối quan hệ hàng hải với bờ
biển của vịnh Xiêm, Mã Lai, Indonesia, Ấn Độ, vịnh Ba Tư và một cách trực
tiếp hay gián tiếp với cả Địa trung Hải. Cảng này nằm tại nơi mà lúc đó đã là
con đường biển lớn giữa Trung Quốc và phương Tây.
12
2.3/ Vai trò của thương nghiệp đối với sự phát triển và suy vong của Phù
Nam.
Mối quan hệ giữa kinh tế thương mại và đế quốc Phù Nam là quan hệ
khắng khít và không thể tách rời nhau. Nói đến Phù Nam là ta nghĩ ngay đến
nền kinh tế chủ yếu và quan trọng nhất của đế quốc đó là nền kinh tế thương
mại. Nó đóng vai trò quyết định và vô cùng quan trọng trong cơ cấu các ngành
kinh tế của Phù Nam. Nhưng chính nó cũng là nguyên nhân chính dẫn tới sự
suy vong của vương quốc này.
Với nền kinh tế thương mại, thì các thương nhân nước ngoài đã biết đến
Phù Nam mà cũng chính từ đó mà Phù Nam mở rộng quan hệ với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Sự phát triển của kinh tế thương mại đã thúc
đẩy các ngành kinh tế khác như nông nghiệp hay thủ công nghiệp cũng phát
triển mạnh mẽ hơn. Nó còn làm cho sự giao lưu văn hóa giữa Phù Nam với
các nước khác cũng phổ biến hơn. Ngoài ra, kinh tế thương mại cũng là nhân
tố quan trọng giúp Phù Nam đi chinh phục các tiểu quốc khác trở thành thuộc
quốc của
mình, và lãnh thổ được mở rộng ra rất nhiều. Kinh tế thương mại đã tạo nên
tiềm lực kinh tế để Phù Nam trở thành đế quốc nhưng đồng thời sự suy vong
của kinh tế thương mại cũng là nguyên nhân khiến đế quốc Phù Nam suy
vong.
Vì Phù Nam giàu mạnh được là nhờ vào việc giao thương trên biển, khi hải
trình trên biển đổi hướng Phù Nam không còn vị trí thuận lợi như trước đây
khiến kinh tế thương mại suy giảm dần từ đó vương quốc Phù Nam cũng mất
đi tiềm lực kinh tế quan trọng nhất nên Phù Nam đã suy yếu và bị Chân Lạp
thôn tính.
Nguyên nhân suy yếu của thương mại Phù Nam:
Phải đến thế kỷ VII, người ta mới có thể đóng những con tàu lớn hơn,
thành cao hơn, lòng rộng hơn, có thể dựng 2 đến 3 cột buồm để đi ra biển
khơi xa. Đây cũng là lúc, có thêm sự tham gia của người Ả Rập táo bạo, các
thương lái rời bỏ dần đường đi ven bờ, để từ Ấn Độ Dương đi vòng qua bán
đảo Malaya, qua eo Sunda, rất giàu hương liệu, gia vị, gỗ, buôn bán với Trung
Quốc và vùng đảo P. Manguin. Đến thế kỷ VII, kinh nghiệm tích lũy đi biển
đã nhiều hơn, thuyền đã tốt hơn, các hải thuyền đi vòng qua Sumatra, qua eo
Sunda hoặc đi qua eo Malaca đến Java, Borneo tiện đường buôn bán hơn, mở
rộng thương trường hơn. Nếu không phải đi men bờ, không trung chuyển qua
13
eo Kra, thì cũng không nhất thiết phải cập cảng Óc Eo – thành phố biển của
Phù Nam. Ngoại thương và các hoạt dộng kinh tế - xã hội, nhất là của ngoại
kiều bị giảm sút, thưa vắng dần. Kinh tế suy thoái, quốc gia suy yếu, dấu hiệu
của sự khủng hoảng, chia rẽ xuất hiện trong vương quốc Phù Nam. Đây là
nguyên nhân chính dẫn đến sự suy vong của kinh tế thương mại Phù Nam.
KẾT LUẬN
Phù Nam từ một phần miền Tây sông Hậu trở thành một cường quốc cổ
đại, một trung tâm liên thế giới trải rộng trên khắp châu thổ sông Cửu Long
và còn vươn ảnh hưởng thế lực ra bên ngoài.
Vương quốc Phù Nam đã tồn tại và phát triển rực rỡ và đa dạng cùng với
không gian và thời gian. Tuy kết thúc đột ngột, nhưng dấu vết văn hóa của nó
để lại, vẫn góp phần làm giàu nền văn hóa của các dân tộc sống trên lưu vực
sông Mê Nam, Mê Kông và ven biển Đông. Những kinh nghiệm sản xuất của
nó từ xa xưa vẫn còn bổ ích đối với các dân tộc đến sau, cư trú và khai khẩn
miền đất này. Đó là những cống hiến và vinh dự của văn hóa cổ miền Tây
sông Hậu, và cả đồng bằng sông Cửa Long nói chung.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
GS. Lương Ninh (2009), Vương quốc Phù Nam, NXB Đại học Quốc
Hà Nội.
GS. Lương Ninh (2015), Một con đường sử học, NXB Đại học sư
phạm.
GS. Lương Ninh (2005), Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị
Quốc gia.
Nguyễn Văn Kim (2011), Việt Nam trong thế giới Đông Á – Một cách
tiếp cận liên ngành và khu vực học, NXB Chính trị Quốc gia.
PGS. TS. Hà Minh Hồng – TS. Nguyễn Văn Hiệp (2014), Một số
chuyên đề lịch sử Việt Nam tập 3, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí
Minh.
TS. Huỳnh Công Bá (2005), Lịch sử Việt Nam, NXB Thuận Hóa.
15
16